posted: 15.8.2005
Gs.
Ts. Võ Xuân Đàn (*a) Trong
khoảng thời gian từ 1881 đến 1885, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết
luôn được đề cập đến cùng trong một sự việc, cùng trong một thời
điểm và cho đến ngày nay hai cái tên ấy vẫn được chúng ta nhắc đến
trong niềm trân trọng và kính phục vì nó đã trở thành một biểu tượng
của tinh thần và ý thức trách nhiệm đối với dân tộc, với vận nước,
với truyền thống “không có gì quý hơn
độc lập, tự do” mà nhiều thế kỉ trôi qua đã chứng minh điều đó. Về
Tôn Thất Thuyết, hầu như chúng ta đã có sự nhất trí cao trong đánh giá
trên các mặt: tiểu sử, sự nghiệp và giá trị lịch sử cống hiến của
ông trong sự nghiệp giải phóng dân tộc những năm cuối thế kỷ XIX. Riêng
Nguyễn Văn Tường, trong vài thập kỉ gần đây chúng ta mới nghiên cứu
đánh giá lại trên quan điểm, tư duy mới bằng những tư liệu mới ở
trong và ngoài nước. Chính từ đó mà chúng ta có cái nhìn chuẩn xác
khách quan, đánh giá đúng mặt cống hiến và [hiểu – nbs.] những gì chưa
rõ về Nguyễn Văn Tường. Nói
đến phe chủ chiến trong Triều đình nhà Nguyễn chúng ta muốn nhấn mạnh
và công nhận một thực tế lịch sử đó là sự cố gắng cuối cùng [,
quyết thể hiện – nbs.] trách nhiệm đối với đất nước, đối với dân
tộc của vua quan nhà Nguyễn trước họa mất nước chỉ còn trong gang tấc. Nguyễn
Văn Tường, một trong những nhân vật thực hiện sứ mạng lịch sử ấy
trong một hoàn cảnh lịch sử đầy biến động, trong một mối tương quan
lực lượng hết sức bất lợi cho Việt Nam mà Triều đình [Huế] là đại
diện và chịu trách nhiệm trước dân tộc và Tổ quốc. Nguyễn
Văn Tường sinh ngày 14 tháng 10 năm 1824 (*b) trong một gia đình tiểu nông. Quê
quán: xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Do thông minh
và hiếu học, năm 18 tuổi, thi hương đỗ tú tài (1842). Vì không phải là
hoàng tộc mà mang họ Nguyễn Phước nên bằng cấp bị tước bỏ, không
được dự thi suốt đời, Nguyễn Phước Tường phải đổi lại là Nguyễn
Văn Tường (1). Sinh
sống ở quê nhà ông vẫn lo dùi mài kinh sử mong có dịp đem tài năng ra
phò vua giúp nước. Được vua Tự Đức xóa án sau 8 năm, 1850, Nguyễn Văn
Tường thi đậu cử nhân, năm ấy ông 26 tuổi. Ông tự hào về sự kiện
ấy: “Khởi đầu tiếc thay, bản án đã không cho tôi thi. Sau được
ơn huệ cao cả của hoàng đế tôi đã dự thi và đậu số một” (*c)
(2). Sự
nghiệp trung quân, ái quốc của Nguyễn Văn Tường bắt đầu từ đó. Ông
được Triều đình Huế trọng dụng vì thông minh, học thức rộng, có
tài ngoại giao, quân sự, am hiểu thời cuộc. Trong 36 năm phục vụ trong
Triều đình Huế, trải qua các đời vua: Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa,
Kiến Phúc, Hàm Nghi. Con đường quan lộ của Nguyễn Văn Tường tuy có lúc
thăng giáng nhưng nhìn chung ông luôn được Triều đình Huế trọng dụng,
tiến cử từ vị trí quan lại thấp đến vị trí quan lại cao. Ông tham
gia giải quyết sự vụ khắp các miền Trung – Chúng
ta có thể nhất trí nhận định rằng từ 1850 đến vụ biến kinh thành
05. 7. 1885 Nguyễn Văn Tường là một đại quan trung quân ái quốc. Ở cương
vị được đề cử nào ông cũng làm hết trách nhiệm của mình, cần cù,
kiên nhẫn, tự tin và quyết đoán, từ đó mà ông được vua quan, quần thần
kính nể: “Giang sơn xuất vĩ nhân”
(thơ Phạm Phú Thứ). “Bậc nho tướng, đại trí, thông tuệ, thao
lược”
(lời khen của Tôn Thất Thuyết). Ông
được vua Tự Đức tấn phong danh tước “Kỳ Vĩ bá” và rất tin cậy,
tìm cách gây thêm ảnh hưởng và tín nhiệm cho thượng thư Nguyễn Văn Tường.
