posted: 15.8.2005
Trần
Xuân An
GIẢI TRIỀU…
Tam
thập niên lai phí kỉ kinh
Vô
đoan dạ bán bách sầu sinh
Kì
khai tam sắc, vân lôi biến
Già
thính song xuy, kê khuyển kinh
Sơn
kính vạn trùng thương thuý liễn
Thần
tâm nhất dạng luyến đan đình
Thị
phi nhiên phó thiên thu hậu
Xã
tắc quân vương thục trọng khinh?
CHIA TÁCH TRIỀU CHÍNH… Ba chục năm qua phí trí
mình Nửa đêm, gian
tả! Ép buồn sinh Cờ chia ra khoảnh,
giông quyền biến Kẹp siết theo
roi, chó hãi kinh Núi biếc vạn
trùng, lo kiệu Ngự Lòng son một dạng,
luyến sân Đình Đúng? sai? Ấy
gửi nghìn thu luận Theo nước –
phò vua, đâu trọng khinh? (Bản
dịch thơ từ nguyên tác chữ Hán). Hai câu bổ
sung: CHIA TÁCH TRIỀU
CHÍNH… U trung thùy bạch
thiên thu hậu? Xã tắc quân
dân thục trọng khinh?
Lòng trung sâu
kín, sau ai tỏ? Tổ quốc, dân,
vua, đâu trọng khinh? 1) MỘT BỐI CẢNH
LỊCH SỬ HOÀN TOÀN BẾ TẮC. Tứ thơ “chia tách triều chính” nhưng vẫn “nhất dạng” khởi từ tình huống mà Dụ
Cần vương ghi rõ: “Từ xưa kế sách chống giặc không ngoài ba
điều: đánh, giữ, hòa. Đánh thì chưa có cơ hội [điều kiện thực lực
– TXA. chua thêm (:ct).], giữ thì khó lượng được sức, hòa thì chúng
đòi hỏi không biết chán. Đương lúc sự thế muôn vàn khó khăn như vậy,
bất đắc dĩ phải dùng quyền [quyền biến – ct.]” [1]. Hai
mật dụ Hàm Nghi cùng Tôn Thất Thuyết từ Tân Sở (Cam Lộ, Quảng Trị) gửi
về cho Nguyễn Văn Tường (02.6 Ất dậu) và hoàng tộc (07.6 Ất dậu, 1885)
cũng nói đến kế sách quyền
biến với nhiệm vụ “kẻ ở” của
ông. 2)
SỰ PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ LỊCH SỬ: "TỔ QUỐC, VUA, DÂN, ĐÂU TRỌNG
KHINH?". NỖI
KHỔ TÂM, LÒNG TRUNG NGHĨA CỦA NGUYỄN VĂN TƯỜNG QUA MẬT DỤ HÀM NGHI GỬI
VỀ TỪ TÂN SỞ (CAM LỘ, QUẢNG TRỊ). Tất nhiên, “xã tắc, quân, dân, thục trọng khinh?”,
câu ấy đưa ra một sự chọn lựa với hành động chính trị cụ thể
trong tình huống lịch sử cụ thể, ai là “kẻ ở”, ai là “người đi”. Chính trong mật
dụ gửi về từ Tân Sở, Hàm Nghi (và Tôn Thất Thuyết) đã dùng hai từ
ấy với xác quyết: “Nay đại thần Tôn Thất Thuyết cùng ta quanh quẩn, còn ngươi
[:Nguyễn Văn Tường – ct.] là phụ
chính đại thần thì ở lại mà thương đàm; kẻ ở, người đi đều lấy lòng yêu nước lo dân
làm căn bản; trời đất cũng thực chứng giám…” [2]. Mật dụ
ấy cùng với Dụ Cần vương được gửi
về và phát đi trong một ngày (02.6 Ất dậu: 13.7.1885).
Nguyễn Văn Tường
đã chọn lựa vị trí giáp mặt với kẻ thù một cách trực diện, một vị
trí mà Tôn Thất Thuyết không có khả năng đảm đương. “Kẻ ở”, cũng là nhiệm vụ bà Từ Dũ
giao phó cho ông [3]. Nguyễn Nhược Thị Bích kể bằng thơ: “Thấy
người trước đón lên đường Gửi rằng: “Có
Nguyễn Văn Tường chực đây” Phán rằng: “Sự
đã dường này Ngươi tua [:lo;
nên – ct.] ở lại, ngõ rày xử phân” Vâng
lời Tường mới lui chân
Giá
ra khỏi cửa, dân lần dõi theo”.
Và ở Dậu Tuất niên gian phong hỏa kí sự: “Thuyết – Tường
sanh sự sự sanh [?!
– ct.] Đem Hàm Nghi trốn
bôn hành Khiêm Lăng Cùng
nhau bàn luận rứa răng
Thuyết
đi hộ giá, Tường băng về đầu
Khéo làm chước
nhiệm [:nhịn?
“thành thực”? – ct.]
mưu
sâu Pháp quan mắc mớp
tưởng đâu thiệt tình” [4]. Cho dù với
cách diễn đạt theo quan điểm thuộc chính kiến nào đi nữa, hai đoạn
thơ trên cũng phản ánh về một sự thật lịch sử! 3) "LÒNG
TRUNG SÂU KÍN, SAU AI TỎ?". “U
trung thùy bạch thiên thu hậu?”.
Đó là nỗi băn khoăn của Nguyễn Văn Tường
từ ngày 23.5 Ất dậu (05.7. 1885). 3.a.
ĐẤU TRANH MẶT NỔI VÀ MẶT CHÌM. Qua các tư liệu
lịch sử có tính cùng thời, sau khi đối
chiếu, loại trừ, thấy rõ Nguyễn Văn Tường vẫn công khai đấu tranh với
De Courcy, De Champeaux, Silvestre, Nguyễn Hữu Độ trong hai tháng sau đêm Kinh
Đô Quật Khởi (22 – 23.5 Ất dậu, 1885). Hơn thế nữa, ông còn ngầm chỉ
đạo phối hợp với phong trào Cần vương. 3.a.1.
ĐẤU TRANH VỚI THỰC DÂN PHÁP, BỌN Quốc sử quán
triều Nguyễn đã ghi rõ [5], tất nhiên với giọng điệu và cái nhìn của
người chép sử bảo hoàng dưới chế độ phong kiến. Dẫu vậy, qua đó,
hậu thế vẫn thấy Nguyễn Văn Tường khẳng khái, không hề chịu khuất
phục khi đối mặt với kẻ thù đã thắng trận, với bọn tay sai vốn đã
từ lâu bán linh hồn cho quỷ thực dân và tả đạo: “Lấy quyền tổng
đốc Hà – Ninh là Nguyễn Hữu Độ thăng thự Vũ Hiển điện đại học
sĩ, sung Cơ mật viện đại thần, vẫn sung Bắc kì kinh lược đại sứ. Khi ấy Hữu
Độ đã trở về Hà Nội, đô thống Pháp là Cô-ra-xy [De Courcy – ct.], khâm sứ là Tham-bô [De Champeaux – ct.] bàn nói: Hiện
nay Bắc kì lắm việc, Hữu Độ ở đấy hiểu nhiều, nên trao cho điện hàm,
sung viện chức, và vẫn sung chức sứ ấy; phàm đốc, phủ, bố, án, ở
các tỉnh Bắc kì cho đến các phủ huyện, nếu nơi nào có khuyết, cho do
Nha Kinh lược sứ chọn tâu, chờ chỉ định đoạt. Nhiếp chính Miên Định,
phụ chính Nguyễn Văn Tường phúc tâu [cho thái hoàng thái hậu Từ Dũ –
ct.] việc đó là tạm thời [TXA. in đậm (:iđ)], nghĩ nên tạm nghe ý đó mà làm. Văn Tường nhân phụng dụ [của
Từ Dũ – ct.] nói: trải bày lý do. Lại nói: do ngươi tuy việc thoả
bàn vụ hợp thời nghi để xứng với lời khen của người mới được.
