805-gdiem.gif (5390 bytes)

posted: 15.8.2005

NGUYỄN VĂN TƯỜNG
TRONG BIẾN CỐ
“TỨ NGUYỆT TAM VƯƠNG” 

(trích)

Nnc.Trần Viết Ngạc

Lời người biên soạn: Bài tham luận khoa học này của nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc, đã in trọn vẹn trong tập Các báo cáo khoa học của Hội thảo sử học về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), đồng thời cũng đã được chính ông trình bày trên diễn đàn trong hội thảo ấy, vào ngày 02-7-2002, tại Huế. Tham luận vốn có tên là “Nguyễn Văn Tường trong hai biến cố tứ nguyệt tam vương và thất thủ kinh đô”. Chúng tôi mạn phép nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc, chỉ trích một phần của bài viết, phù hợp với chủ kiến của cuốn sách này, để làm rõ hơn một ý tưởng khá dễ bị ngộ nhận trong bài nghiên cứu trước của ông, “Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) qua châu bản triều Nguyễn”. TXA.     

      1.

      Vua Tự Đức lên ngôi lúc 18 tuổi, thể chất bạc nhược, yêu văn thơ, thiếu quyết đoán và không có cái nhìn xa, tiên liệu tình hình tương lai để vạch kế hoạch đối phó. Chính nhà vua tự nhận xét:

      “Trẫm còn nhỏ tuổi, được lên ngôi báu, nhờ được tổ ấm, Nhà nước toàn thịnh, việc nước, việc đời chưa từng để ý, không hiểu lời dặn “ở lúc yên phải nghĩ đến lúc nguy”, đam mê theo sự vui chơi… Không có kế hoạch giỏi hay. Cứ việc tới thì lo mà không giúp ích gì cho việc” (1).

      Dù rất chăm lo việc nước, nhiều lúc bị ngập trong công việc, Tự Đức vẫn không tìm được biện pháp chấn hưng đất nước và chống xâm lăng hiệu quả.

      Ở ngôi 36 năm, nhà vua chứng kiến hết thất bại này đến thất bại khác về quân sự và ngoại giao. Bất lực và vô vọng nhưng lại ý thúc rất rõ về trách nhiệm của mình về sự suy vong của đất nước, Tự Đức chỉ còn cách tự dày vò và than thở:

      “Gắng gượng theo mưu kế của người lão thành, mất cả đất đai và dân chúng cả sáu tỉnh Nam Kỳ, để cầu cho khỏi việc chiến tranh và được an thiên hạ. Cơ nghiệp sáng lập và giữ gìn hơn hai trăm năm nhất đán bỏ mất, thực là tội của tiểu tử này không thể nói xiết. Dù cho có làm được công đức cũng không thể chuộc được tội lỗi. Huống hồ, trẫm không công, không đức, chỉ trơ mặt ngồi suông, lần lữa đến ngày già yếu; tuy người ta không nỡ trách ta, song lòng ta cũng không sao yên được.

      … Trông lên cúi xuống, sống đã không mặt mũi nào, chết cũng không nhắm mắt” (2).

      Cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng, Tự Đức vẫn không sao tìm được một giải pháp cho tình hình đất nước mỗi lúc một nguy nan. Thiếu năng lực quyết đoán trong một tình hình đòi hỏi phải quyết đoán kịp thời, di chiếu của Tự Đức phản ánh điều đó.

      Tự Đức không có con nối dõi, phải nuôi ba người cháu làm con nuôi nhưng không có ai xứng đáng để kế vị.

      Ưng Chân, hoàng trưởng tử, lớn tuổi, có học, chính danh đã lâu nhưng “mắt hơi có tật, giấu kín không rõ ràng, sợ lâu không sáng. Tính lại hiếu dâm, cũng rất là không tốt, chưa chắc đương nổi việc lớn” (3) (Đản vi hữu mục tật, bí nhi bất tuyệt, cữu khủng bất minh, tính phả hiếu dâm, diệc đại bất thiện, vị tất năng đương đại sự).

      Con nuôi thứ hai là Ưng Kỷ, “người yếu hay ốm, có tâm tật, học chưa thông mà kiêu ngạo, hay bới việc riêng cuả người, […] đều không phải tư chất thuần lương, theo lời phải, sợ bọn ngươi khó lấy lời nói can được” (4).

      Hoàng tử thứ ba là Ưng Đăng, “hầu hạ cẩn thận, biết sợ, dạy được, chưa thấy có việc gì, nhưng tuổi còn ít, đường học chưa thông, đương lúc khó khăn này chưa chắc đã am hiểu” (5).

      Không thể không chỉ định người kế vị, bất đắc dĩ Tự Đức phải chọn Ưng Chân vì một lý do duy nhất:

      “Nước cần có vua nhiều tuổi, đương lúc khó khăn này không dùng hắn thì dùng ai?” (3) (Quốc hữu trưởng quân, xã tắc chi phúc, xã thử, tương hà dĩ  tai).

      Điều đáng nói ở đây là tất cả nỗi băn khoăn, phân vân ấy được vua ghi đầy đủ trong bản di chiếu mà theo quy định được tuyên đọc cho tất cả văn võ bá quan cùng biết trong buổi lễ đăng quang của tân vương.

      Sự băn khoăn của nhà vua còn thể hiện trong việc đặt các phụ chính đại thần. Ba vị phụ chính là ba khuynh hướng chính trị, ba tính cách, khá cách biệt về tuổi đời và thâm niên công vụ ở triều đình.

      Trần Tiễn Thành, đệ nhất phụ chính, bảy mươi tuổi, làm quan trải ba triều, được Tự Đức kính trọng và yêu mến, cất nhắc đến tước vị cao nhất: Văn Minh điện đại học sĩ, quản lý Binh bộ sự vụ. Ông là người chủ hoà.

      Đệ nhị phụ chính Nguyễn Văn Tường, năm mươi chín tuổi, Cần Chánh điện đại học sĩ lãnh Hộ bộ thượng thư. Ông là người khôn ngoan, có tài trí về nội trị và ngoại giao, chủ trương dùng ngoại giao để tạm thời hoà hoãn, mua thời gian để thực hiện kế hoạch chống Pháp lâu dài.

      Đệ tam phụ chính Tôn Thất Thuyết, bốn mươi bốn tuổi, mới về triều giữ chức thượng thư Bộ Binh đầu năm 1882, và chỉ vào Viện Cơ mật trước lúc vua Tự Đức băng hà.

      Ngoài ba vị phụ chính, nhà vua còn trông cậy vào trấn Bắc đại tướng quân Hoàng Tá Viêm và hai vị hoàng thúc Miên Định và Miên Trinh (Tuy Lý quận vương). Cả hai hoàng thân này đều chủ hoà, muốn thoả hiệp với Pháp như ta sẽ thấy về sau.

      2.

      Được chỉ định nối ngôi, Ưng Chân (Dục Đức) vội vã củng cố thế lực: đưa bọn tâm phúc Nguyễn Như Khuê vào điện Hoàng Phúc và sở Quang Minh, cấp thẻ bài riêng cho chúng để được tự do ra vào cung cấm. Dục Đức lại vi phạm quy chế sinh hoạt triều đình và nghi lễ tế tự khi giữ lại qua đêm trong điện các tờ tấu khẩn cấp của các quân thứ, sai chế các đồ dùng riêng, mặc áo sắc lục lúc làm lễ điện (6). Quan trọng hơn cả là việc Dục Đức tiếp linh mục Thơ, làm cho triều thần nghi ngại.

