posted: 24.8 -updated 29.8.2005
Tháng Bảy âm lịch, trời Huế vào thu. Hoa địa lan bắt đầu nở hồng
trong ngôi vườn quê. Những áp thấp nhiệt đới. Những cơn bão xa có khi
làm bầu trời Huế tưởng như chùng lại, thấp hơn. Những đám mây màu
trắng, những đám mây màu xám đan chen nhau sà xuống gần đỉnh núi Kim Phụng.
Bạn bè ngỡ ngàng nói với nhau: Rứa là mùa thu tế đã về!
Tuổi thơ những làng quê thuộc thế hệ chúng tôi gắn liền với bốn
mùa cảnh quan đồng nội. Thiết thân với những sinh hoạt hội hè đình
đám quanh làng. Nhưng có lẽ ấn tượng sâu đậm nhất trong tình cảm mỗi
người vẫn là mùa thu tế. Xuân Thu nhị kỳ, mỗi năm có hai lần tế lễ,
nhưng nổi lên vẫn là lễ tế mùa thu, tháng Bảy âm lịch.
Mỗi làng đều chọn cho mình một ngày âm lịch trong tháng Bảy để
tiến hành lễ tế. Như làng Diên Trường, gần cửa Thuận An coi ngày tốt
mỗi năm, có khi là ngày 12, có khi là ngày 14. Năm nay, làng Thanh Thủy
Chánh, nơi có danh thắng cầu Ngói Thanh Toàn tế ngày 3 với nghi lễ trang
trọng, lần đầu tiên sau mấy mươi năm có tổ chức lễ nghinh thần, tống
thần. Làng An Hòa, Dưỡng Mong, An Truyền (thường gọi là làng Chuồn) thường
tiến hành lễ tế vào ngày 16... Tùy theo tính truyền thống, đặc điểm
văn hóa, tùy theo điều kiện kinh tế của mỗi nơi mà thực hiện quy mô tổ
chức lễ tế. Nhưng dù quy mô, hình thức nào đi nữa, tựu trung thu tế là
ngày hội của dân làng với ý thức sâu xa muôn thuở là xiễn dương, bày
tỏ lòng biết ơn, ngợi ca ân đức tiền nhân, những vị khai canh, khai khẩn,
chư vị thần hoàng, những đấng khuất mặt khuất mày...đã đem hết công
sức tạo nên làng xóm ban đầu và làm cho người dân an cư lạc nghiệp từ
đời này sang đời khác.
Bây giờ, tuy đã lớn khôn, đã trải qua nhiều thăng trầm, buồn vui
trước cuộc đời vốn nhiều đa đoan, hệ lụy. Nhưng hằng năm cứ vào
“tháng Bảy nước nhảy lên bờ” thì lòng tôi lại cứ bâng khuâng nghĩ
về mùa thu tế. Con em dân làng dù thành phần nào trong xã hội khi đi làm
ăn, sinh sống tứ xứ trong nước, hải ngoại...đều mong được trở lại
quê nhà trong ngày làng tế. Không về được thì gửi tiền bạc hoặc gửi
lễ vật về dâng cúng. Lễ vật có khi là áng thờ sơn son thếp vàng, có
khi là đồ bát bửu, bộ tam sự bằng đồng, mâm cau trầu rượu...Qua lễ
vật, tấm lòng những người xa xứ muốn gửi gắm biết bao nguồn thương
yêu thiêng liêng tới miền đất mình đã từng một thời chôn nhau cắt rốn,
đã từng đắm hồn trong âm thanh chiêng trống, trong ngào ngạt hưong trầm,
hoa lá, trong bàng bạc trăng sương thu...