Vì ý ám chỉ chê Hữu Độ nương tựa vào thế quan Pháp, để được ngôi
cao, mà không phải tự bản ý do mệnh lệnh của Triều đình vậy. (Trước đây,
Nguyễn Văn Tường cùng Tôn Thất Thuyết cho rằng Hữu Độ ở Hà Nội phần nhiều hay nịnh
hót, quan Pháp rất được vui lòng; Cơ mật viện nhiều lần đem việc tâu
lên, chuẩn cho khiển giáng hay triệu về, Hữu Độ đều được quan Pháp
che chở, rất là đáng ghét [iđ.]. Ngày tháng 7 năm
ngoái, khuyên Bùi Hữu Tạo lấy việc xây sinh từ
[của Nguyễn Hữu Độ – ct.] để tâu hặc, vì muốn nhân đó để đẩy
Hữu Độ đến tội. Hữu Độ chứa sự bất bình đã lâu. Gần đây đô
thống Pháp từ Bắc về Sứ quán, tức thì trước mời Văn Tường và Thuyết
đến họp. Thuyết ngờ sợ cho là hẳn Hữu Độ đã có ngầm chỉ thế
nào, nên mới như thế, cho nên sau không chịu đi; bèn gây hận; đến đây
[Hữu Độ – ct.] về kinh, [ y
–
ct.] lại đến Sứ quán, rồi về nhà
riêng [của Hữu Độ tại Huế – ct.], uỷ đón nhiếp chính Thọ Xuân vương Miên Định
tới bàn với Văn Tường; và [Hữu Độ – ct.] gièm [rằng – iđ. & ct.] không
bàn với Thọ Xuân vương thì đừng đi. Kịp khi Hữu Độ tới Sở Thương
bạc mà Văn Tường ở đó, hai người nói chuyện với nhau, đã hơi có ý
khiếm hòa [:thiếu hoà khí – ct.]; Văn Tường phụng dụ này, lời lẽ
lại có ý chê ngầm theo kiểu bì lí xuân thu [:bề ngoài với lí
lẽ khác nhau như mùa xuân với mùa thu – ct.]. Hữu Độ tiếp dụ, giận
lắm, nhân đó càng thêm để lòng)”. Qua giọng điệu
và cách nhìn không được trong sáng lắm của nhà chép sử triều Nguyễn,
chúng ta gạt đi khía cạnh bị nhuộm màu cá nhân hiềm khích, sẽ thấy
rõ, thực chất, đó là cuộc đấu tranh về vấn đề bố trí quan chức
ở Bắc kì, vấn đề chống bọn tay sai, cơ hội, Nguyễn Hữu Độ là tiêu biểu. Nguyễn Văn Tường,
Tôn Thất Thuyết, trước đó đã “đặc
biệt đem câu xem gió chuyển buồm trách Hữu Độ”
[6]. Mà đâu chỉ Nguyễn Hữu Độ! Cùng một giuộc với y, còn
có Nguyễn Trọng Hợp [7], Hoàng Cao
Khải, Nguyễn Huy Lân… [8], và bất
ngờ nhất, còn là Nguyễn Thân (con trai Nguyễn Tấn), lẫn Phan Đình Bình! Thực chất của
vấn đề bố trí nhân sự ấy, xét cho cùng, là vấn đề còn hay mất Bắc
kì. Đó là nội dung của khoản 7 “hòa”ước Patenôtre (1884). Và tại sao lúc đó, kinh
đô đã thất thủ, Nguyễn Văn Tường vẫn không chấp nhận “như quan Pháp có kiểm được quan Nam nào nên làm hoán cách,
có xin hoán cách ấy, tức làm hoán cách” [9], mà chỉ miễn cưỡng,
xem là tạm thời, còn đòi hỏi Pháp phải
trải bày lí do [10], mặc dù Từ Dũ đã chấp nhận?
Phải chăng Nguyễn Văn Tường đang dựa vào sức quật khởi của phong
trào Cần vương đang dậy lên khắp cả nước, và theo mật dụ Hàm Nghi gửi
về: “cùng y [De Courcy – ct.] giảng rõ về lí thế, cân nhắc về lợi hại,
hết lòng thỏa hiệp [:hiệp bàn thỏa
mãn đôi bên – ct.], phàm những khoản gì bách thiết, phải chung nhau
bàn đổi” [11]? Dẫu trong thế
kẹt lịch sử như vậy, Nguyễn Văn Tường vẫn đấu tranh trực diện với
De Courcy, De Champeaux, Nguyễn Hữu Độ mà ĐNLT.CB., tập 36, tr. 236 – 237 đã
ghi, như đã trình bày ở phần trên. Việc Nguyễn Văn Tường phải kí phụ
ước (30.7.1885) ấy với Silvestre, Nguyễn Hữu Độ, đã được Nguyễn Nhược
Thị Bích miêu tả: “Pháp nhân lập
ước hội đồng Những điều lấn
hiếp khó lòng y theo Văn Tường chẳng
khứng thuận chiều Trái tình, Hữu
Độ mượn điều Bắc quy” [12] Từ năm 1921,
ngay dưới chế độ thực dân, Trần Trọng Kim đã viết một cách kín đáo: “Trong
khi vua còn đi vắng, thống tướng De Courcy đặt ông Thọ Xuân lên làm
giám quốc, giao binh quyền Binh bộ thượng
thư cho viên khâm sứ De Champeaux, để bãi việc binh lính của ta đi [iđ.],
và gọi quan kinh lược ở Bắc kì là Nguyễn Hữu Độ và quan tổng đốc
Nam Định là Phan Đình Bình về cùng với Nguyễn Văn Tường coi việc Cơ mật.
Vì hai ông ấy ở Bắc kì đã hiểu mọi việc và đã biết theo chính sách
bảo hộ [iđ.],
cho nên thống tướng đem về để thu xếp mọi việc cho chóng xong. Nguyễn Văn Tường
và Nguyễn Hữu Độ không hợp ý nhau
[iđ.], Nguyễn Hữu Độ lại trở ra Bắc kì” [13]. Hợp ý thế
nào được với kẻ bán nước, “đã biết
theo chính sách bảo hộ”, thực dân
Pháp bảo gì nghe nấy! 3.a.2. ĐỐI PHÓ
VỚI PHE CHỦ "HOÀ" (TỪ DŨ, MIÊN ĐỊNH...) VỚI PHƯƠNG THỨC "KHÔNG BIẾT GÌ HẾT". Một vấn đề
gay cấn nữa là Nguyễn Văn Tường không chỉ phải đối phó với Pháp và
bọn cơ hội, tay sai, mà còn phải đối phó với phe chủ “hòa”, đứng
đầu là Từ Dũ cùng Miên Định (giám quốc, nhiếp chính). Miên Định là
một người có tư cách hèn hạ đến mức ngửa tay xin tiền khâm sứ
Pháp, đến nỗi Đồng Khánh cũng cho là nhục quốc thể [14]! Đối với thái
hoàng thái hậu Từ Dũ, Nguyễn Văn Tường phải làm ra vẻ bị Tôn Thất
Thuyết lừa dối [15] (2). Ông ở
trong thế kẹt, nên phải vờ như giữa ông và Tôn Thất Thuyết chưa hề bàn
bạc để khởi binh đêm 22 – 23.5 Ất dậu (05.7.1885), mặc dù đấy là cuộc
khởi binh bất đắc dĩ, bị Pháp ép vào thế chẳng đặng đừng: “Bằng còn ỷ thế
quá ngang
Thời ta sẽ liệu quyết
đường hơn thua!” [16].