      “Linh mục Thơ, người làng Cao Xá, huyện Do Linh, tỉnh Quảng Trị, sinh năm 1835 tại Mỹ Hương, Lệ Thuỷ, Quảng Bình, vào Quảng Trị cùng gia đình. Từ năm 1842 đến năm 1845 ( 7 đến 10 tuổi), ông học chữ Nho ở Quảng Trị rồi theo cậu là linh mục Phan Văn Thận vào Quảng Nam học tiếng La Tinh, và vào Gò Thị (Bình Định) ở với giám mục St. Cuénot, thường gọi là đức cha Thể. Từ tháng 5.1847 đến tháng 8.1853 (12 tuổi đến 18 tuổi) ông theo học ở chủng viện Pénang (Mã Lai) . Sau đó ông về Huế tiếp tục học thần học với đức cha Phan (giám mục Pellerin). Tháng 5.1864 (19 tuổi), theo đức cha Bình (Sohier) sang Pháp học, và thụ phong linh mục ở Chủng viện Le Mans từ 1867 đến 1873; trở về Huế làm quản lý cho giáo phận và làm thư ký cho giám mục Sohier rồi cha xứ Kim Long, Huế. 1873, làm thông ngôn cho sứ bộ thương  thuyết với Pháp ở Sài Gòn …

      Thời gian ở Huế ông thường tiếp hoàng tử Ưng Chân tại nhà riêng và dạy cho hoàng tử tiếng Pháp… Dục Đức muốn chọn ông làm thư ký riêng (7). Cũng trong thời gian còn là hoàng tử, Ưng Chân đã có mối giao hảo với Toà Khâm sứ Pháp. Chính do mối “ân tình” đó mà Rheinart sau này đã đặt con của Dục Đức là Bửu Lân lên ngôi sau khi Đồng Khánh băng hà (1888)” (8).

      Trong tình hình như thế thì chính Dục Đức đã phạm một sai lầm lớn là sửa đổi di chiếu của Tự Đức, tạo nguyên cớ chính đáng để cho hai phụ chính là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường cùng triều thần làm tờ tâu lên thái hậu Từ Dụ, phế Dục Đức.

Tự quân chưa chính ngôi trời

Chiếu thư lại cải quên lời sách xưa

                             (Hạnh Thục ca)

      Hồng Dật, 36 tuổi, con út vua Thiệu Trị, được triều thần tôn lên ngôi, đặt niên hiệu là Hiệp Hoà.

      Điều không ai ngờ đến là Hồng Dật, dưới sự tác động của các hoàng thân, quan lại chủ hòa và của chính khâm sứ Pháp De Champeaux, còn đi xa hơn cả Dục Đức, thoả hiệp với Pháp vô điều kiện, tìm cách loại trừ các đại thần chống Pháp; và Hiệp Hoà đã cho ký hoà ước nhục nhã: hoà ước Quý mùi (25.8.1883).

      Trần Tiễn Thành bị đình nghị về tội sửa đổi di chiếu, chiểu luật “truyền tả chế thư sai lầm”, bị xử tội trượng, cách chức, nhưng Hiệp Hoà chỉ phạt Trần Tiễn Thành giáng hai cấp, lưu.

      Tuy Lý vương lui tới Sứ quán Pháp một cách trái phép, bị Viện Cơ mật và Viện Thương bạc tâu lên vua. Hiệp Hòa trả lời: “Thân vương ấy tuổi cao đức tốt, lại có học thức, thật là người yêu nước, trung thành, tưởng không ngại gì” và “về sau có thăm hỏi hay bàn bạc gì, chuẩn cho thân vương ấy cùng đi với đình thần” (9).

      Nội dung trao đổi với Tuy Lý vương và khâm sứ Pháp, được một tư liệu lưu trữ của Pháp liết lộ:

      “Theo một điện tín của thống đốc Nam Kỳ gửi bộ trưởng Hải quân ngày 10 tháng 12 năm 1883, Hiệp Hoà bày tỏ trong mọi lúc cảm tình của ông ta đối với Pháp. Ông đã bí mật phái chú là Tuy Lý vương đến Toà Sứ Pháp để hỏi De Champeaux là nếu trong trường hợp có biến động, ông có được Pháp giúp đỡ không? De Champeaux trả lời có, và nhiệt thành khuyến khích ông chống lại cận thần. Cuộc viếng thăm này làm triều đình lo ngại, họ làm đủ mọi cách để biết nội dung câu chuyện nhưng vô ích” (10).

      Cùng với Trần Tiễn Thành và Miên Trinh, một số quan lại và công tử được cất nhắc như thượng thư  Bộ Lại Nguyễn Trọng Hợp, thượng thư Bộ Công Trần Văn Chuẩn, Hồng Tu, Hồng Phì, Hồng Sâm.

      Song song với việc củng cố thế lực, Hiệp Hoà thi hành những biện pháp hạn chế quyền hành của hai vị phụ chính: Các tờ tâu của sáu bộ giao thẳng cho Nội các xét duyệt, không qua hai vị phụ chính như trước (11). Hiệp Hòa còn ngầm xui hai vị phụ chính loại trừ lẫn nhau. Kế ly gián bất thành, Hiệp Hòa liền mưu với Trần Tiễn Thành, Tuy Lý vương, Hồng Phì, Hồng Tu, Hồng Sâm loại trừ Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường (12).

      Điều tệ hại nhất dẫn đến việc phế Hiệp Hòa là việc nhượng bộ thực dân Pháp vô điều kiện, thái độ thỏa hiệp hèn yếu trước những hành động bức hiếp của Pháp đối với quan lại ở Bắc Kỳ, và liên kết với Pháp để bức hại đại thần.

      Lên ngôi chưa được bao lâu, Hiệp Hòa được tin báo quân Pháp chuẩn bị đánh Huế, liền cử tham tri Bộ Binh Nguyễn Thành Ý cùng viên thông ngôn Nguyễn Cư xuống cửa biển Thuận An để… chuẩn bị thương thuyết! Quân Pháp đến cửa Tư Hiền thám sát, đo đạc. Việc tâu lên, Hiệp Hòa ra lệnh không can thiệp, tránh gây hiềm khích với Pháp. Khi biết hải quân Pháp tập trung ở Đà Nẵng để chuẩn bị tấn công Thuận An, Hiệp Hòa sai chưởng vệ Nguyễn Văn Sỹ giao cho Tôn Thất Thuyết một cờ lệnh và ngự bài binh sự với lời căn dặn:

      “Nếu giảng hòa được, cũng nên tòng quyền làm kế hoãn binh… Nếu cậy khỏe, hiếu thắng, không biết cơ nghi, tất phải trách cứ rất nặng” (13).