Tự Đức đã gả công chúa Đoan Thuận, chị ruột của Ưng Đăng, cho con
trai trưởng của Nguyễn Văn Tường là Nguyễn Văn Tộâ nhằm tạo mối
thân tình trong hoàng tộc với gia quyến Nguyễn Văn Tường và để được
ông hết lòng phò tá vị vua kế nhiệm là anh em rể với con mình (3). Và
quân xâm lược là bọn tướng tá thực dân Pháp phải khiếp sợ, coi ông
là “kẻ thù lớn nhất của người Pháp”,
“phải đập ông
tan tành”... Mặc
cho Triều đình nhu nhược, ông cương quyết chủ chiến với quân xâm lược
Pháp vì hơn ai hết ông hiểu rõ dã tâm của quân Pháp. Trong các bản tấu
của ông gửi vua Tự Đức, ông nhắc đến nhiều lần về tâm địa thực
dân Pháp: “tham lam, giảo quyệt”, “xảo trá trăm mối”. Thái
độ của Nguyễn Văn Tường đối với thực dân Pháp là bài xích, chống
đối, cương quyết đứng về phe chủ chiến trong Triều đình Huế. Chủ
trương, biện pháp và hành động của Nguyễn Văn Tường đối với thực
dân Pháp là nhất quán. Ông cương quyết cùng Tôn Thất Thuyết chống đối
và tiêu diệt kể từ vua trở xuống các đại thần, quan lại, khi biết họ
có hành động liên kết, đầu hàng quân xâm lược. Những
tư liệu hiện có về Nguyễn Văn Tường như tấu, cáo, thư, văn do ông viết
ra và những tài liệu lịch sử lưu lại của nhiều tác giả trong và
ngoài nước đủ để chúng ta đánh giá đúng Nguyễn Văn Tường trên các
mặt sau đây: Về
nhận thức của ông đối với quân Pháp: xâm lược, ác độc, tham lam, giảo
quyệt. Về chủ trương: cương quyết chống quân xâm lược Pháp bằng những
kế sách cụ thể: tích trữ binh, lương, tự cường, tự giữ từ các xóm
làng khi quân giặc đặt chân đến, không sợ tham tàn, bạo ngược. Nguyễn
Văn Tường chủ trương “bình Tây”
nhưng không “sát tà” [“sát tả”
– nbs.]. Đây là một chủ trương đúng, góp phần bảo tồn sức mạnh của
dân tộc, đoàn kết các bộ phận dân cư để chống xâm lược. Về
hành động chống Pháp của Nguyễn Văn Tường, được ghi nhận khá rõ
nét; bản thân thực dân Pháp cũng thừa nhận những hành động chống đối
của ông trên nhiều lĩnh vực: quân sự, ngoại giao, chính trị đối với
chúng. Nguyễn
Văn Tường được vua Tự Đức giao cho việc xây dựng thành Tân Sở ở Quảng
Trị làm căn cứ khi gặp sự biến. Ông tự vẽ kiểu mẫu và tổ chức
thi công. Với
cương vị là thượng thư Bộ Hộ kiêm Thương bạc đại thần, ông [–
nbs.] được vua Tự Đức giao toàn quyền trong việc giao dịch, đàm phán với
người Pháp. Trên phương diện [kinh tế và – nbs.] ngoại giao này, Nguyễn
Văn Tường luôn thể hiện là người chống đối thực dân Pháp. Trong
thương thuyết với Pháp, tuy tương quan lực lượng không cân xứng, nhưng
Nguyễn Văn Tường, với trách nhiệm của mình, đã khéo léo làm được những
điều có thể làm được ngõ hầu mang lại những kết quả trong tình thế
khó khăn, bất lợi. Chính kẻ thù đã phải thừa nhận điều này: “Con người dũng mãnh đã làm cho Pháp phải nhả Bắc Kì [...]