Biết sẽ có khả
năng bị thất thủ, nhưng đến lúc cũng “đành
liều may rủi với trời” [17]. Cuộc Kinh Đô
Quật Khởi chỉ nhằm phát động tổng nổi dậy Cần vương trên toàn quốc
để đấu tranh ngoại giao, chính trị. Nguyễn Văn Tường
giả vờ “không biết gì hết” trong
đêm 22 – 23.5 Ất dậu, 1885 [18] để
ở lại làm nhiệm vụ đàm phán của “kẻ ở”, trong khi Tôn Thất Thuyết là “người
đi”. Phương thức “không biết gì hết” được Aldophe
Delvaux cho là: “Ông phụ chánh thứ nhất
(Tường) đã miễn cưỡng hành động dưới
ảnh hưởng ngông cuồng của ông Thuyết, bất chấp mọi lời khẩn cầu của
mẹ vua Tự Đức và ông hoàng Hoài Đức (em vua Thiệu Trị) [thay Hồng Hưu – ct.] là những người
chống lại các sự vận động của phái yêu nước” [19] (3). Theo
Delvaux, ấy là tin tức mật thám của Pháp trong buổi sáng 04.7.1885
mà De Champeaux nắm được! Thật ra, Nguyễn Văn Tường đã cho phép và đã
thay mặt vua ra lệnh cho Tôn Thất Thuyết chuẩn bị kháng chiến, lập đạo
quân Phấn Nghĩa cho thêm thanh thế (1883 – 05.7.1885), để đấu tranh với
Pháp. Ngay trong những giờ phút sắp đến thời điểm nổ ra cuộc Kinh Đô
Quật Khởi, khi Tôn Thất Thuyết “lại
nghiêm sức các quân dinh kiểm
soát, chỉnh đốn những đồ khí giới, Văn Tường với đình thần cho rằng
đó cũng là thanh thế để phòng bị vậy” [20]. Và tất nhiên, nếu cần, cũng
phải lấy tấn công làm phòng thủ. 3.a.3.
VỚI PHƯƠNG THỨC "KHÔNG BIẾT GÌ HẾT",
NHẰM PHỐI HỢP BÍ MẬT NHƯNG CHẶT CHẼ VỚI PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG. Quả vậy, Nguyễn
Văn Tường đã lãnh đạo Cơ mật viện họp bàn rất bí mật. Đã đến lúc
không thể không thực hiện kế hoạch chính Nguyễn Văn Tường cùng Thân Văn
Nhiếp, Nguyễn Quýnh vạch ra, và Nguyễn Văn Tường đã đích thân, tự
nguyện tiến hành bước đầu từ 1864, 1866 [21]. Gần hai mươi năm trước thời khắc
lịch sử này, đó là việc tâu xin mở thượng đạo, đặt cơ sở để khởi
công xây dựng thành lũy Tân Sở, tuy còn dở dang. Khát vọng kháng chiến
còn thể hiện ở bài thơ “Bệnh trung kí phỏng đồng chí” [22] (4) được
viết vào quãng thời gian còn tiễu phỉ ở phía bắc, khoảng những
năm đầu của thập kỉ 70 (thế kỉ XIX). Và vào năm 1883, kế hoạch đó lại
được tiến hành một cách vữõng chắc với quy mô lớn [23]. Trong thời điểm cụ thể vào đầu
tháng 7.1885 này, Tôn Thất Thuyết cũng như Nguyễn Văn Tường, cả hai cùng
“nhất dạng”, nhất trí với sự tổng
hợp phương thức: vừa kháng chiến vũ trang (đánh), vừa “không biết
gì” (đàm), phương thức ông đã từng
đấu tranh thắng lợi vào cuối năm 1873, đầu năm 1874. Thắng lợi
ấy, ngay cả “Quốc triều chính biên toát
yếu” [24] lẫn “Việt “Vua bảo
[…] Viêm và Thuyết mùa đông năm ngoái [21.12.1873 –
ct.] giết được đầu sỏ giặc, làm mất
khí thế của chúng, Nguyễn Văn Tường
nhân đấy dễ làm việc; Văn Tường nói: Tuy có trở ngại một chút, nhưng
thực giúp được nhiều. Đấy là lời bình tâm không khoe công. Viêm và
Thuyết nên [được – ct.] phong
tước, giả lại chức quan” [26]. Đó là lúc thu
hồi lại bốn tỉnh Bắc kì, sau khi hạ sát Françis Garnier trong sự tức tối
điên cuồng của Jean Dupuis, Puginier, Rheinart và bọn “dữu dân” trong giáo dân (như tên ngụy
tổng đốc Trương, vốn là thợ rèn theo “tả đạo” chẳng hạn) [27]. Phương thức đó,
mười năm sau (1883) vẫn còn hiệu quả, với cái chết của Henry Rivière, cũng
do quân Lưu Vĩnh Phúc trực tiếp hạ sát, dưới sự chỉ đạo của Hoàng
Tá Viêm, tại Hà Nội. Nguyễn Văn Tường,
Tôn Thất Thuyết lại tiến hành một lần nữa, dữ dội và quyết liệt hơn,
ngay tại kinh đô Huế, 1885. Dẫu thất bại,
Nguyễn Văn Tường, sau 05.7.1885, vẫn tiếp tục đấu tranh. Bởi thế và lực
so với 1873, 1874 đã ngặt nghèo hơn, Nguyễn Văn Tường không còn ở tâm
thế ung dung như mười hai năm trước, mà đang vô cùng khổ tâm. De Courcy không bị hạ sát! Mang Cá
và Tòa Khâm không bị triệt tiêu như mong muốn! De Courcy và De Champeaux lại
đang nhân danh Triều đình để thao túng! Do đó, phong
trào Cần vương vũ trang đã bùng lên khắp nước! Quốc kế “chia tách triều chính” nhưng vẫn “nhất dạng”, phối hợp bí mật nhưng
rất chặt chẽ, là một sáng tạo rất táo bạo, trong điều kiện thế và
lực lúc bấy giờ! Qua việc trích
dẫn những tư liệu của Puginier, theo giáo sư Nguyễn Văn Kiệm [28], chúng ta thấy rõ sự thật lịch sử,
với sự miêu tả của chính đối phương, về nỗ lực của Nguyễn Văn
Tường: “Vua Hàm Nghi đi theo Thuyết còn phụ chính Tường ở lại, vẫn
giữ nguyên chức tước, và sau một thời gian trá hàng, lại tiếp tục có
những hành động đối kháng. Chính theo lệnh của y mà khoảng 30.000 giáo
dân đã bị hại chỉ trong vòng 2 tháng và hơn 1.000 người khác cũng chịu
chung số phận do các quan lại thi hành mệnh lệnh trên…”. Delvaux, trong
bài viết ở sách đã dẫn [29], cũng
miêu tả cảnh “sát tả đạo” trước và sau 05.7.1885, đặc biệt là sau
ngày lịch sử bi hùng ấy, tại Bình Định, Quảng Trị, Nghệ An. Trần Trọng
Kim, trong “Việt nam sử lược” [30], cũng ghi rõ: “Tôn Thất Thuyết […] làm
hịch Cần vương truyền đi khắp nơi […]. Sách Tây
chép rằng […] dân bên đạo
phải tám ông cố và hơn hai vạn người bị giết”. Đối phương đã
kết án Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết là “tàn nhẫn”, “hiếu
sát”! Sự “tàn nhẫn”, “hiếu sát” (hai từ này về sau cũng bị Trần
Trọng Kim xuyên tạc!), theo cách nói của các gián điệp thực dân trong lốt
áo “tả đạo”, vốn đã khởi động từ lúc Pháp đánh chiếm Thuận An
(Huế, 1883). Bởi “tả đạo” cũng chẳng khác gì những năm trước đó,
ở Đà Nẵng, ở Gia Định, và ở Hải Dương, Ninh Bình… (6): “Ngoài thời
Tây tặc lưới giăng Trong
thời tả đạo chạy quanh bốn bề” [31]…
cho
nên, không thể khác được, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, hai người
thiết kế chiến lược và chiến thuật cho công cuộc kháng chiến chống
Pháp bấy giờ, với tư cách là hai người lãnh đạo cao nhất Cơ mật viện
lúc ấy, đã phải kiên quyết. Sự kiên quyết đó, Aldophe Delvaux đã viết
lại theo giọng điệu thực dân ra vẻ khách quan của y:
“Triều đình
thấy nguy cơ mất độc lập, đã bàn bạc ngầm các phương kế để chận
đứng sự lấn chiếm của Pháp.
