posted: 03.9.2005
TIẾNG HUẾ, MỘT NGOẠI NGỮ
? Người bạn đời gốc Bắc (nhà văn Thanh Nam) của nữ sĩ Túy Hồng có lần đã phát biểu cảm nghĩ về tiếng Huế như sau: “Người Huế nói chuyện với nhau bằng ngoại ngữ Huế, người Nam người Bắc đứng ở ngoài nghe , không làm sao chen vào được một câu” (Túy Hồng, Áo Rộng Khăn Vành, TSH 1990, p.14) Mới nghe qua tưởng như đùa, nhưng đem đối chiếu với kinh nghiệm thực tế qua giao tiếp thì quả ý kiến ấy không phải là không có lý, tuy hơi cường điệu một chút. Ai người Huế trên bước đường tha hương lại không hơn một lần gây bối rối cho người đồng hương khác xứ khi đối thoại với rặt giọng sông Hương ? Sau năm 1954, hơn một triệu
đồng bào miền Bắc di cư vào Việc không đổi giọng của đồng bào miền Bắc di cư và việc đổi giọng của người Huế tha hương, cớ người cho rằng đó là dấu hiệu của mặc cảm về giọng nói. Tôi không nghĩ nghư thế. Đồng bào miền Bắc tha hương
vẫn giữ nguyên giọng nói , không phải do mặc cảm tự tôn rằng đó là
một giọng nói hay, không việc gì phải đổi. Mặc khác, người Huế tha
hương thường đổi giọng cũng không phải vì mặc cảm giọng nói của
mình trọ trẹ khó nghe. Tất cả chỉ là sự đáp ứng thực tế của cuộc
sống, sự thích nghi với hoàn cảnh. “Thương nhau, thương cả
đường đi. . “ Nhà văn Thanh Nam vốn quen với nhỉ, nhé, hộ, gì cơ, làm
sao . . . nhưng vì yêu nữ sĩ Túy Hồng nên phải ráng nghe và hiểu hí,
nghe, giúp, cái chi rứa, làm răng . . . Còn người dưng nước lả với nhau,
lấy gì làm áp lực để buộc người nghe phải hiểu điều mình nói ?
Nói mà người khác không hiểu hay khó hiểu là một nhược điểm nên
tránh trong giao tiếp. Vì vậy, sự điều chỉnh cho hợp với nhu cầu thực
tế là sự thích ứng hoàn cảnh một cách khôn ngoan. Người Tàu tới nơi
nào cũng sống được và sống giàu sống mạnh là nhờ tinh thần hội nhập
thực tế. Tuy vậy, không bao giờ đánh mất bản chất Trung Hoa của họ.
Hòa mà không hùa là thế. Trong bài viết nói trên,
Túy Hồng có một nhận xét rất đúng: “Giọng Huế không phải là giọng
nói trước đám đông, mà có thể chỉ là một giọng nói trong phòng
khách.” Đó cũng là một trong những lý do trong sự đổi giọng của Tổng
thống Diệm, trong việc giả giọng Bắc của Hoàng Thi Thơ khi điều khiển
các chương trình ca nhạc, của Như Hảo trên đài phát thanh và truyền
hình v.v. Nói trước đám đông thì dở nhưng rỉ rả trong phòng khách lại
rất dễ lọt lỗ tai. Có lẽ cũng vì cái ưu điểm “giọng nói trong
phòng khách” đó nên nhiều chàng trai khác xứ đã lăn xả vào làm rể xứ
Huế chăng ?? Giọng Huế khó nghe đối
với đồng bào khác xứ, phải chăng vì thanh âm do người Huế phát ra thuộc
về một âm vực khó nhận ra? Tôi có cảm tưởng như khi phát âm, người
Bắc thiên về giọng thấp, người Riêng tôi, nghĩ rằng nếu
miền Bắc và miền Nam có được giọng nói dễ nghe thì họ lại rất khó
giả giọng của miền khác; trái lại, nếu âm vực của giọng Huế thuộc
loại bình bình, trung tính, khó nhận ra đối với người ngoài, thì cũng
chính cái đặc điểm trung tính này đã giúp người Huế có thể giả giọng
khắp mọi miền một cách không mấy khó khăn. Giọng Bắc, giọng Nghệ An,