cũng được coi như có khả năng làm cho Pháp nhả nốt Nam Kì” (thư
Rheinart gửi thống đốc Nam Kì, ngày 30. 11. 1881). Trong
quá trình đi đến kí kết điều ước Harmand ngày 25. 8. 1883 và điều ước
Patenôtre ngày 6. 6. 1884 mà trong đó có những điều bất lợi cho thực dân
Pháp, như điều 5 (điều ước Harmand) và điều 7 (điều ước Patenôtre),
làm cho bọn tư bản thực dân ở chính quốc chỉ trích kịch liệt và cho
rằng Harmand [lẫn] Patenôtre đều bị Nguyễn Văn Tường đánh lừa giống
như ông đã đánh lừa Philastre trước đó gần mười năm để lấy lại các
tỉnh Bắc Kì từ tay thực dân Pháp (J.Dupuis, Le Tonkin de 1872 à 1886, Histoire
Politique, Paris, Challamel, 1910). Thực
dân Pháp căm ghét ông và tìm mọi cách để Triều đình Huế bãi chức
ông, từ đó loại trừ, tiêu diệt ông. Bức thư của Champeaux, đại diện
Pháp lúc bấy giờ ở Huế, gửi thống đốc Nam Kì đã chứng minh điều này: “... Tôi không ngờ việc vận động nhỏ của
tôi chống thượng thư đó lại có kết
quả nhanh đến thế... Vì thấy rằng không thể mở rộng các mối quan hệ
chính trị nếu cứ phải giao thiệp với quan Thương bạc mãi, tôi đã nghĩ
phải buộc ông ta từ chức và thay ông ta bằng một người ít chống đối
ảnh hưởng của ta hơn... Quan Thương bạc vẫn còn là thượng thư Bộ Hộ
và thứ trưởng Viện Cơ mật. Với tư cách sau, ông vẫn còn có thể chống
đối chúng ta. Muốn thoát nạn, ta còn phải đập ông tan tành cả ở phía
ấy (*d). Phe
chủ chiến trong Triều đình Huế ngày càng lớn mạnh, hầu như làm chủ
Triều đình khi vua Tự Đức mất. Sự kiện “tứ nguyệt tam vương” và
vụ biến kinh thành 5. 7. 1885, đã minh chứng nhận định này. Trong đó, sự
đóng góp của Nguyễn Văn Tường là to lớn và quan trọng, không chỉ
chúng ta công nhận mà ngay cỏ kẻ thù cũng phải thừa nhận: “Kể từ năm 1874, trở thành nhân vật
ảnh hưởng nhất Triều đình Huế” (năm 1874 Nguyễn Văn Tường
kiù với Pháp thỏa ước rút quân ở Bắc Kì và kí hiệp ước 15. 3. 1874)
hay: “Khi trở thành đứng đầu phe cứng
rắn, chính Tường đã xúi Tự Đức coi thường hiệp ước năm 1874”. Vụ
biến kinh thành Huế đêm mùng 4 rạng ngày 5 tháng 7 năm 1885 đã thành mốc
sự kiện đánh giá hai thời điểm trong cuộc đời Nguyễn Văn Tường. Từ
tháng 7. 1885 trở về trước ông là ngôi sao sáng trong hàng ngũ quan chức của
Triều đình Huế. Lúc đó ông 61 tuổi, hơn Tôn Thất Thuyết 15 tuổi, ông
đã cống hiến gần trọn cuộc đời cho triều Nguyễn và cho dân tộc
trong một bối cảnh lịch sử đầy biến động: sự mất còn của đất
nước, cảnh lầm than khổ nhục của dân tộc trong gần 27 năm trên bước
