posted: 12.9.2005
Nguyễn Mạnh Quang
Chủ đề của chương này là nói về
bản chất tiếm danh (nhận vơ), ăn không nói có, lươn lẹo và lật lọng Giáo Hội La Mã. Vì vậy mà tất cả mọi
tiểu mục và những gì được trình bày ở
trong chương này đều xoay quanh và nhắm vào chủ đề này. Nói đến Giáo Hội La Mã mà không nói đến bản chất tiếm danh (nhận vơ), ăn không
nói có, lươn lẹo và lật lọng của cái giáo Hội này thì quả thật là
không biết gì về cái giáo hội quái đản này. Theo Viêt Nam Tự Điển của ông Lê Văn Đức thì động từ “tiếm danh là giả danh hay mang tên một người
khác.” và “lộn sòng là “đánh
tráo” hay “đổi lộn với ý
gian”. Trong cuón từ điển này, không có động từ:”nhận
vơ”. Thiết nghĩ rằng ý nghĩa của động từ “nhận vơ” nhìn nhận là của mình một
cái gì không phải là của mình.”. Cũng theo theo Tự Điển của ông Lê Văn
Đức thì động từ “bịp” có nghĩa
là: “lừa dối, gạt gẫm, dùng mánh khóe
gian xảo để hơn người, để ăn gian” và động “bịp đời” có nghĩa là “phỉnh đời, lên mặt sang trọng yêu nước,
đạo đức để thiên hạ lầm.” Xét cho cùng, tất cả những hành động
nhận vơ, ăn không nói có, lươn lẹo và lật lọng như đã đề cập ở
trên đểu có chủ tâm “bịp” hay “bịp đời” ở trong đó. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng
Giáo Hội La Mã và tín đồ Da-tô ưa thích sử dụng mấy động từ trên
đây để bịp đời bằng những thủ đoạn gian xảo với dã
tâm là bốc hốt và vơ vào lòng đủ mọi thứ quyền thế, của cải
và danh vọng để thoả mãn lòng tham không đáy của Giáo Hội. 1.- MỤC ĐÍCH BỊP CỦA KẺ CHỦ MƯU
BỊP Những người hay những thế lực làm
những việc "ăn không nói có", "bốc lửa bỏ bàn tay" hay "bịa đặt" hoặc "nói láo"
đều có mục đích bịp đời.
Những mục đích này có thể là: A.-
Lòe đời để lây le hay làm oai với thiên hạ.- Đây là những người
có tính huênh hoang, khoác thư hay bịa đặt ra
những điều tốt cho chính mình để "lòe
đời" lấy le cho oai. Hầu như ở đâu cũng có hạng người này.
Có những người tự phong cho mình là giáo sư, là nhà văn, là thi sĩ, hoặc
là mua bằng tiến sĩ giả (bogus degree) rồi khi giao tiếp với những người
lạ hay ở một nơi hội họp đông người, lúc cần phải giới thiệt danh
tính là cơ hội cho họ huênh hoang khoác lác rằng, “Tôi giáo-sư Nguyễn
Quốc Tr.”, Tôi là nhà văn Phạm Quang Tr.”,
“Tôi là Tiến-sĩ Lê Thiện Ng.”. Chuyện ông Dr. Cao cũng ở vào trương hợp này và được
nhà văn Nguyễn Vũ ghi nhận như sau: “Theo Cao Thế Dung, ông sinh năm 1933 tại miền Bắc.
Đậu Tú Tài II năm 1953 trong khu Việt Minh. Di cư vào Nam, vừa đi dạy vừa
học tiếp. Năm 1967, đậu Cử Nhân Việt Hán tại Đại Học Văn Khoa Sàigòn.
Liên tiếp dạy tại trường Taberd v.v.. từ 1964 tới 1967, và từng là Phó
Khoa Trưởng Canh Nông Đại Học Hoà Hảo. Trong khi đó
ghi danh học hàm thụ chương trình Tiến-sĩ của trường École
Universelle de Paris, và năm 1974 thì tốt nghiệp. Nhận bằng xong, ông mang ra mồ bà mẹ nuôi, đốt đi cúng mẹ,
vì bà không những đã nuôi dưỡng Cao Thế Dung từ nhỏ mà còn khuyến
khích họ Cao kiếm cho được mảnh bằng Tiến-sĩ...”[1]
Những người này, chỉ vì háo danh cho nên khi nói láo như vậy, có thể chỉ
có chủ tâm lòe đời, lấy le hay làm oai với thiên hạ, chứ không có dã
tâm lường gạt và lừa bịp người đời để làm ăn lớn. Đây chỉ là
căn bệnh của những người mắc cái tật huênh hoang, khoác lác, nhất là
khi ngồi trong bàn nhậu khi bước vào giai đọan "tửu nhập ngôn xuất" hay những
người học hành không đi đến đâu, nhưng khi viết văn lại thích mạo
danh là giáo sư, nhà văn, thi sĩ, và tiến sĩ. Trong thực tế, những người
này nếu có muốn sử dụng “những thứ
giả mạo đó” để lường gạt người đời thì sớm muộn cái tẩy
“mạo hóa” cũng bị lòi ra cho mọi người
thấy và khi đó sẽ trờ thành trò hề cho