      Đó là cách Hiệp Hòa chuẩn bị trước khi Pháp tấn công Thuận An! Pháp không chấp nhận nói chuyện với Nguyễn Thành Ý, tấn công và hạ thành Trấn Hải, Hiệp Hòa liền phái Lâm Hoành và Trần Thúc Nhẫn thay Nguyễn Thành Ý nhưng không thể tiếp xúc với Pháp. Lâm Hoành hy sinh cùng với Lê Sĩ, Lê Chuẩn, Nguyễn Trung, còn Trần Thúc Nhẫn tự tử.

      Hiệp Hòa sai thượng thư Bộ Lại Nguyễn Trọng Hợp xuống ngay Thuận An để thương thuyết, kết qủa là hoà ước Quý mùi được ký kết (25.8.1883) với những điều khoản mà chính Hiệp Hòa cũng thừa nhận là quá nặng nề và nhục nhã:

      “Những khoản trong hoà ước, có nhiều điều bị kém, bị nhục khó chịu. Đáng lẽ là không nghe nhưng vì Từ Cung tuổi già, linh cửu tiên đế chưa chôn, lòng trẫm rất không yên” (Dụ ra lệnh rút quân ở Bắc Kỳ) (14).

      Trong vòng hai tháng, Hiệp Hòa 4 lần cho dụ các quân thứ ở Bắc Kỳ phải rút quân và phái một đoàn khâm sai do Nguyễn Trọng Hợp cầm đầu ra Bắc cùng Pháp thi hành hòa ước mà Hiệp Hòa phải triệu dụng hưu quan Trần Đình Túc cùng với Nguyễn Trọng Hợp ký kết (15).

     Hiệp Hòa mắng sinh viên và quan chức Quốc tử giám là “cầu tiếng trung nghĩa, học thói   điêu ngoa, đáng chán, đáng giận!”, khi họ xin đầu quân đi đánh giặc! (16).

      Quân thứ Sơn Tây đánh thắng quân Pháp ở Hương Canh và Phù Diễn, bắn chết và chém hơn 200 tên giặc, báo tiệp về kinh, Hiệp Hoà buồn và nói:

      “Lang sói đương nhông nháo, bắt làm gì đám cầy cáo, xem tờ tâu cũng không biết là mừng” (17).

      Thái độ của vua Hiệp Hoà đã khuyến khích bọn Pháp bức bách các quan ta ở Bắc Kỳ. Chưa bao giờ quan lại triều đình bị sỉ nhục đến như thế:

-           Tri huyện An Dương (Hải Dương) Trần Đôn bị Pháp bắt đem xuống thuyền chở về tỉnh. Trần Đôn không chịu nhục, nhảy xuống sông tự tử (18).

-           Tuần vũ Hải Dương Nguyễn Văn Phong, tuần phủ Quảng Yên Hoàng Vỹ bị Pháp bắt đưa về Gia Định.

-           Pháp bắn chết tuần phủ Hưng Yên Nguyễn Văn Thận.

-           Bố chính Hải Dương Vũ Túc bị Pháp làm nhục đến tức uất mà chết (19).

-           Viên công sứ Pháp ở Ninh Bình triệt hạ phủ thành mới là An Khánh, chiếm đoạt tài sản và giấy tờ, bắt dân phải khai nộp sổ đinh điền. Nơi nào không nộp thì chúng bắt đánh tri phủ. Chúng bắt bố chính Ninh Bình đem trói ở núi Dục Thúy. Tuần phủ Tôn Thất Uy và chánh phó lãnh binh phải bỏ thành ra ở với dân (20).

-           Giáo mục Trần Lục, thông mưu với Pháp, mộ nhiều giáo dân và hàng nghìn tên vô lại, chận đường trạm ở Phát Diệm, bắt dịch phu để cướp lấy công văn. Các quan phải theo đường phủ Nho Quan để chuyển công văn về triều (21).

      Trước những sự việc như vậy mà Hiệp Hòa và Toà Khâm sứ vẫn giao thiệp một cách hoà hảo (!):

-           Tháng 10. 1883, nhà vua tặng kim tiền và ngân tiền cho khâm sứ Pháp cùng bọn thông ngôn, ký lục.

-           Pháp yêu cầu được xem tờ biểu cáo tang của triều đình gởi nhà Thanh cùng bản chính phúc thư của tuần phủ Quảng Tây, vua sai Viện Cơ mật và Viện Thương bạc soạn giao cho Pháp xem (22).

-           Khâm sứ pháp tặng nhà vua bội tinh hạng nhất kèm thu nhiều phẩm vật, mời Tuy Lý vương đến Toà Khâm sứ và và sau đó nhà vua tiếp khâm sứ Pháp tại điện Văn Minh (23).

      Trước tình hình vua càng lúc càng dấn sâu vào con đường thoả hiệp với Pháp, đi ngược lại quyền lợi dân tộc, các quan theo đường lối chủ chiến rất khó khăn để bảo vệ đất nước. Ngay từ tháng 9.1883, Tôn Thất Thuyết xin thôi chức thượng thư Bộ Binh để chữa bệnh. Hiệp Hoà cử Tôn Thất Thuyết qua Bộ Lễ và sau đó làm thượng thư Bộ Lại. Địa vị phụ chính chỉ còn là hư vị .

      Trong hành động, Hiệp Hoà và phe nhóm không còn uý kỵ gì hai phụ chính Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết. Hồng Tham, tham biện Nội các, và Hồng Phì, tham tri Bộ Lại, đều có tờ mật tâu xin Hiệp Hoà loại bỏ Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường (24).

      Bất mãn và ngấm ngầm phản đối lại chính sách thoả hiệp với thực dân của Hiệp Hoà trước hết là những người chỉ huy quân đội: các lực lượng tại Bắc Kỳ và tại Huế. Các mệnh lệnh của Hiệp Hoà bắt buộc thi hành hoà ước Quý mùi đã không được các quân thứ ở Bắc Kỳ tuân thủ. Trong bốn đạo dụ ra lệnh rút quân ở Bắc Kỳ và thi hành hoà ước Quý mùi luôn luôn nhà vua phải phân trần, giãi bày rằng, sở dĩ hoà ước “có nhiều khoản rất không thể [chấp nhận] được, có nhiều điều bị kém, bị nhục khó chịu, nhiều điều chưa rõ, sẽ bàn lại sau” là vì:

-           “Quan tài tiên đế chưa được an táng. Từ Dụ thái hoàng thái hậu và hoàng thái phi tuổi nhiều, già yếu, đương lúc thương xót mà gặp biến cố như thế (lần 1).

-           Vì Từ cung tuổi già và linh cữu tiên đế chưa được chôn (lần 2).

-           Thế lực kẻ mạnh người yếu, không làm sao được (lần 3).

-           Từ khi Bắc Kỳ có việc chiến tranh đến nay, dân binh khó nhọc, chi tiêu cùng tốn. Vừa rồi người Pháp lại đưa thư xin hoà, trẫm không nỡ để dân binh mắc nạn” (lần 4).

      Rồi căn dặn:

      “Chớ vin công nghị, theo ý kiến riêng, để lo cho quân phụ làm gì (lần 1); như thế mới hợp thời thế (lần 2); chớ trái mệnh của trẫm. Nếu cố chấp ý kiến riêng mà bàn khác đi, thì một góc xa xôi nếu có thể chắc là giữ được, nhưng còn kinh sư, tôn miếu xã tắc thì làm thế nào? (lần 3). Nếu cố chấp ý kiến riêng làm cho lo ngại thì quyết khó lòng tránh khỏi lỗi lầm” (lần 4).

