805-gdiem2.gif (5804 bytes)

posted: 12.9.2005

Bài 2:

3.- THÓI QUEN TIẾM DANH THIÊN CHÚA

Suốt trong chiều lịch sử từ năm 325 cho đến ngày nay,Giáo Hội làm bất kỳ việc lưu manh hay đại gian đại ác nào cũng nói là "làm cho Thiên Chúa, làm vì Thiên Chúa và bởi Thiên Chúa mà làm". Dưới đây là những bằng chứng:

Khi phát động các Cuộc Chiến Thập Tự, Giáo Hội cũng nhân danh Thiên Chúa đem quân đi tàn phá và tàn sát không biết bao nhiệu triệu tín đồ Do Thái Giáo, Hồi Giáo, Chính Thống Giáo ở vùng Trung Đông và tín đồ của hệ phái Cathari ở miền Nam nước Pháp.

Khi cho bọn giáo sĩ Da-tô đến kinh thành Paris thi hành sứ mạng Tô Tần, Giáo Hội cũng nhân danh Thiên Chúa để thuyết phục chính quyền Pháp xuất quân đánh chiếm và thống trị Việt Nam để "mở mang nước Chúa". 

Khi cho thiết lập các Tòa Án Dị Giáo vào năm 1184, Giáo Hội cũng nhân danh Thiên Chúa sát hại cả gần trăm triệu nạn nhân trong suốt thời kỳ từ năm đó cho đến mấy thập kỷ đầu của thế kỷ 19.

Khi ra lệnh cho giáo dân phải cưỡng bách hay chèn ép những người muốn thành hôn với con em của họ, Giáo Hội cũng nói láo với họ rằng đó là "vì Chúa mà làm" và "làm để mở mang nước Chúa".

Khi ban hành các thánh lệnh ăn cướp vào thế kỷ 15 như đã trình bày ở Chương 4, Giáo Hội cũng nhân danh Thiên Chúa  ban đặc quyền cho Bồ Đào Nha và Tây đem quân đến các quốc gia ở ngoài lục địa Âu Châu để đánh cướp đất nước của người ta, chiếm đọat tài nguyên, tàn sát đàn ông, hãm hiếp đàn bà con gái, hủy diệt các nền văn hóa bản địa và cưỡng bách những người còn sống sót phải theo đạo làm nô lệ cho Giáo Hội.

Độc giả cứ xem những hình ảnh một số quân lính Hoa Kỳ hành hạ và hãm hiếp người dân và phụ nữa ở Abu Ghraib được đưa ra trước ánh sáng công luận quốc tế qua các cơ quan truyền thông trong những ngày đầu tháng 5 năm 2004, thì sẽ mường tượng ra  thảm cảnh   của người dân  trong các quốc gia nạn nhân của Giáo Hội bị các đạo quân thập tự Âu Châu xâm lăng và quân thập tự địa phương hành hạ dã man đến như thế nào! Là một trong thành phần trong một  gia đình nạn nhân ở xã Tô Công, tỉnh Thái Bình (Liên Khu 3) trong thời Kháng Chiến 1945-1954, người viết xin long trọng khẳng định rằng mức độ hãm hiếp phụ nữ và hành hạ nạn nhân trong các làng dân lương bị liên quân Pháp – Vatican hay quân thập tự quân từ các làng đạo tấn công vào còn ghê gớm gấp bội phần. Sự kiện này cũng được tác giả Trần Bình Nam xác nhận  trong bài viết có tựa đề là Một Thế Giới Nhiễu Nhương đề ngày 13 tháng 5 năm 2004  trong đó có một đọan với nguyên văn như sau:

"Những vụ bạo hành và giết chóc xẩy ra nhiều nơi trên thế giới, nhưng không có một quốc gia nào mà khi sự việc được phanh phui, dân chúng và chính quyền đã phản ứng một cách quyết liệt như tại Hoa Kỳ. Trong cuộc chiến tranh tái chiếm Việt Nam từ năm 1946 đến năm 1954, quân đội Pháp đã có những hành động giết chóc và tàn bạo không khác vụ Mỹ Lai hay Abu Ghraib, nhưng các giới chức cao cấp truyền thông của Pháp đã đồng lõa giấu nhẹm." [1]

Là chứng nhân và cũng là nạn nhân của liên quân Pháp-Vatican và của những toán lính đạo của xóm đạo Trại Táo  (Phụ Dực, Thái Bình) và làng đạo Ninh Cù (Thụy Anh, Thái Bình) trong những năm 1950-1953, người viết nhận thấy trong cuộc chiến 1946-1954, bọn  lính Âu Châu và Bắc Phi trong liên quân Pháp -Vatican dã man một phần thì những lính người Việt Nam và lính đạo Da-tô trong hàng ngũ giặc dã man gấp mười (10) lần. Một số trong những hành động cực kỳ dã man này đã được chúng tôi trình bày khá đầy đủ trong Chương 7 (tiểu mục 4) và trong Chương 5 trong sách Nói Chuyện Với Việt Nam Cộng Hòa Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên, 2004)  Đó cũng là bằng chứng hùng hồn nói lên những sự thật ghê tởm của quân lính thập tự của Giáo Hội ở bất kỳ nơi nào vào bất kỳ thời điểm nào.