thiên hạ chê cười như trương hợp ông Dr. Cao trên đây. B.-
Mượn
oai thần thánh hay ma quỷ đề hù dọa
và lừa bịp người đời.- Đây
là những người bịa đặt ra những điều tốt với những quyền uy lớn
lao hay quyền năng siêu phàm cho một đấng thần linh (dĩ nhiên là không ai
có thể kiểm nghiệm được), cùng với những nghi thức cúng tế rồi tìm cách quảng cáo và xúi gịục
người mang lễ vật hậu hĩ đến dâng cúng
qua sự trung gian của chúng để cầu xin để hy vọng mong
được ban cho những đặc ân như ý muốn
ơn và được che chở tránh khỏi những thảm hoạ bất ngờ. Quỷ quyệt hơn
nữa, bọn người này còn tạo cho những người nhẹ dạ tin rằng càng
tin tưởng mãnh liệt vào quyền năng siêu phàm của vị thần linh này thì
càng dễ dàng được ban ơn và càng được che chở cho thoát khỏi mọi thứ
tai hoạ xẩy ra bất ngờ. Như thế có nghiã là phải siêng năng đến
nơi thờ phượng vị thần linh này khấn cầu và lễ vật dâng cúng càng lớn
lớn thì càng có nhiều hy vọng những lời cầu xin sẽ được ứng nghiệm. Như vậy là bọn người này có dã
tâm sắp đặt những điều mà họ bịa đặt thành một hệ thống có lớp
lang để tạo ra một xí nghiệp để làm ăn lớn. Các bậc trí giả gọi
những hạng người này là bọn lưu
manh mượn danh thần thánh hay tôn giáo để lừa gạt người đời. Theo sách
Nho Giáo - Tập I, các bậc đại hiền ở Trung Hoa gọi những người này
là bọn vu hích: “Vu là người con gái, hích là người con trai làm
nghề đồng bóng, tức là bọn đồng cốt, thầy cúng, thầy pháp v.v.. lấy
điều cát hung hoạ phúc, dùng những phương thuật huyễn hoặc mà đánh lừa
những người ngu dại, đem chuyện thần thánh ma quỉ mà doạ nạt người
thường để làm nghề kiếm ăn. Ở nước Tàu về đời thượng cổ, bọn
vu hích có thế lực rất mạnh, thậm chi nhà nào cũng thờ quỉ, thờ thần…Nhà
vua thấy thế, mới sai quan định rõ việc thần và việc người để ngăn
cấm bọn vu hích làm mê hoặc lòng người…”[2]
Hành động lưu manh của bọn vu hích
trên đây chính là hành động của bọn đồng bóng và thầy cúng ở
trên bờ sông Chương Hà trong chuyện Hà Bá Cưới Vợ ở trong sách Đông Châu Liệt Quốc Tập 3
(Mộng Bình Sơn dịch, tr 972-974). Như đã nói ở trên, người dân Trung Hoa
đã có trình độ văn hóa cao hơn người dân Do Thái và đã ý thức được
rằng mọi chuyện nói rằng, “thần linh
muốn điều này, muốn điều nọ hay là ứng nghiệm cho biết phải làm điều
này điều nọ” chỉ là sản phẩm của những bọn người bất
lương bịa đặt ra để lừa gạt người đời hầu thủ lợi.. Vì thế
mà bọn vu hích trong chuyện Hà Bá trên đây bị quan Thái Thú Tây Môn Báo
thẳng tay trừng trị. Nhờ vậy mà từ
thời Thượng Cổ cho đến ngày nay, ở Đông Phương đã không
có cái nạn tôn giáo cấu kết với chính quyền hay tôn giáo chỉ đạo
chính quyền để áp bức và bóc lột nhân
dân.. Sự kiện trên đây cũng cho mọi người thấy rằng, ngay từ thời
Thượng Cổ, người dân Đông Phương đã: 1.- Có chính
sách tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền 2.- Chính quyền dùng những biện pháp
mạnh trừng trị bọn lưu manh nhân danh thần thánh để lừa gạt người
đời. Trái lại, ở Âu Châu, ngay từ thế kỷ
4, Giáo Hội La Mã đã biến chế cái
thủ đoạn lưu manh thành chủ trương “thần
quyền chỉ đạo thế quyền” song hành với “chính sách bất khoan dung” đối với
những người không chịu khuất phục, dùng bạo lực của nhà nước để
áp đặt lên đầu lên cổ các dân tộc ở bất cứ nơi nào mà quyền lực
của Giáo Hội vươn tới. Phải đợi đến Cách Mạng Pháp 1789, chính quyền
Cách Mạng Pháp mới dùng biện pháp mạnh trừng trị Giáo Hội La Mã (giống như quan Thái Thú Tây Môn Báo đã
trừng trị bọn đồng bóng và thày cúng ở trên ven sông Chương Hà ở Đất
Nghiệp Đô trong câu chuyện Hà Bá Cưới Vợ ở trên), và ghi vào Hiến
Pháp điều khoản “tách rời tôn giáo