      Lý lẽ rõ ràng không có sức thuyết phục. Nhân dân các tỉnh gần kinh đô là Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình không hiểu nổi chính sách của Hiệp Hòa, đã “mang túi, đội hòm, cõng trẻ, dắt già, tự đem nhau chạy trốn” (25). Hiệp Hoà phải ra lệnh chém đầu những ai nói bậy, làm rối loạn dân chúng. Song không chỉ thế, vào tháng 11.1883, thân hào và xã dân ở các tỉnh Thừa thiên, Quảng Trị “đã cùng nhau đoàn kết chiêu mộ dân dũng”.

      Dù có lệnh cấm của triều đình, các đoàn dân dũng đã được thành lập ở nông thôn, và Tôn Thất Thuyết đã bí mật uỷ cho Kỳ Nội hầu Hồng Chuyên và phò mã Đặng Huy Cát tập hợp và chỉ huy họ (26).

      Chính lực lượng dân dũng (hay hương dũng) này là lực lượng chủ yếu án ngữ ở mặt nam sông Hương, đề phòng sự can thiệp của Pháp vào đêm phế bỏ Hiệp Hoà.

      Tình hình quả đã chín muồi để đi đến một xung đột tất yếu, hoặc Hiệp Hoà với nhóm hoàng thân và bọn quan lại chủ hoà, với sự trợ lực của Pháp sẽ gạt bỏ Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường… , hoặc Hiệp Hoà sẽ bị truất phế để triều đình củng cố lại nhân sự, hoạch định và thi hành một chính sách chấn hưng đất nước, bảo vệ chủ quyền dân tộc đang trải qua những thử thách lớn lao.

      Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết bí mật liên kết với những phần tử bất mãn với đường lối thân Pháp của Hiệp Hoà và tổ chức việc truất phế Hiệp Hoà một cách bất ngờ, nhanh chóng, khiến Hiệp Hoà không kịp trở tay và người Pháp không kịp can thiệp. Cũng như việc phế Dục Đức, việc phế Hiệp Hoà phải hội đủ các điều kiện:

-           Được dự đồng ý của triều thần và Tôn nhân phủ

-           Được sự đồng ý và chuẩn thuận của thái hoàng thái hậu Từ Dụ.

      Hiệp Hoà vào thời điểm đó đã củng cố được thế lực khá nhanh trong triều với Trần Tiễn Thành, Tuy Lý Vương, thượng thư Nguyễn Trọng Hợp, thượng thư Trần Văn Chuẩn cùng các hoàng thân Miên Tằng, Miên Triệu, Hồng Sâm (hay Tham), Hồng Phì… Và bên kia sông Hương (Toà Khâm), ngay trong kinh thành (Mang Cá) và ở Thuận An, lực lượng Pháp sẵn sàng can thiệp như đã mật ước.

      Vào đêm 29 tháng 10 năm Quý mùi (28.11.1883) Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đã tiến hành lật đổ Hiệp Hoà theo một kế hoạch đã được bàn định rất tỉ mỉ.

      Đầu hôm, lấy cớ ngoài thành có dấu hiệu bất thường, qua trực thần, Tôn Thất Thuyết xin điểm biền binh để phòng bị, đóng các cửa thành và đích thân Tôn Thất Thuyết thu giữ tất cả chìa khoá. Vào canh hai, Thuyết phát hổ phù, tập hợp tất cả dân dũng trung thành ở bờ nam sông Hương. Ông Ích Khiêm và Trương Văn Đễ điều động quân lính tập trung ở Sở Tịch điền. Làm chủ quân đội, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường cho mời triều thần họp ở công đường Bộ Hộ. Tại đây, hai vị phụ chính trình bày với bách quan lý do phế bỏ Hiệp Hoà:

      “Lãng Quốc công từ lúc nối ngôi đến nay làm việc phần nhiều trái phép cũ, lại gần gũi người bậy, mọi người đều không phục” (26b). 

      Và đề nghị đưa hoàng tử thứ ba Ưng Đăng lên ngôi. Các quan không ai có ý kiến phản đối. Một tờ tâu gửi lên thái hoàng thái hậu Từ Dụ được soạn thảo và các quan có mặt đều ký tên. Sau đó, các quan cùng đến tập họp ở Sở Tịch điền.

      Hậu quân Nguyễn Hanh và thị lang Bộ Binh Lê Đại đảm trách việc rước hoàng tử Ưng Đăng ở Khiêm lăng về Điện Quan canh ở Sở Tịch điền. Hai vị phụ chính và bá quan vào lạy mừng. Đến sáng rõ, Thuyết cho mời các trực thần đến họp. Quá trưa Ưng Đăng được đón về Viện Cơ mật, và Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết đem tờ tâu của bách quan dâng lên thái hoàng thái hậu. Các hoàng thân cũng được triệu tập để nghe thông báo tình hình.

      Đến sáng, Hiệp Hoà cho gọi trực thần, không thấy có người nào, mới biết là có chính biến. Nhà vua liền viết chiếu nhường ngôi để sẵn. Tuy Lý vương, Hồng Tu, Hồng Sâm ở ngoài thành nghe tin bèn đem gia quyến chạy xuống Thuận An cầu cứu với quân Pháp. Các hoàng thân Miên Triệu, Miên Tông bỏ trốn.

      Kinh đô hoàn toàn yên tĩnh. Toà Khâm sứ hoàn toàn bị bất ngờ nên không có phản ứng kịp thời. Hiệp Hoà đành phái thái giám Trần Đạt chuyển chiếu nhường ngôi cho triều thần với yêu cầu đuợc trở về phủ cũ ở Phú Xuân.

      Chính việc bí mật liên minh với Pháp đã đưa Hiệp Hoà đến cái chết. Không thể để Hiệp Hoà về Phú Xuân để rồi sau đó người Pháp can thiệp, lật ngược tình thế. Ông Ích Khiêm và Trương Văn Đễ được lệnh đón Hiệp Hoà ở cửa Hiển Nhơn, đưa phế đế đến Nha Hộ thành và ép uống thuốc độc.

      Hoàng tử Ưng Đăng được rước vào điện Hoàng Phúc chờ chọn ngày tốt làm lễ đăng quang.

      Ngay đêm ấy, 30 tháng 10, phụ chính Trần Tiễn thành vì không đồng ý việc truất phế Hiệp Hoà, đã bị giết tại nhà riêng ở ấp Doanh Thị Trung.

      Ngày 1.11 Quý mùi (30.11.1883), Hiệp Hoà được phủ Tôn Nhơn chôn cất theo nghi lễ quốc công.

      Lịch sử triều đình Huế và lịch sử đấu tranh chống Pháp lật sang một trang mới. Việc lật đổ Dục Đức rồi Hiệp Hoà trong vòng hơn 4 tháng (20.6 Quý mùi đến 30.10 Quý mùi: 23.7.1883 – 29.11.1883) là những sự kiện tích cực trong một giai đoạn đầy khó khăn của Đất nước từ sau khi vua Tự Đức băng hà.

