805-gdiem.gif (5390 bytes)

posted: 15.8.2005

           TỪ NỖI "MÕM MÒM " XUÂN HƯƠNG...               

Trần Mạnh Hảo

Sách Giáo khoa VĂN 10, phần văn học Việt Nam của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, dành cho học sinh trung học miền Bắc, miền Trung, NXB GD 1996 in lần thứ 7 ( nay đã tái bản thêm vài ba lần nữa )  và sách VĂN 10 - Sách giáo viên, NXB GD 1990 có dạy bài thơ "Tự tình " của Hồ Xuân Hương, do Nguyễn Đình Chú soạn phần hướng dẫn giảng dạy. Bài thơ như sau :

            "Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom

          Oán hận trông ra khắp mọi chòm

          Mõ thảm không khua mà cũng cốc

          Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om

          Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ

          Sau giận vì duyên để mõm mòm

          Tài tử văn nhân ai đó tá

          Thân này đâu đã chịu già tom

Đây là bài thơ nôm rất hay của Hồ Xuân Hương, thể hiện tâm trạng buồn giận số phận thiếu may mắn trong đường tình duyên của bà. Do vậy, cái tình của bài thơ là rất thật, rất dễ cảm thương, tuy không thiếu nét hóm hỉnh và đáo để là sở trường của nữ sĩ. Nói đến văn chương, trước hết phải nói đến chuyện chữ nghĩa. Trong một bài thơ hay, thường có những chữ thần kỳ để nhà thơ náu hồn vía lại mà tìm gặp kẻ tri âm mai hậu. Từ " mõm mòm" trong câu thơ " Sau giận vì duyên để mõm mòm" trên là một từ thần diệu như vậy. Nó như một chiếc công-tắc điện trong gian phòng thi ca. Nếu người đọc, người giảng dạy văn học không tìm ra nơi đặt nút bật của bóng đèn, tức nhiên bóng đèn không sáng, ta sẽ không thể nhìn thấu hồn thơ. Rất tiếc, tác giả sách giáo khoa đã không bật được chiếc công - tắc ảo diệu "mõm mòm" nên ông đã chú thích sai nghĩa của từ này như sau : " Mõm mòm : đã già đi". (SGK tr.145)."Mõm mòm" là từ dùng để chỉ sự chín tới, chín lắm, chín đến mức có thể sắp rụng, như là nỗi phì nhiêu cuối cùng của một thứ quả cây mòng mọng, ngọt ngon, thơm mát, hái xuống cắn ăn liền được."Mõm mòm" không hề liên quan gì tới khái niệm "đã già đi" như sách giáo khoa giải nghĩa.Ví như quả dừa, khi nó già, có thể gọi là quả dừa già, không ai nói quả dừa chín mõm mòm cả. Tác giả giảng giải câu thơ thứ 6 là câu thơ hay nhất của bài thơ:"Sau giận vì duyên để mõm mòm" như sau :" Câu thơ thứ 6 nói rõ lí do sầu giận. Ấy là "vì duyên để mõm mòm" tức là duyên đã quá lứa, quá đốt, đã già chẳng gì đáng gọi là duyên nữa. Cách nói, cách dùng từ "mõm mòn" ở đây có vẻ như bực bội, như đay nghiến, chứ không phải là nói một cách bình thường."(SGV tr.128).(Chữ nghiêng đậm do TMH nhấn mạnh )

