posted: 15.8.2005
Gs.
Đoàn Quang Hưng Từ
triều Minh Mạng trở đi, nhà Nguyễn phải đối phó với hai vấn đề lớn: 1.
Những
cuộc nổi dậy ở trong Nam (Lê Văn Khôi) và ngoài Bắc (Phan Bá Vành, Lê
Duy Lương, Nông Văn Vân... rồi Tam Đường, Châu Chấu, Ngô Côn và bọn thổ
phỉ Tàu...). 2.
Âm
mưu xâm lược của Pháp. Từ
triều Tự Đức, một nhân vật đã có những hoạt động trực tiếp liên
hệ đến những biến cố trọng đại thuộc hai lãnh vực trị an và ngoại
giao, đó là ông Nguyễn Văn Tường. Trong tình hình phức tạp của đất
nước, trong giai đoạn vô cùng khó khăn ấy, có lúc ông tích cực tham gia
kế hoạch chung của Triều đình, có lúc ông đóng một vai trò quyết định;
có lúc ông thành công trong nhiệm vụ được giao phó, cũng có lúc ông thất
bại, thất bại đến phải bị lưu đày và chết trong vòng lao lí nơi đất
khách. Gặp
gian truân ngay từ thuở thiếu thời, cuộc sống đầy sóng gió của ông thật
đáng cho ta suy gẫm vì nó gắn liền với lịch sử của dân tộc. Nhưng tiếc
thay, do những điều kiện lịch sử của một thời, chúng ta chưa hiểu rõ
ông, chưa đánh giá đúng mức con người và sự nghiệp của ông. Trong bài
này, chúng tôi không có tham vọng làm sáng tỏ đôi điều bí ẩn, đính
chính một số nhận xét phiến diện vì sử dụng những tài liệu của thực
dân Pháp, những lời xuyên tạc có ác ý vì khác lập trường chính trị,
mà chỉ cố gắng tìm hiểu chủ trương và thái độ của ông sau biến cố
Ất dậu (1885). Ông
bắt đầu phục vụ tại Thành Hóa (sau được đổi tên là Cam Lộ), một
huyện thuộc vùng rừng núi tỉnh Quảng Trị. Trong tám năm (1) tại chức,
ông thực hiện kế hoạch khai hoang, di dân lập ấp và tạo điều kiện
thuận lợi cho đồng bào Kinh Thượng định cư và làm ăn buôn bán. Nhờ
thành quả thu được ở Thành Hóa mà năm 1864, khi giữ chức phủ doãn Thừa
Thiên, ông còn kiêm nhiệm thêm chức khuyến nông sứ Thừa Thiên và Quảng
Trị. Nhưng quan trọng hơn, chính những năm tháng ở Thành Hóa đã giúp
ông nhận rõ vị trí chiến lược quan trọng của vùng này để về sau đề
nghị xây dựng tại đây căn cứ kháng chiến Tân Sở. Sau
cuộc nổi loạn [đảo chính – nbs.] Chày Vôi do Đoàn Trưng và Đoàn Trực
khởi xướng ở kinh thành, ông bị cách chức phủ doãn và trở về Thành
Hóa để phụ trách việc mở mang vùng sơn cước này. Nhưng rồi bọn giặc
Khách đánh phá mạnh ở Bắc Kì, ông được điều động ra Bắc làm tán
lí quân vụ, phụ tá cho tướng quân Hoàng Kế Viêm. Trong bảy năm (2) liên tiếp ở trong quân ngũ, ông đã thâu
thập được những kiến thức quân sự và kinh nghiệm chiến trường
rộng rãi, đồng thời nhận định rõ thực lực của quân đội ta. Cũng
như bản tấu sau khi từ Nam Kì về (1868), trong những bản tấu gửi từ Bắc
Kì về cho nhà vua, ông đưa ra những nhận định xác đáng và những đề