Đúng là "giang sơn dễ đổi, bản chât khó chừa”. Cái bản chất dã man của Giáo Hội La Mã là như vậy. Nó đã như thế từ ngàn xưa, và cho đến ngàn năm sau, nó cũng sẽ như vậy. Cái bản chất dã man này sẽ bám chặt lấy thân xác Giáo Hội La Mã cho đến ngày nào cái "Giáo Hội khốn nạn"  này không còn nữa.

Không có một việc làm lưu manh nào mà Giáo Hội không lôi Thiên Chúa ra làm bung xung để lòe bịp thiên hạ. Thật là khốn nạn đến cùng độ của khốn nạn! Trong thực tế, ông Thiên Chúa  này chỉ là sản phẩm tưởng tượng của bọn lưu manh buôn thần bán thánh đội lốt thày tu người Do Thái bịa đặt ra vào cái thời bán khai với mục đích dùng ông ta (Thiên Chúa) làm con ngáo ộp để hù dọa người đời khiến cho những người yếu bóng vía và những phường ngu dốt khiếp sợ phải đem của lễ đến dâng cúng cho chúng hưởng thụ. Thấy rằng cái mửng làm ăn kiểu này có thể củng cố quyền lực và kiếm tiền dế dàng, Giáo Hội La Mã liền chộp lấy dùng làm cốt lõi để khai triển, biến nó thành một hệ thống tín lý bịp bợm, xoay quanh cái quyền năng của Thiên Chúa (vốn đã được bọn tu sĩ lưu manh Do Thái bịa đặt ra trước đó), rồi theo thời gian, đặt thêm ra  cả hàng ngàn tín lý bịp bợm khác và hàng ngàn thứ giáo luật lưu manh để vừa lừa bịp vừa cưỡng bách tín đồ phải tin theo và phải tuân hành. Có như vậy thì Giáo Hội mới có thể vừa củng cố được quyền lực vừa móc túi tín đồ và thu vơ được những khối tiền bạc không lồ chất chứa trong “kho bạc của Chúa” như ngày nay.

Vốn đã biết rõ là "KHÔNG CÓ" ông Thiên Chúa nào cả, Giáo Hội cũng vẫn cứ nằng nằng nặc bảo rằng "CÓ". Ai không tin thì  lập tức bị gán cho cái tội "tà giáo", "chống Chúa" và "vô thần". Những người bị gán tội này,  NẾU nằm dưới quyền thống trị trực tiếp của Giáo Hội hay chế độ đạo phiệt tay sai, THÌ nạn nhân hoặc là bị tóm cổ, giao cho Tòa Án Dị Giáo xử lý bằng cách đem trói vào một cái cọc, chụm củi và thiêu sống (như trường hợp bà Jeanne d’ Arc vào năm 1431), hoặc là bị mật vụ theo dõi, bị tóm cổ, rồi bị thủ tiêu, giống như những nạn nhân bị chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm thủ tiêu mà chúng tôi trình bày ở nơi Chương 5 trong cuốn Nói Chuyện Với Việt Nam Cộng Hòa Foudation (Houston, TX:  Đa Nguyên, 2004).

Rút cục, chỉ còn có những hạng người ngu dốt với chỉ số thông minh dưới mức trung bình (IQ bằng hay nhỏ hơn 90) thì mới tin rằng có một ông Thiên Chúa như Giáo Hội tuyên xưng và rao truyền. Giáo Hội cũng biết rõ như vậy, cho nên  Giáo Hội mới   chủ trương cho thi hành chính sách ngu dân  để kìm hãm tín đồ và nhân dân dưới quyền mãi mãi ở trong tình trạng ngu dốt và nhồi nhét vào đầu óc những bài học do chính Giáo Hội  điều nghiên và biên soạn:

1.- Bài học thứ nhất  được tóm lược đại khái như thế này: “Thiên Chúa sinh ra vũ trụ và muôn loài và giao trách nhiệm cho Giáo Hội xử lý muôn loài muôn vật ở trên trái đất này. Trách nhiệm của Giáo Hội đới với Thiên Chúa là phải dạy dỗ  cho mọi người ở trong cõi nhân dan này biết rằng mọi thứ người ta có được đều do Thiên Chúa ban cho cả. Do đó bổn phẩn của con người là luôn luôn phải tỏ lòng biết ơn Thiên Chúa và thờ phượng Chúa theo phương cách của Giáo Hội dạy dỗ. Nếu không nghe lời dạy dỗ của Giáo Hội thì sẽ bị Thiên Chúa trừng phạt và đày xuống hoả ngục.”

