posted: 15.8.2005
“CHUYỆN THẬT NHƯ ĐÙA” - VẪN LÀ
CHUYỆN THẬT !
Trần Mạnh Hảo Báo “Văn Nghệ Trẻ” số 29 (451) ngày
17-7-2005 đăng bài : “ “Chuyện thật như đùa” nhưng chuyện thật là
gì?” của GIÁO SƯ NGUYỄN ĐÌNH CHÚ ( xin viết trong bài là GS.); mở đầu
GS. viết : “Cũng xin nói thêm, đây là “Thư
ngỏ cùng bạn đọc” chứ không phải bài “trao đổi lại” với ông Hảo”.
Vậy, theo cách làm “tế nhị” của GS., Trần Mạnh Hảo cũng xin viết bài
báo này, không nhằm “ trao đổi lại” với GS. Nguyễn Đình Chú, mà chỉ
như một lá thư ngỏ kính gửi bạn đọc báo “Văn Nghệ Trẻ”. Bạn đọc kính mến, Nguyên nhân của việc có lá “thư ngỏ”
này của chúng tôi là để đáp lại lá “thư ngỏ” có tên gọi vừa
nêu trên của GS Nguyễn Đình Chú ; là vì cách đây 4 năm, chúng tôi có cho
in bài : “Bài Nguyễn Đình Chiểu trong Văn 11, sách giáo khoa chỉnh lý hợp
nhất- hay chuyện thật như đùa” ( Văn Nghệ trẻ số 52 ( 226) ngày
30-12-2001), do GS. Nguyễn Đình Chú soạn, nhằm nêu lên nhiều điều sai sót,
bất cập trong chương trình học chính quy phổ thông trung học trong sách
giáo khoa của Bộ Giáo Dục &Đào Tạo. Nay, GS sau bốn năm ngẫm nghĩ,
viết bài trao đổi lại với chúng tôi toàn là “ông Hảo nói sai thế
này”, “ông Hảo hiểu sai thế nọ” mà lại bảo không “trao đổi lại”
với “ông Hảo”, chỉ trao đổi với bạn đọc thôi, thì kể cũng là
chuyện hi hữu. Trong bài này, chúng tôi xin viết ngắn, chỉ bằng hai phần
ba bài của GS “ không trao đổi với ông Hảo” trên mà
thôi. GS. lấy lý do này để “không trao đổi
lại với ông Hảo” : “ Nhưng xin quý vị
thông cảm cho vì tôi vốn không quen và càng không muốn tranh luận với một
người đã tự nhận là “nhà phê bình phải gió” cho dù cách nói có
chút tự trào”. Thưa GS. và bạn đọc, biết người ta nói về người
ta “có chút tự trào”, thì sao lại cố chấp đến mức lấy cái tự
trào kia ra để biến thành bản chất thật của người ta ? Khi anh Lê Lựu
nói tự trào trên báo bảo mình là “tên nhà quê”, là “gã ăn mày”,
hay Trần Đăng Khoa cũng tự trào tự nhận mình là “Cuội”, là “nhà
quê” thì vin vào đó, khi viết về họ, ai đó lại bảo “tôi không thèm
tranh luận với tên “nhà quê” hay kẻ “ăn mày” kia ư ? Ví như Tú Xương
tự trào : “Vị Xuyên có Tú Xương / Giở
giở lại ương ương / Cao lâu thường ăn quỵt / Thổ đĩ lại chơi lường”
thì khi ai đó viết về Tú Xương, lại bảo tuy ông này chuyên “chơi lường”
và “ăn quỵt” mà thơ hay lắm ư ? Nhân đây, tôi cũng xin nói rõ về
chuyện “nhà phê bình phải gió Trần Mạnh Hảo”. Một nữ phóng viên tập
sự đến phỏng vấn tôi nhân một loạt bài phê bình các giáo sư soạn sách
giáo khoa sai, bảo ông phê bình như thế, các học trò của các GS có hàng
vạn người, sẽ ghét ông vô cùng. Tôi nói bằng một ví dụ : rằng lúc
đầu họ ghét, sau rồi khi nhận ra chân-giả, họ sẽ lại yêu tôi bây giờ.