Sách giáo khoa giảng câu thơ trên như vậy, có thể nói là đã giết chết hồn vía bài thơ "Tự tình" của Hồ Xuân Hương. "Sau giận vì duyên để mõm mòm": cái duyên của cô gái đã tới lúc chín, lúc ngon nhất, tuyệt nhất, lúc cần phải lấy chồng nhất, mơm mởm xuân tình nhất, gợi hứng nhất, thân xác nở nang "dày dày sẵn đúc..." nhất...sao  lại nói oan rằng " duyên đã quá lứa, quá đốt, đã già..." ? Một cô gái đã tới tuổi "mõm mòm", tuổi đong đưa, xuân tình, duyên tình chín mọng, tuổi không đợi được nữa, tuổi cần lấy chồng, làm bài thơ "tự tình" để trước hết giải toả nỗi buồn thương của mình, sau nữa cũng là một cách tự giới thiệu rằng mình còn tân, còn phong nhụy nõn nà, còn cô đơn lẻ bóng. Hồ Xuân Hương tự cho mình là một giai nhân đang tìm một trang tài tử. Trong bài thơ "Trăng thu", Hồ Xuân Hương đã mượn mặt trăng rằm mà khoe duyên cùng trời đất :"Một trái trăng thu chín mõm mòm". Cái "Duyên mõm mòm" trên và "Trái trăng thu chín mõm mòm" dưới cũng là cái "mõm mòm" xuân tình người đàn bà đang rằm trăng xinh đẹp, mọng chín chờ "tài tử văn nhân" đến hái vậy. Vả lại, câu thơ cuối cùng của bài "Tự tình", Hồ Xuân Hương dứt khoát khẳng định :" Thân này đâu đã chịu già tom". Cái "già"không bao giờ đi đôi với Xuân Hương. Bà mãi mãi trẻ trung, xinh đẹp, gợi tình, mãi mãi mõm mòm chín mọng dù đã hai trăm năm qua, dù nghìn năm sau nữa. Vì không hiểu được câu thơ thần tình của tinh thần "mõm mòm" Hồ Xuân Hương, nên Nguyễn Đình Chú mới dám chê bà, một người đang độ xuân thì "Tự tình", đang muốn tìm tri âm nơi chữ nghĩa là đã hết duyên, đã già quắt! Nếu biết được việc con cháu ê a  học hành về nỗi "mõm mòm" trăm năm nõn nường của bà kiểu đó, hẳn là bà sẽ buồn tủi lắm! Không, bà gần như chống nệnh mà bảo ai đó vu oan cho mình  đã hết duyên rằng :" Thân này đâu đã chịu già tom". "Già tom" có thể là già tom già tóp. Đây chỉ là cái xác chữ "tom". Nhưng "tom" ở đây còn là một ẩn nghĩa, là hồn chữ : tom là tom chát, là cái đong đưa tom chát ả đào, cái lúng liếng tình tang tom tom chát chát... Ghê thay là thách thức xuân tình Xuân Hương ! Mặc ai thiếu tri âm chê bà hết duyên, bà vẫn cứ như trăng rằm mơm mởn chín, treo cái mõm mòm giữa trời cao mà lem thèm thiên hạ đến muôn đời.

Nếu ta chưa đi qua cổng "mõm mòm", chưa thể vào được tòa thiên nhiên thơ Hồ Xuân Hương. " Sau giận vì duyên để mõm mòm". Không, cách giải thích vế thứ hai câu thơ này của sách giáo khoa chưa thỏa đáng :" Cách nói, cách dùng từ "mõm mòn" ở đây có vẻ như bực bội, như đay nghiến...". Hồ Xuân Hương là một "thần chữ " trong thơ. Một chữ của bà không chỉ là một chữ, mà có nhiều chữ, nhiều nghĩa như nàng tiên ẩn bên trong quả thị, thậm chí có thể mang theo một phản nghĩa không chừng. "Giận vì duyên" là tự giận mình, giận cái số mình thiếu may mắn. Nhưng "giận" một mà thương mười, "giận"chỉ là vỏ, thương mới là ruột gan, là chính yếu. Không vì chuyện giận cá chém thớt, Hồ Xuân Hương dù giận duyên mình cách mấy cũng không nỡ chém vào lòng người đọc nỗi "bực bội", "đay nghiến" không đâu. Câu thơ thương thân, tiếc cho cho cái "mõm mòm" chín tới vẫn " thi gan cùng tuế nguyệt", vẫn chưa lọt vào mắt xanh của thế giới vô tình, để cái đẹp mãi mãi cô đơn: "trơ cái hồng nhan với nước non". Do vậy, nỗi "mõm mòm" Xuân Hương đến nay chừng vẫn còn mòng mọng nước mắt .