Quảng Bình, Quảng Người Huế phát âm không phân biệt dấu hỏi dấu ngã, không phân biệt có “g” với không “g”, “c” với “t”. Nếu từ Quảng Nam trở vào khó phân biệt âm “b” và “p”, đến nổi khi đánh vần thường hỏi nhau “bê bò hay bê phở”, ( ngay cả đến những bậc khoa bảng nói tiếng Tây như gió , cũng có lúc nói âm “bê phở” chưa chỉnh) thì ở Huế, tại vùng quê, và ngay đối với lớp người già sống tại thành phố, người ta không phân biệt sự khác nhau giữa các âm “gi”, “d” và “nh”. Người già và người nhà đều được nói giống nhau. Sau khi làm xong cái nhà, tôi nói chuyện với ông chú già rằng :”Mặc dầu cháu đã tính toán khá kỹ, vậy mà cuối cùng cũng phải mượn thêm của bạn bè mói đủ, vì số chi phí vượt quá mức dự trù.” Ông cụ thản nhiên đáp: “Cháu không nghe à? Ôn mệ mình từ xưa nay đã nói là làm già (làm nhà), chớ có nói làm non mô; mà đã làm già thì hụt tiền thôi.” Rõ ràng là ông cụ chơi chữ theo kiểu Huế, trộn lẫn âm thanh và ý nghĩa để biện luận theo ý mình. Các bạn miền khác hẳn khó mà thưởng thức lối đùa cơt chữ nghĩa theo kiểu đó. Tôi không biết khi một người ngoại quốc học tiếng Việt thì cái khó nhât đối với họ là gì? Cách phát âm với năm thanh (sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng, và không dấu) bằng trắc khác nhau, nghe như điệu hát chăng? Văn phạm chăng? . . . Riêng đối với người Việt, có lẽ việc đánh dấu hỏi ngã cho đúng đã là một vấn đề. Hồi còn học tiểu học (cấp 1), thầy dạy lớp Nhất (lớp 5) đã truyền cho lũ nhóc đệ tử chúng tôi một bí quyết để viết hỏi ngã cho đúng với câu thần chú “Anh Huyền ngã nặng, hỏi con dao có sắc không”. Ý thầy muốn cho chúng tôi phải nhớ rằng trong một từ kép, hễ chữ nào đi với chữ có dấu Huyền hay dấu Nặng thì phải đánh dấu Ngã; còn chữ nào đi với chữ có dấu Sác hay Không dấu thì phải đánh dấu Hỏi, trừ một vài ngoại lệ phải học thuộc lòng. Chẳng hạn: - nghĩ ngợi thì nghĩ
có dấu ngã, nhưng nghỉ ngơi thì nghỉ lại có dấu hỏi. Thần chú như thế kể cũng linh nghiệm thật, nhưng khi viết chính tả không khỏi tốn công suy nghĩ nên hơi ... mệt. Khi đi thi bằng Tiểu học, tới môn chính tả tôi vái trời được gặp một thầy giáo hay cô giáo người Bắc, vì tôi nghiệm ra rằng người Bắc phát âm dấu hỏi dấu ngã rất đúng. Ấy là nhờ gần gũi một ông Hà Nội đang tán bà chị tôi mà biết được điều đó. Cho đến bây giờ vẫn thế, bộ óc tôi ghi nhận rằng khi phát âm dấu ngã thì người Bắc nói nghe như dấu sắc (ví dụ: nghĩ ngợi -> nghí ngợi) và dấu hỏi nghe như dấu nặng (ví dụ: nghỉ ngơi -> nghị ngơi). Giả giọng Bắc mà không biết qui luật này sẽ đánh dấu hỏi ngã sai bét và lòi đuôi “giả cầy” ngay. Một ông nhạc sĩ nọ gốc Miền Trung, thường nói giọng Bắc trên TV, trước 75 đã có lần bị báo chí diễu là “người nói giọng Bắc hay nhất nước”, cũng chỉ vì không để ý điều đó. Cách đây non 30 năm, lần
đầu tiên khi đọc một cuốn truyện (không nhớ tên) của một văn sĩ
người Bắc (không nhớ bút hiệu) đến đoạn đối thoại của một nhân
vật nữ người Huế, tôi vừa cười thích thú vừa giận . . . Thích thú
vì tác giả viết rất có duyên. Còn giận là giận mấy ông thợ nhà in sắp
chữ sai (tôi đinh ninh thế). Ai đời “Thôi em về hí” mà lại sắp
thành “Thôi em về hỉ”. Chữ HÍ củ a người ta viết với dấu sắc,