ra khỏi chính quyền”. Cách Mạng Pháp 1789 đã trở thành ngọn đuốc
soi sáng chỉ đường cho các nước Ý Đại Lợi, Tây Ban Nha, Mễ Tây Cơ,
Cuba, Nicaragua, và nhiều nước khác vùng lên theo gương Pháp chống lại
Giáo Hội La Mã để đòi lại quyền làm người. Thế nhưng, tại nước Pháp,
vì dân trí còn thấp kém, tín đồ
Da-tô “ngoan đạo” người Pháp ở các vùng Bratagne, Normandie, Vendée, .v.v…
(giống như tín đồ Da-tô người Việt ở Phát Diệm, Bùi Chu, Bến Tre và
các xóm đạo ở rải rác khắp nơi trên toàn lãnh thổ) bị bọn quạ đen
xúi giục nổi lên làm nội ứng tiếp
tay cho Liên Minh Thánh (Holy Alliance) của Vatican kéo quân vào nước Pháp đánh
bại chính quyền Cách Mạng, tái lập chế độ đạo phiệt Da-tô. Tình trạng
này làm cho cuộc chiến chống lại Giáo Hội La Mã của dân tộc Pháp giằng
co kéo dài tới hơn một thế kỷ sau. Cho mãi đến năm 1905, điều
khoản “tách rời tôn giáo ra khỏi chính
quyền” mới thực sự có chân đứng vững vàng trong Hiến Pháp. Sự kiện này chứng tỏ rằng, các
dân tộc Đông Phương đã đi trước các dân tộc khác ở trên thế giới
cả mấy ngàn năm trong lãnh vực “tách
rời tôn giáo ra khỏi chính quyền” và sử dụng những biện pháp mạnh để trừng
trị và đối phó với bọn người “vu hích” hay bọn người lưu
manh nhân danh tôn giáo để hành hạ và lừa bịp người đời. Vấn đề đặ ra là TẠI SAO Giáo Hội
La Mã lại có thể tác oai tác quái được
trong một thời gian như vậy ở Âu Châu và cho đến những năm chót của
thế kỷ 20 thảm trạng này vãn còn diễn ra ở cựu các thuộc địa của
các đế quốc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Pháp tại Châu Phi, Châu Mỹ
La-tinh và Việt Nam? Lý do rõ rệt là: Từ thượng cổ,
ở Trung Đông và vùng ven Địa Trung Hải,
bọn lưu manh buôn thần bán thánh này đã sử dụng kỹ thuật lừa bịp
(giống như bọn vu hích ở Đông Phương đã sử dụng như đã nói ở
trên) rồi cấu kết với chính quyền phản động phong kiến địa
phương để áp bức và bóc lột nhân dân. Tình trạng này kéo dài cho đến
thế kỷ thứ 4 thì bọn “vu hích” biến thái thành “Giáo Hội La Mã”
với những thủ đoạn tinh vi hơn (vừa dùng bạo lực để khủng bố và
tàn sát những người không chịu khuất phục, vừa dùng kỹ thuật tuyên
truyền đề lừa bịp và lạc dẫn quần chúng, vừa dùng chính sách ngu
dân và nhồi sọ để kìm hãm nhân dân dưới quyền mãi mãi ở trong tình
trạng ngu dốt). Do đó, cho đến ngày nay, bọn “vu hích” đầu sỏ này vẫn
còn chễm chệ ngồi trong lâu đài
Lateran tại kinh thành La Mã, vẫn tự phong là “Hội Thánh duy nhât thánh thiện, công giáo
và tông truyền” và “Hiền Thê
Của Thiên Chúa Làm Người” để lừa gạt người đời. Kinh nghiệm lịch sử cho ta thấy rằng,
NẾU Giáo Hội La Mã không cấu kết với chính quyền phản
động phong kiến địa phương và không
có những người ngu dốt (do chính sách ngu dân và nhồi sọ của
Giáo Hội tạo nên) nhẹ dạ cả tin vào những lời lẽ phỉnh gạt bịp bợm
(do chính sách tuyên truyền tại các nhà thờ gây ra), THÌ Giáo Hội không
còn đất sống, đúng như nữ học giả Joane H. Meehl đã nhận xét: “Đạo Da-tô La Mã chỉ thịnh hành và phát triển
trong giới người nghèo và ngu dốt, nó chỉ khắc phục được bằng giáo
dục (khai phóng) và đời sống sung túc.” (Cathoicism thrivess and grows
among the poor and ignorant. It is overcome by education and economic well-being.”[3]
Giống như bọn đồng bóng và thày
cúng trong chuyện Hà Bác Cưới Vợ như đẫ nói trên đây, Giáo Hội La Mã
đã dựa vào những chuyện đã có sẵn ở trong
Cựu Ước Kinh để bịa đặt
thêm những điều láo khoét khác, rồi gom
chung với nhau và sắp xếp lại thành một hệ thống có lớp lang để dễ
dàng khai thác. Hệ thống này gọi là ‘hệ thống tín lý Kitô’ và
được làm nề tảng cho đạo Da-tô La Mã. Trong cái hệ thống lý Kitô láo khoét