[…] Tôn Thất Thuyết, […] Nguyễn Văn Tường đã lôi kéo Hội đồng
Cơ mật thoả thuận hai vấn đề quyết định như sau: Ra một mật lệnh
cho các sĩ phu định rõ ngày tàn sát cùng lúc tất cả giáo dân trong toàn
quốc [! sic! – ct.]. Sau khi loại kẻ tiếp tay cho quân xâm lược sẽ
chuyển Triều đình và Chính phủ đến một pháo đài kiên cố, và đến các
vùng hiểm trở bất khả xâm phạm. Đó chính là Cam Lộ hay đúng hơn là
Tân Sở, và đó là trung tâm liên kết lực lượng ái quốc, là nơi Triều
đình sẽ tạm dừng chân. Các chuẩn bị kì quặc để hình thành do những
kỉ niệm quá khứ [của Nguyễn Văn Tường với vùng đất Cam Lộ –
ct.], thảm hại thay, lại đã được thực hiện một phần lớn” [32]. Cũng về thời
điểm 1883, theo Jabouille, phụ trách Tổ chức công vụ Pháp, công sứ Pháp
tại Quảng Trị: “Các người
chống Pháp nói rằng: “Những người Thiên Chúa [giáo – ct.] phản bội Tổ quốc để làm lợi cho nước
Pháp. Chúng ta chỉ hòa bình khi nào người
Pháp không có sự ủng hộ trong nước…”” […]. “Việc đánh lấy
Thuận An, và buộc chấp nhận đô hộ làm cho ông phụ chính Tường tức
giận tột độ; nhưng ông Tường âm thầm, cẩn thận đè nén sự tức giận
để dùng nó vào một dịp thuận lợi” [33]. Và sự thể,
theo Puginier viết về thời gian hai tháng sau ngày Kinh Đô Quật Khởi (22 –
23.5 Ất dậu, 1885), như đã trích dẫn, chắc
chắn chỉ vì tình huống lịch sử bắt buộc, bởi, giáo dân thời bấy
giờ, nói như Đoàn Trưng từ trước
1866: “Gia-tô nội
ứng ghê thay Giúp
đem lương thực chẳng ngày nào không”.
Quả thật, đến
1885, sự nội ứng của “tả đạo” Thiên Chúa giáo đã quá công khai! Sách “Compendium…” của Raviê (Ravier), có đoạn
viết: “Bấy giờ mới nổi cơn bão táp rất dữ dội
quá sức; từ khi nước Nam có đạo chẳng hề bao giờ bổn đạo phải cực
khốn cực nạn bằng bấy giờ; vì trước kia, khi cấm đạo, chỉ có quan
quân đi bắt bớ mà thôi, còn dân ngoại thì chẳng lo việc ấy, lại cũng
thương kẻ bị bắt bớ. Còn lần này quan và dân ngoại đều đồng tâm
hiệp lực mà quyết tận diệt kẻ có đạo” [34]. Và theo Delvaux: “… Các quan
chức không muốn dính líu vào, sợ có sự không may về sau [cách diễn đạt
của Delvaux – ct.], nên để việc đó cho các sĩ phu đảm nhận, còn riêng
họ vẫn ở trong bóng tối. Trong các tỉnh,
trong khi các sĩ phu chuẩn bị chiến đấu, thì các vị quan lớn lo trấn an
các công chức của chính quyền bảo hộ cũng như các vị linh mục và
giáo dân. Khi mọi việc chuẩn bị đã xong xuôi rồi, các sĩ phu tiến chiếm
thành trì của các tỉnh, và các quan tỉnh thì nhanh tay giao nạp các thành
trì ấy, sau một vài sự phản kháng qua loa; và như thế là những cuộc cắt
cổ [!sic! – ct.] bắt đầu” [35]. Các quan ở tỉnh
thì như thế, còn Nguyễn Văn Tường? Nguyễn Văn Tường cũng không thể
khác hơn: “Tướng De
Courcy lấy tin tức
[ở – ct.] ông Tường, ông này đều bảo đảm rằng sự trật tự an
ninh đang hình thành khắp nơi. [Trong khi đó
– ct.], các tin tức báo động dồn dập từ
miền nam [tả kì – ct.] được gửi đến.
Tướng Prudhomme muốn biết tường tận
tình hình thật sự các việc, đã được ông De Courcy chấp thuận và cho
phép đến các nơi ấy. Ông đi cùng ông De Champeaux trên chiếc tàu “Le
Lutin” và đến Quy Nhơn ngày 18.8 [1885 – ct.], và ông đã mục kích toàn là máu lửa” [!sic
! – TXA. ct.] [36] (xem thêm chú thích (10)). Lại
theo Jabouille: “Một
vài nhà truyền giáo trong tỉnh và một vài ông quan cho biết rằng năm
1885, nhất là vào tháng 9, tỉnh Quảng Trị đã là hiện trường của một
cuộc tiêu diệt có phương pháp, được tiên liệu, có tổ chức, để loại
trừ các người theo đạo Chúa, gây ra bởi đảng của Văn thân, có sự
ủng hộ tinh thần của ít nhất là hai
quan phụ chính…” [37]. Các
“nhà truyền giáo” đó chính là Aldophe Delvaux, Henry de Pirey – những kẻ
đã ra vẻ khách quan, thực chất lại thù hận sâu sắc Nguyễn Văn Tường,
người đã bị chính phủ Pháp “đày cho chết”! Gạt đi những xuyên tạc, bóp méo, bịa ra
cái gọi là ý nghĩ quần chúng để bôi nhọ của các tên thực dân,
tả đạo trong các bài viết của chúng với mục đích trả thù, phục hận,
sẽ thấy sự thật lịch sử đã diễn ra. Sự
thật lịch sử ấy đã diễn ra, bởi lẽ, Triều đình Huế với lực lượng
vũ trang khắp các tỉnh đang bị suy yếu, nhưng thật sự lực lượng quân
sự của Pháp cũng không lớn, nên vấn đề do tình thế đặt ra là cần
phải tiêu diệt bọn “dữu dân” nội
phản, nhằm cô lập bọn thực dân Pháp, biến chúng lâm vào tình cảnh như
“cua gãy càng”, mặc dù chúng chiếm
được kinh thành Huế, thậm chí chúng đặt được ách “bảo hộ” lên
cổ của dân tộc ta! [38] (6). Và
bởi lẽ, quan trọng, quyết định hơn, ấy là không còn cách nào khác,
trong điểm đỉnh tột độ của mâu thuẫn đối kháng, giữa lực lượng
dân tộc, yêu nước với bọn thực dân Pháp mà hậu thuẫn của chúng là
“tả đạo”. Đó là biện pháp chẳng đặng đừng trước sự lấn hiếp của thực
dân và “dữu dân”, để củng cố lại chính quyền nhằm làm hậu phương
cho phong trào Cần vương, chống Pháp bằng vũ trang và bằng thương thuyết.