đem sửa lại thành HỈ với dấu hỏi, nghe lãng xẹt, vô duyên như ăn cơm
hến thiếu ruốc. Trong lời nói thường nhật của người Huế, HÍ là một
từ đệm, đóng vai trò như nhé, hay nhỉ trong tiến Bắc và nha trong tiếng
Tôi cứ tự cằn nhằn và giải thích như thế với mấy ông ấn công vô danh, mãi sau mới có dịp biết rằng mình đã nghĩ oan cho họ. Hầu như trong các truyện có dính líu đến ngôn ngữ xứ Huế, chữ HÍ đệm ở cuối câu đều được nghe và viết thành chữ HỈ bởi vì khi người Huế phát âm những chữ có dấu sắc thì người Bắc và người Nam nghe thành dấu hỏi và dấu nặng. Đó là lý do hí biến thành hỉ. Điều đáng nói là sai lầm này cũng hiện diện trong những tác phẩm do chính người Huế viết ra. Lỗi ở ấn công chăng? Lỗi ở thầy cò chăng? Nếu không phải do hai người này thì đó là điều khó hiểu. Trong bài “Tôi không
yêu tíếng Huế” (TSH 1990) tác giả Phàm Phu đã viết rất dí dỏm về
những trở ngại do giọng Huế và tiếng Huế gây ra trên chốn giang hồ
vì người xứ khác đã nghe khác dấu đi. Chẳng hạn một thiếu nữ Hà
thành khi nghe một thanh niên Huế ngõ lời “Cô cho tôi xin một cái bóng
(cái ảnh) của cô để làm kỹ niệm . . “ đã ngơ ngác hỏi lại ”Thưa,
anh bảo cái bọng gì cơ ạ ?” (p.45). Một ông người Huế khi vào hội tứ
sắc đã hỏi làng “ Hôm nay tui biết tui hên nên muốn đánh lớn. Mấy
bà có chịu hai cắc (một lệnh) không?” Câu nói này đã làm cho một bà
người Thời gian ở tù trong trại
lao cải, được sống gần gũi với anh em người Quảng Giọng Huế tuy khó nghe với người khác xứ nhưng rất dễ chỉnh. Trong lúc nói chuyện chỉ cần đổi ”ton” lớ lớ đi một chút là người nghe thoải mái ngay. Tiếng Huế mới là cả vấn đề, bởi vì khi nói đến giọng là chỉ mới đề cập tới hình thức, còn đi vào tiếng là đi vào nội dung, đi vào đời sống văn hóa. Ngôn ngữ chẳng qua là qui
ước về âm thanh do con người phát ra. Vì vậy, cùng một âm thanh phát ra
giống nhau nhưng do qui ước khác nhau nên mỗi dân tộc hiểu theo một nghĩa
riêng. Tác giả Phàm Phu (TSH, 1990 đã dẫn) kể rằng trong một lần dạo chơi
phố xá Bangkok, thấy cô người Thái cực kỳ xinh đẹp , bèn chụp ảnh để
kỹ niệm. Vừa đưa máy ảnh lên ngắm, tác giả vừa hỏi ý kiến ông bạn
đồng hương làm hướng đạo “Chụp hí?” (chụp nhé) thì mỹ nhân hoảng
hốt bỏ chạy, còn tác giả thì bị bạn mắng như tát nước là đồ ăn
nói thô tục đối với phụ nữ ngoại quốc. Lý do là trong tiếng Thái,
“chụp” có nghĩa là hôn, còn “hí” là “cái ấy” của phụ nữ. Thấy
không, hai tiếng Huế vô tội đã trở thành ngôn ngữ sàm sở ở Hồi còn ở tù tại trại
lao cải Tiên Lãnh (Quảng Giữa các dân tộc, qui ước
thanh âm khác nhau dẫn đên ngôn gnữ khác nhau đã đành, mà ngay trong cùng
một nước, ngôn ngữ cũng thay đổi theo từng địa phương. Cùng một từ,
mỗi miền có thể hiểu một nghĩa khác nhau. Cùng chỉ một vật, một việc,
mỗi miền có một lối gọi khác nhau. Chẳng hạn chữ “đồ”. Trong khi
miền . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . Thôi đừng chê nhỏ lại
cười to ! Hình như địa lý và lịch
sử đã kết hợp với nhau để tạo nên cho Huế một môi trường dễ làm
nảy sinh ra nhiều thổ âm và thổ ngữ hơn các miền khác, đến độ có
người đã nói là có thể sưu tập thành một tiểu từ điển tiếng Huế.