này, chúng ta thấy các tác giả viết Cựu Ước Kinh bịa đặt ra ông Chúa
Cha Jehovah "có quyền năng tạo nên vũ
trụ", "toàn năng, toàn trí,
toàn thiện" v.v.., và Giáo Hội La Mã
bịa đặt thêm ra những chuyện cực kỳ hoang tưởng như chuyện
"Chúa Ba Ngôi", chuyện "Ai tin ông Jesus là Chúa Kitô thì được cứu rỗi
cho lên thiên đường", chuyện bà Maria đã có chồng và đã có cả
một đàn con mà vẫn còn là :"gái
trinh" và được gọi là "Đức
Mẹ Đồng Trinh", chuyện lò luyện ngục, các phép lạ, các phép
bí tích, chuyền Đức Mẹ hiện ra, và hàng ngàn chuyện khác. Theo thời
gian, càng về sau lại càng có thêm nhiềy chuyện khắc được bịa đặt
ra. Những chuyện bịa đặt này được sách Roman Catholicism gọi là “những
truyền thống của Giáo Hội” (eccelesiastical traditions” và kê ra một
số được sáng chế ra từ giữa thế kỷ 16 (chưa kể từ đó trở về trước)
bằng môt đoạn văn với nguyên bản như sau: “Kết quả là những chủ thuyết và việc làm
nổi bật nhất của Giáo Hội La Mã
là nơi luyện ngục để chuộc tội,
thiết lập giai cấp nam nữ tu sĩ, lễ mi-xa, rước lễ (ăn bánh thánh), cầu
xin cho người đã chết, việc bán giấy xá tội, sự tự hành xác để hối
lỗi, tôn thờ bà Maria Đồng Trinh,, sử dụng hình ảnh trong việc thờ phượng,
nước thánh, tràng hạt, đòi hỏi giới tu sĩ phải độc thân, thiết lập
chế độ giáo hoàng và còn rất nhiều chuyện khác nữa, tất cả đều là
dựa trên truyền thống.” (“The results is that the most prominent doctrines
and practices of the Roman Church, such as purgatory, the priesthood, the mass,
transubstantiation, prayers for the dead, indulgences, penance, worhip of the Virgin Mary,
the use of images in worship, holy water, rosary beads, celibacy of priests and nuns, the
papacy itself, and numerous others, are founded solely on tradition.”) [4]
C.- Bịa
đặt ra những điều xấu xa ghê tởm để gán cho những người mà họ
không ưa hay thù ghét với mục đích làm
nguy hại đến thanh danh, vật chất hoặc
là để khủng bố tinh thần và sinh mạng của nạn nhân. Ở vào trường hợp này, ta thường gọi là
"bốc lửa bỏ bàn tay",
"vu khống", "vu oan giá họa", "nói láo" và "chụp mũ". Đây là sách lược
"hàm huyết phún nhân" của
Giáo Hội để gây bất lợi hay làm
nguy hại cho những người mà Giáo Hội không ưa hay thù ghét. Sách lược này
thường được thi hành theo kế sách “cả
vú lấp miệng em” (hàng loạt và tới tấp) và kế sách“Tăng Sâm giết người” (nhắc đi nhắc
lại hoài). Giáo Hội sử đã làm như
vậy từ năm 325 cho đến ngày nay. Những
nạn nhân của Giáo Hội thường là những người không tin những tín lý bịp
bợm trong hệ thống thần học Kitô của Giáo Hội, những người không chịu
khuất phục Giáo Hội, những người dám nói lên những việc làm bất
chính, bất nhân, bất nghĩa, đại gian đại ác của Giáo Hội, những người
trong hàng ngũ chiến đấu chống lại Giáo Hội, chống lại các cường quyền
hay chính quyền đế quốc thực dân xâm
lược cấu kết với Giáo Hội (như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Đức Quốc
Xã, Phát Xít Ý, và Hoa Kỳ), hay những người chống lại các chế độ đạo
phiệt Gia-tô tay sai của Giáo Hội.
Chuyện bà Jeanne d’ Arc (1412-1431), một vị nữ anh hùng của dân tộc Pháp
bị Giáo Hội gán cho là “con mụ phù thủy”
rồi đưa ra Toà Án Dị Giáo xử thiêu bà vào năm 1431 là một trong
muôn ngàn bằng chứng về tội ác “vu
oan giá hoạ” cho những nạn nhân của Giáo Hội La Mã. Trước khi bản Tuyên Ngôn Cộng Sản
của hai ông Karl Marx (1818-1883) và Friedrich Engels (1820-1895) được công bố
vào năm1848, những từ ngữ được Giáo Hội sử dụng trong sách lựợc
này để chụp mũ cho nạn nhân là tà
giáo, tà đạo, chống Chúa, lạc đạo, rối đạo, vô thần, phiên lọan,
phản nghịch, rối đạo, phá đao, báng bổ thần thánh, phù thủy, v.v...