2.- Bài học thứ hai đại lược là, “Muốn tỏ lòng biết ơn và thờ phượng Thiên Chúa đúng như lời Giáo Hội dạy dỗ thì phải học thuộc lòng những bài kinh cầu do Giáo Hội biên soạn, mỗi tuân ít nhất một lần phải mang theo của lễ bằng tiền mặt (càng hậu hĩ càng tốt) đến nhà thờ dâng cúng và dự lễ do linh mục sở tại chủ tế. Ngoài ra, trong ngày, bất kể là lúc nào, ngay khi vừa mới thức dậy vào lúc sớm tinh sương, khi bắt đầu uống cà phê ăn sáng, khi di chuyển, lúc ăn cơm trưa và cơm chiều, khi lên giường ngủ và cả khi thức giấc vào giữa đêm khuya, cũng phải nhớ đến Thiên Chúa a mà cầu khấu để tỏ lòng biết ơn Ngài. Có điều gì trăn trở hay bức xúc thì phải đếm tìm cha sở để giãi bày tâm sự Cha tức là tâm sự với Thiên Chúa.”

Hai sự kiện trên đây đã trở thành thói quen trong nếp sống hàng ngày của tín đồ Da-tô “ngoan đạo” người Việt từ mấy thế kỷ nay. Sự kiện này được nhà văn Da-tô Nguyễn Ngọc Ngạn ghi lại trong cuốn Xóm Đạo với nguyên văn như sau:

“Từ thuở chưa có trí khôn, cũng giống như bao nhiêu người Công Giáo khác, anh (Thông) đã được nuôi dưỡng trong bầu không khí thượng tôn tín ngưỡng, bằng những giáo điều bất di bất dịch, theo thời gian ngấm dần vào trí óc anh, khiến anh làm cái gì cũng sợ tội, sợ Chúa trừng phạt.” [2]

“Toàn trại này, dường như ai cũng sùng đạo như nhau, và sự sùng đạo ấy được thể hiện qua việc cầu nguyện và đi lễ. Buổi sáng, năm giờ chuông đổ lần thứ nhất, họ đã lục tục đánh thức cả nhà cùng dậy. Việc đầu tiên khi chưa bước chân xuống đất, là phải làm dấu thánh giá và đọc vài kinh nhật tụng. Sau đó, đánh răng rửa mặt, thay quần áo đi lễ. Trên đường đến nhà thờ, họ không bỏ phí thì giờ, lấy tràng hạt ra vừa lần chuỗi vừa cầu xin. Vào nhà thờ đọc kinh chung cả tiếng đồng hồ rồi mới tham dự thánh lễ mà dường như vẫn chưa thấy đủ, họ còn quì nán lại đọc kinh thêm cho đến lúc tới giờ đi làm. Buổi trưa, đúng giờ ngọ, chuông nhà thờ lại cất lên, nhắc họ dù đang làm gì, dù đang ở đâu, cũng phải tạm ngưng tay để làm dấu thánh giá và cầu nguyện. Tối về, cơm  nước xong lại vội vã đến nhà thờ. Và khoảng 9 giờ tối, trước khi đi ngủ, mọi gia đình đều tụ tập trước bàn thờ để đọc thêm một loạt kinh nữa trước khi lên giường! Nói chung, một ngày không biết bao nhiêu lần nhớ đến Chúa. Ăn củ khoai cũng làm dấu thánh giá. Nửa đêm mất ngủ cũng ngồi lên lần tràng hạt! Vui cũng cám ơn Chúa, mà buồn cũng coi là thánh giá Chúa trao cho mình gánh vác! Niềm tin mãnh liệt như thế, cho nên chẳng lạ gì….” [3]

Bài học thứ ba đại lược là, “Giáo Hội là đại diện duy nhất của Thiến Chúa ở  trên trái đấty và Cha sở tại vừa là đại diện của Giáo Hội vừa là đại diện cho Thiên Chúa ở trong họ đạo. Cho nên những gì Giáo Hội và Cha mục nói, làm và ra lệnh theo ý Thiên Chúa. Tất cả các con chiên ngoan đạo phải vâng lời và tuân phục tất cả những lời dạy và lệnh truyền của Giáo Hội và của các Cha. Khẩu hiệu “Nhất Chúa, nhì Cha, thứ ba Ngô Tổng Thống.”  được nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn ghi lại nơi các trang 18 và 37 trong cuốn Xóm Đạo nó lên thực trạng này. Nếu không nghe lời hay nghi ngờ những lời dạy và lệnh truyền của Giáo Hội và các Cha là mang tội chống Thiên Chúa vì Giáo Hội và Cha  đều là đại diện của Thiên Chúa. Nếu Giáo Hội và các Cha làm gì  sai quấy thì đã có Thiên Chúa phán xét. Là con chiên ngoan, giáo dân không được phép nghi ngờ hay nói những lời bất kính đối với Giáo Hội và các Cha.”