      Ý nghĩa của sự phế lập mà Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết cùng với triều thần thực hiện một cách quyết đoán sẽ dễ nhận thấy nếu ta lưu ý đến những nỗ lực cải cách và chuẩn bị chống Pháp lâu dài dưới hai triều Kiến Phúc và Hàm Nghi.

      Tuy vậy, trong một thời gian dài kể từ khi vua Hàm Nghi rời bỏ kinh thành Huế (1885) cho đến nay, sự thực lịch sử đã được phản ánh thiếu chân thực: Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết bị lên án là quyền thần độc ác, và cái tội của Dục Đức cùng Trần Tiễn Thành, lại đem gán cho hai vị phụ chính:

-     “Ông Thuyết và ông Tường hùa nhau khuấy rối việc nước, hết sức lộng quyền, độc ác” (27).

-     “Được ba ngày thì Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đổi tờ di chiếu, bỏ ông Dục Đức” (28).

      Chính những xuyên tạc có chủ ý như vậy đã khiến cho nhiều nhà nghiên cứu không biết đến những cải cách tích cực dưới hai triều Kiến Phúc và Hàm Nghi. Các ngòi bút của Gosselin, Delvaux, Gauthier… mô tả chẳng những Dục Đức, Hiệp Hoà là những nạn nhân đáng thương của các phụ chính chuyên quyền mà Kiến Phúc, Hàm Nghi cũng chỉ là hai con rối trong tay Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết. Thậm chí việc vua Kiến Phúc mất vì bệnh như Đại Nam thực lụcHạnh Thục ca ghi nhận (29) người ta cũng cố tình gán cho Nguyễn Văn Tường. Từ một chú thích ghi rằng đó là lời đồn của Trần Trọng Kim, nó trở thành một sự thực lịch sử, trong nhiều sách vở hiện nay, cả trong giáo trình đại học!

      Trong chiều hướng đó, các tác giả như Trần Trọng Kim, Đào Trinh Nhất, Phạm Văn Sơn … không hề biết đến một sự thực lịch sử rất quan trọng: công cuộc chuẩn bị cho một cuộc kháng Pháp lâu dài đã được tiến hành từ sau khi Hiệp Hoà bị phế và biến cố 23 tháng 5 Ất dậu đã nổ ra là do bàn tay bức bách của thực dân Pháp mà De Courcy là người thực hiện. Phong trào Cần vương nổ ra sau ngày vua Hàm Nghi rời Huế đã được chuẩn bị dưới hai triều Kiến Phúc và Hàm Nghi.

      3.

      Công việc chuẩn bị cho một cuộc kháng Pháp lâu dài:

 

      Vua Kiến Phúc lên ngôi mở đầu một thời kỳ mới, tuy ngắn ngủi (11.1883 đến 7.1885), nhưng có nhiều cải tổ tích cực.

       - Vấn đề nhân sự:

      Ba nhân vật đứng đầu triều đình Kiến Phúc và trở thành phụ chính dưới triều Hàm Nghi là Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, Phạm Thận Duật nắm giữ ba bộ chủ chốt là Bộ Lại, Bộ Binh và Bộ Hộ. Quân đội do tiền hậu và tả quân Nguyễn Hanh, hữu và trung quân Hồ Văn Hiển nắm giữ. Trần Xuân Soạn chỉ huy đội quân Phấn Nghĩa.

      Các quan lại thân Pháp, các hoàng thân chủ hoà bị đày hoặc bị giáng chức như Tuy Lý, Hồng Hưu. Thượng thư Bộ Công Trần Văn Chuẩn vẫn được bổ nhiệm, làm dinh diền sứ Quảng Bình, thượng thư Bộ Lại Nguyễn Trọng Hợp (người ký hoà ước Quý mùi) bị giải chức. Kiên Giang quận công Ưng Kỷ bị giáng làm Kiên Giang hầu. Nguyễn Hữu Độ bị khiển trách vì lộng quyển ở Bắc Kỳ.

      Tinh giản bộ máy ở triều đình: từ 539 người xuống còn 219. Nhờ thế mà lương bổng quan lại được tăng.

      Đặc biệt là từ đầu năm Giáp thân (1884), dụ triệu dụng các tiến sĩ, phó bảng và các quan tại quán được ban hành. Tất cả những người khoa bảng, những tú tài và cử nhân đã từng làm quan nhưng vì một lý do gì đó đang ở tại quê hương đều phải lưu kinh đợi lệnh. Chính trong dịp này mà Phan Đình Phùng, Nguyễn Duy hiệu … được giao phó những trách nhiệm mới tại quê hương.

- Về quân sự:

      Để chuẩn bị cho việc chống Pháp lâu dài, hệ thống sơn phòng các tỉnh được củng cố. Đường thượng đạo nối kinh đô và các sơn phòng phía bắc, phía nam được tu sửa. Thành Tân Sở (Sơn phòng Quảng Trị) và Sơn phòng Dương Yên ở Quảng Nam được củng cố và mở rộng. Vàng bạc, súng đạn, lương thực được chuyển đến Tân Sở và Dương Yên. Các sơn phòng chánh sứ được tuyển bổ. Họ sẽ là người lãnh đạo Cần vương khi hữu sự.

      Các dân tộc miền núi được hưởng những ưu đãi như giảm thuế nguồn 6/10 cho Thanh Hoá, 5/10 thuế sáp ong cho Khánh Hoà, bổ dụng Cầm Bá Thước làm bang biện Thường Xuân và Lương Chánh (Thanh Hoá). Triều đình ra chỉ dụ dân Mường Vang, Nà Bồn, Thượng Kê, Xương Thịnh, Làng Thìn, Thuỷ Xá, Hoả Xá để làm chỗ dựa cho cuộc kháng chiến.

      Để tăng cường chất lượng quân đội, các biện pháp sau đây đã được thi hành:

-           Cho lính già yếu về quê.

-           Nâng cao tiêu chuẩn luyện tập, bắn súng Tây.

-           Lập quân Phấn Nghĩa do đề đốc Trần Xuân Soạn chỉ huy.

-           Cấp tiền tuất cho số quan quân mất tích ở Thuận An. Cấp tuất và truy thưởng cho binh lính và sĩ quan hy sinh ở Thuận An và ở Bắc Kỳ.

-           Kêu gọi nhân tài ra giúp nước (chiếu lên ngôi), mở các ân khoa hương thí tại Bình Định, Thừa Thiên, Thanh Nghệ (1884), ân khoa thi hội (Ất dậu), kêu gọi đoàn kết lương – giáo (dụ cho Đạo Bình).

      Tất cả những sự việc đó được thực hiện từ tháng 10 Qúy mùi (1883) đến tháng 5 Aát dậu (1885). Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, Phạm Thận Duật là những người lãnh đạo *.

      4.

      Sự kiện thất thủ kinh đô (23 tháng 5 Ất dậu: 5.7.1885):

      Thông thường sách sử thường cho rằng Tôn Thất Thuyết đã chủ động trong biến cố 23.5 Ất dậu và phong trào Cần vương là hệ quả tiếp theo. Cần phải làm rõ là sự thực không phải như vậy.