Từ năm 1848, Giáo Hội lại có thêm một
số từ ngữ mới nữa là "cộng sản"
và "cộng sản nằm vùng",
"quân khủng bố", "vi phạm nhân quyền", để chụp lên đầu
nạn nhân. Những từ ngữ mới này đang được tín đồ Da-tô người Việt
và những người nằm trong hàng ngũ "Chống
Cộng Chết Bỏ" sử dụng tối đa để chống lại những người Việt
hải ngoại bất đồng chính kiến với họ, đặc biệt là những người
không phải là tín đồ Da-tô. Như vậy, chủ tâm trong hành động
“nói láo” hay “ăn không nói có” hoặc “vu oan giá hoạ” của Giáo Hội
La Mã chỉ ở vào hai trường hợp B và
C trên đây mà thôi. Quan sát trong bàn
nhậu của mấy ông trong hội đồng chuột của người Việt hải ngoại tại
các địa phương ở Bắc Mỹ từ năm 1975 đến nay, chúng ta thấy, đặc tính “nói
láo” hay “ăn không nói có”
của họ là phát xuất trong cơn bốc đồng hay theo thói quen của bản chất
huêng hoang, khoác lác di truyền hay bẩm sinh của họ. Trong khi đó thì Giáo
Hội La Mã “nói láo” hay “ăn không nói có” hoặc “vu oan giá hoạ” cho một cá nhân hay
một nhóm nạn nhân nào đều được tiến hành theo một kế sách đã được
điều nghiên chu đáo và thi hành một
cách đại quy mô và có lớp lang theo một sách lược đã hoạch địch sẵn. Không biết những “người nói láo ở trường hợp A” trên đây có biết rằng những
gì họ nói láo trong lúc bốc đồng vào
những khi tán dóc với nhau thì sớm muộn
người ta cũng nhìn ra tính cách nói láo của họ để rồi coi họ như là
một thứ người đại xạo “mười voi
không được một bát xáo”. Thế nhưng, khác hẳn với loại những
người “đại xạo” trên đây, Giáo Hội La Mã biết rõ là sớm muộn người
đời cũng biết những gì Giáo Hội đã “nói láo” để bịp đời
hay “ăn không nói có” hoặc “vu
oan giá hoạ” cho nạn nhân. Bởi
vì thế, Giáo Hội mới đưa ra chủ trương
“thần quyền chỉ đạo thế quyền”
với mục đích chính là thiết lập “các
chính quyền đạo phiệt Da-tô” để
làm phương tiện thi hành ba kế sách
(cũng gọi là biện pháp) vừa bịt miệng những kẻ dám phơi bày bộ
mặt thật nói láo của Giáo Hội cho thiên hạ biết, vừa làm cho thiên hạ lầm tưởng rằng những
gì Giáo Hội đã và đang nói láo đều là sự thật trăm phần trăm cả, vừa
làm cho nhân dân dưới quyền mất đi khả
năng lý trí, không thể dùng lý trí để phân tách mà nhìn ra những thủ
đoạn bịp bợm của Giáo Hội trong những tín lý, giáo luật và lời dạy
của Giáo Hội. Ba kế sách đó là: 1.- Biện
pháp dùng bạo lực của nhà nước để sát hại và khủng bố tinh thần những kẻ hoài nghi, không tỏ ra tuyệt đối
tin tưởng vào những lời nói láo của Giáo Hội và những kẻ cả gan dám
nói lên dã tâm thâm độc của Gíao Hội và những tính cách gian dối và lừa
bịp trong hệ thống tín lý thần học Kitô. Công cụ của biện pháp này
là các Toà Án Dị Giáo (Inquisitions) trong thời Trung Cổ hay các tổ chức mật
vụ, công an và cảnh sát trong các chế độ đạo phiệt Da-tô tay sai của
Giáo Hội tại các địa phương. 2.- Biện
pháp sử dụng bộ máy tuyền truyền với những văn, thi, nhạc và báo
nô chuyên nghiệp, sẵn sàng sản xuất ra những bài viết hay ấn phẩm với
những “lời lẽ tốt đẹp”, “hoa ngôn mỹ ngữ” để khoác
lên cho Giáo Hội, những “lý luận lươn lẹo” để chạy tội cho
Giáo Hội và những bản văn nặng tíính cách “vu oan giá hoạ” hay
“vu khống” chụp lên đầu những kẻ không tin tưởng vào những
điều nói láo của Giáo Hội, những người có những cố gắng phơi bày bộ
mặt thật gian dối và bịp bợm của Giáo Hội cho thiên hạ biết, và đặc
biệt là những thành phần mà Giáo Hội không thể dùng các Toà Án Dị
Giáo hay bộ máy công an, mật vụ và cảnh sát của các chính quyền đạo
phiệt tay sai của Giáo Hội tại các địa phương để trừng trị. 3.- Biện
pháp thi hành chính sách ngu dân và giáo
dục nhồi sọ để kìm hãm người dân dưới quyền mãi mãi ở trong
tình trạng ngu dốt, không biết sử dụng lý trí khiến cho họ không những
không còn có khả năng lý luận để nhìn ra dã tâm bịp bợm của Giáo Hội
trong các tín lý Kitô, trong các giáo luật,
trong các phép bí tích, trong phép lạ, trong những chuyện Đức Mẹ hiện
ra, và trong những lời dạy của Giáo Hội, mà còn nhắm mắt triệt để
tuân hành những lời dạy và những lệnh
truyền của Giáo Hội.
