805-gdiem.gif (5390 bytes)

posted: 15.8.2005

      BÀN VỀ BÀI KHÁI QUÁT "VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM" TRONG SÁCH GIÁO KHOA CHỈNH LÝ HỢP NHẤT

                                                                   Trần Mạnh Hảo

Chúng tôi xin nêu ra những bất cập và sai sót trong bài khái luận quan trọng dạy tới 4 tiết "Khái quát về văn học Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến hết thế kỷ thứ XIX" còn gọi bằng một danh hiệu khác là "Văn học trung đại Việt Nam" in từ trang 79 đến trang 91 trong "Văn học 10" tập một, do GG. Nguyễn Đình Chú soạn, NXB GD phát hành 6-2000, với số lượng tới 170.000 bản, năm nào cũng tái bản và đang dạy cho học sinh trung học trên toàn quốc .

Trong bài khái luận trên và bài trong "Văn học 10 sách giáo viên" đi kèm cùng tác giả , cũng như trong bài "Hướng dẫn ôn tập phần văn học Việt Nam thời trung đại" ở SGK và SGV Văn Học 11, có hàng chục lần tác giả gọi nền văn học dân tộc từ thế kỷ thứ X đến hết thế kỷ XIX là văn học trung đại Việt Nam. Người đầu tiên dùng khái niệm trung đại châu Âu để gọi tên 9 thế kỷ văn học cổ Việt Nam là nhà nghiên cứu văn học người Nga Niculin. Trung đại hay trung cổ (Moyen - Âge) là danh từ chỉ giai đoạn lịch sử đặc thù vô cùng bi thảm, đêm trường trung cổ trên dưới nghìn năm của châu Âu từ năm 395 đến 1453. Đó là giai đoạn lịch sử châu Âu bị cắt đứt hầu như hoàn toàn với nền văn minh nhân bản Hy - La cổ đại, bị đàn áp khốc liệt về tư tưởng, triệt tiêu tự do cá nhân bởi sự cai trị tàn bạo của thần quyền Thiên chúa giáo và thế quyền lãnh chúa phong kiến. Trong suốt đêm trường trung cổ ấy, châu Âu sống trong sự độc thần, độc tôn Thiên Chúa giáo, không được tự do tư tưởng, triết học chỉ là đầy tớ của thần học, con người bị vong thân trong mặc cảm xấu xa, tội lỗi, luôn luôn bị tòa án giáo hội với dàn hỏa thiêu đe dọa, bị các cuộc chiến tranh tôn giáo liên miên đầy đọa. Thời trung cổ châu Âu triết học và văn học hầu như không có thành tựu gì đáng kể; chủ đề chính của sách vở chỉ tập trung ca ngợi Thiên Chúa hoặc xưng tụng các thánh. Đặc thù văn hóa thời phong kiến của phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng hoàn toàn khác với nội hàm trung cổ = trung đại châu Âu nói trên. Nếu xét về mặt lịch sử thì từ khi Ngô Quyền xưng vương đến giữa thế kỷ thứ XIX là thời kỳ phục hưng dân tộc, thời kỳ không hề có một chút đặc thù văn hóa nào tương ứng với thời trung cổ châu Âu. Do đó, việc SGK gọi 9 thế kỷ văn học từ Lý Trần đến Nguyễn Khuyến, Tú Xương là văn học trung đại Việt Nam, áp đặt nội hàm văn hóa trung cổ châu Âu vào một hoàn cảnh lịch sử khác, một hình thái phong kiến tôn giáo khác, văn hóa khác, địa lý khác, triết học khác, một cái Tôi-cá nhân khác, một tâm linh và thế giới quan, nhân sinh quan khác là một sự xúc phạm tới lịch sử văn hóa văn học dân tộc. Vấn đề này, đã nhiều lần chúng tôi từng lý giải trên báo chí mà tiếc thay, chưa được các vị thức giả lưu tâm.