nghị thực tiễn. Ông đã từng nhấn mạnh rằng: “Từ xưa, muốn cho
nước mạnh, phải chú trọng đến binh lực” và đề nghị đặt
nghĩa thương để dành binh lương, bắt dân dõng bảo vệ làng xóm... Trên
nhận định căn bản rằng: “Không lo bọn giặc ngang ngược, chỉ lo ta không thể
tự cường, không lo bọn giặc tham tàn, chỉ lo ta không thể tự giữ”, ông
nêu các câu hỏi: “Kinh sư là đất
căn bản, đồn lũy đã vững chăng? Khí giới đã tinh chăng? Chí quân, lòng dân đã được
khích lệ chăng? Đường bộ, đường thủy đã vững khắp chăng? Quân lương,
binh lính làm thế nào cho tinh và đủ? Hào mục sĩ dân làm thế nào cho
chuyên luyện? Nơi nào hiểm yếu cần phải giữ, phép phòng thủ nào tất
vững?...” (3). Cũng
trong thời gian quân thứ, ông đã có dịp thảo luận với các tướng lãnh
có trách nhiệm bảo vệ và bình định Bắc Kì như Hoàng Kế Viêm, Phạm
Thận Duật, Tôn Thất Thuyết, Trương Văn Đễ, Hoàng Diệu, Ông Ích
Khiêm... và tường trình cho vua Tự Đức, theo chính lời yêu cầu của nhà
vua, những nhận xét của ông về những nhân vật này để nhà vua theo dõi
và sắp đặt nhân sự; nhiều lần, ông qua Tàu để thương nghị với đề
đốc Quảng Tây là Phùng Tử Tài về việc hợp tác giữa hai nước Hoa –
Việt để tiễu trừ bọn thổ phỉ ở vùng biên giới. Kết quả là Phùng
Tử Tài đem quân 26 doanh sang nước ta để phối hợp với quân ta mà hội
tiễu. Những văn thư ngoại giao ông gửi cho nhà đương cuộc Trung Hoa về
sau được tập trung lại thành tập Việt
– Trung giao thiệp. Cho
nên, nắm vững tình hình quân sự, ông chủ trương một cuộc kháng chiến
trường kì với thực dân Pháp: củng cố binh lực, cải tiến vũ khí, huy
động dân chúng, tăng cường hệ thống sơn phòng, xây dựng chiến khu Tân
Sở, liên kết mọi phong trào kháng chiến từ Bắc đến Nam và phát động
phong trào Cần vương... Tất cả những hoạt động quân sự ấy, ngoài mục
đích mưu chiến, còn có tác dụng hậu thuẫn cho chính sách ngoại giao đối
với Pháp và củng cố địa vị của nước ta trên bàn hội nghị. * * * Là
một người có kiến thức sâu rộng (ông hiếu học từ thuở thiếu thời),
và mưu lược, lại có nhiều kinh nghiệm về quân sự và ngoại giao, ông
nêu rõ lập trường trong một bản tấu đệ trình nhà vua năm Tự Đức thứ
21 (1868): “Chiến rồi mới thủ được, thủ rồi mới có thể hòa được...Hòa
để mưu giữ, giữ để mưu chiến mới hợp cơ nghi... Cái hòa ngày nay thực
là ngược với lời bàn của dân chúng”. Biết
rằng lòng dân không muốn “hòa”, từ năm [1864, 1866 – nbs.] 1868, ông chủ
trương kháng chiến. Nhưng vì quân ta thua sút quân địch về vũ khí, trong
một giai đoạn nhất định, ta phải nỗ lực giữ vững đất nước đồng
thời điều đình với Pháp. Và giảng hòa chỉ có mục đích tranh thủ thời