-           Việc phế Dục Đức và sau đó Hiệp Hoà là các thất bại của thực dân Pháp.

-           Các biện pháp thi hành dưới hai triều Kiến Phúc và Hàm nghi là để chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến lâu dài, rõ ràng bất lợi cho Pháp.

      Vì thế, Pháp tìm cách bức hiếp triều đình Huế và triệt hạ nhóm chủ chiến hầu ngăn chận công cuộc chuẩn bị của triều đình Huế, không cho hoàn tất.

-           Nhân vua Kiến Phúc mất (10.6 Giáp thân), Pháp không ngần ngại thông báo cho triều đình Huế ý muốn của Pháp là đưa Hồng Hưu lên ngôi. Ngày 13.6, triều đình phải vội vã tấn tôn Hàm Nghi.

-           Lấy cớ dự tấn phong Hàm Nghi, Pháp đưa Guerrier đến Huế thị oai, treo cờ tam tài ở Mang Cá, triệt 45 súng thần công vốn bố trí hướng qua Toà Khâm.

-           Ở Quy Nhơn, Pháp cho đóng đinh lỗ châu mai 67 súng thần công ở Nha Hải phòng, tịch thu súng tay và thuốc đạn cùng tiền bạc.

-           Ở Hải An, Pháp bắt thự tổng đốc Hà Văn Quan, lấy giấy tờ vàng bạc và ấn triện rồi ngang nhiên chở Hà Văn Quan vào Gia Định.

-           Nguyễn Hữu Độ, quyền Hà – Ninh tổng đốc, dựa thế Pháp, tự ý bổ nhiệm Hoàng Cao Khải làm bố chánh Lạng Sơn và Nguyễn Huy Lân làm án sát, xây sinh từ chi phí lên tới hàng vạn lạng.

-           Tất cả việc Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, Phạm Thận Duật (về sau) chuẩn bị chống Pháp đều bị các giám mục Caspar và Puginier tường trình chi tiết cho thực dân.

-           Biện pháp cuối cùng của Pháp là phái De Courcy đến với chức vụ Trung Bắc toàn quyền kiêm quản quân dân sự vụ. Đến Bắc Kỳ ngày 31.5.1885, De Courcy đã thực hiện một chính sách quyết liệt nhằm mục đích loại trừ nhóm chủ chiến.

      Trước thái độ khiêu khích, hống hách và gây hấn của De Courcy, Tôn Thất Thuyết vẫn muốn tránh một cuộc đụng đầu có lợi cho Pháp và vì cuộc chuẩn bị kháng chiến chưa hoàn tất.

 

[… xem thêm nguyên văn bài viết

ở phần chú thích cuối phần trích này …- nbs.]

      Chính vì vậy mà ngày 2 tháng 6 Ất dậu, từ Tân Sở vua Hàm Nghi đã gửi dụ cho Nguyễn Văn Tương cùng ngày với dụ Cần vương:

      “Nay đại thần Tôn Thất Thuyết cùng ta cùng quanh quẩn, còn người là phụ chính đại thần thi ở lại mà thương đàm, kẻ ở người đi đều lấy lòng yêu nước lo dân làm căn bản” (37).

      Trong dụ cho hoàng tộc, nhà vua cũng đề cập đến vai trò của phụ chính Nguyễn Văn Tường ở Huế:

      “Nay có phụ chính huân thần là Nguyễn khanh ở lại giảng thuyết, che chở nhiều việc, hơi được yên ổn; huân thần tâm sự như thế, cáng đáng như thế, thực là đau khổ quá chừng. Nhân vật nước ta, những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được. Trẫm cũng dụ cho đại thần ấy hết lòng bàn tính công việc, tâu chờ quyết định” (38).

      Cáo thị của De Champeaux về việc kết tội lưu Nguyễn Văn Tường cũng xác định rõ:

      “Văn Tường từng đã chống cự nước ấy [Pháp] thực đã nhiều năm. Từ khi cùng với Tôn Thất Thuyết sung làm phụ chính, chỉn lại đổng xuất quan quân nổi dậy công kích binh nước ấy; và Văn Tường do đô thống ấy [De Courcy] xin cho hai tháng lo liệu việc nước cùng Bắc Kỳ đều được lặng yên vô sự, đến ngày 27 tháng ấy hết hạn, mà các tỉnh tả kỳ về phía Nam có nhiều nơi nổi quân chém giết dân giáo. Đến đây đô thống ấy định án, ưng kết tội lưu. Hôm ấy [27.7 Aát dậu: 5.7.1885], chở đem Văn Tường đến cửa biển Thuận An …” (39).

      Nguyễn Văn Tường bị chở vào Gia Định rồi từ Gia Định đi Côn Đảo; sau đó, đến Tahiti vào tháng 2.1886. Và như chúng ta đã biết, trên cùng chuyến lưu đày có Tôn Thất Đính, thân phụ Tôn Thất Thuyết, và Phạm Thận Duật. Qua eo bể Malacca, Phạm Thận Duật qua đời và được thuỷ táng. Còn ông, hai tháng ở Thương bạc, sáu tháng trên đường lưu đày để từ Huế đến Papeete xa xôi giữa Thái Bình dương và sáu tháng trên hòn đảo mồ côi ở cõi cùng này, hẳn ông đã đau xót là dường nào khi đã tận lực mà chẳng xoay chuyển được vận nước. Người đời có hiểu cho chăng tấm lòng của ông đối với đất nước khi cuối đời ông rơi vào một tình huống dễ gây ngộ nhận:

“U trung thuỳ bạch, thiên thu hậu

Xã tắc, quân, dân, thục trọng, khinh?”

(Lòng u uẩn nghìn năm ai tỏ

Tổ quốc, vua, dân, đâu trọng, khinh?).

      Lịch sử bao giờ cũng công bình, sẽ trả lại cho ông sự trong sáng của một người có tài, có tâm, đã tận tuỵ vì vua, vì nước. Ông cũng đã đền ơn tri ngộ khi thực hiện lời hứa “không làm kẻ bên lề ngồi xem thành bại”.                                                                                                                                                                                TRẦN VIẾT NGẠC

(+) Nguyên giảng viên ĐHSP. TP.HCM..         

Chú thích của tác giả bài viết:

(1) Dụ tự biếm: Tự Đức thánh chế tam tập, quyển I, bản dịch của Bùi Tấn Niên, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hoá (Sài Gòn) xuất bản, 1971, tr.  80 – 82.

(2) Tlđd., như trên.

(3) Quốc sử quán, Đại Nam thực lục chính biên (ĐNTL.), bản dịch của Viện Sử học, tập 35, Nxb. KHXH., Hà Nội, 1976, tr.199.

(4), (5) ĐNTL., sđd., tr. 200 – 201.

(6) ĐNTL., sđd., tập 35, tr. 206.

(7) Theo Nguyễn Lý Tưởng, đặc san Thương về Quảng Trị, tr.101 – 102.

(8) Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, in lần thú 6, Nxb. Tân Việt, Sài Gòn , 1958, tr.  566.

(9) ĐNTL., sđd., tập 35, tr. 254.