Người viết tóm lược theo kinh nghiệm nhiều năm sống trong họ đạo Dốc Mơ (Long Khánh) cùng với và iềhiềuu năm sống chung với những con chiên ngoan đạo và qua sự tìm hiểu các sách sử nói về Giáo Hội La Mã. Nếu có điều gì không đúng, mong quý vị chỉ cho biết.

Qua những phần trình bày trên đây, chúng ta thấy rằng Giáo Hội La Mã và giai cấp tu sĩ Da-tô  chiếm giảii quán quân về thâm độc và là những tay cự phách trong cái kỹ thuật hay tài nghề gian dối. Sư kiện này được học giả Lucien Vinet  tóm lược trong một câu văn gọn gàng như sau:

“Giới tu sĩ Da-tô   biết rõ sự độc ác của Giáo Hội La Mã mà họ vẫn bám chặt lấy để hưởng lợi. Họ thực sự là quân phản Chúa.” (“The real traitor,” says Lucien Vinet,” is the Roman priest who knows the wickdness of  and yet clingsto it for material gain.”)[4]

Riêng về giới tu sĩ Da-tô giáo dân Việt Nam, ông Charlie Nguyễn, một học giả Da-tô, viết sách Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm như sau:

Chúng ta  nên phân biệt hai loại người đối tượng: Loại người thứ nhất là các tu sĩ Công Giáo và tập thể chính trị gia, trí thức Công Giáo lưu manh, là bọn xưa nay chỉ vì tư lợi  mà gây ra rất nhiều tội ác chống loại nhân loại và dân tộc. Đối với loại người này, chúng ta phải xác định họ là kẻ thù nguy hiểm và chúng ta phải cần đấu tranh diệt trừ không thể khoan nhượng. Đứng đầu bọn này phải kể đến Hội Đồng Giám Mục, những dòng tu đang biến đức tin Công Giáo thành một món hàng béo bở để tận dụng khai thác làm giầu như dòng tu Đồng Công ở Missouiri. Kế đến là bọn chính trị lưu manh đang ẩn núp trong các đoàn thể ở nhà thờ như Hiệp Sĩ Đoàn. Vào một lúc nào đó thuận tiện, chúng sẽ mau chóng biến thành những đoàn quân võ trang hoặc những đoàn quân mật vụ hiếu sát như những đoàn thể của Linh-mục Hoàng Quỳnh, Lê Hữu Từ, Le Roy hoặc Trần Kim Tuyến. Loại người thứ hai là tuyệt đại đa số giáo dân, những người mải lo làm ăn, vô tư chất phác, họ chỉ vì thiếu hiểu biết đã bị các tu sĩ và trí thức lưu manh lừa gạt kích động, xô đẩy vào những hoạt động phá hoại đất nước mà họ vô tình không biết.”[5] 

Tuyệt đại đa số giáo dân trình độ tâm linh quá thấp đâu có ngờ khi họ xếp hàng đi xưng tội, chính họ còn ít tội hơn kẻ ngồi ở phía sau tòa giải tội.

Hầu hết các tu sĩ (Da-tô) là những kẻ đại gian đại ác ngụy trang dưới những lớp áo đen, áo đỏ, áo trắng đóng vai đạo đức giả để phỉnh gạt tín đồ. Bề ngoài, họ làm ra vẻ thuận thảo với nhau, thật sự bên trong nội bộ, họ ganh tị tranh đua nhau và sẵn sàng hạ thủ nhau để tranh quyền đoạt thế. Họ dùng đủ mọi thủ đoạn để bòn rút tiền bạc xương máu của giáo dân, để xây nhà thờ nguy nga đồ sộ chỉ cốt để họ được vênh vang với đời. Mái nhà thờ của họ càng rộng lớn bao nhiêu càng che khuất ánh sáng mặt trời chân lý bấy nhiêu. Các bức tường của nhà thờ càng cao bao nhiêu càng ngăn cách giữa con người với nhau bấy nhiêu. Giáo sĩ là những con ký sinh trùng vừa ăn bám, vừa phá hoại xã hội. Họ tội lỗi cùng mình lại nắm quyền tha tội cho đám tín đồ ít tội lỗi hơn họ. Họ thực sự là một bọn cướp nguy hiểm hơn bọn cướp thường vì những kẻ cướp thường đều bị luật pháp trừng trị. Trái lại, bọn cướp đội lốt giáo sĩ lại được giáo dân tôn kính, đi lại tự do vênh váo và được xã hội tâng bốc là “những vị lãnh đạo tinh thần.” Tất cả các tệ nạn này đều xuất phát từ sự thiếu hiểu biết của đại đa số giáo dân. Do vậy, việc giáo dục khai sáng tâm linh là vô cùng cần thiết để cứu nước  và bảo vệ nền văn hóa nhân bản rất cao đẹp của dân tộc ta mà tuyệt đại đa số giáo dân không hề biết tới.” [6] 