gian để củng cố lực lượng quân sự hầu tiếp tục kháng chiến đến
thắng lợi cuối cùng. Tóm lại, hòa để thủ và thủ để mưu chiến, và
chủ hòa (4) trong toàn bộ chiến lược của
ông, không phải là đầu hàng. Giữa hòa và chiến, theo quan niệm của
ông, có một sự liên hệ trực tiếp, mật thiết và hữu cơ. Như
vậy một khi chính sách đã được minh định rồi, thì dù vì nhu cầu ngoại
giao của giai đoạn, vua Tự Đức muốn hòa hoãn, có lúc Hoàng Kế Viêm vẫn
tiếp tục huy động quân đội để gây áp lực với Pháp. Và cũng vì trong lúc điều đình, ông Nguyễn Văn Tường vẫn chủ trương kháng chiến
nên người Pháp nói rằng ông là “kẻ thù lớn nhất của người Pháp”
và mưu loại ông ra khỏi chức vụ ở Thương bạc viện và Cơ mật
viện. Công
cuộc kháng chiến của dân chúng, của phong trào Cần vương tạo điều kiện
cho việc thương thuyết. Nếu Pháp không thuận theo những
điều kiện của ta thì dân chúng vẫn tiếp tục chiến đấu và ta không
chịu trách nhiệm về những biến động xảy ra. Đó là luận điệu
mà ông Nguyễn Văn Tường sử dụng để yêu cầu Philastre trả lại
các thành Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình, Hải Dương sau khi Françis Garnier bị
giết: “Nay đại úy Francis Garnier chết,
hoặc là bị giặc giết, hoặc là vì
dân nổi lên làm loạn, việc ấy ta chưa rõ. Huống chi trả thành lại để
định hòa ước cho xong, đó là lệnh của quý súy phủ; mà thu lấy thành
rồi mới nghị hòa, ấy là lệnh của bản quốc. Còn như việc Hà Nội giết
đại úy Francis Garnier thì cũng như đại úy Francis Garnier giết ông Nguyễn
Tri Phương, việc đó xuất ư ý ngoại, chứ có phải lỗi của chúng ta đâu...”
(5). Chúng
ta vừa đánh vừa đàm. Trong cuốn sử
liệu “Hồ sơ vua Duy Tân”, tác giả Hoàng Trọng Thược
nhận rõ điều ấy: “Hai ông (Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất
Thuyết) triệt hạ hết các nhân vật phe chủ hòa, và huy động việc kháng
chiến từ Trung ra Bắc. Do đó, ta thấy khâm sai Hoàng Kế Viêm trở ra hoạt
động tại Tây Sơn, Trương Quang Đản ở Bắc Ninh, Tạ Hiển ở Nam Định,
Phạm Vũ Mẫn, Hoàng Văn Hòe, Nguyễn Thiện Thuật ở các tỉnh khác. Các
ông này, đều là các quan văn võ cao cấp của Triều đình Huế, nhiệt liệt
hưởng ứng lời Hịch Cần vương (6). Bị Pháp phản đối nhiều lần, lại
thêm thất trận nặng nề, nên có phen họ Hoàng và họ Trương phải về
kinh, nhưng vẫn không phải là Triều đình đã thay đổi chính sách, vì lúc
này ông Tường vẫn ngoại giao khéo léo với Pháp, để ông Thuyết ngầm tổ
chức kháng chiến...”. * * * Ngày
22 tháng 5 năm Ất Dậu (05. 7. 1885), trong lúc Pháp đang khao thưởng quân đội
thì vào một giờ đêm, Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn cho bắn một
phát đại bác làm hiệu để tấn công đồn Mang Cá và Sứ quán Pháp.