Biện pháp bạo lực quyết liệt ấy, xuất phát từ tình thế: không còn hậu
phương, hậu thuẫn nước ngoài nào khác! Chúng tôi nhấn mạnh: không còn hậu phương, hậu thuẫn nước ngoài nào khác! (7). Vả lại, đâu chỉ bởi
mệnh lệnh của Nguyễn Văn Tường phối hợp với Dụ Cần vương của
Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết, trong cuộc nổi dậy toàn quốc này, mà còn do
chính sức mạnh quật khởi hoàn toàn tự giác của nhân dân! Chúng
tôi đã đối chiếu với “Đại Như
thế, chỉ có thể là: vì tình huống lịch sử, Nguyễn Văn Tường không
thể bày tỏ cho mọi người biết, chính ông cùng Tôn Thất Thuyết đã chuẩn
bị, rồi cùng tiến hành cuộc Kinh Đô Quật Khởi, lại phối hợp liên lạc
thường xuyên với phong trào Cần vương cũng theo cách vừa tiến công vũ
trang (kẻ đánh), vừa “không biết gì” (người đàm), cho đến ngày Nguyễn Văn
Tường bị đày đi Côn Đảo; và uy tín Nguyễn Văn Tường quá lớn, chúng
đày ông tít tận Tahiti, gần nam châu Mỹ, sau nhiều thủ đoạn li gián
Nguyễn Văn Tường với Tôn Thất Thuyết (như vụ đốt nhà Nguyễn Văn Tường
chẳng hạn)! Việc
Nguyễn Văn Tường bị lưu đày, lại theo Delvaux, ngoại vụ Paris tại Việt
Nam, trong bài viết ở sách đã dẫn [41]:
“Một
sự mâu thuẫn sâu xa chia rẽ tướng De Courcy và ông De Champeaux, nhất là
đối với vấn đề ông phụ chánh Tường. Vị tướng thì quả quyết là
ông Tường luôn luôn liên lạc với ông Thuyết và [trước đó – ct.] lại
nhúng tay vào mọi cuộc âm mưu lật đổ, và đem xuống tàu đày đi Côn Đảo
ngày 6.9 [1885 – ct.]… […] lại
chuyển đến Tất
nhiên, Delvaux vẫn cài vào bài viết, ngay cả ở đoạn văn trên những câu
chứa đựng sự mị dân, sự thất thiệt, chẳng hạn như sự “độ lượng”
của chúng, thời điểm Nguyễn Văn Tường chết (xem thêm chú thích (15)). Chúng
tôi cũng không trích dẫn để nhằm nêu lên sự mâu thuẫn trong nội bộ kẻ
thù, cách đối xử đối với Nguyễn Văn Tường, theo quan điểm thực dân
riêng của mỗi tên đầu sỏ giặc. Điều đáng lưu ý, chúng “quả quyết là ông Tường luôn luôn liên lạc với ông Thuyết”, “ảnh hưởng
của ông Tường là rất lớn” [42]. Điều này khớp với “Đại
Nam thực lục, chính biên”: hai mật dụ Hàm Nghi gửi về, và chắc
hẳn có những tập tâu đối của Nguyễn Văn Tường gửi lên chiến khu
Tân Sở. Việc án sát Quảng Trị Tôn Thất Nam được ủy nhiệm lên Tân Sở
họp với Tôn Thất Thuyết cũng đã được ghi nhận rõ [43]. Phương
thức “không biết gì”, khác với lần
thành công cuối năm 1873 bước sang 1874, là lần này (1885) không có đoạn
kết chiến thắng, nên Nguyễn Văn Tường không được dịp cùng Tôn Thất
Thuyết bày tỏ trước Tam Cung và đình thần cùng nhân dân. Tuy nhiên, Quốc
sử quán triều Nguyễn biết rõ điều đó. Chi
tiết Dụ Cần vương và mật dụ gửi Nguyễn Văn Tường từ Tân Sở (Cam
Lộ, Quảng Trị) được viết một ngày, phát đi và gửi về một lúc
(02.6 Ất dậu, 1885) đã làm sáng tỏ. Và
bản án chung thẩm cáo thị của hai tên De Courcy, De Champeaux, vô hình trung,
làm sáng tỏ như một xác quyết của “lân
sử” (tín sử). Chúng tôi sau khi nghiên cứu trọn đệ tứ, đệ
ngũ, đệ lục kỉ (tập 27 – tập 38) của “Đại
Nam thực lục, chính biên”, lưu ý đến “bản án” về Nguyễn Văn
Tường, đã hơn một trăm năm trước được Quốc sử quán cẩn thận
ghi chép lại, thấy rằng bản án của thực dân đối với Nguyễn Văn Tường,
“kẻ thù
không đội trời chung” của chúng, vô hình trung mà hiển nhiên,
là bản án đẹp nhất, rực rỡ nhất, chưa từng có trong giai đoạn đầu
chống Pháp của dân tộc ta, một giai đoạn lịch sử bi hùng nhất với một
nhân vật bi hùng nhất: Nguyễn Văn Tường! Tất
nhiên, phương thức “không biết gì”
cũng đã gây ra quá nhiều ngộ nhận và dễ bị xuyên tạc. Sóng đôi với
ông, người cùng thực hiện kế hoạch kháng chiến với ông (mặc dù Tôn Thất Thuyết trước tháng 11 âl., 1881, hầu như không
biết gì về Tân Sở, hệ thống sơn phòng và thượng đạo Bình Định –
Nghệ An), Tôn Thất Thuyết nhận tất cả hào quang bi tráng. Nói
thế, thực ra, Tôn Thất Thuyết cũng bị xuyên tạc, bôi nhọ, nhưng kẻ thù
khó lòng xuyên tạc, bôi nhọ hơn, và hậu thế cũng dễ thanh minh hơn, bởi
Tôn Thất Thuyết là hình ảnh của người kháng chiến trong điều kiện bế
tắc chung của các nước Á, Phi, Mỹ la tinh thuở bấy giờ! Trong khi đó,
người ta dễ đánh đồng hoặc nhầm lẫn Nguyễn Văn Tường với cánh chủ
“hòa”, đầu hàng! (Xem thêm chú thích (13)). Phương
thức tổng hợp, “không biết gì” (kẻ ở, đấu tranh bằng thương thuyết) và
chiến đấu vũ trang (người đi, đấu
tranh bằng quân sự), Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết đã hợp lực tiến
hành, trong lần Kinh Đô Quật Khởi (05.7.1885), dẫu sao, cũng đã sáng tỏ
*. 3.b.