đường xâm lược của thực dân Pháp và sự chống trả quân xâm lược
ngoan cường của nhân dân không có sự tổ chức và ủng hộ của Triều
đình Huế. Sự kiện Nguyễn Văn Tường không cùng Tôn Thất Thuyết hộ
giá vua Hàm Nghi lên đường, phát động phong trào Cần vương chống Pháp
mà trở lại kinh thành Huế với kẻ thù của dân tộc, của Triều đình
và của cả ông, đặt ra cho chúng ta những kiến giải khác nhau. Đối
với bản thân, ông không thanh minh, giải thích sự việc ông ở lại Huế
tham gia Triều đình do thực dân Pháp dựng lên mà ông để cho đời sau xem
xét, đánh giá: “Thị phi nhiên phó thiên thu luận” (phải trái phó mặc cho
ngàn năm sau bàn luận) (4). Tính
từ ngày xảy ra vụ biến kinh thành 5. 7. 1885 cho đến ngày ông bị thực
dân Pháp bắt đày đi Côn Đảo, ngày 6. 9. 1885, vừa đúng hai tháng ông sống
cùng thực dân ở Huế. Sau đó là cuộc sống lưu đày 10 tháng 25 ngày cho
đến khi Nguyễn Văn Tường qua đời tại Giai
đoạn thứ hai của cuộc đời Nguyễn Văn Tường chỉ có 1 năm 25 ngày.
Trong đó có 2 tháng thực dân Pháp sử dụng ông cho công cuộc xâm lược của
chúng nhưng không thành công. Hai
tháng ở lại Huế của Nguyễn Văn Tường, quãng thời gian ấy đã cách đây
[– nbs.] vừa đúng 111 năm; nhưng sự kiện ấy, quãng đời ấy của ông
đến nay vẫn cần được làm sáng tỏ để từ đó đánh giá đúng về
ông, để hiểu đúng giữa công và tội mà ngót trăm năm trôi quan vấn đề
chưa đi đến hồi kết thúc. Nguyễn
Văn Tường trở lại Huế là đầu hàng, làm tay sai cho thực dân Pháp hay
ông trở lại Huế để tiếp tục sự nghiệp của phe chủ chiến theo một
đường hướng mới? Hướng mới đó là gì? Đó chính là tiếp tục thương
thuyết, điều mà Nguyễn Văn Tường có thế mạnh, có kinh nghiệm, để chờ
thời cơ giành lại chủ quyền cho quốc gia, dân tộc. Một bức văn thư của
vua Hàm Nghi gửi Nguyễn Văn Tường sau khi nhà vua rời bỏ kinh thành đã
nói lên sự thật ấy. Văn thư có đoạn viết: “... Nay đại thần Tôn Thất Thuyết cùng
theo liền với ta,
khanh là phụ chính đại thần vẫn lưu lại thương thuyết. Kẻ ở, kẻ
đi đều là một lòng ưu [quốc] ái [dân], thực có hoàng thiên, hậu thổ
xét soi. Khanh nên thể rõ cái thịnh tình của tiên đế giao thiệp với lân
bang trước sau như một, mà giảng rõ cho biết sự lợi hại của lí thế,
quyền hành, hết lòng thương lượng cho thỏa đáng, phàm mọi điều khoản
bức hiếp phải cộng đồng châm chước thay đổi lại...”. Trong
hai tháng ngắn ngủi, Nguyễn Văn Tường đã thực hiện nhiều công việc:
ổn định tình hình an ninh trật tự ở kinh thành, tổ chức lại triều
chính, trông coi tông miếu, lăng tẩm và Tam Cung. Một văn thư của vua Hàm