Quân Pháp giữ thế thủ để chờ sáng. Khi mặt trời lên họ bắt đầu
phản công, bắn phá và giết hại quân ta rất nhiều. Nhiều nơi trong hoàng
thành và cung điện bị phá hủy. Quân ta chống không nổi, bị vỡ. Tác giả
Hoàng Trọng Thược kể lại: “Nguyễn
Văn Tường thấy thế nguy liền vào Nội
yêu cầu nhà vua xuất cung. Hữu quân Hồ Văn Hiển phò giá, đầu giờ thìn
ra cửa Tây Như
vậy, sau khi cuộc chiến đấu của quân ta thất bại vào buổi sáng 23
tháng 5, chính Nguyễn Văn Tường đã chủ động thỉnh Tam Cung lên đường
ra chiến khu Tân Sở (*), và ông chỉ ở lại kinh sư
theo lệnh của bà Từ Dũ. Kế hoạch lúc ấy là ủy nhiệm ông Tường điều
đình với Pháp để cho ông Thuyết có thời gian chỉnh đốn lại lực lượng
kháng chiến, đồng thời ngăn chặn không cho những kẻ thân Pháp đứng ra
nắm lấy chính quyền và dễ dàng chấp nhận sự bảo hộ của Pháp. Cả trong thời gian bị
lưu đày tại Tahiti, ông viết: “Giảng hòa đã 3 năm mà bổn quốc
chưa từng học được một nghề, tập được một tên lính, mà nay mất một
tỉnh, mai mất một thành, hai bên chưa thỏa hiệp. Thiểm cũng đã liệu biết
có việc ngày nay nhưng không biết làm sao đặng...” (bản dịch từ Hán văn của Nguyễn Hy
Xước) (7). Nhưng
đã hiểu rõ thực dân Pháp như vậy, tại sao ông Tường vẫn muốn điều
đình? Có người cho rằng ông Tường không ngờ Pháp đã chuẩn bị sẵn
những con bài thân Pháp như Nguyễn Hữu Độ, Nguyễn Thân... và không bao
giờ chấp nhận “kẻ thù lớn nhất của
nước Pháp”. Chúng tôi nghĩ rằng ông
Tường hiểu rõ tình hình và nhất là biết rõ con người của Nguyễn Hữu
Độ vì Độ đã từng làm việc ở Thương bạc viện. Nhưng ông đã chấp
nhận mọi khó khăn của tình thế và khởi động một cuộc chiến tranh chính
trị và ngoại giao để Pháp không lập nổi một triều đình thân Pháp. Nguyễn Hữu Độ, được Pháp phong
làm kinh lược sứ Bắc Kì, được De Courcy gọi về Huế sung vào Viện Cơ
mật, nhưng vì không hợp ý với Nguyễn
Văn Tường [bởi ý Độ là ý Pháp – nbs.] nên [Độ] lại trở ra Bắc Kì
(Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb. [?], tr. 326). Điều đình cũng có
mục đích, như đã trình bày ở trên, giúp cho Tôn Thất Thuyết có thì giờ
chấn chỉnh và phát triển binh lực. Mà thế lực của ông Thuyết có mạnh
thì ông Tường mới có điều kiện thương thuyết với Pháp. Pháp cũng biết
như vậy, nên phải đày ông đi xa để có thể lập một Triều đình gồm
những người do Pháp chọn. Trước đó, Pháp đã muốn mua chuộc ông, nhưng
không thành công. Theo Nguyễn Đắc Xuân, Pháp muốn lập ông lên làm một
ông vua bù nhìn, nhưng ông đã từ chối. Khi đưa ông cùng các ông Phạm Thận
Duật, Tôn Thất Đính xuống tàu lưu đày, khâm sứ De Champeaux thông báo
cho dân chúng biết: “Văn Tường đã chống
cự nước Pháp
nhiều năm. Từ khi cùng với Tôn Thất Thuyết sung làm phụ chánh, chính
ông ta đổng suất quan quân nổi dậy công kích quân binh nước Pháp...”. Ông
cũng biết rằng Pháp luôn luôn xem ông là một kẻ thù cần phải tiêu diệt.