NHIỆM VỤ LỊCH SỬ VỚI LẬP TRƯỜNG KIÊN ĐỊNH, THÁI ĐỘ CHÍNH TRỊ
"NHẤT DẠNG". SỰ
NGỘ NHẬN, XUYÊN TẠC. THỰC DÂN
PHÁP THAO TÚNG TRONG SỰ NHÂN DANH TRIỀU ĐÌNH. NỖI KHỔ TÂM
CỦA NGUYỄN VĂN TƯỜNG. Trong hai tháng
sau ngày Kinh Đô Quật Khởi và bị thất thủ, từ 05.7 đến 06.9.1885, các
nhà sử học thường quy hết trách nhiệm cho Nguyễn Văn Tường. Cần thấy
rõ, trong hai tháng ngắn ngủi ấy, Nguyễn Văn Tường hết bị quản thúc bởi
lính Pháp, đại uý Schmitz [44], lại
bị chi phối bởi De Courcy, Caspar, trực tiếp là De Champeaux, phó công sứ
Hamelin. De Champeaux trở thành thượng thư Bộ Binh, Cơ mật viện đại thần
của Triều đình Huế! Về cái án tử
hình của Đặng Hữu Phổ (con trai của phò mã Cát, đồng hương với Nguyễn
Luận), Quốc sử quán triều Nguyễn [45]
đã ghi rõ nội dung: Đặng Hữu Phổ chống việc phủ Thừa Thiên sức cho
huyện Quảng Điền tăng cường quân số. Như thế, vô hình trung Đặng Hữu
Phổ đã tiếp tay cho Pháp trong việc Pháp yêu cầu Triều đình không được
tái vũ trang [46]. Về phía Pháp, dẫu
vậy Pháp vẫn xem Đặng Hữu Phổ nổi loạn! Và chính Đặng Huy Xán, chú
ruột của Đặng Hữu Phổ, đã lừa bắt ông, đem nộp cho giặc (theo một
số tư liệu và Đặng phả)! Vụ Lê Trung Đình cũng như thế, nhưng ở dạng
cụ thể khác. Lê Trung Đình lại tôn phù Tuy Lí vương [47], một nhà thơ chủ “hòa”, câu kết
với Pháp thời Hiệp Hòa, bị đày vào Quảng Ngãi! Do việc tôn phù này,
người ta tưởng Lê Trung Đình là kẻ cơ hội! Đúng như một câu trong sắc dụ của
Từ Dũ lâu nay vốn do Nguyễn Nhược thị Bích
viết thay: “Ba tháng bỡ ngỡ,
bốn biển ầm vang” [48]! Đặng
Hữu Phổ, Lê Trung Đình yêu nước, chống Pháp, nhưng lại quờ quạng,
thiếu sáng suốt. Sự chỉ đạo của Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường
cũng chưa sâu sát, cụ thể từng “bước đi”. Khởi nghĩa hưởng ứng dụ
Cần vương là đúng, nhưng chống Triều đình lúc Nguyễn Văn Tường còn
giữ vị thế hay tôn phù Tuy Lí vương là sai (mặc dù Miên Trinh từ chối)!
Bởi lẽ, Nguyễn Văn Tường vẫn “nhất
dạng” với Tôn Thất Thuyết trong nhiệm vụ “kẻ ở”, “người đi”. Vả lại,
quyết án Đặng Hữu Phổ là do triều nghị, Triều đình lại có cả De
Champeaux ở vị trí trọng thần, chủ chốt, quyết định! Từ Dũ, Miên Định
chuẩn y! Còn Lê Trung Đình lại do chính các tỉnh thần và Nguyễn Thân hội
bàn, chém trước, báo cáo sau [49]!
Do đó, không thể quy hết mọi việc Pháp nhân danh Triều đình để đổ cả
cho Nguyễn Văn Tường! Ngoài hai vụ việc
trên, trước sức ép của Pháp, Nguyễn Văn Tường còn phải tự giằng xé
và bị ngộ nhận bởi vài nỗi đau lòng khác. Với chính trị,
chúng ta phải thông cảm, thậm chí có những việc rất khổ tâm, cũng phải
vờ chấp nhận để qua mắt giặc Pháp và phe chủ “hòa”,
chẳng hạn như cùng Trương Quang Đản bốn lần viết
thư cho Hồ [Văn] Hiển đưa Hàm Nghi – linh hồn của cuộc kháng chiến –
về lại Huế trong khi Pháp vẫn tiếp tục lấn hiếp [50] [(9) và xem thêm chú thích (11)]. Thật
lòng, Nguyễn Văn Tường cũng như Trương Quang Đản chỉ muốn rước vua Hàm
Nghi về sau khi cuộc đánh phối hợp với
đàm đã đạt được mục tiêu có giới
hạn với sự nhượng bộ của Pháp, như Tôn Thất Thuyết đã nói với Phạm
Hữu Dụng: “phải nên đoàn kết [thoả hiệp
tạm thời – ct.] với quân Pháp; [Pháp – ct.] không lại lấn áp
như trước, thì mới đón xe vua về” [51], đồng thời
theo hai mật dụ vua Hàm Nghi (cùng Tôn Thất Thuyết) gửi về từ Tân Sở
cho Nguyễn Văn Tường và hoàng tộc. Nhưng cũng cần
thấy rõ, sắc dụ về việc truy bắt Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn,
treo giải cho ai bắt được, chém được, chính Đồng Khánh về sau cũng xác
nhận là do Từ Dũ ban hành (tất nhiên Từ Dũ cũng đành phải theo yêu cầu
của Pháp!) [52]. Hơn nữa, sử học
phải phân tách rõ “hư chiêu” và “thực
chiêu”! Tất nhiên đó chỉ là
hư dụ, chứ không phải thực dụ (thực dụ trong
tình huống này phần lớn phải là mật dụ). Tuy vậy, chúng
ta cũng cần ghi nhớ, vào cuối tháng 8, đầu tháng chín 1885, còn có một số
sắc dụ khác của Tam Cung (đứng đầu là Từ Dũ) với lời lẽ của những
bản cáo trạng về sự câu kết giữa thực dân cố đạo, giáo dân với
thực dân viễn chinh Pháp, đồng thời khẳng định “thù ghét [giặc
Pháp – ct.], ai bảo là không nên.