Giống như ngày xưa Xuân Quỳnh chưa lấy Lưu Quang Vũ, Vũ kể tôi nghe Xuân
Quỳnh toàn gọi Vũ là “Thằng phải gió”. Nhưng sau này, Xuân Quỳnh phục
tài Vũ, và yêu Vũ say mê vô cùng. Lấy ý nghĩa chuyện này mà suy, thì xin
các học trò của các GS cứ coi như bây giờ “ Trần Mạnh Hảo là nhà
phê bình phải gió” đi, có sao đâu ! Thế rồi khi bài phỏng vấn đem in
đã lấy cái tít giật gân để bán báo, rằng : “ Trần Mạnh Hảo –nhà
phê bình phải gió”. Tôi phải kể lại chuyện này để chống lại sự
xuyên tạc văn bản, và chống lại sự quy kết người khác ác ý bằng sự
“tự trào” của người ta, mà có cả chục vị lên các diễn đàn bảo
tôi bản chất là “Nhà phê bình phải gió” cốt để nhục mạ tôi ! Kết thúc “lá thư trao đổi với bạn
đọc” GS. viết : “ Bạn đọc kính mến
! “Chuyện thật như đùa” mà ông Trần Mạnh Hảo đã gán cho tôi là thế.
Và chuyện thật là gì tôi muốn ngỏ cùng bạn đọc là thế. Để kết thúc
bức thư ngỏ này, tôi muốn cất lên một lời kêu gọi : Xin ai đó đừng
vẩy bùn lên người khác. Làm thế chẳng đẹp gì hơn cho mình mà chỉ đáng
buồn cho đất nước, cho cõi nhân gian mà thôi. Tôi còn muốn nói thêm :
Khi viết bức thư ngỏ này, trong tôi văng vẳng câu phương ngôn : Học nói
chỉ cần vài ba năm còn học im lặng thì phải suốt đời. Tôi tự buồn
vì chưa học được bao nhiêu lời dạy của phương ngôn đó để phải có
bức thư ngỏ này”. Thưa GS., GS. nói như thế, khác gì GS. bảo Trần Mạnh
Hảo “vấy bùn lên người khác” mà trong trường hợp này là “vấy
bùn” lên GS..Thực là oan cho chúng tôi lắm thay! Suốt 4 năm, kể từ khi
chúng tôi viết bài phê bình SGK dạy về Nguyễn Đình Chiểu trong văn 11 do
GS. soạn, nếu chúng tôi làm chuyện hỗn láo là “vấy bùn” lên GS. sao
hàng vạn học trò của GS., và hàng triệu bạn đọc đâu có dễ “tha thứ”
cho chúng tôi mà im lặng suốt như thế ? Trong khi, bài báo phê bình phần
SGK trên được chúng tôi cho in lại trên 3 tờ báo khác, chứ không chỉ in
riêng trên Văn Nghệ Trẻ ! “Chuyện
thật như đùa “ 1 : Trong phần đầu “thư ngỏ” GS. Nguyễn
Đình Chú viết : “Trong SGK Văn 11, bản in
lần đầu năm 1991, quả có chuyện như ông Hảo đã nêu : Câu thơ : “ Bởi
chưng hay ghét cũng là hay thương” của Nguyễn Đình Chiểu lại nói là của
Xuân Diệu. Tôi xin nhận trách nhiệm sai sót không thể tha thứ này mà
chính tôi cũng không hiểu tại sao có sai sót đó”. Thưa quý độc giả và thưa GS, bài
khái luận soạn cho SGK Văn 11 để học trò cả nước học do chuyên gia
hàng đầu về Nguyễn Đình Chiểu là GS, mà GS lại nhầm CÂU THƠ HAY NHẤT
CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU là CÂU THƠ CỦA XUÂN DIỆU như GS vừa nhận trên,
lại không hiểu vì sao có thể sai đến mức không thể tha thứ được, thì
có phải là “chuyện thật như đùa “ không ạ ? Ví như GS chỉ có một
sai sót lớn này do Trần Mạnh Hảo chỉ ra, còn các sai sót khác TMH chỉ chưa
đúng, thì GS cũng không vì thế mà bảo TMH “vấy bùn lên người khác”
được. Huống hồ, đạo lý thông thường, khi người ta chỉ ra cái sai của
mình, mình phải cám ơn người ta, chứ sao lại chửi người ta? “Chuyện
thật như đùa” 2 : Trong khi bảo vệ cho việc chú giải
chữ : “TÀ” ( mà GS chú giải sai thành : Tà = chính tà ) trong câu thơ :
“ Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm / Đâm mấy thằng gian bút chẳng
tà” của Nguyễn Đình Chiểu, GS viết như sau : “ Vậy mà ông Hảo đã thay đi một chữ. Tôi viết
: “ KHÔNG ĐỨNG THẲNG” ông chữa thành “KHÔNG NGANG THẲNG”…”.