Gian dối đẻ ra gian dối. Quen mui thấy mùi ăn mãi. Gian dối một lần mà chót lọt rồi thì lại tiếp tục gian dối nữa và cứ thế mà gian dối hoài hoài. Gian dối hoài hoài sẽ trở thành thói quen. Thói quen được lập lại nhiều lần và được sử dụng lâu ngày sẽ trở thành bản chất. Khởi đầu Giáo Hội củng cố quyền lực và kiếm tiền bằng gian dối. Theo quy luật gian dối đẻ ra gian dối trên đây, Giáo Hội càng ngày càng trở nên một tổ chức chuyên nghiệp về gian dối. Cũng vì thế mà chúng ta không lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy Giáo Hội La Mã và các Ngài "mang chức thánh" của Giáo Hội "nói dối như cuội". Đây là nguyên nhân TẠI SAO các nhà viết sử lại cho rằng "Phần đông các sử gia cho rằng những chuyện của các giáo sĩ thuật lại là những chuyện hoang đường."[7]  

Kính nghiệm cho thấy rằng trong xã hội loài người, có nhiều người mắc chứng bệnh "ăn gian nói đối", nếu "không ăn gian nói dối" thi họ ăn không ngon, ngủ không yên. Lại cũng có nhiều người có quyền thế mang chứng bệnh ưa thích sử dụng bạo lực để cưỡng bức những người bất đồng chính kiến phải đồng ý với họ, phải hành động theo ý họ, và khủng bố những ai không chịu khuất phục. Trong lịch sử, Giáo Hội La Mã  mang cả hai chứng bệnh quái đản  trên đây. Người viết xin khẳng định như vây. Nếu không đúng, xin Giáo Hoàng Benedict XVI, các Ngài mang chức thánh trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội và quý vị tín đồ Da-tô  người Việt có học vị đại học hay tự coi là trí thức hãy lên tiếng, viết bài phản bác lời khẳng định trên đây của người viết. Mong lăm thay!.

Nếu các ngài im lặng, không lên tiếng, có nghĩa là các ngài đồng ý với lời khẳng định trên đây của người viết. Nói cho rõ hơn, các ngài đã đồng ý với chúng tôi rằng "Đạo Kitô La Mã là đạo bịp và đạo của bạo lực".

Người Việt Nam ta có câu, "cái kim gói kín trong giẻ lâu ngày cũng lòi ra". Những  hành động gian dối lừa bịp người đời dù  cho được bưng bít và che giấu tinh vi đến đâu đi nữa, rồi sớm muộn cũng lòi ra trước ánh sáng công luận. Biết rõ là như vậy, cho nên Giáo Hội mới đưa ra chủ trương "thần quyền chỉ đạo thế quyền" rồi tiếm đọat quyền lực chính trị (đã được nói rõ ở Chương 4) thiết lập các chế độ đạo phiệt Gia-tô hầu có thể  dùng cả   bạo lực  của nhà nước để thì hành cả ba chính sách

1.- Cưỡng bách những người thuộc các tôn giáo hay văn hóa khác phải  theo đạo Gia-tô.

2.- Thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ với chủ đích làm cho tín đồ và nhân dân dưới quyền ngu đi, không còn khả năng lý trí để nhận ra   tính cách bịp bợm trong các tín lý thần học Kitô, những thủ đọan lưu manh và gian ác trong những giáo luật và trong những lời dạy dỗ của Giáo Hội,

3.- Dùng bạo lực của nhà nước để bịt miệng những người dám nói lên những việc làm gian dối và những hành động đại gian đại ác của Giáo Hội trong lịch sử cũng như trong hiện tại. Phương cách thông thường nhất mà Giáo Hội thường sử dụng là:

A.- Chụp cho họ cái mũ  "chống Chúa" và "tà giáo" hay bất cứ tội ác gì mà người đường thời đang thù ghét.

B.- Làm cho tín đồ Da-tô "ngoan đạo" (vốn đã bị làm cho ngu xuẩn vì chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội) tin rằng những nạn nhân bị Giáo Hội chụp mũ như trên là một hạng người tội lõi, xấu xa, đáng khinh bỉ, và làm cho họ (tín đồ) không còn tin vào những gì do các nhà viết sử chân chính nói về tội ác của Giáo Hội.

