posted: 15.8.2005
BÀN
VỀ BÀI KHÁI QUÁT "VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT
Trần Mạnh Hảo Chúng
tôi xin nêu ra những bất cập và sai sót trong bài khái luận quan trọng dạy
tới 4 tiết "Khái quát về văn học Việt
Nam từ thế kỷ thứ X đến hết thế kỷ thứ XIX" còn gọi bằng
một danh hiệu khác là "Văn học trung
đại Việt Nam" in từ trang 79 đến trang 91 trong "Văn học
10" tập một, do GG. Nguyễn Đình Chú soạn, NXB GD phát hành 6-2000, với
số lượng tới 170.000 bản, năm nào cũng tái bản và đang dạy cho học
sinh trung học trên toàn quốc . Trong bài
khái luận trên và bài trong "Văn học
10 sách giáo viên" đi kèm cùng tác giả , cũng như trong bài "Hướng dẫn ôn tập phần văn học Việt Nam
thời trung đại" ở SGK và SGV Văn Học 11, có hàng chục lần tác
giả gọi nền văn học dân tộc từ thế kỷ thứ X đến hết thế kỷ
XIX là văn học trung đại Việt Nam.
Người đầu tiên dùng khái niệm trung đại châu Âu để gọi tên 9 thế kỷ
văn học cổ Việt Ở trang
65, Văn học 11 SGV phần hướng dẫn ôn tập, tác giả SGK viết :"...Chế độ phong kiến thì đã trải qua hai thời
kỳ: thời kỳ thứ nhất ( từ thế kỷ X đến thế kỷ XV) thì có vai trò
tích cực đối với lịch sử dân tộc. Thời kỳ thứ hai ( từ thế kỷ
XVI đến hết thế kỷ XIX) thì từng bước, từng bước rơi vào trạng
thái khủng hoảng, có lúc suy sụp, sau đó được khôi phục nhưng vẫn khủng
hoảng, mất hết vai trò lịch sử ...".
Những kết luận trên chỉ đúng một nửa. Khi tác giả SGK cho rằng từ thời
nhà Mạc, qua Lê trung hưng với vua Lê, chúa Trịnh, với chính quyền các
chúa Nguyễn Đàng Trong, tiếp theo sự xuất hiện cuộc khởi nghĩa Tây Sơn,
vai trò vĩ đại của Quang Trung trong việc đánh tan quân Xiêm, quân Thanh
xâm lược và vương triều nhà Nguyễn...đều mất hết vai trò lịch sử là một kết luận sai lầm. Như chúng ta biết,
lịch sử có lúc lùi, lúc tiến, có lúc tung, lúc hoành, lúc bi, lúc tráng.
Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung có vai trò tích cực với lịch sử dân tộc
đã đành, mà ngay cả Mạc Đăng Dung, Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng,
các chúa Nguyễn, ngay cả vua Gia Long cùng triều Nguyễn đều có vai trò lịch
sử vừa tiêu cực, vừa tích cực, vừa là lực đẩy, vừa là sức ì của
bánh xe lịch sử cực kỳ quan trọng. Sao SGK dám bảo ngót 400 năm bi hùng với
bao nhiêu biến cố, bao nhân vật lịch sử dân tộc kia là "mất hết
vai trò lịch sử " ? Nếu từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX lịch sử dân tộc không có thời thế ấy,
anh hùng ấy, không có khúc quanh bi tráng ấy, liệu đất nước có nổi các kiệt tác : "Chinh phụ
ngâm", "Cung oán ngâm khúc", Truyện Kiều ", "thơ Hồ Xuân
Hương "... chăng ? Ở trang
80 SGK VH 10, CLHN khi liệt kê các thể loại văn vần ở giai đoạn văn học
từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XV, SGK đã quên kể thể lục bát như
sau :" Văn vần thì có các thể thơ ( thất
ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn tứ tuyệt, cổ phong) và thể