Theo đà phát triển của đất nước, nhiều mỹ tục mới đã được
hình thành trong ngày thu tế. Một số đình làng với truyền thống lịch sử,
văn hóa của mình trong những năm tháng dựng nước, giữ nước đã được
Nhà nước công nhận là di sản văn hóa quốc gia. Hòa chung vào các nghi lễ
truyền thống từ xa xưa để lại, nhiều
làng đã tổ chức trao học bổng, quà tặng cho các em học sinh giỏi, học
sinh nghèo vượt khó; biểu dưong những gia đình hòa thuận, hạnh phúc,
nuôi con khỏe, dạy con ngoan.. trước sân đình trong không khí trang nghiêm lễ
tế. Hồn nước, tình dân, nghĩa khí làng xã từ khung cảnh trang trọng ấy
dường như đang góp phần ươm mầm, nuôi dưỡng nhân cách, tâm hồn tuổi
thơ nhiều thế hệ thấm nhuần câu ‘uống nước nhớ nguồn’. Câu “uống
nước nhớ nguồn” rất đơn giản nhưng thể hiện cho chu toàn thực
không phải dễ.
Về làng An truyền trong ngày thu tế, tôi thường nhìn ngắm các hưong
án của các họ tộc trước đình làng, những cổng tam quan rợp cờ ngũ sắc
đầu xóm trên suốt dọc đường từ đình ra Đồng Miệu, nơi diễn ra lễ
nghinh, tống thần làng vào đình làng trước và sau lễ chánh tế. Đám rước
dài với các kiệu lễ, tứ linh, cờ xí, binh khí, lỗ bộ...Đám rước
như bồng bềnh trong âm hưởng kèn trống, chiêng. Trong âm hưởng điệu thài
của ban tư văn ngân lên hạo khí đất trời.
Về làng trong ngày thu tế, chợt bâng khuâng nhớ bạn bè một thuở.
Cái thuở “ Trẻ con làng thường có giấc ngủ vui. Khi lăn lóc trước sân
đình thu tế. Khi bụi bặm đụn rơm vàng hương lúa. Khi trên cầu thanh thản
ngọn nồm khuya...”. Cái thuở trong khi chờ làng hành lễ, lần đầu tiên
cùng bằng hữu biết nâng ly rượu Chuồn và thưởng thức bánh tét, bánh
khoái cá kình... thẩm đẩm hương vị quê hương vùng đầm phá.
Mùa thu tế! Sống hoài trong tâm thức tôi hình ảnh chuông chùa ngân
đồng làng thơm hương cốm. Rạo rực giữa cõi nhớ tôi âm ba hồi
trống đình giục vầng trăng về xóm, những câu thài thay tiếng mẹ ru
nôi. Rất thương yêu. Mùa thu tế. Xin biết ơn làng! Source:
web Văn Nghệ Sông Cửu Long Sinh ngày 7.3. 1948 Quê quán: An Truyền, Phú
An, Phú Vang, Thừa Thiên Huế. Hội viên các Hội : Hội
Nhà Văn Việt Công tác hiện nay: Chủ tịch
Hôi Liên Hiệp Văn Học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế; Chủ nhiệm CLB Ca Huế. Các tác phẩm đã xuất bản:
"Ngựa ca" thơ in chung Trần Dzạ Lữ, Trần Bản Thiểm (1969);
"Chị Sáu", truyện ngắn-Tổng Hội Sinh Viên (THSV) Huế ấn hành
(1970); "Nguồn mạch mới", thơ in chung với Thái Ngọc San-THSV Huế
ấn hành (1971); "Giọt máu ta một biển hòa bình", kịch thơ-THSV Huế
ấn hành (1971); "Nhờ ơn cây lúa lúa ơi!", thơ thiếu nhi-Đối Diện
XB (1975); "Ngợi ca", tập thơ-Hội VHNT TT Huế XB (1993); "Mười
thương em bé", thơ thiếu nhi, giải thưởng VHNT Cố Đô lần thứ nhất
(1993);"Tiếng Hương Bình", sưu tầm lời ca Huế, giải thưởng Hội
Văn Nghệ Dân Gian Việt Nam (1997); "Khúc tri âm", lời ca Huế, giải
thưởng UBTQLHCHVHNT Việt Nam (2001); "Thơ một thuở xuống đường",
giải thưởng đặc biệt UBTQLHCHVHNT Việt Nam (2002); "Lửa đường phố",
tập hồi ký-NXB Thuận Hóa (2003) |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com