Không gì bằng cuộc nghĩa cử đêm 22 tháng 5 năm nay [04 – 05.7.1885 – ct.]…” [53]. Trong tình
huống kinh đô thất thủ, cực kì khó khăn, thất thế ấy, các sắc
dụ tố cáo công khai giặc Pháp và tả đạo đó đã chứng tỏ một tinh
thần đề kháng, bất khuất ở mức độ nhất định. Phải chăng chính
Nguyễn Văn Tường đã tác động rõ rệt vào các sắc dụ khá đanh thép
này? Chính bản án cáo thị của hai đầu sỏ giặc (De Courcy, De Champeaux)
trong vài ngày sau đó sẽ làm sáng tỏ. Ngoài ra, những
gì Nguyễn Văn Tường làm được cho việc tái củng cố vương quyền nhà
Nguyễn từ triều đình cho đến huyện xã, cho phong trào Cần vương là những
chỉ đạo vừa thành văn, vừa khẩu lệnh, vừa công khai, vừa bán công
khai, trong những lúc thoát khỏi đôi mắt cú vọ của bọn De Champeaux, bọn
chủ “hòa” (thực chất là đầu hàng) (9), (10)… Với chức năng,
nhiệm vụ lịch sử vừa thoả hiệp vừa đấu tranh của mình, Nguyễn Văn
Tường đã bị bọn thực dân cố đạo căm hận, báng bổ: “Puginier,
giám mục ở Bắc kì, và Camelbeck, giám mục ở Quy Nhơn, đã mở một
chiến dịch điên cuồng tấn công chống
Nguyễn Văn Tường mà theo họ là kẻ thù lớn nhất của người Pháp và
đồng thời cũng là người An Nam điêu toa nhất
[(!?!)
nói với Pháp thế này, lại làm thế khác – ct.] mà người ta có thể gặp… Sự hợp tác của
ông ta và De Courcy là một mưu mô
[của
ông ta – ct.] nhằm đánh lừa
người Pháp”
[54]. Trong
một mật dụ từ Tân Sở gửi về cho hoàng tộc (07.6 Ất dậu [18.7.1885]),
sau khi hiểu rõ những gì Nguyễn Văn Tường đã tiến hành ở Huế, Hàm
Nghi (và Tôn Thất Thuyết) đã viết: “Nay
đã có phụ chính huân thần Nguyễn khanh
[tức Nguyễn
Văn Tường – ct.] ở lại giảng nói, che
chở nhiều việc, hơi
được yên ổn; huân thần tâm sự như thế, cáng đáng như thế,
thực là đau khổ quá chừng. Nhân vật nước ta, những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn
được. Trẫm cũng dụ cho đại thần ấy hết lòng bàn tính công việc,
tâu chờ quyết định” [55]. Đó là mật dụ
gửi cho hoàng tộc, Hàm Nghi (cùng Tôn Thất Thuyết) đã viết về Nguyễn Văn
Tường như vậy. Và, đúng ra, mọi sách lược (xây dựng thành luỹ Tân Sở
cùng những phương án kháng chiến, đánh – đàm, với nhiều mức độ khác
nhau, tuỳ tình hình… ) đều do Nguyễn Văn Tường góp phần vạch ra, từ
năm 1866 [56], Hàm Nghi (và Tôn Thất
Thuyết) chỉ nhắc lại ba phương án thích hợp. Điều đáng lưu ý trong mật
dụ này là Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết đã rất thấu hiểu và chia sẻ nỗi
khổ tâm xé ruột của Nguyễn Văn Tường trong nhiệm vụ lịch sử với
vai trò đàm phán đã được phân công, từ sau ngày Kinh Đô Quật Khởi và
bị thất thủ. Nỗi khổ tâm
xé ruột của Nguyễn Văn Tường còn phải kéo dài đến hơn một tháng rưỡi
sau, tính từ ngày vua Hàm Nghi gửi mật dụ về Huế, 07.6 Ất dậu
(18.7.1885)! Cũng cần phải
khẳng định: Những nỗi đau lòng của Nguyễn Văn Tường là do phải thực
hiện nhiệm vụ được giao phó của vua Hàm Nghi và của nhóm chủ chiến
triều đình Huế, hay nói đúng hơn, nhiệm vụ ấy là do vận mệnh lịch sử
của đất nước ấn định cho Nguyễn Văn Tường: “Y
[Cô-ra-xy
(De Courcy) – ct.] thấy ta càng khuất, y càng ngày càng lấn, khiến Triều
đình không còn mặt mũi nào, vạn bất đắc dĩ mà ta mới phải làm cái kế
bỏ thành đi ra ngoài. Nay đại thần Tôn
Thất Thuyết cùng ta cùng quanh quẩn, còn ngươi [Nguyễn
Văn Tường – ct.] là phụ chính đại thần
thì ở lại mà thương
đàm; kẻ ở người đi đều lấy lòng yêu nước lo dân làm căn bản. Trời
đất thực cũng chứng giám. Ngươi nên khéo thể tấm thịnh tình của tiên hoàng đối
với nước láng giềng rất có thuỷ chung và cùng y giảng rõ về lý thế,
cân nhắc về lợi hại, hết lòng thoả hiệp [:hiệp bàn thỏa mãn đôi bên, không phải
“thỏa hiệp vô nguyên tắc” – ct.], phàm
những khoản gì bách thiết, chung nhau
bàn đổi, cốt khiến cho hai nước như anh em, vinh nhục cùng quan hệ, vui
lo cùng chung nhau mười phần chân thành, không còn dùng đến uy thuật. Lúc
này ta mệnh cho hồi loan, trên để phụng dưỡng ba cung, dưới để yên
lòng thần dân, khanh [Nguyễn Văn Tường – ct.] cùng với Tôn Thất Thuyết trung trinh chói lọi,
muôn thuở cùng sáng, những phường nịnh tử gian phu, đều phải lặn hình
giấu bóng. Nam triều ta há chẳng hân hạnh ư, nước Đại Pháp chắc
cũng vui vẻ mà cùng giữ lấy cường thịnh vậy. Nếu
không như thế thì các miếu xã lăng tẩm và các vương công không kịp đi
theo ấy thì hết thảy uỷ cho khanh
[Nguyễn Văn Tường
– ct.]. Ta duy có chọn đất lánh ở, sợ trời vui trời,
rường cột cương thường, cả nước cùng
thế, không đâu không phải là Triều đình và không phải là tôi con vậy.