(10) Cao Huy Thuần, Đạo Thiên Chúa và chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam (1857 – 1914), luận án tiến sĩ, bản dịch in ronéo của Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, 1973, tr. 318 (Thư khố Bộ Pháp quốc Hải ngoại, A.30 [58], hộp số 16).

(11), (12) ĐNTL., sđd., tr. 256.

(13) ĐNTL., sđd., tr. 221 – 223.

(14) ĐNTL., sđd., tập 35, tr. 230.

(15) ĐNTL., sđd., tập 35, tr. 237.

(16) ĐNTL., sđd., tập 35, tr. 230.

(17) ĐNTL., sđd., tập 35, tr. 226.

(18) ĐNTL., sđd., tập 35, tr. 229.

(19) ĐNTL., sđd., tập 35, tr. 255.

(20) ĐNTL., sđd., tập 35, tr 244; tập 36, tr. 43.

(21) ĐNTL., sđd., tập 36, tr. 43.

(22) ĐNTL., sđd., tập 35, tr. 246.

(23) ĐNTL., sđd., tập 35, tr. 253 – 254, 255.

(24) ĐNTL., sđd., tập 35, tr. 246.

(25) ĐNTL., sđd., tập 35, tr. 230.

(26) ĐNTL., sđd., tập 35, tr. 256.

(26b) ĐNTL., sđd., tập 35, tr. 257.

(27), (28) Trần Trọng Kim, VNSL., sđd., tr. 533.

(29) Hạnh Thục ca : Hết lòng khấn vái thuốc thang

                       Gẫm âu số mệnh đành khôn cải trời!

      * Phạm Thận Duật và Tôn Thất Thuyết có nhiều mối quan hệ gắn bó từ 1875. Khi Tôn Thất Thuyết làm hộ lý Tổng đố Ninh – Thái, coi việc quân 4 tình Ninh, Thái, Lạng, Bằng thì Phạm Thận Duật làm tuần phủ Bắc Ninh. Khi Tôn ThấtThuyết thăng thự tổng đố Ninh – Thái, Phạm Thận Duật làm hộ lý tổng đốc. Giữa năm 1882, Tôn Thất Thuyết mới cè triều, Phạm Thận Duật đã cùng Lâm Hoành dâng sớ lên vua Tự Đức xin nhường chân Cơ Mật viện đại thần cho Tôn Thất Thuyết (vua không chấp nhận). Giữa Tôn Thất Thuyết và Phạm Thận Duật còn có tình hứa thông gia: con trai Tôn Thất Thuyết là Tôn Thất Đàm hứa hôn cùng cô Phạm Thị Thư, con gài Phạm Thận Duật.

            Phạm Thận Duật lúc làm thượng thư Bộ Hộ đã kiêm chức tham tri Bộ Công để trực tiếp coi sóc việc xây dựng các sơn phòng và căn cứ Tân Sở. 

(30) Nguyễn Văn Mại, Lô Giang tiểu sử, Nguyễn Hy Xước dịch, bản in ronéo, 1961, tr. 34, 38 – 39. [Đây là một bức thư nguỵ tạo; xin xem chú thích (7) của nbs., cuối bài của GS. Đoàn Quang Hưng – TXA.].

(31) Lam Giang, Võ Ngọc Nhã (sưu tầm), “Đặng Đức Tuấn, tinh hoa công giáo ái quốc” [!], Sài Gòn, 1971, tr. 516 – 517.

(32) Cao Huy Thuần, sđd., tr. 319.

(33) Nguyễn Văn Mại, Lô Giang tiểu sử, tr. 34.

(34) Bắc Kỳ tấu nghị.

(35) Bản tấu ngày 01.11 Tự Đức 27 (1874).

(36) Bản tấu gửi thái hoàng thái hậu Từ Dũ, ngày ?, tháng?, năm?, trong tập Nam Kỳ tấu nghị.

(37) ĐNTL., sđd., tập 36, tr. 225.

(38) Dụ các người trong họ, ĐNTL., sđd., tr. 227.

(39) ĐNTL., sđd., tập 36, tr. 247.

Nguyên văn đoạn tách khỏi bài viết (không phù hợp với chủ kiến của cuốn sách này – nbs.):

Chiều 4.7.1885 (22 tháng 5 Aát dậu), Tôn Thất Thuyết đã viết thư cho De Courcy với nội dung thông báo: Tôn Thất Thuyết sẽ từ chức thượng thư Bộ Binh để người khác thay thế sang hội kiến với De Courcy. Đó là một quyết định nhượng bộ nhưng đồng thời cũng là một biện pháp làm bộc lộ âm mưu của Pháp muốn loại trừ Tôn Thất Thuyết. Hẳn chúng ta còn nhớ Rheinart đã từng đe dọa bắt Tôn Thất Thuyết và gia quyến nếu triều đình không chịu đưa Hồng Hưu lên ngôi!

      De Courcy đã không chịu nhận thư.

      Một sự kiện quan trong như thế nhưng Đại Nam thực lục, L’Empire d’Annam, La prise de Huế par les francais, Le roi proscrit … đều vô tình hay cố ý không nói đến. Chính Nguyễn Văn Tường đã thuật lại trong thư gửi thống đốc Tahiti:

      “Ngày 22, y viết một bức thư giao cho thiểm xem, trong thư y nói rằng y đương mắc bệnh, quan toàn quyền không cho cáo, để lâu ngày sợ trễ nải việc nước, y xin từ chức về quê dưỡng bệnh và xin đổi viên khác thay cho đủ số thượng thư. Thiểm sai người đưa thư trình quan toàn quyền, ngài không chịu nhận xem lại tư cho thiểm rằng nếu Tôn Thất Thuyết không qua Tòa thì nhất định không đưa sắc thư” (30).

      Hai tác phẩm thơ trường thiên “Dậu tuất niên gian phong hoả ký sự”“Đại loạn năm Ất dậu” đều xác nhận:

“Thuyết e sinh sự chẳng hiền

Gửi thư tạ lỗi, toàn quyền không coi”

                         (Dậu tuất …)

“Tôn gửi qua xin lỗi một tờ

Toàn trả lại không thèm ba chữ!”.

      Trước thái độ ngạo mạn của De Courcy như thế, song Nguyễn Văn Tường vẫn muốn thi hành một kế sách hoà hoãn nên quyết định rằng Tôn Thất Thuyết phải qua hội kiến với De Courcy. Từ Dụ cũng ra sắc chỉ buộc Tôn Thất Thuyết phải qua Toà Khâm sứ vào sáng 23 tháng 5. Tôn Thất Thuyết vì thế phải quyết định dùng quân Phấn Nghĩa tấn công Mang Cá và Toà Khâm, tạo điều kiện rước vua ra Tân Sở, phát động cuộc kháng chiến Cần vương như kế hoạch dự trù từ trước. Chính vì thế mà Nguyễn Văn Tường không được thông báo về cuộc tấn công, và khi cuộc tấn công thất bại, người Pháp phản công, Nguyễn Văn Tường đã vào cung rước vua và tam cung tạm lánh lên Khiêm lăng để tiếp tục thương lượng. Chính vì thế dưới mắt thực dân Pháp và các giám mục người Pháp lúc bấy giờ, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đã phân công nhau đối phó với Pháp:

“Thuyết , Tường tính việc dữ rồi, không xong…”

“Thuyết, Tường sanh sự sự sanh

Đem Hàm nghi trốn, bôn hành Khiêm lăng

Cùng nhau bàn luận rứa răng

Thuyết đi hộ giá, Tường băng về đầu!