Ông cũng lượng trước những khó khăn, trở ngại mà ông sẽ gặp phải từ
phía những người thân Pháp. Nhưng ông đã chấp nhận làm tròn nhiệm vụ
cho đến phút cuối cùng và để cho “ngàn
sau luận”. Trong những ngày lao lí, ông nhận hết trách nhiệm của
hành động mình, tiếc cho đại sự không thành và chỉ biết cùng xã tắc
mà mất còn. Cũng trong lá thư gửi thống đốc Ông
quan niệm rằng cuộc binh biến Ất dậu chỉ là một thất bại quân sự
nhất thời và cuộc chiến đấu để bảo vệ nền độc lập quốc gia vẫn
còn tiếp tục. Nếu kế hoạch của ta thành tựu, nếu vua Hàm Nghi không bị
bắt vì một sự phản bội và cuộc kháng chiến vẫn kéo dài ở Trung và
Bắc Kì với phong trào Cần vương, và nếu ông Tường vẫn nắm giữ Triều
đình ở Huế thì Pháp không dễ dàng áp đặt chế độ thực dân. Ông
tin tưởng rằng ông có khả năng thay đổi tình thế và đem lại thắng lợi
cho Đất Nước. Nhưng ông đã thất bại, một phần vì thái độ nóng nảy,
hống hách và đa nghi của De Courcy, người đã từ chối không xem thư giải
thích của Tôn Thất Thuyết (7), không nhận quà tặng của bà Từ Dũ, và về
sau này gây thêm nhiều khó khăn cho tình hình đến nỗi phải bị triệu hồi
về Pháp và để cho Paul Bert sang thay. (Trần Trọng Kim, Việt * * * Trong
một giai đoạn cực kì khó khăn, ông Nguyễn Văn Tường đã nhận lãnh
trách nhiệm của một kẻ sĩ, của một đại thần, chịu hy sinh thanh danh
và thân thế để đánh một ván bài quyết định. Lịch sử đã ghi nhận
những công lao của ông trong sự nghiệp xây dựng đất nước và kháng chiến
chống Pháp. Những người đã từng cộng tác với ông cũng hiểu rõ hành
động, thái độ và tâm sự của ông. Họ xót xa cho hoàn cảnh của ông:
khi nhắm mắt nơi phát vãng, ông không thể giãi bày nỗi lòng của mình, mặc
dù ông đã phó mặc cho lịch sử phê phán [phán xét] ông. Khi được tin
ông mất, kịch tác gia Đào Tấn là người, theo gợi ý của ông Tường,
đã xin về hưu sớm khi mới đến lứa tuổi từ tuần để phụ trách
công tác Cần vương phía nam (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú
Yên) đã viếng ông hai câu đối:
Quốc kế thi phi lân sử định
Thiên
phương sinh tử nhạn thư điêu [diêu?]
(8)
Kế nước đúng sai trang sử quyết
Phương
trời sống chết cánh hồng chao.