Quan sát một sợi dây chuyền, chúng
ta sẽ thấy đó là một tập hợp những vòng khoen có kích thước bằng
nhau móc nối liên tiếp với nhau mà tạo thành. Nếu quan sát kỹ hơn, chúng
ta sẽ thấy có một vòng khoen gốc hay
khởi đầu với một dấu vết nào đó mà chúng ta phải tính ý lắm mới
nhận ra được. Thứ
nhất.- Tương tự như vậy, hệ
thống tín lý Ki-tô của Giáo Hội là một tập hợp những điều bịa đặt
liên tiếp móc nối với nhau giống như những vòng khoen của một chiếc
dây chuyền mà vòng khoen gốc hay khởi đầu là ông Chúa Jehovah với hai đặc tính hầu như hoàn toàn trái
ngược nhau: A.- Chúa Jehovah là đấng toàn năng, toàn
thiện và có mặt ở khắp mọi nơi. B.- Chúa Jehovah là tất cả những gì
hiện thân của đố kị, tị hiềm, ganh ghét, nham hiểm, độc ác, bạo ngược
và da man đúng như đã được diễn ta trong sách Lê Vi Ký (26: 1-43). Đối với nhưng người có trình độ
(chỉ số) thông minh trung bình hay cao hơn (chỉ số thông minh từ 90 trở
lên) mà không bị chính sách ngu dân và
giáo dục nhồi sọ làm tê liệt những tế bào lý trí trong não bộ, (nghĩa
là còn khả năng vận dụng lý trí để lý luận và phân tách), khi đọc
qua hai đặc tính A và B trên đây, họ biết ngay ông Chúa Jehovah trên đây
là chuyện hoang đường, một sản phảm bịa đặt do một cá nhân hay một nhóm người thiếu
thông minh vì rằng những đặc tính trong A loại trừ những đặc tính
trong B, và ngược lại. Đã là một nhân vật hay thần linh có những lương
tính trong A thì không thể có những ác tính trong B. Nhưng đối với những người có
trình độ thông minh dưới mức trung bình (chỉ số thông minh từ 90 trở
xuống) và những người tiếp nhận nền học vấn ở bậc tiểu và trung học
qua chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ (tế bào lý trí bị làm cho
tê liệt, không còn khả năng vận dụng lý trí để lý luận và phân
tách), thì không nhìn thấy như vậy, và tin rằng
thục sự là có ông Chúa Jehovah như vậy. Các tác giả viết Cựu Ước Kinh là
những người chủ mưu bịa đặt ra ông Chúa Jehovah (cũng là những người
là cấu kết với chính quyền) biết
rõ rằng những người thông minh cho rằng
ông Chúa Jehovah là chuyện bịa đặt để bịp đời và những
người ngu dốt thì dễ dàng tin rằng thực sự là có ông Chúa Jehovah như vậy. Cũng vì thế họ (các tác giả
viết Cựu Ước) mới chủ trương thiết lập chế độ đạo phiệt rồi dùng
bạo lực của nhà nước để trừng trị và khuất phục những người biết rõ ông Chúa Jehovah là một sản phảm
bịa đặt. Cũng vì thế mà những luật như “Luật Sợ Chúa”, “Luật Bắt Phải Nói Đúng Lời Jehovah”,
“Luật Trị Người” được cho ra đời
vào thời kỳ này. Ta gọi những thứ luật này là “bạo luật”. Đến đầu thế kỷ thư 4, thấy rằng
có thể lợi dụng việc thờ phượng ông Chúa Jehovah trên đây để làm
ăn lớn, Giáo Hội La Mã liền sự dụng việc thờ phượng này để làm cơ
sở (vòng khoen gốc) để từ đó bịa đặt
thêm ra những chuyện hoang đường khác (gọi là tín lý) có liên hệ với
ông Chúa Jehovah và những bạo luật khác để khuếch trương cái kỹ nghệ
buôn thần bán thánh của Giáo Hội. Ta gọi những chuyện bịa đặt khác
(những tín lý o Giáo Hội La Mã bịa đặt) là những vòng khoen tiếp nối
trong chiếc dây chuyền (hệ thống) tín lý Ki-tô. Thứ
hai.- Tín lý Chúa Ba Ngôi:. Trước
khi Hội Nghị Nicaea khởi nhóm vào ngày 20/5/325, đạo Do Thái và đạo Kitô Do Thái (đạo gốc
của đạo Da-tô) đều không có tín lý Chúa Ba Ngôi.. Tín lý Chúa Ba
Ngôi quái đản (một quái thần vừa là Chúa Cha Jehovah vừa là Chúa con
Jesus vừa là các thánh thần - holy ghosts) này được Hòang Đế Constatntine
(280-337) cấu kết với giáo chủ Silvester I (314-335) của Giáo Hội Kitô Do
Thái bịa đặt ra. Đây là thành tích
"ăn không nói có" hay
"chuyện không nói thành có" (bịa đặt) lần thứ 2 của Giáo Hội La Mã. Thứ
ba.- Thấy rằng hành động "ăn
không nói có" này ghê tởm quá, Giám-mục Arius thuộc địa phận
Tín lý quái đản Chúa Ba Ngôi này
gây nên phong trào chống đối mạnh mẽ trong Đế Quốc La Mã, nhưng họ bị
chính quyền đàn áp và tàn sát thẳng
tay. Con số nạn nhân bị tàn sát lên đến 3.000. [5]
.. Đây là thành tích sử dụng bạo lực
lần nhất để tàn sát những người bất đồng
chính kiến với Giáo Hội. Thứ
tư.- Sau khi bịa đặt ra tín lý "Chúa Ba Ngôi" trong đó có
nói đến ông Chúa Con Jesus sau khi chết rồi
sống lại bay lên Trời ngồi