Khéo làm chước nhiệm mưu sâu

Pháp quan mắc mớp tưởng đâu thật tình …”

                           (Dậu tuất niên gian…)

Toàn nghe nói tưởng Tường kim thạch

Mà nổi cơn giận Thuyết lôi đình! (31)

      Chính vì thế mà:

      “Puginier, giám mục ớ Bắc Kỳ, và Camelbeck, giám mục ở Quy Nhơn, đã mở một chiến dịch điên cuồng tấn công chống Nguyễn Văn Tường mà theo họ là kẻ thù lớn nhất của người Pháp và đồng thời cũng là người An Nam điêu toa [!] nhất mà người ta có thể gặp … Sự hợp tác của ông ta và De Courcy là một mưu mô nhằm đánh lừa người pháp” (32).

      Nguyễn Văn Mại, một quan lớn của triều đình bù nhìn cũng nhận xét:

      “Nguyễn Văn Tường ngoài mặt tuy chủ hoà mà bề trong một lòng với Thuyết” (33).

      Nhận định Tường và Thuyết là một là có cơ sở. Không phải từ năm 1882, lúc Tôn Thất Thuyết về triều giữ chức thự thượng thư Bộ Binh, hai người mới có dịp gặp nhau, mà Nguyễn Văn Tường trong tám năm quân vụ, làm tán tương ở đất Bắc, đã gặp Tôn Thất Thuyết. Ông có nhận xét về Tôn Thất Thuyết trong bản tấu gửi vua Tự Đức ngày 20 tháng 6 năm Tự Đức 26 (1873) như sau:

      “Tham tán thần Tôn Thất Thuyết theo việc quân lâu ngày, am tường chinh chiến, binh lính tướng tá đều sợ tánh nghiêm, nên cũng gọi là tay năng nổ. Nguyễn Đình Thi gặp việc nhận rõ chân tướng chẳng nề gian hiểm (châu điểm), từng ở lâu nơi biên địa, tình thế khá quen, nhưng dùng binh không nghiêm trọng bằng Tôn Thất Thuyết” (34).

      Sau khi vua Tự Đức băng hà, hai ông đã cộng tác mật thiết với nhau trong việc chống lại những vua tôi chủ hoà, phế Dục Đức rồi hiệp Hoà và cùng nhau chuẩn bị cho công cuộc chống Pháp lâu dài. Sự khác nhau về sở trường và về tính cách lại chính là chỗ bù đắp cho nhau để công việc đạt hiệu quả hơn. Tôn Thất Thuyết cầm binh tính nghiêm, có cái uy của một ông tướng (dân gian gọi Tôn Thất Thuyết là quan Tướng). Tôn Thất Thuyết căm ghét người Pháp – cả gia đình ông đều như vậy – và chưa hề tiếp xúc với Pháp. Nguyễn Văn Tường sở trường về ngoại giao và sâu sắc về chính trị, nhiều lần thương thuyết với Pháp và đã thay mặt triều đình ký với Pháp hoà ước Giáp tuất (1874), thương ước Giáp tuất (1874) và hoà ước Giáp thân (1884). Ông chủ trương thương thuyết với Pháp để tránh xung đột bất lợi trước mắt vì lực lượng chênh lệch, mua thời gian để củng cố, thực hiện kế hoạch chuẩn bị để chống Pháp lâu dài.

      Trong bản tấu đề ngày 8 tháng 3 năm Tự Đức 21 (1868), ông đã nói rõ ý kiến của ông:

      “Người Phú kia từ trùng dương đến đây, có chỗ cậy trông từ trước, mà cơ trí lại tham lam, giảo quyệt, sánh với Hung Nô, Khiết Đan thì càng hơn hẳn…

      Ngày nay tình thế cũng như vậy. Nó quỷ quyệt đã hơn mười năm nay mà triều đình trên thì không thể xem thời, xét thế, như cánh thuyền phân vân, cứ uỷ suông cho chủ lo lắng, việc tự cường tự tại nói rồi lại bỏ, trù liệu thì chẳng tiến triển, không biết lòng của các bề tôi như thế nào… Vả lại, từ xưa, muốn cho nước mạnh, chưa từng không chú ý đến binh lực, của cải hai điều. Thần xin chuẩn cho đặt kho nghĩa thương, để dành binh lương, bắt dân dõng bảo vệ làng xóm. Nhưng làm không lâu lại bỏ. Nay kẻ chăn dân, dạy chữ, nhiều người mất chức, không biết lấy gì để kêu gọi hoà hợp dân sinh. Kẻ cầm binh thì không biết yêu thương nuôi dưỡng. Việc công dịch, thuế khoá, sĩ tốt đã có lời oán hận. Ở Bắc Kỳ thì giặc cướp lộng hành. Kinh sư có dạy nghiêm thì binh dân lìa nhau mà dễ lầm lạc. Từ đó hiện tình thật đáng lo sợ. Nếu không lo điều ấy, thì bề tôi dẫu có tận tuỵ với chức vụ sổ sách, hoặc chỉ đem lời nói suông mà phê phán giặc mạnh, thì việc nội trị cũng ngày càng sai lầm, tương lai biết thế nào! Thần ngu dại không dám trù liệu ngược ngạo, chỉ đến khi Nam Kỳ đã cắt hết đất, muốn cùng đỡ đần để tự giữ thì thế lực cũng khó đương, muốn bồi thường tiền của để giữ yên ổn thì lòng địch chưa chán. Năm tháng trôi qua, sự thế ngày càng xô bồ, đến thế thì lấy gì để an uỷ sự linh thiêng của Liệt Thánh, đáp tạ sự trông mong của sĩ dân. Thần tuy chức phận nhỏ nhoi, cũng là quan lại của hoàng thượng, suốt đêm lo nghĩ không chịu nổi xúc động.

      Người xưa nói rằng, chiến rồi sau mới thủ được, thủ rồi sau mới có thể hoà được, cũng là chỉ cái thế lực tương đương vậy. Như nay, xem xét tình thế hiện tại của ta và nó, thần xin nói rằng: hoà để thủ, thủ để mưu chiến mới hợp cơ nghi, mà may mắn mới không sai lầm. Xin nguyện: hoàng thượng vững vàng duy trì sự giao thiệp với nước lân bang, có đường lối, dần dần bày tỏ sự thành thực sửa đổi việc nội trị, không quên điều nhục nước, thận trọng chọn người chăn dân, cầm binh, lo nuôi dưỡng dân, chiêu hiền, ắt như Hán Cao tổ vào đất Ba Thục, tiết giảm của dùng, công dịch, việc sinh tụ, dạy dỗ, ắt như Câu Tiễn ẩn nhẫn ở Cối Kê, trên dưới một lòng, tôn thân, hiền sĩ giúp đỡ hoặc có thể đợi vận trăm năm của triều đình, để duỗi cái uy trong nước. Thần tuy hèn kém, dâu dám tiếc cái sống thừa …”.