Tôi ngờ rằng sách giáo khoa đã tách riêng câu "Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom" ra khỏi gia đình, chòm xóm của nó là các câu thơ kế tiếp, nên mới giải thích rằng cái vắng lặng đang ngự trị không gian bài thơ như sau :"...Qua "tiếng gà văng vẳng" đó là cả một không gian bát ngát vắng lặng. Tiếng gà vừa tan biến vào không gian vắng lặng, bát ngát đó, vừa làm cho không gian đó càng vắng lặng bát ngát thêm..."(SGV tr.127) . "Tiếng gà văng vẳng " thì quả là từ xa, thậm chí từ rất xa đưa tới thật. Nữ sĩ trằn trọc suốt đêm vì nỗi cô đơn nên mất ngủ. Gặp khi tang tảng sáng, có thể bà vừa thiu thiu tí chút thì bọn gà trống ở tít đâu gáy từ xa "văng vẳng " tới, khiến người đang mệt mỏi rối ruột thêm bực mình, mới có câu :" Oán hận trông ra khắp mọi chòm". Trong một vùng nông thôn "khắp mọi chòm" của bài thơ, hẳn là đâu chỉ có mấy con gà gáy từ xa "văng vẳng "tới. Cái giống gà không gáy thì thôi, mà đã gáy, thường là gáy dây chuyền, gáy như giặc. Chỉ cần một con gáy "văng vẳng" từ xa mồi tới là gà khắp xa gần thi nhau gáy lên khiếp đảm như oán như than :" Oán hận trông ra khắp mọi chòm". "Oán hận" đây là tâm trạng buồn thương, giận duyên thì ít, giận người, giận đời không có mắt xanh thì nhiều nơi nữ sĩ, nhân đó mà phổ vào tiếng gà gáy sáng. Lại còn chuông với mõ thi nhau cùng tiếng gà mà thành "những tiếng thêm rầu rĩ ", náo động đến sốt ruột, đến bực mình. Như vậy, không gian lúc rạng sáng trong bài thơ không thể nào "vắng lặng bát ngát" như sách giáo khoa giải thích, mà ồn ã, sục sôi.