Ở trang 65, Văn học 11 SGV phần hướng dẫn ôn tập, tác giả SGK viết :"...Chế độ phong kiến thì đã trải qua hai thời kỳ: thời kỳ thứ nhất ( từ thế kỷ X đến thế kỷ XV) thì có vai trò tích cực đối với lịch sử dân tộc. Thời kỳ thứ hai ( từ thế kỷ XVI đến hết thế kỷ XIX) thì từng bước, từng bước rơi vào trạng thái khủng hoảng, có lúc suy sụp, sau đó được khôi phục nhưng vẫn khủng hoảng, mất hết vai trò lịch sử ...". Những kết luận trên chỉ đúng một nửa. Khi tác giả SGK cho rằng từ thời nhà Mạc, qua Lê trung hưng với vua Lê, chúa Trịnh, với chính quyền các chúa Nguyễn Đàng Trong, tiếp theo sự xuất hiện cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, vai trò vĩ đại của Quang Trung trong việc đánh tan quân Xiêm, quân Thanh xâm lược và vương triều nhà Nguyễn...đều mất hết vai trò lịch sử  là một kết luận sai lầm. Như chúng ta biết, lịch sử có lúc lùi, lúc tiến, có lúc tung, lúc hoành, lúc bi, lúc tráng. Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung có vai trò tích cực với lịch sử dân tộc đã đành, mà ngay cả Mạc Đăng Dung, Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng, các chúa Nguyễn, ngay cả vua Gia Long cùng triều Nguyễn đều có vai trò lịch sử vừa tiêu cực, vừa tích cực, vừa là lực đẩy, vừa là sức ì của bánh xe lịch sử cực kỳ quan trọng. Sao SGK dám bảo ngót 400 năm bi hùng với bao nhiêu biến cố, bao nhân vật lịch sử dân tộc kia là "mất hết vai trò lịch sử " ? Nếu từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX  lịch sử dân tộc không có thời thế ấy, anh hùng ấy, không có khúc quanh bi tráng ấy, liệu đất nước  có nổi các kiệt tác : "Chinh phụ ngâm", "Cung oán ngâm khúc", Truyện Kiều ", "thơ Hồ Xuân Hương "... chăng ?

Ở trang 80 SGK VH 10, CLHN khi liệt kê các thể loại văn vần ở giai đoạn văn học từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XV, SGK đã quên kể thể lục bát như sau :" Văn vần thì có các thể thơ ( thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn tứ tuyệt, cổ phong) và thể phú ". Nên nhớ rằng thơ lục bát đã xuất hiện từ đời Trần trong tryện "Trinh Thử ", từ đời Lê trong "Gia huấn ca" của Nguyễn Trãi.