Trẫm quyết không cùng với họ tranh được thua vậy. Tình
thế ví lại không thôi, trẫm nguyện phái thêm cán viên, lấy
đường đi khắp các nơi, nghiêm sắc cho Ninh Bình trở về phía bắc, bao
nhiêu quan tỉnh, phủ, huyện đều để ấn lại mà đi, người nào như có trung
nghĩa, tài lược, không kể quan hay dân, đều cho được tiện nghi làm việc
[nhân dân, sĩ phu khởi
nghĩa, kháng chiến quyết liệt – ct.], cốt
không phụ tấm lòng tốt của triều đình
dưỡng dục, tác thành, yên được bóng thiêng liêng ở trời của liệt
thánh, và đáp phó được nguyện vọng [khởi nghĩa chống Pháp
– ct.] tha thiết của thần dân trong nước. Khanh [Nguyễn Văn Tường
– ct.] nên nghĩ cho kỹ nhé, có muốn nên tâu đối, thì gởi theo
đường trạm chờ xét cũng chẳng hại gì”
[57]. Đó
là các phương án tuỳ theo mức độ bức hiếp của thực dân Pháp và tả
đạo. Nói rõ hơn, trong tình huống ấy, có ba phương án: Một
là,
nếu Pháp và tả đạo tuân thủ “hoà” ước 1874, hay ít ra, “hoà”
ước 1884, không tăng cường sự lấn hiếp, nhà vua và Tôn Thất Thuyết sẽ
về lại Huế. Hai
là,
nếu Pháp và tả đạo xé bỏ “hoà” ước 1884, vẫn tăng cường
sự lấn hiếp ở mức độ có thể chấp nhận được, nhà vua và Tôn Thất
Thuyết sẽ ở lại Tân Sở nhưng không đẩy mạnh sự phát động phong trào
Cần vương bằng vũ trang, và giao phó kinh thành Huế cùng sự an nguy của
hoàng tộc cho Nguyễn Văn Tường. Ba là,
nếu Pháp và tả đạo quyết xé bỏ “hoà” ước 1884, quyết
tăng cường sự lấn hiếp đến mức không
còn chút chủ quyền
nào để có thể mưu tính cho đại cục về sau, nhà vua và Tôn
Thất Thuyết sẽ phát động mạnh mẽ và rộng khắp phong trào kháng chiến
Cần vương, kể cả Bắc kì vốn đã bị “bảo hộ”. Ở
mật dụ tiếp theo, vua Hàm Nghi (và Tôn Thất Thuyết) vẫn tin tưởng Nguyễn
Văn Tường đàm phán với mục tiêu “vụ [:nhằm – ct.] được như thường” (ít ra là như “hoà”
ước 1884): “…
Phàm việc gì cùng với Nguyễn khanh
[Nguyễn Văn Tường –
ct.] châm chước thoả đáng, cốt không
trái với cương
thường của trời đất. Nên được nền bình trị lâu dài của quốc gia, ngõ hầu để được tiếng thơm muôn đời,
thế là lành lắm, tốt lắm. Trời đất dài lâu, gặp nhau có hẹn. Nước
nhà suy thịnh, gặp hội đổi thay, càng nên trân trọng di dưỡng, để yên
tấm lòng xa của người tuổi trẻ. Còn ra sẽ uỷ cho Nguyễn khanh [Nguyễn Văn Tường – ct.] sẽ vì ý thân điều đình cho thoả đáng, vụ được như
thường. Phàm người họ ta, cần tin lời ta nhé, thế thì ta mới yên lòng…” [58]. Thế
và lực nước ta bấy giờ là không thể đương đầu với Pháp, tả đạo
cùng liên minh các nước thực dân của chúng (Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nga …),
trong một bối cảnh chung ở Á, Phi, Mỹ la tinh là hoàn toàn bế tắc, nhất
là khi thế trận toạ sơn quan song hổ đấu (chiến tranh Pháp – Hoa,
1883 – 1884) đã hoàn toàn
thất bại về phía Trung Hoa. Bởi vậy, cho nên, sắc dụ của vua Hàm Nghi
(và Tôn Thất Thuyết) từ Tân Sở gửi về với khí thế và mục tiêu đấu
tranh đành phải hạn chế như thế. Phải nhìn nhận mục tiêu đề ra không
thể vượt quá khả năng của hiện thực lịch sử, mà phải chờ thời cơ
trong nỗ lực tạo ra thời cơ (gồm thế và lực mới) – “gặp hội đổi thay”! Với quan điểm lịch
sử – cụ thể, mọi nhận định đều phải đúng mức. Nếu không thấy
rõ mục tiêu có hạn chế với phương thức quân sự – ngoại giao vừa
đánh vừa đàm (Tôn Thất Thuyết –
Nguyễn Văn Tường phối hợp), phương thức
đàm phán vừa thoả
hiệp vừa đấu tranh (Nguyễn Văn Tường đảm
nhiệm), không phân tách rõ “hư chiêu”
và “thực chiêu”, với các phương
án trên, sẽ không hiểu được thời đoạn lịch sử hai tháng sau cuộc
Kinh Đô Quật Khởi và bị thất thủ (05.7 – 06.9.1885, Ất dậu)! Trong đó,
sự phối hợp nhiệm vụ lịch sử có tính quyết định nhất vẫn là:
Tôn Thất Thuyết (“đường núi vạn trùng lo kiệu biếc”) – Nguyễn Văn Tường
(“lòng tôi một dạng giữ sân son”) . 3.c.
THÁI ĐỘ CHÍNH TRỊ "NHẤT DẠNG"
VỚI LẬP TRƯỜNG KIÊN ĐỊNH CHỐNG PHÁP, KHÔNG CHẤP NHẬN "BẢO HỘ"
CỦA NGUYỄN VĂN TƯỜNG QUA CÁC BẢN KẾT ÁN CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ NGỤY
TRIỀU ĐỒNG KHÁNH. Đại Nam thực
lục, chính biên,
từ tập 36 trở về trước, dù ở trong xiềng xích
ý hệ bảo hoàng, vẫn thể hiện được tinh thần chống Pháp, lập trường
yêu nước. Quốc sử quán đã ghi rõ [59]
: “Đô
thống Đại Pháp là Cô-ra-xy
[De Courcy – ct.] bắt thái phó, Cần Chánh điện đại học sĩ, lãnh Lại
bộ thượng thư, kiêm sung Cơ mật viện đại thần, Kì Vĩ quận công, là
Nguyễn Văn Tường xuống tàu thủy chạy đi Gia Định. Cứ
theo lời cáo thị của khâm sứ Tham-bô
[De Champeaux – ct.] nói: Văn Tường từng đã chống cự nước
ấy [nước
Pháp – ct.] thực đã nhiều năm. Từ khi cùng
Tôn Thất Thuyết
sung làm phụ chánh, chỉn [:vốn; vẫn – ct.] lại
đổng suất quan quân nổi dậy công kích quan binh nước ấy [nước Pháp – ct.]; và Văn
Tường do đô thống ấy xin [chính phủ Pháp – ct.] cho hai tháng [nhằm để – ct.] lo liệu việc nước cùng Bắc kì cùng được
lặng yên vô sự; [kì thực – ct.] đến ngày 27 tháng ấy
hết hạn, mà các tỉnh tả kì về phía nam (9), (10), có nhiều nơi nổi quân
chém giết dân giáo. Đến đây đô thống ấy định án, ưng [:nên; phải
– ct.] kết tội lưu. Hôm
ấy chở đem Văn Tường đến cửa biển Thuận An. Buổi chiều Nguyễn Hữu
Độ, Phan Đình Bình đi tàu thủy Pháp cũng về đến cửa biển ấy. (Thuyền
Pháp chở Văn Tường đến Gia Định, sau chở gồm cả Phạm Thận Duật, Lê
Đính đem về nước ấy
[thuộc địa Đó là bản kết
án của thực dân Pháp [60]! Bản kết án
cáo thị ấy đã làm bùng lên một cuộc “sát tả” dữ dội tại Quảng
Trị từ ngày 06.9.1885 (28.7 âl., Ất dậu) [61]! Và đây là quốc
thư của tên vua tay sai, bù nhìn Đồng Khánh, có chi tiết vu vạ, đổ tội
không đúng sự thật, có chi tiết khẳng định đúng (đối chiếu với ngôn ngữ tường minh ở ĐNTL.CB., cuối tập
35 và trọn tập 36, sđd.). Lời lẽ ấy – giọng lưỡi của y: “Quyền thần
là Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết
[…]. Ngày 23 tháng 5 năm nay, kinh thành thất thủ, xe tiên đế dời đi,
hai người ấy thực là căn nguyên của tai
vạ […]” [62] (9). Đình thần,
nói theo cách nói của Trần Trọng Kim, “nhiều người đã biết theo
chính sách bảo hộ cho nên mọi việc trong Triều đều được yên ổn” [63]. Đình thần ấy cùng
Tôn nhân phủ kết án (!): “Tôn nhân phủ
và đình thần dâng sớ tâu bày tội trạng của Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, xin tước hết quan tước
và tịch thu gia sản; tham tri Trương Văn Đễ
đã quá cố, và chưởng vệ Trần Xuân Soạn,
đều là bè đảng làm loạn, cũng tước cả quan chức. Trong bọn ấy, thì
Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn, xin do quan địa phương xét bắt bằng
được và chém ngay, để tỏ rõ hiến pháp trong nước. Vua nghe theo” [64] (9), (11). |