Tác giả sách giáo khoa viết :"Trong thơ Hồ Xuân Hương có hai loại thơ chính: Một loại thuộc phong cách trào phúng trữ tình thường có hiện tượng : một lời hai ý, lấy tục để nói thanh ( Khóc ông phủ Vĩnh Tường, Đánh đu, Hang Cắc Cớ...) một loại là trữ tình thuần tuý, không có yếu tố tục, yếu tố trào phúng. Bài thơ "Tự Tình" thuộc loại sau." ( SGV tr.129). Kết luận trên đây của sách giáo khoa có thể đúng với một số bài thơ nào đó của Hồ Xuân Hương, nhưng chưa thật đúng lắm với bài "Tự tình". Đồng ý, yếu tố trữ tình là yếu tố chủ đạo của bài thơ, tuy không có ý tục, song le không phải nữ sĩ họ Hồ không xử dụng thủ pháp trào phúng đan xen, khiến nỗi buồn thương, nỗi cô đơn ở đây cũng rất đáo để, độc chiêu. Hai câu "thực" của bài thơ với ngôn từ, hình tượng đầy mỉa mai trào lộng đấy chứ :" Mõ thảm không khua mà cũng cốc / Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om ". Đọc hai câu thơ này, hẳn là trăm năm trước và trăm năm sau, thiên hạ còn cười ngặt nghẽo, thậm chí cười ra nước mắt vì nỗi đời trớ trêu, tai quái. Ngược đời ở chỗ "Không khua mà cũng cốc", " Chẳng đánh cớ sao om"; làm như không có nhân mà có quả, không duyên cớ mà cứ mõ mõ với chuông chuông, không ai khiến mà vẫn cứ "om", cứ "cốc" sốt ruột. Hồ Xuân Hương đã làm nhiều bài thơ hài hước đến cay độc để diễu cợt những nhà sư hổ mang :"Chẳng phải Ngô chẳng phải ta / Đầu thì trọc lóc áo không tà", những chùa giả hiệu :" Cha kiếp đường tu sao lắt léo", những "Vãi nấp sau lưng sáu bảy bà". Trong bài thơ "Nhà sư bị ong đốt", Hồ Xuân Hương còn thể hiện nỗi căm ghét sư tới tận cùng :" Đầu sư  há phải gì...bà cốt". Bà từng ghét cay ghét đắng tiếng chuông trống nhà chùa khi tảng sáng :" Sáng banh không kẻ khua tang mít". Nay trong bài thơ "Tự tình" thời khắc tuy chưa hẳn "sáng banh" nhưng còn mờ sáng, lúc bà  cố chợp mắt vì cả đêm trằn trọc, thì nào gà gáy, nào chuông mõ cứ sôi sùng sục như lên cơn, như phá đám là "Những tiếng thêm rầu rĩ " này. Người ta đang não ruột vì chữ duyên phận, đang mọng mòng mong nỗi cô đơn, đang ủ cái duyên tình chín "mõm mòm"phòng không chờ đợi, mà các người nỡ khua mõ, khua chuông xui bẩy diệt dục với trọc đầu là cớ làm sao? Như thế thử hỏi còn gì trớ trêu bông phèng bằng, lộn lèo, phi lý bằng cái đám "Chuông sầu", "Mõ thảm" đầy nghịch cảnh này chứ ? Chất trào phúng, chất cười cợt Xuân Hương là ở đó chứ đâu .

Khi đã giải mã được điều mấu chốt là thế giới "Mõm mòm", chúng ta cứ  thông thoáng, cứ tung bay phiêu lãng tha hồ mà dạo chơi giữa thế giới thơ Hồ Xuân Hương, ít ra là trong bài "Tự tình". Mượn nỗi giận hờn số kiếp có thể kém may mắn trong đường tình duyên, Hồ Xuân Hương qua bài thơ, bày tỏ nỗi tự thương mình, xót mình, thậm chí khoe mình, yêu mình,  đồng thời thể hiện nỗi cô đơn cùng tận kiếp người trong thân phận đàn bà tài sắc đa đoan, cũng là muốn gõ lên mặt trống cơm thời đại một tiếng "Tom" đơn độc, nức nở :" Thân này đâu đã chịu già tom". Một tiếng "tom"rơi tõm vào khoảng không vô tận. May ra, hậu thế tri âm còn tìm cách gõ lên tang trống thơ một tiếng :"Chát" trả lời, hầu đáp lại tiếng kêu tuyệt vọng của cái đẹp cô đơn. Mong sao, hồn "Tom" xưa tìm thấy "Chát" nay bằng giao cảm đồng thanh tương ứng. Biết đâu, hồn nữ sĩ phảng phất trong hồn thơ có thể được an ủi đôi phần, như là lời tỏ tình từ hai trăm năm xưa, nay mới có hồi âm. Kẻ viết bài này xin làm thằng Cuội đua đòi dòm trăng Xuân Hương, liều mạng nhại người xưa bằng bốn câu ba vần thô vụng sau :

          "Một tiếng tom, thơ chát, mõm mòm

          Tự tình e rụng cái hòm hom

          Hồn trăng nằm vắt lưng trời ngủ

          Làm Cuội nghe thơ cũng khõm khòm".,.

                             Thành phố Hồ Chí Minh ngày 10-11-1998                                        

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com