Ở đây, chính là GS đang đùa với sự thật đó ! Xin GS. và quý độc giả mở SGK Văn 11 –sách
chỉnh lý hợp nhất năm 2000- NXB GD, mã số : 3H101m0 ( In xong và nộp lưu
chiểu tháng 6-2000, trang 28, dòng thứ 4 kể từ trên xuống); rõ ràng GS Nguyễn
Đình Chú chú giải như sau : “(4) TÀ : XIÊN XẸO, KHÔNG NGANG THẲNG” mà
sao GS vẫn dám cãi : Tôi viết “ĐỨNG THẲNG”, rằng ông Hảo gian sửa
thành “NGANG THẲNG” thì có phải là chuyện thật như đùa hay không ? (
Chữ in hoa và in hoa nghiêng trong bài do TMH nhấn mạnh) “Chuyện
thật như đùa” 3 : Điều này, có trong bài phê bình SGK Văn
11 của Trần Mạnh Hảo ( TMH) nhưng GS không nhắc đến trong “thư ngỏ”.
Ấy là việc GS gọi CON CHIÊN là CON DÊ. Chú giải chữ “CHIÊN CẦU”
trong câu thơ Nguyễn Đình Chiểu : “ Sáng chi theo thói chiên cầu / Dọc
ngang chẳng đoái trên đầu có ai”, GS viết : “ Chiên cầu : áo bằng da con chiên ( dê). Ý
nói: ăn mặc trang sức theo lối nước ngoài một cách lai căng, mất gốc”(
SGK Văn 11 đã dẫn, trang 39, dòng 17 từ trên xuống). GS gọi CON CHIÊN
là CON DÊ há không phải chuyện thật như đùa ư ? Cách chú giải chữ “Chiên cầu”
của GS như trên là chưa đúng. “Chiên cầu” là áo bằng da dê mà rợ Hồ,
dân du mục phương Bắc thường mặc để đánh chiếm Trung nguyên. Chữ “
chiên cầu” ở đây Nguyễn Đình Chiểu dùng để chỉ bọn xâm lược, tức
thực dân Pháp. “Chuyện
thật như đùa” 4 : Ấy là việc GS chú giải sai từ : “Tầm
phào” trong câu thơ : “ Qúan rằng ghét việc tầm phào / Ghét cay ghét đắng,
ghét vào tận tâm” như sau : “ Tầm phào
: vu vơ không có nghĩa lý gì” ( SGK Văn 11 đã dẫn, trang 30, dòng thứ
2 kể từ trên xuống).GS để gần một cột báo lớn trong “thư ngỏ” để
biện bác chúng tôi. Nay xin trích ra ( không sai một dấy phảy) những cách
GS Nguyễn Đình Chú định nghĩa chữ “TẦM PHÀO” -
TẦM
PHÀO : vu vơ không có nghĩa lý gì (đã dẫn trên) -
“GHÉT
VIỆC TẦM PHÀO” : (vu vơ); ( Văn học 11-sách giáo viên ( SGV) mã số :
3G101MO-NXB GD tháng 6-2000, trang 23, dòng thứ 14 kể từ trên xuống). -
“GHÉT
VIỆC TẦM PHÀO” : (bậy bạ) .( Văn 11-SGV , số XB 365- NXB GD tháng
7-1991, trang 24, dòng thứ 8 kể từ trên xuống) Qua đây, chỉ riêng từ “TẦM PHÀO”
đã thấy GS lúng túng không hiểu nổi nghĩa, dẫn đến chú giải 3 cách khác nhau. Xin theo phép tam
đoạn luận mà suy ra : -
TẦM PHÀO = vu vơ ; TẦM PHÀO = bậy bạ,
phép tam đoạn luận cho ta kết quả theo GS Nguyễn Đình Chú : “TẦM PHÀO
=VU VƠ = BẬY BẠ “ ! Chao ôi, khi từ VU VƠ cũng có nghĩa là BẬY BẠ thì
có phải là “chuyện thật như đùa không thưa quý bạn đọc ? Với việc
đồng nhất, từ “vu vơ” nghĩa là “bậy bạ” thì câu thơ dưới của Huy Cận là bậy bạ ư ?