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng, NẾU vì lý do gì mà Giáo Hội không thể trừng phạt  hay bịt miệng những người bị gán cho tội "chống chúa", "tà giáo", "vô thần" hay "Cộng Sản" hoặc "Cộng Sản nằm vùng", THÌ nhân dân nổi lên đạp đổ Giáo Hội và các chế độ đạo phiệt tay sai, sẽ hốt hết các đống rác thuyết lý thần học bịp bợm của Giáo Hội đem vào nhà máy kỹ nghệ chế biến thành phân bón cung ứng cho nhà nông trồng mùa. Cách Mạng Pháp 1789,  Cách Mạng Y 1870, Cách Mạng Mễ Tây Cơ 1857, Cách Mang Tây Ban Nha 1936, Cách Mạng Cuba 1959, Cách Mạng Nicaragua 1979 đã  làm như vậy bằng những biện pháp mạnh để trừng phạt Giáo Hội cùng bộ tu sĩ và tín đồ cuồng tín (sẽ được trình bầy đầy đủ trong một phần sau).

Nhờ vậy, kể từ đó, sách lược "hàm huyết phún nhân" để vu khống, sỉ vả, gièm pha các tôn giáo và các thành phần không chịu khuất phục Giáo Hội không còn hữu hiệu ở Âu Châu như trước.

Dù là như vậy, sách lược "hàm huyết phún nhân" này vẫn còn được Giáo Hội cho áp dụng ở trong các cộng đồng người Việt hải ngọai, nhất là ở Bắc Mỹ. Hiện nay (tháng 8 năm 2005), ngôi chùa Việt Nam của thày Thich Pháp Châu ở miền Nam tiểu bang California đã và đang là nạn nhân của sách lược này do bọn thập ác người Việt ở Nam California chủ trương.

Tất cả những việc làm lưu manh như đã trình bày trên đây đều được Giáo Hội cho lồng vào cụm từ "nhân danh Thiên Chúa", "làm sáng danh Chúa", "mở rộng nước Chúa", "để làm sạch cho danh dự và sự rực rỡ của Thượng Đế", v.v.. đề hù doạ tín đồ. Thôi thì, không có cái gì là họ không nhân danh Thiên Chúa, lấy Thiên Chúa ra để hù doạ tín đồ và người đời. Ngay cả đến việc dụ dỗ, tán tỉnh, sờ mó và làm tình bậy bạ với một em bé gái mới 13,14  tuổi, họ cũng nhân danh Thiên Chúa và đem Chúa ra hù doạ để cho nạn nhân khiếp sợ mà chiều theo ý họ. Đây là chuyện có thực trăm phần trăm được sách sử ghi lại rõ ràng. Chuyện này sách Thực Chất Đạo Công Giáo và Đạo Các Đạo Chúa ghi lại một cậu chuyện có thật 100% với nguyên văn như sau:

“Chương 6, dưới tựa đề là "The Silencing  Of The Lambs" (Sự Bịt Miệng Con Chiên), các tác giả cho thấy các nạn nhân bị lạm dụng đều là bị bịt miệng bởi cha mẹ, thầy giáo và các thủ đoạn hăm dọa, khủng bố của các tu sĩ phạm pháp.

Đối với những thiếu niên của những gia đình ngoan đạo thì các tu sĩ Công Giáo luôn luôn được chúng coi là những người thánh thiện (holy men) và có uy tín hơn cả cha mẹ của chúng. Khi bị các tu sĩ lạm dụng tình dục, chúng không dám về mách cha mẹ vì sợ bị cha mẹ la mắng hay trừng phạt. Năm 1992, một số nhà tâm lý học đã phỏng vấn 15 em nhỏ ở Lafayeete, Louisiana  bị tu sĩ lạm dụng tình dục. Các em cho biết đã không dám tố cáo vì bị các linh mục hăm dọa: "Nếu tố cáo sẽ bị Chúa đầy xuống hỏa ngục" hoặc "mày phải câm miệng, nếu không, quỷ sẽ bắt mày!" Mấy bé gái bị linh mục sờ mó đã khai: "Cha nói Chúa đã chọn con để giúp cha biết cái đó thế nào!"

Trong chương này có một chuyện đáng chú ý. Đó là chuyện của Cristine Clark thuộc giáo phận Joliet, Illinois. Lúc cô lên 7 tuổi, đi học lớp giáo lý để rước lễ  lần đầu thì cô đã bị cha xứ là Ed Staphanie dụ dỗ hôn hít sờ mó. Năm cô 14 tuổi, cô bị cha xứ dạy cách thủ dâm cho ông ta. Năm 18 tuổi, cha xứ giao cấu với cô. Lúc này cô tỏ ra rất lo lắng vì sợ tội. Cha khẳng định giao cấu với cha không có tội vì đó là ý Chúa. Sau đó, Cristine không thể chịu đựng được nữa nên nói với cha mẹ ý định tố cáo nội vụ trước cảnh sát. Linh-mục Ed Stephanie thấy nguy nên trình sự việc với Tòa Giám Mục Joliet. Tòa giám mục này cho người đến trao cho gia đình Cristine số tiền 450 ngàn đô-la để mua sự im lặng.