bên phải chỗ ngồi của Chúa Cha Jehovah. Đây là thành tích bịp thứ 4 của Giáo hội La Ma, Thứ
năm.- Thấy rằng NẾU nói
đến Chúa Con bay lên Trời mà không nói đến Thiên Đường, THÌ không hợp lý. Do đó, năm 426,
Giáo Hội lại phải bịa đặt ra thêm một thuyết lý nữa nói về về thiên đường để hợp lý hóa chuyện
Chúa Con Jesus sống lại và bay
lên trời ngồi bên phải Chúa Cha Jehovah. Đây
là thành tích "ăn không nói có" (bịp) thứ 5 của Giáo Hội La Mã. Thứ
sáu.- Khác với khi bịa đặt ra tín lý "City of God" (Thiên
Đường), sau khi bịa đặt ra thuyết lý Đức Mẹ Đồng Trinh, Giáo Hội La
Mã rơi vào tình trạng "giấu đầu hở
đuôi". Lý do: NẾU bảo
rằng thân mẫu của ông Jesus là bà Maria không
có chồng, không làm tình với một người đàn ông mà vẫn mang bầu và đẻ
ra ông Jesus, THÌ quả thật là
không thuận lý (thiếu logic). Cũng vì thế mà Giáo Hội mới bịa đặt
thêm chuyện thiên thần hiện xuống trần gian đột nhập (lén) vào
phòng ngủ của bà Maria để làm tình một cách bất bình thường. Làm
tình theo kiểu này có thể gọi là hiếp dâm vì
bất thình lình đột nhập vào phòng ngủ và làm ẩu, không có
giai đọan tán tình hay cưới hỏi. Đây là thành tích bịp " thứ 6 của Giáo Hội La Mã. Thứ
bẩy.- Sau khi bịa đặt ra tín lý ma quái trên đây, Giáo Hội lại
nhận thấy NẾU nói rằng Thánh
Thần ăn nằm với bà Maria mà sinh ra ông Jesus mà không nói đến Bà Maria vẫn
còn trinh, THÌ chẳng hoá ra các
thánh thần cũng như người phàm, chẳng có gì là huyền bí, quyền năng và
phép lạ cả. Cũng vì thế mà vào năm 431, Giáo Hội mới cho triệu tập
Công Đồng Ephesus với nhiệm vụ điều
nghiên để bịa đặt ra tin lý "Đức Mẹ
Đồng Trinh" để cho cái tín lý Chúa Ba Ngôi có vẻ huyền bí về
quyền năng của các chúa thánh thần. Đây
là thành tích "ăn không nói có" (bịa đặt) thứ 7 của Giáo Hội La Mã. Không
biết vì lý do gì, tín lý Đức Mạ Đồng Trinh
lại không được áp dụng liền, và phải đợi đến năm 451
(20 năm sau), Giáo Hội cho triệu tập
Công Đồng Chacedon tái xét rồi mới cho áp dụng. Thứ
tám.- Người viết không biết trong khi điều nghiên hay khi áp dụng tín lý Đức Mẹ Đồng Trinh,
Giáo Hội có nhận thức được rằng có
một sự cực kỳ vô lý. Sự vô lý đó là NẾU gọi bà Maria là Đức Mẹ Đồng
Trinh và việc sinh ra ông Jesus là do một thiên thần bằng một phép lạ
chui vào nằm trong tử cung của bà ta, rồi lại cũng bằng một phép lạ từ
trong tử cung của bà ta chui ra cho nên
cái màng trinh của bà ta không bị rách toang ra như những các bà mẹ bình
thường. Thế thì phải giải thích như thế nào cho hợp lý về việc ông
chồng thợ mộc Joseph làm tình với Bà Maria
đã có tới sáu hay bẩy người con mà vẫn còn trinh? Cuối cùng, chúng ta thấy Giáo Hội đưa ra luận điệu phủ nhận (có nói thành không) vai trò ông Joseph là người
chồng thực sự của bà Maria và phủ nhận luôn cả đàn con của bà ta. Đây
là thành tích "ăn không nói có" (bịp) thứ 8 của Giáo Hội La Mã. Thứ
chín.- Sau đó, Giáo Hội lại phải nhồi sọ cho tín đồ rằng những
người anh em của ông Jesus ghi trong thánh kinh và các sách sử chỉ là anh
em con chú con bác của ông Jesus. Đây là một lối (phương cách) giải
thích "lươn lẹo" hoặc "cãi cuội" (cái bựa, cái cối, cãi
chày) để chạy tội “bịp” hay
"ăn không nói có" hay "nói láo" để che đậy sự thực về
đời sống gia đình và tình cảm của bà Maria đối với người chồng là
ông Joseph và đàn con thân thương của bà ta. Đây là thành tích “bịp”
thứ 9 của Giáo Hội La Mã. Cái lối giải thích lươn lẹo (cãi cuội, cãi bựa, cãi cối cãi chày) như
vậy sau này cũng được giới tăng lữ Da-tô và tín đồ Da-tô người Việt
áp dụng triệt để trong việc: 1.- Phủ nhận và chạy tội cho Giáo Hội La Mã về vai trò chủ động
và ba (3) lần thuyết phục chính quyền nước Pháp xuất quân đánh chiếm
và thống trị Việt 2.- Phủ nhận những họat động gián
điệp của các nhà truyền giáo Da-tô tại Việt 3.- Phủ nhận những họat động tiếp
tay cho liên quân xâm lăng Pháp - Vatican của tín đồ Da-tô người Việt
trong suốt chiều dài lịch sử từ giữa thập niên 1780 (thời điểm Giám-mục
Pigneau de Béhaine - Bá Đa Lộc - vận động xin
quân viện cho Nguyễn Ánh chống lại nhà Tây Sơn) cho đến ngày 30/4/1975, 4.- Phủ nhận việc Giáo Hội La Mã
cho người dẫn ông Ngô Đình Diệm sang Hoa Kỳ vào cuối tháng 9 năm 1950
trao cho Hồng Y Francis Spellman lo việc chạy chọt với các nhân vật có thế