Nghi gửi hoàng thân quốc thích đã xác nhận những đóng góp trong thời
điểm éo le, hiểm nghèo của Nguyễn Văn Tường: “Nay đã có phụ chính huân thần Nguyễn
khanh (Nguyễn Văn
Tường) ở lại giảng giải, nghe đâu cũng được nhiều việc, mọi sự
hơi được yên ổn. Huân thần tâm sự như thế, cáng đáng như thế, thực
là rất lấy làm khổ tâm. Nhân vật nước Nam ta từ xưa [, những người]
trung nghĩa cũng khó hơn được”. Thực
dân Pháp không hề ngộ nhận Nguyễn Văn Tường đầu hàng, cộng tác với
chúng. Bọn
quan lại đầu hàng làm tay sai cho thực dân Pháp như: Nguyễn Hữu Độ,
Phan Đình Bình, Miên Định (5), Ưng Kỉ (6) tố cáo hành động chống Pháp
của Nguyễn Văn Tường trước đó, cho ông là kẻ “giả hàng”, “tráo trở”, “ngầm làm việc ám muội” (7). Sự
kiện ngày 06. 9. 1885 khi De Courcy đày ông đi Côn Đảo, rồi đày tận
Tahiti cùng với Phạm Thận Duật, Tôn Thất Đính là sự chứng minh đầy sức
thuyết phục rằng Nguyễn Văn Tường không phải là kẻ đầu hàng, bán nước,
làm tay sai cho thực dân Pháp. Một
sự kiện khác nữa chứng minh cho điều này. Đó là việc thân sinh Tôn Thất
Thuyết, người bạn tù với Nguyễn Văn Tường, là Tôn Thất Đính, không
quản tuổi cao, sức yếu, đường đi cách biển, ngăn sông, đã mang hài cốt
của Nguyễn Văn Tường, người bạn đồng triều, đồng chí hướng với
con mình về an táng ở quê nhà. [Các xóm làng ở Cam Lộ đều lập miếu
thờ vọng – theo tư liệu của Trần Viết Ngạc – nbs.]. Đó là sự thừa
nhận Nguyễn Văn Tường là người yêu nước từ trong tình cảm của nhân
dân, của những người cùng chí hướng với ông. Hai
giai đoạn trong cuộc đời yêu nước chống Pháp của Nguyễn Văn Tường
trái ngược nhau, nhưng không mâu thuẫn, không khác về bản chất. Vị “nho tướng” ấy, vị phụ chính đại
thần, Cần Chánh đại học sĩ, Kì Vĩ quận công Nguyễn Văn Tường không
cần đến ngàn năm để hậu thế luận bàn
công – tội, mà trăm năm trước đó và hiện tại hôm nay chúng ta đã
từng bước, qua quá trình sưu tập thư tịch, nghiên cứu sự kiện đã đánh
giá đúng Nguyễn Văn Tường, con người có tấm lòng trung trinh với nước,
với dân, đã có những cống hiến nhất định ở một giai đoạn lịch sử
đau thương của dân tộc. Công lao ấy, cống hiến ấy xứng đáng được
tôn vinh, xứng đáng gắn liền tên ông với Tôn Thất Thuyết – hai vị đại
thần đứng đầu phe chủ chiến trong Triều đình Huế. V.X.Đ. (Trích
từ cuốn khảo luận: Kỉ yếu Hội nghị khoa học, 20.6.1996, về đề tài “Nhóm chủ chiến trong Triều đình Huế và Nguyễn Văn Tường”, do Trường
ĐHSP. TP. HCM, [chủ trì] ấn hành, tr. 113 - 118).