“ Rơi
rơi dìu dịu rơi rơi
Trăm muôn giọt nhẹ nói lời vu vơ” Hay câu thơ dưới đây của Hữu Thỉnh
cũng là câu thơ “bậy bạ” ư ?
“
Em vừa gỡ gió ngoài sân
Anh vừa góp
được một lần vu vơ …” “Chuyện
thật như đùa” 5 : Ấy là chuyện GS chú giải sai từ “TÂM
THẦN” trong câu thơ : “ Thấy rồi muôn việc trong trần / Xin còn hai chữ
tâm thần ở ta”; GS Nguyễn Đình Chú chú giải từ “tâm thần” như sau
: “ Tâm thần : tinh thần chân chính trong
cõi lòng” ( SGK đã dẫn, trang 39, dòng 21 kể từ trên xuống). Thưa bạn
đọc và GS, “TINH THẦN” là tinh thần chứ ạ, sao còn có 2 loại “TINH
THẦN khác nhau : “TINH THẦN
CHÂN CHÍNH” và “TINH THẦN KHÔNG
CHÂN CHÍNH” là sao ạ ? Vậy học trò cũng sẽ hỏi thầy từ : “CÕI
LÒNG” và “CÕI LÒNG CHÂN CHÍNH” khác nhau làm sao thì có phải là chuyện
thật như đùa hay không ? Cũng như thế nếu GS giảng từ CHÂN LÝ, học
trò sẽ hỏi thế CHÂN LÝ CHÂN CHÍNH VÀ CHÂN LÝ KHÔNG CHÂN CHÍNH khác nhau
thế nào thì GS trả lời ra sao ạ ? “Chuyện
thật như đùa” 6 : Xin quý bạn đọc đọc nguyên văn đoạn
bình văn bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” xem văn này của GS Nguyễn
Đình Chú có phải là văn hài hay văn mô phạm nhà trường : “ Phải
làm cho HS thấy được đây là những dòng văn toàn bích viết về nỗi
đau mất mát trong chiến tranh vệ quốc xưa nay. Chú ý cách dùng từ rất
giản dị nhưng có hàm lượng tư tưởng thẩm mỹ tối ưu của Nguyễn Đình
Chiểu trong lời văn này : mẹ đã mất con thì dù còn trẻ cũng thành mẹ
già hết ( mẹ già).Con dù lớn đến mấy trong tình thương của mẹ vẫn là
trẻ cả ( khóc trẻ). Vợ đã mất chồng thì có khỏe bao nhiêu cũng là vợ
yếu. Cách tạo hình, tạo cảnh để gợi cảm tối đa : mẹ khóc con không
phải vào lúc nào khác mà là lúc đêm khuya, không phải ở nơi nào khác
mà là trong lều. Vợ tìm chồng không phải lúc nào khác mà là bóng xế…”
( Văn 11-SGV- chỉnh lý hợp nhất – NXB GD 6-2000, trang 28, dòng 20 kể từ
trên xuống) Xin quý độc giả đọc thêm một đoạn
“văn hài” nữa của GS Nguyễn Đình Chú trong bài khái luận : “Nguyễn
Đình Chiểu”, như sau : “ Văn chương Đồ
Chiểu không óng mượt, nõn nà mà chân chất, phác thực, có chỗ tưởng
như thô kệch. Nó không phải là vẻ đẹp của những cây lúa xanh uốn
mình trong gió nhẹ. Nó đẹp vẻ đẹp của đống thóc mẩy vàng. Nó không
phải là quả vải thiều của Hải Dương ai ăn cũng thấy ngon miệng. Nó
là trái sầu riêng của Nam Bộ, với một số người không dễ gì quen, nhưng
chính là “bậc vương giả”trong thế giới trái cây ở đây…”( SGK
Văn 11- NXB GD 2000, trang 27, dòng thứ 10 kể từ trên xuống). GS viết như trên,
vừa buồn cười, dung tục, lại vừa sai. Đa số người miền Bắc, miền
Trung không ăn được trái sầu riêng Nam Bộ. Nói như GS, hoá ra chỉ có người
Nam Bộ mới thưởng thức nổi văn Đồ Chiểu hay sao ? Viết như vậy là
ca ngợi hay hạ thấp Nguyễn Đình Chiểu ? “Chuyện
thật như đùa” 7 : Ấy là chuyện GS giảng chưa đúng
tinh thần bài thơ “Xúc cảnh”. Xin xem GS chú giải từ “Thánh đế”
trong câu thơ : “ Chừng nào Thánh đế soi ân thấu / Một trận mưa nhuần