Ngày 15/4/1988, Cristine ký giấy cam kết không tố cáo. Tuy nhiên, Linh-mục Ed Staphanie bị nhiều người khác tố cáo nên y bị cảnh sát bắt vào mùa thu năm 1992.” [8] 

Giả dụ thực sự có một Chúa vô tư, có đức tính công bằng, thẳng thắn như ông Bao Công trong đời nhà Tống ở nước Trung Hoa và đầy lòng nhân ái như Đức Phật Thich Ca và Đức Khổng Tử như người dân Đông Phương thường quan niệm, và giả thử như có địa ngục thật sự ở dưới âm phủ thi chắc chắc là Giáo Hội La Mã  và toàn thể tu sĩ Da-tô  đều phải  bị đầy xuống địa ngục tuốt luốt.

Rõ ràng là những thứ như hệ thống tín lý Kitô, giáo luật, thánh lệnh, tập tục và truyền thống trong đạo Da-tô chỉ là đồ nghề bịp, những phương tiện giúp cho Giáo Hội và giới tu sĩ Da-tô  lừa bịp người đời và làm những việc làm tội ác trời không dung đất không tha mà chuyện ông linh-muc Ed Staphanie dụ dỗ hôn hít sờ mó và làm tính bất chính với em bé gái Cristine Clark   trên đây chỉ là một hạt cát trong cái sa mạc mênh mông tội ác của Giáo Hội La Mã và giới tu sĩ Da-tô đã gây ra với danh nghĩa là “nhân danh Chúa”.

Thực ra,   chẳng có ai đã nhìn hay biết được hình dáng ông Thiên Chúa mà  Giáo Hội La Mã vẫn thường nhân danh và tôn vinh. Chẳng ai biết được  ông ta cao hay lùn, trắng hay đen, mập  phì hay ốm tong ốm teo, mồm ngang mũi dọc như thế nào?. Quay đi quay lại chỉ  thấy có "Giáo Hội La Mã" tự phong là "Giáo Hội Thiên Chúa" và tự nhận là "đại diện độc nhất cho Thiên Chúa ở trên trái đất". Cứ giả dụ như là thật sự có một ông Thiên Chúa như vậy đi nữa thì ông ta cũng không biết nói. Tất cả mọi người đều nghĩ như vậy và Giáo Hội cũng biết như vây:

Thiên Chúa mà biết nói năng,

Ắt là Giáo Hội cái răng không còn.

Những phần trình bày trên đây cho chúng ta thấy rõ cái bản chất "ăn không nói có", “vu oan giá hoạ”, "quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, lật lọng và bịp bợm " của  Giáo Hội La Mã   từ thế kỷ 4 cho đến ngày nay quả là siêu việt nhưng cũng vô cùng trắng trợn và vô liêm sỉ đến cùng độ của vô liêm sỉ.

4.- THÓI QUEN LỘN SÒNG, NHẬN VƠ
VÀ TIẾM QUYÊN (CẦM NHẦM QUYỀN LỰC)

Từ xưa đến nay, Giáo Hội La Mã và tín đồ Da-tô thường có thói quen nhận vơ là “đại diện duy nhất của ông Chúa Jehovah ở trên cõi trần gian này” để tác oai tác quái với nhân dân dưới quyền như đã nói ở trên, nhận vơnhững danh nhân và tư tưởng lớn của các bậc vĩ nhânlà của Giáo Hội” để đánh bóng Giáo Hội và đánh bóng cho bọn tín đồ đại gian đái ác làm tay sai bán nước cho Giáo Hội. Dưới đây là một số thành tích nhân vơ  hay lộn sòng,  tiếm quyền (cầm nhầm quyền lực) hoặc là do chính Giáo Hội La Mã đã làm, hoặc là   bọn văn nô tay sai của Giáo Hội được lệnh tiến hành:

Thứ nhất.- Chúng ta thấy Giáo Hội đã từng “nhân vơ” nữ anh hùng dân tộc nước Pháp là bà Jeanne d’ Arc (1412- 1431) bằng cách phong thánh cho bà vào năm 1920 dù là chính Giáo Hội đã gán cho bà cái tội “phù thủy” rồi đem thiêu sống cho đến chết vào năm 1431, và suốt từ năm đó cho tới đầu thế kỷ 20, bộ máy tuyên truyền của Giáo Hội luôn luôn rêu rao rằng bà là con “mụ thủy gian ác” để biện minh cho việc Giáo Hội đã  xử lý bà một cách vôn cùng dã man như trên. Tìm hiểu về vụ này, các nhà sừ học đều thấy rằng, dù cho bộ máy tuyền truyền của Giáo Hội đã sử dụng trăm phương ngàn kế và hàng ngàn chuyện xấu xa ghê tởm nhất ở trên cõi đời này để gán cho bà Jeanne d’ Arc. Thế nhưng,   qua bao nhiêu thế kỷ, dân tộc Pháp cũng vẫn coi bà là nữ anh hùng và cũng là vị cứu tinh của dân tộc. Thấy rằng cả  hơn 400 năm vẫn không lay chuyển được ý chí sắt đá và lòng son sắt của dân tộc Pháp đối với bà, năm 1920, Giáo Hội mới thay đổi thái độ, quay một góc 180 độ, quyết định phong thánh cho bà.