(*b) Trần Viết
Ngạc: ghi năm sinh 1824. Phan
Trần Chúc: ghi năm sinh 1820. Tsuboi:
ghi năm sinh 1818? (chú thích của Ts. VXĐ., tác giả bài viết). (*c) Yoshiharu
Tsuboi, Nước Đại Nam đối diện với Pháp
và Trung Hoa, Hội Sử học Việt Nam
xb., Hà Nội, 1993, trang 291 (chú thích của Ts. VXĐ.). (*d) Yoshiharu
Tsuboi, Nước Đại Nam đối diện với Pháp
và Trung Hoa, Hội Sử học Việt Nam
xb., Hà Nội 1993, trang 294 (chú thích của Ts. VXĐ.). (1) Xin
xem chú thích (1), (2), (4) bản dịch nghĩa bài thơ 14. (2) Theo
QTHKL., sđd., tr. 297: Nguyễn Văn Tường đỗ với vị thứ 20/48. Theo cách diễn
đạt của Y. Tsuboi, thì Nguyễn Văn Tường đỗ đình nguyên (NĐNĐDVP. &
TH., sđd., tr. 268). Nhưng theo Quốc triều đăng khoa lục, sđd., tr. 183, 189 và
tr. 198, Nguyễn Văn Tường có ba lần làm giám khảo thi đình (1875,
1877, 1880), mặc dù chưa đỗ tiến sĩ bao giờ. Chưa đỗ tiến sĩ, nhưng
theo vua Tự Đức, ông thuộc hạng bậc thầy của tiến sĩ! Về hai cuốn sách
QTHKL., và QTĐKL., đó là hai công trình, theo lời tựa, do một vài người nối
tiếp nhau làm, chủ yếu là Cao Xuân Dục; vả lại, sách đã bị sửa chữa,
“hiệu đính” do con trai và con rể của Cao Xuân Dục về sau; do đó, có
thể có sai sót, nhầm lẫn. Xin đơn cử, cứ như QTHKL., thì Nguyễn Văn Tường
có đến hai lần đỗ kì thi hương (1842 và 1850), cả hai lần đều lấy họ
Nguyễn Phước, nếu đối chiếu kết hợp với ĐNTL.CB., tập 24, tr. 163 -
165! (3) Chi
tiết này chứng tỏ Nguyễn Văn Tường không mang dòng máu hoàng tộc Nguyễn
Phước! Thời Nguyễn không phải là thời Trần! (Quan hệ hôn nhân trong nội
bộ hoàng tộc triều Trần có phải là sự thật, ở một đất nước có
nền văn hiến lâu đời?). (4) Trong
bài thơ “Giải triều...”, thực ra
Nguyễn Văn Tường đã gửi lại cho “thiên thu hậu” hai chữ “nhất dạng” (hoặc “bất nhị”). Hai bản dụ gửi Nguyễn
Văn Tường (và cả dụ gửi hoàng tộc) đã khẳng định sự nhất dạng đó. “Kẻ ở, người
đi” (chữ trong bản dụ ấy của vua Hàm Nghi [& Tôn Thất Thuyết]),
có nghĩa là người đàm kẻ đánh: mặc dù ở hai nhiệm vụ, nhưng cũng chỉ
là một, giống nhau, và trước sau không thay đổi lòng dạ. Xin xem bài “Nguyễn Văn Tường với nhiệm
vụ lịch sử sau cuộc kinh đô quật khởi, 05. 7. 1885” (“Vài chủ điểm
sử học sơ lược cần thiết khi cảm nhận bài “Giải triều …””). (5) Thọ
Xuân vương Miên Định, giám quốc sau 23. 5 Ất dậu (1885). (6) Ưng
Kĩ lên ngôi vua, lấy hiệu là Đồng Khánh. Ngoài tên Ưng Kĩ, Đồng Khánh
còn có tên là Ưng Đường. (7) Nguyễn
Văn Tường với tư cách là vị đại thần cao nhất Triều đình, một nhà
chính trị, ngoại giao với tài năng thương thuyết, ở lại Huế để đấu
tranh trực diện với kẻ thù xâm lược, theo phương thức “người đánh,
người đàm”.
Tài liệu tham khảo: 1. Đại 2. Đại 3. Nước Đại 4. Việt Nam sử lược (Trần Trọng Kim). 5. Vua Hàm Nghi (Phan Trần Chúc). 6. Lịch sử Việt 7. Lịch sử Việt 8.
Các tài liệu do nhà nghiên cứu – giảng viên Đại học Sư phạm TP. Hồ
Chí Minh Trần Viết Ngạc cung cấp. (Cước
chú về “Tài liệu tham khảo” của Gs.Ts. Võ Xuân Đàn, tác giả bài viết). |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com