lực trên sân khấu chinh trị Hoa Kỳ đưa ông Diệm về Việt 5.- Phủ nhận những việc làm tội
ác của chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm và băng đảng Cần Lao
Công Giáo qua những hành động chống lại nhân dân và tổ quốc Việt Ai cũng biết rằng chỉ có những hạng
người cực kỳ ngu dốt hay tín đồ cuồng
tín của Giáo Hội mới nhắm mắt tin theo những tín lý Kitô đầy tính chất
láo khóet và quái đản như trên. Còn những người bình thường với trình
độ thông minh trung bình (với chỉ số thông minh IQ từ 90 trở lên) khi
nghe nói đến những tín lý quái đản này đều cảm thấy không ổn và thấy
ngay là có một cái gì bất bình thường ở trong đó. Vì thế Giáo Hội mới
nghĩ đến phương cách giải thích vòng vo
và lươn lẹo để biện minh cho tính cách láo khóet và bất minh của những tín lý quái đản này. Thứ
10.- Cho rằng làm như vậy cũng không ăn chắc, Giáo Hội lại bịa đặt ra lý thuyết "thần quyền chỉ đạo thế quyền"
(thêm một vòng khoen bịp hay ăn không nói
có) để biện minh cho việc thiết lập các chế độ đạo phiệt Da-tô
làm tay sai cho Giáo Hội tại các địa phương hầu có thể sử dụng bạo
lực của nhà nước để làm cả ba nhiệm vụ như đã nói nơi phần chót
trong tiểu mục 1 (Mục dích bịp của những kẻ chủ mưu bịp) ở trên. Đây
là thành tích bịp thứ 10 ủa Giáo Hội La Mã. Thấy rằng cái mòi làm ăn theo cái mửng "bịa đặt" này không những
thuận lợi cho việc tóm thâu quyền lực chính trị vào trong tay mà còn tăng
cường thêm khả năng móc túi tín đồ một cách ngon lành, cho nên càng về
sau, Giáo Hội lại càng cố gắng nặn óc tìm cách bịa đặt thêm nhiều
tín lý khác cũng không kém phần quái đản nếu so với tín lý Chúa Ba
Ngôi và tín lý Đức Mẹ Đồng Trinh. Một số những tín lý quái đản này đã được trình bày ở Chương
4. Tiếp theo những vòng khoen bịp và lươn
lẹo phủ nhận vai trò ông thợ mộc Joseph là chồng của bà Maria, phủ nhận
đàn con của bà Maria, Giáo Hội lại tính đến chuyện phải cố gắng tối
đa trong việc nhồi sọ cho tín đồ để cho họ không đọc những sách sử nói về mới quan hệ gia đình
ông Jesus, không đọc những tư tưởng tiến bộ của các đại tư tưởng
gia như Voltare, Jean Jacques Rousseau, Diderot, Montesquieu, Victor Hugo, Lamartine,
cũng những tác phẩm của những tín đồ Gia-tô "lac đạo" như
Linh-mục Peter de Rosa, James Kavanaugh, Joseph
McCabe, Martin Malachi, Giordano Brino, John
Huss, Martin Luther, Trần Tam Tỉnh, hay
các học giả như John Calvin, Charlie Nguyễn, Phạm Hữu Tạo, Lý Chánh Trung, v.v… Đến đây, chúng ta thấy cái quy luật
"tội ác sinh ra tội ác và sinh sản
theo cấp số cộng hay cấp số nhân"
quả thật là có giá trị gần như là tuyệt đối. Sự kiện này cũng được
học giả Da-tô Phan Đình Diệm ghi nhận trong bài viết "Những Lời
Bàn" về "Mea Culpa Bài 3" (Giáo Hội Công Giáo Roma La-tinh Cáo
Thú Tội Lỗi Ngàn Năm vào ngày Chủ Nhật 12/3/200) với nguyên văn như sau: LỜI TÁM: Trong 7 Chương
tội mà Giáo Hội Công Giáo Roma La-tinh cáo thú, có nhiều tội danh phải kể
là "vượt tội" mang cấp số cộng hay cấp số nhân. Ví dụ: Giáo
Hội phạm tội A, muốn giấu kín và bưng bít tội A, Giáo Hội nhắm mắt
phạm thêm tội B để bảo vệ tính bí nhiệm của tội A. Giáo Hội bị cuốn
hút vào quy luật đổ giây chuyền của những con bài dominos, Giáo Hội phạm
thêm tội C để bảo vệ các tội A và tội B... Thử tưởng tượng từ ngày
Giám-mục Pierre Cauchon (đồng âm với con heo) thiêu sống Bà thánh Jeanne d'
Arc, cho đến ngày Bà được phong thánh là hơn 400 năm, các tòa giảng của
Giáo Hội trên khắp cõi Âu Châu phải ăn gian nói dối và vu oan giá họa
cho Bà bao nhiêu lần? Giết Bà cũng một tay Giáo Hội, phong thánh cho Bà cũng
một tay Giáo Hội, nhưng có mấy ai được may mắn như Bà. Hầu hết các
trọng tội mà Giáo Hội phạm tại các "Tòa
Điều Tra Dị Giáo" là tội đẻ ra tội theo cấp số cộng
và cấp số nhân." [[6]] [1] Nguyên Vũ [2]
Trần Trọng Kim, Nho Giáo - Tập 1 (Sàigon:
Tân Việt, 1953 (?), tr 45. [3]
Nguyễn Mạnh Quang, Thực Chất Của Giáo Hội
La Mã, Q 1 (Tacoma, WA: TXB, 1999), tr 87. [4]
Loraine Boettner, Roman Catholicism
(Phillipsburg, N.J: The Presbyterian and Reformed Publishing Company, 1962), p. 79. [5] Charlie Nguyễn, Công
Giáo Trên Bờ Vực Thẳm ( [6][6] Phan Đ |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com