phú ". Nên nhớ rằng thơ lục bát đã xuất hiện từ đời Trần
trong tryện "Trinh Thử ", từ đời Lê trong "Gia huấn ca" của
Nguyễn Trãi. Ở trang
90, Văn học 10, tập một, SGK CLHN, GS Nguyễn Đình Chú viết :"Nhìn chung, văn học Việt Nam thời trung đại
đã không tạo ra được nhiều tác phẩm
có quy mô kết tinh nghệ thuật bề thế, đồ sộ, và đại bộ phận là vừa
và nhỏ. Có thể nói, nó kết tinh theo hướng " quý hồ tinh bất
quý hồ đa" ( cốt ở sự tinh chứ không cốt ở sự nhiều), quy mô vừa,
nhỏ mà chất lượng tư tưởng nghệ thuật cao..." . Khái quát trên
đọc qua tưởng hữu lý, nhưng ngẫm lại thấy quả tình chưa ổn. Tiếc rằng, SGK không giải thích thế nào
là tác phẩm văn học " Có quy mô kết
tinh nghệ thuật bề thế, đồ sộ" và thế nào là "Vừa và nhỏ " ? Truyện Kiều là một
đại kiệt tác của dân tộc, với số lượng tới 3254 câu thơ lục bát
trường thiên cũng bị tác giả SGK xếp vào hàng "...Về cơ bản đều theo hướng " quý hồ
tinh bất quý hồ đa" "( tr. 91); nghĩa là, với SGK, đến ngay một
trường thiên tuyệt tác thơ số một Việt Nam như "Truyện Kiều "
cũng chỉ được xếp vào hàng "vừa và nhỏ", thiếu "kết tinh nghệ thuật bề thế đồ sộ "
thì thử hỏi còn tác phẩm nào đáng kể vào hàng đồ sộ, bề thế nữa
chăng ? Cho nên, cứ theo ý tứ mà suy, kết luận trên của SGK phải hiểu rằng
nước ta không có tác phẩm văn học "kết
tinh nghệ thuật bề thế, đồ sộ", tất cả chỉ toàn "đại bộ phận là vừa và nhỏ ". Nước
Trung Hoa, văn hóa và văn học Trung Hoa cứ theo tiêu chí của SGK chắc hẳn
đều " Bề thế, đồ sộ" từ thơ ca đến tiểu thuyết, kịch nghệ...Câu
ngạn ngữ "Quý hồ tinh bất quý hồ
đa" tác giả SGK áp dụng
vào văn học cổ Việt Nam chính là của người Trung Hoa dùng chỉ cái cốt
lõi, cái giá trị ở đời cốt ở chất chứ không cứ ở lượng; ví như
thi ca Trung Quốc rất 'bề thế, đồ sộ " trong "kết tinh nghệ thuật"
là ở chất, ở phần "quý hồ tinh" dồn nén vào thể loại nhỏ
xíu như tứ tuyệt, thất ngôn bát cú luật Đường...Người Trung Hoa không
có trường ca, trường thiên thơ, truyện thơ dài như Việt Nam nhưng họ có
cần căn cứ vào "Quý hồ đa" số lượng câu chữ, số lượng
trang sách nhiều hay ít, dày hay mỏng mà đặt vấn đề "bề thế đồ
sộ" hay "vừa và nhỏ" như SGK ta đã làm với 9 thế kỷ văn học
kỳ vĩ của cha ông mình đâu (!). Ai dám bảo thơ văn Lý Trần, thơ văn
Nguyễn Trãi, thơ thời Hồng Đức, Nguyễn Bỉnh Khiêm, "Truyện Kiều",
"Cung oán ngâm khúc", "Chinh phụ ngâm", "Truyện Hoa
Tiên", thơ Hồ Xuân Hương, "Thiên Nam ngữ lục ", " Việt
điện u linh ", "Lĩnh Nam chích quái", "Truyền Kỳ mạn lục",
"Hoàng Lê nhất thống chí", "Vân Đài loại ngữ ", "Lục
Vân Tiên"...là không có "kết tinh
nghệ thuật bề thế, đồ sộ", là "vừa và nhỏ " ? Nếu lấy sự so sánh
giữa "bề thế đồ sộ" và
"vừa và nhỏ" thì SGK căn cứ vào
tiêu chí nào, so với nền văn học ngoại lai nào vậy ? Có ai nỡ đi so sánh
mẹ mình với mẹ ông quan đâu ? Ca dao Việt
T.M.H. |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com