(Tôn
Thất Mạnh Hào dịch). Trong
thời Pháp thuộc, khi viết về giai đoạn chống Pháp dưới triều Nguyễn,
do hoàn cảnh chính trị, sử gia Trần Trọng Kim thường tỏ ra dè dặt và
thiếu khách quan. Về sau Phan Khoang và Phạm Văn Sơn, trong những điều kiện
thuận tiện về tư liệu, đã có những nhận định đúng đắn hơn, tuy vẫn
còn chịu ảnh hưởng của những tài liệu do Pháp để lại. Gần đây, với
sự thụt lùi [, một trong những thao tác sử học để nhìn nhận đúng hiện
thực lịch sử – cụ thể ở các mốc – nbs.] của thời gian, với những
tư liệu mới phát hiện, những nhà nghiên cứu ở quốc nội cũng như ở
hải ngoại mới khách quan tìm hiểu chủ trương và hành động của phe chủ
chiến và riêng về Nguyễn Văn Tường. Họ gạt bỏ những luận điệu xuyên
tạc hàm hồ, phê phán những tài liệu thiên vị hoặc dối trá, và làm
sáng tỏ một số sự kiện, chẳng hạn như giai đoạn “tứ nguyệt tam
vương”. Quan trọng hơn nữa, họ căn cứ vào những châu bản mới tìm lại
được (Bắc Kì tấu nghị, Nam Kì tấu nghị,
Thương bạc viện phúc, Việt Trung giao
thiệp...) để tìm hiểu thêm
về Nguyễn Văn Tường và chủ trương của ông. Nhờ đó chúng ta có đủ
điều kiện để đánh giá đúng mức một nhân vật lịch sử đã có những
ảnh hưởng lớn trong một giai đoạn lịch sử rối rắm. Đây đúng là trường
hợp mà chúng ta khách quan nhìn lại một thời đã qua và tái tạo bộ mặt
thật của quá khứ. Đ.Q.H. (Trích
từ tập khảo luận: Kỉ yếu Hội nghị khoa học, 20.6.1996, với đề tài “Nhóm chủ chiến trong Triều đình Huế và Nguyễn Văn Tường” do Trường
ĐHSP. TP.HCM. [chủ trì] ấn hành, từ tr. 99 đến tr. 104).
(*) Thực ra là tên Khiêm lăng (chú thích này của
BBT. ĐHSP. TP. HCM.).
Xa giá
lên thẳng chùa Linh Mụ. Xin xem bản đồ ở cuối sách. (1) Hơn
chín năm (ĐNTL.CB., tập 30, sđd., tr. 172), từ 1853 đến 1862 (?); (1853, mới
đặt chức tri huyện ở Thành Hóa). (2) Từ
tháng 7 Đinh mão đến tháng 5 Nhâm thân (8. 1868 - 6.1873): kém hai tháng là
tròn 5 năm (ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 238; tập 32, sđd., tr. 293). (3) Đây
là bản tấu tháng 3, Đinh mão (4.1868), Nguyễn Văn Tường từ huyện Thành
Hoá, tỉnh Quảng Trị về triều, trình bày nhận định và quan điểm của
mình. Bấy giờ ông được vua Tự Đức trao chức trách bồi sứ, vị trí
thứ ba trong sứ bộ, chuẩn bị vào Nam Kì) (ĐNTL.CB, tập 31, tr. 202 - 204). (4) Thủ
hòa,
không phải là chủ hòa (chủ “hòa”). (5) Theo
thiển ý, chúng tôi cho rằng Gs. Đoàn Quang Hưng sẽ vận dụng sách lược
này để phân tích bức thư gửi thống đốc
Tahiti ở những trang sau; và gần cuối bài, Gs. kết lại nhận định về
bức thư ấy bằng câu đối của Đào Tấn. Xin xem hai chú thích (7) và (8),
bài này. (6) Đây
là Hịch Cần vương trước cuộc Kinh Đô
Quật Khởi 23 tháng 5 Ất dậu (ngày 5 tháng 7, 1885). Dụ Cần vương chính thức ban hành tại
Tân Sở (Cam Lộ, Quảng Trị), ngày 02 tháng 6 Ất dậu (13 tháng 7 năm 1885).
Hịch Cần vương mà Hoàng Trọng Thược
nói đến, người ta quen gọi là Lệnh dụ
Văn thân (1883). (7) Chúng
tôi có nhiều cứ liệu để cho rằng bức thư này đã bị sửa chữa, hoặc
là bức thư giả mà ông Tiểu cao Nguyễn Văn Mại (tác giả “Lô Giang
tiểu sử'') cũng không rõ thực hư thế
nào. Đó là bức thư thể hiện ý
thức trách nhiệm, lòng trung với nước, hiếu với nhà, “sẵn sàng cùng xã tắc
mất còn”, dẫu có chết cũng chẳng tiếc gì, thế cũng hết trách nhiệm,
nếu De Courcy đem lòng giận, gây ra sự tình gì nữa. Tuy nhiên, trong bức thư
vẫn có đoạn phủ nhận việc Nguyễn Văn Tường vạch kế hoạch cùng
Tôn Thất Thuyết tổ chức cuộc Kinh Đô Quật Khởi (23.5 Ất dậu, 1885).