Ở trang 90, Văn học 10, tập một, SGK CLHN, GS Nguyễn Đình Chú viết :"Nhìn chung, văn học Việt Nam thời trung đại đã không tạo ra được nhiều tác phẩm có quy mô kết tinh nghệ thuật bề thế, đồ sộ, và đại bộ phận là vừa và nhỏ. Có thể nói, nó kết tinh theo hướng " quý hồ tinh bất quý hồ đa" ( cốt ở sự tinh chứ không cốt ở sự nhiều), quy mô vừa, nhỏ mà chất lượng tư tưởng nghệ thuật cao..." . Khái quát trên đọc qua tưởng hữu lý, nhưng ngẫm lại thấy quả tình chưa ổn.  Tiếc rằng, SGK không giải thích thế nào là tác phẩm văn học " Có quy mô kết tinh nghệ thuật bề thế, đồ sộ" và thế nào là "Vừa và nhỏ " ? Truyện Kiều là một đại kiệt tác của dân tộc, với số lượng tới 3254 câu thơ lục bát trường thiên cũng bị tác giả SGK xếp vào hàng "...Về cơ bản đều theo hướng " quý hồ tinh bất quý hồ đa" "( tr. 91); nghĩa là, với SGK, đến ngay một trường thiên tuyệt tác thơ số một Việt Nam như "Truyện Kiều " cũng chỉ được xếp vào hàng "vừa và nhỏ", thiếu "kết tinh nghệ thuật bề thế đồ sộ " thì thử hỏi còn tác phẩm nào đáng kể vào hàng đồ sộ, bề thế nữa chăng ? Cho nên, cứ theo ý tứ mà suy, kết luận trên của SGK phải hiểu rằng nước ta không có tác phẩm văn học "kết tinh nghệ thuật bề thế, đồ sộ", tất cả chỉ toàn "đại bộ phận là vừa và nhỏ ". Nước Trung Hoa, văn hóa và văn học Trung Hoa cứ theo tiêu chí của SGK chắc hẳn đều " Bề thế, đồ sộ" từ thơ ca đến tiểu thuyết, kịch nghệ...Câu ngạn ngữ "Quý hồ tinh bất quý hồ đa" tác giả SGK   áp dụng vào văn học cổ Việt Nam chính là của người Trung Hoa dùng chỉ cái cốt lõi, cái giá trị ở đời cốt ở chất chứ không cứ ở lượng; ví như thi ca Trung Quốc rất 'bề thế, đồ sộ " trong "kết tinh nghệ thuật" là ở chất, ở phần "quý hồ tinh" dồn nén vào thể loại nhỏ xíu như tứ tuyệt, thất ngôn bát cú luật Đường...Người Trung Hoa không có trường ca, trường thiên thơ, truyện thơ dài như Việt Nam nhưng họ có cần căn cứ vào "Quý hồ đa" số lượng câu chữ, số lượng trang sách nhiều hay ít, dày hay mỏng mà đặt vấn đề "bề thế đồ sộ" hay "vừa và nhỏ" như SGK ta đã làm với 9 thế kỷ văn học kỳ vĩ của cha ông mình đâu (!). Ai dám bảo thơ văn Lý Trần, thơ văn Nguyễn Trãi, thơ thời Hồng Đức, Nguyễn Bỉnh Khiêm, "Truyện Kiều", "Cung oán ngâm khúc", "Chinh phụ ngâm", "Truyện Hoa Tiên", thơ Hồ Xuân Hương, "Thiên Nam ngữ lục ", " Việt điện u linh ", "Lĩnh Nam chích quái", "Truyền Kỳ mạn lục", "Hoàng Lê nhất thống chí", "Vân Đài loại ngữ ", "Lục Vân Tiên"...là không có "kết tinh nghệ thuật bề thế, đồ sộ", là "vừa và nhỏ " ? Nếu lấy sự so sánh giữa "bề thế đồ sộ" và "vừa và nhỏ" thì SGK căn cứ vào tiêu chí nào, so với nền văn học ngoại lai nào vậy ? Có ai nỡ đi so sánh mẹ mình với mẹ ông quan đâu ? Ca dao Việt Nam có câu " Chồng ta áo rách ta thương / Chồng người áo gấm xông hươnng mặc người". Ai nỡ so sánh tình cảm thẩm mỹ, tư tưởng thẩm mỹ, so sánh tâm hồn dân tộc này với tâm hồn một dân tộc khác, rồi dung tục hóa cõi tâm linh tinh thần để bảo cái này nhỏ, cái kia to? Văn học là vẻ đẹp tâm hồn dân tộc ta hàng mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước. Trong hoàn cảnh từng bị mất nước suốt một thiên niên kỷ mà cha ông vẫn không bị đồng hóa, vẫn lấy lại được nước xưa, không chỉ giữ được tiếng nói riêng, văn hóa riêng, văn học riêng mà còn đẩy nền văn học lên đỉnh cao chói lọi ở cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX đó sao ? Sao SGK chỉ căn cứ vào lượng, vào "quý hồ đa" mà dám bảo thành tựu rực rỡ của 9 thế kỷ thi ca kỳ vĩ ông cha ta là không có sự  "kết tinh nghệ thuật bề thế, đồ sộ"? Ngay cả chỉ với một "Truyện Kiều" vĩ đại, sau ngót hai trăm năm ra đời, liệu thế hệ chúng ta và con cháu mai sau đã và sẽ thẩm được hết cái sâu sắc, cái hay, cái lạ, cái tình, cái tâm quá cỡ "bề thế, đồ sộ " của Nguyễn Du chưa ? Viết như trên, quả tình SGK không chỉ thiếu khách quan mà còn vô tình phỉ phui, rẻ rúng tâm hồn thẩm mỹ tổ tiên vẫn lưu truyền trong hàng trăm áng văn chương kỳ vĩ, bất hủ, được coi là thành tựu tinh thần rất đỗi tự hào, sánh ngang với những chiến công Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa đời đời rạng rỡ ...

                                                                             T.M.H.

 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com