Trong Ngàn Năm Xứ Huế (San Jose: Thương Huế, 1993) Nguyễn Châu cũng đã sưu
tập và giải thích một số nhưng vẫn chưa đủ. Trong TSH 1993, qua bài Thử
nói về ảnh hưởng cung đình trong phong cách Huế, tôi đã có dịp khái
quát về ảnh hưởng của cung đình trong ngôn ngữ Huế. Điều đáng nêu
lên ở đây là: tại sao tiếng Bắc, tiếng Người khác xứ có thể dễ
dàng quen thuộc với răng, ri, mô, tê, rứa, hè, hí vì tính cách phổ thông
của chúng, nhưng quả tình khó mà thông cảm với những lối nói đặc thù
khác. Tôi có anh bạn người - Thiệt hả ? Rứa thì anh có biết vụ hai đứa con ông Bảy bựa qua ngầy lộn chắc rồi lôi giau từ trong chờn ra trữa cươi đập chắc, một đứa bễ mỏ, một đứa u trốt. Mạ hắn can không được, đứng trữa cươi la làng như " quạ quạ bẻ bắp " Anh bạn người Nam ngẩn tò te, chịu thua. Đây là chìa khóa mật mã: - bựa qua : hôm qua Mới chỉ có một câu nói ngắn như vậy mà cần phải giải thích đến tám chữ mới làm cho người ta hiểu được, và thực ra, đó mới chỉ là những chữ nặng về hình thức hơn ý nghĩa. Nếu đi vào ý nghĩa thì sự khúc mắc càng thể hiện rõ rệt hơn. Thành ngữ tào lao xịt bộp là một thành ngữ phổ thông của Huế - dùng để chỉ lời nói hay việc làm không đâu vào đâu, không có chủ đích, không có ý nghĩa, kiểu “nghe qua rồi bỏ”- nhưng lại là một thành ngữ khó hiểu vói xứ khác. Trong một cuộc tiếp kiến Toàn quyền Đông Dương, Đoan Huy Hoàng Thái Hậu (Đức Từ Cung, mẹ vua Bảo Đại) đã làm cho một vị quan lỗi lạc lúng túng khi phải thông dịch câu nói rặt Huế của bà: “Tôi tra rồi, ăn nói tào lao xịt bộp . . .” (Nguyễn Đặng, TSH 1993) chỉ vì ông không phải là người Huế. La ngầy hay ngầy nghĩa là la rầy, nhưng ngầy lộn lại có nghĩa là gây gổ nhau. Mụ nớ có nghĩa là người đàn bà kia (không có ý kính trọng) nhưng khi một người đàn ông được gọi là Mụ hay Mệ, có nghĩa ông ta là người trong hoàng tộc. Thật là rắc rối. Có một thực tế mà dường như ít ai để ý. Ấy là kể từ ngày chữ quốc ngữ trở thành phổ biến,trở thành văn tự chính thức thay thế cho chữ Hán thì lối viết theo ngôn ngữ miền Bắc là lối viết chính thức nước ta. Thực vậy, từ giấy tờ hành chánh cho đến tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học v.v. phổ biến qua hình thức văn tự, hầu như đều được viết theo giọng Bắc. Ngoại trừ một Hồ Biẻu Chánh của hồi đầu thế kỷ và sau này có thêm Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, và hiện nay là Hồ Trường An, là viết văn rặt giọng Nam, còn hầu như tất cả, bất cứ người cầm bút thuộc lãnh vực nào, xuất thân từ địa phương nào, đều viết theo phong thái ngôn ngữ miền Bắc. Bình Nguyên Lộc viết tiểu thuyết theo giọng Nam nhưng khi viết Nguồn Gốc Mã Lai của Dân Tộc Việt-Nam, một tác phẩm biên khảo, cũng dùng ngôn ngữ Bắc. Số học giả, thi sĩ, văn sĩ người Huế trong nền văn chương quốc ngữ đông biết mấy, thế nhưng không vì vậy mà “răng, ri, mô, tê, rứa, ni, nớ . . . “ được chính thức đi vào văn học như “sao, thế này, đâu, kia, vậy, này, ấy . . .” Đừng nói chi xa, ngay tập TSH bạn đang cầm trên tay là một bằng chứng cụ thể, và ngay bài viết này cũng thế. Ngôn ngữ miền Bắc hầu
như đã trở thành lối nói và viết chính thức, có lẽ do truyền thống lập
quốc và Giọng bắc giọng Võ Hương-An |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com