Ngoài ra, lại có đoạn được viết với ý: Nguyễn Văn Tường rất khổ
tâm vì đành chịu chấp nhận “hợp lực
đồ duy”, xây dựng đất nước Việt Nam với người Pháp, mà “vạn nhất bất hành” (cái muôn một [đầy
mỉa mai ấy] cũng chẳng thực hiện được!). Một người kiên định chống
Pháp, không chấp nhận “bảo hộ” như Nguyễn Văn Tường không thể “đeo đuổi theo quý quốc để hợp lực đồ duy” (cho dẫu rất khổ tâm)
được! Xin xem câu đối của Đào Tấn mà Gs. Đoàn Quang Hưng trích
dẫn, và bài “Nguyễn Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc
kinh đô quật khởi, 05. 7. 1885” của Trần Xuân An (tức là bài “Vài chủ
điểm sử học sơ lược cần thiết khi cảm nhận bài “Giải triều
…””). (8) Có
người cho là của Vũ Tử Văn (người Quảng Trị). Có lẽ Đào Tấn ốm
hoặc bận việc khẩn, nhờ Vũ Tử Văn đi điếu với ý phủ nhận bức thư
nói trên, và phủ nhận cả việc Pháp đưa tin Nguyễn Văn Tường chết vì
bịnh ung thư cổ họng, mà phỏng đoán chết vì lẽ khác. Sự phỏng đoán
ấy có thể do câu: “Ngày nay vô cớ gặp
sự không may, vạn nhất bất hành, không
thu được hài cốt...” trong thư gửi thống đốc (8*)Bị
chú cho chú thích (8): Vì không có văn bản nguyên văn
chữ Hán (mặt chữ cụ thể), chỉ căn cứ vào bản phiên âm và phép tiểu đối trong cặp câu song thất
trên, có thể hiểu nhiều cách. Tuy nhiên, chung quy là cách
nào thì chữ “điêu” (hoặc “diêu”) cũng là động từ (đối về từ
loại với chữ “định” [động từ “thẩm định”}); đồng thời, các
nghĩa không khác nhau, do ngữ nghĩa trong văn cảnh cụ thể quy định. Một là, chữ “điêu”
trên còn được đọc là “điệu”: mỏng mảnh; hoặc âm khác là “diêu”:
làm chậm trễ [Thiều Chửu, HVTĐ., sđd., tr. 22]. Hai là, có người hiểu chữ ấy là “diêu” ([Thiều Chửu, HVTĐ.,
sđd., tr. 761 chứ không phải “điêu”) có nghĩa là vật vờ trong
gió như tin đồn khó xác thực (và vì Đào Tấn đang ở xa [theo
Nguyễn Mạnh Hào]). Ba là, cũng có thể đoán, đó là một chữ có âm khác
là “miểu”, “diểu” trong từ ghép “phiếu
diểu”, sđd., tr. 351, 422 mà TĐHV. của Đào Duy Anh phiên âm là “diêu” trong từ ghép “diêu mang” (mập mờ khó biết
tin) hoặc là chữ “dao” (lay động). Xin lưu ý: Nguyễn Mạnh
Hào dịch là “chao” (lá thư bay nghiêng qua nghiêng về trong gió, có nghĩa
là không rõ, không xác thực về tình trạng sống, chết của Nguyễn Văn
Tường, cho đến khi Tôn Thất Đính được phóng thích để đưa linh cữu
Nguyễn Văn Tường về nước). Người biên soạn mong được tham khảo thêm
ý kiến. Kết luận: bức thư gửi thống
đốc |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com