rửa núi sông” như sau : “ Thánh đế : vị
vua đáng tôn kính. Trong điều kiện ý thức hệ phong kiến còn thống trị,
Nguyễn Đình Chiểu không thể không nói đến Thánh đế nhưng đó là vị
vua lí tưởng mà ông ước mơ” ( SGK Văn 11 đã dẫn, trang 37, dòng thứ
15 kể từ trên xuống). Chúng tôi hiểu chữ “Thánh đế” trong câu thơ
trên là triều đình nhà Nguyễn, mà cụ thể là vua Tự Đức. Lúc đang bị
giặc Pháp cướp nước, giống như đang bị cháy nhà, người dân Nam kỳ
qua thơ Đồ Chiểu kêu cứu vua cụ thể đến cứu dân chứ đâu có kêu cứu
“ông vua lý tưởng trong ước mơ” xa xôi không có thực về cứu ! Thời
đó, phương thức lịch sử là trung quân ái quốc, người dân Nam Kỳ và cả
Nguyễn Đình Chiểu, dù đôi lúc có trách triều đình, trách vua, nhưng vẫn
hướng, vẫn dựa vào triều đình nhà Nguyễn và vua Tự Đức để tìm
cách cứu nước. Chính người của triều đình đã cử Nguyễn Đình Chiểu
víết bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”thì
làm gì có chuyện lòng dân Nam kỳ và Nguyễn Đình Chiểu tuyệt
đối chống triều đình nhà Nguyễn như GS viết! Nay, trong “ thư ngỏ”, GS để gần
nửa bài báo để nói đại ý rằng lòng dân Nam kỳ mà cụ thể là Nguyễn
Đình Chiểu căm ghét nhà Nguyễn cùng vua Tự Đức bán nước; GS viết như
sau, ám chỉ Tự Đức là hôn quân : “Ở
đây hoàn toàn không thể nói tư tưởng trung quân một cách chung chung,
không phân biệt minh quân với hôn quân, không phân biệt minh trung và ngu
trung. Đúng là nếu ông Hảo có hiểu biết về những điều trên đây thì
dễ thường ông sẽ không thể viết về bài Xúc cảnh của Nguyễn Đình
Chiểu như đã viết. Riêng với vua Tự Đức, dù là hôm nay đang cần có một
sự nhìn nhận sao cho khách quan công bằng hơn, nhưng gì thì gì, chuyện
nhà vua không kiên quyết chống Pháp chịu để mất nước do đó đã bị dư
luận xưa nay chê trách, lên án là một sự thật không thể chối cãi. Việc
ông Hảo cho rằng Nguyễn Đình Chiểu làm bài thơ Xúc cảnh là nhằm kêu cứu
với vua Tự Đức vào cứu con dân Chúng tôi xin trích lời của chính GS.
Nguyễn Đình Chú trong SGK VĂN 11 phần giới thiệu, gọi là tiểu dẫn bài
“Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” để chống lại đoạn văn trên của GS,
như sau : “ Theo yêu cầu của tuần phủ
Gia Định là Đỗ Quang, Nguyễn Đình Chiểu viết bài văn tế này. Vua Tự
Đức đã ra lệnh phổ biến bài văn tế trong nhiều địa phương khác.
Nhà thơ Miên Thẩm Tùng Thiện vương và Mai Am nữ sĩ đã có thơ ca ngợi bài
“Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” ( SGK Văn 11- đã dẫn, trang 31, dòng thứ
9 kể từ trên xuống)
Kính thưa quý độc giả,
Chúng tôi còn có thể kể ra rất nhiều
“Chuyện thật như đùa” nơi các bài giảng về Nguyễn Đình Chiểu, Tú
Xương, Phan Bội Châu do GS Nguyễn Đình Chú soạn trong SGK Văn 11, nhưng vì
khuôn khổ bài viết có hạn, hẹn một dịp khác vậy. Qua đây, quý bạn
đọc có thể biết ai là người đã vẩy bùn lên người khác” và làm
chuyện “đáng buồn cho đất nước, cho cõi nhân gian…”.,.
Sài
Gòn 19-7-2005
T.M.H. Đã đăng |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com