Thảm trạng trên đây của bà Jeanne d’ Arc  được học giả Phan Đình Diệm ghi nhận như sau:

“Thử tưởng tượng từ ngày Giám-mục Pierre Cauchon (đồng âm với con heo) thiêu sống Bà Thánh Jeanne d’ Arc, cho đến ngày Bà được phong thánh là hơn 400 năm, các tòa giảng của Giáo Hội trên khắp cõi Âu Châu phải ăn gian nói dối và vu oan giá họa cho Bà bao nhiều lần? Giết bà cũng một tay Giáo Hội, phong thánh cho Bà cũng một tay Giáo Hội, nhưng có mấy ai được may mắn như Bà. Hầu hết các trọng tội mà Giáo hội phạm tại các “Tòa  Điều Tra Dị Giáo” là tội đẻ ra tội theo cấp số cộng và cấp số nhân.”[9]  

Thứ hai.-  Chúng ta cũng đã từng biết Giáo Hội luôn luôn chống lại những việc làm khám phá và phát triển khoa học mà vụ án Galileo   Galilei (1564-1642) là bằng chứng cho sự kiện này. Sự kiện này được sách Roman Catholicism ghi rõ như sau:

“Danh sách những sai lầm,: Giáo Hoàng Pius IX lên án (và được Công Đồng Vatican phê chuẩn) những phong trào đòi tự do tôn giáo, tự do hành động theo lương tâm, tự do ngôn luận, tự do báo chí, lên án cả những khám về khoa học nếu không được sự chấp thuận của Giáo Hội La Mã và khẳng định quyền lực của Giáo Hoàng phải bao trùm lên trên quyền lực của các nhà cầm quyền thế tục.” (“Syllabus of Errors, proclaimed by pope Pius IX (1846-1878) and ratified by the Vatican Council; condemned freedom of religion, conscience, speech, press, and scientific discoveries which are disapproved by the Roman Church, asserted the temporal authority over all civil rulers.” [10] 

Ấy thế mà bộ máy tuyên truyền của Giáo Hội vẫn thường rêu rao là Giáo Hội đã thực hiện được nhiều tiến bộ khoa học hơn tất cả các tôn giáo khác. Thiết tưởng ai cũng biết hành động nhận vơ này của Giáo Hội.

Thứ ba.- Vì  Vatican theo chế độ quân chủ tăng lữ chuyên chế, cho nên tất cả các phong trào tranh đấu cho tự do, dân chủ, dân quyền và nhân quyền  đều bị Giáo Hội chống đối tới cùng: Chính Giáo Hội vẫn liên tục phủ nhận thuyết tiến hóa của nhà bác học Charles Robert Darwin (1809-1882), chính Giáo Hội đã công khai phủ nhận quyền tự do tôn giáo của người dân thuộc các tôn giáo khác, chính Giáo Hội lên án hệ thống trường học mở cừa cho mọi con em trong xã hội cùng được đi học chỉ vì Giáo Hội nắm độc quyền giáo dục để nhồi sọ thanh thiếu niên (Public Schools condemned by pope Pius XI (1922-1939)   Loraine Boettner, Ibid., tr 9), chính Giáo Hội phủ nhận quyền tự do báo chí báo chí của nhân dân. Sự kiện này đã được giáo sư Lý Chánh Trung ghi rõ như sau:

Đức Giáo Hoàng Grégoire XVI (1831-1846) đã gọi báo chí là “thứ tự do tai hại nhất, đáng ghét nhất, kinh tởm nhất mà một số người dám đòi hỏi một cách ồn ào cuồng nhiệt và quảng bá khắp nơi.” [11]  .

Sau đó,người lên nối ngôi Grégoire XVI (1831-1846) là   Giáo Hoàng Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878) cũng lên án gắt gao quyền tự doi báo chí và tất cả mọi thứ quyền tự do khác của người dân như đã nói trong đoạn văn trích dẫn trong mục “thứ hai” ở trên.

Ấy thế mà Giáo Hội và tín đồ Da-tô vẫn bô bô cái miệng nhận vơ là nhờ có Giáo Hội La Mã cho nên nền văn minh Tây phương mới tiến bộ được như ngày nay, nhận vơ rằng Giáo Hội La Mã luôn luôn tranh đấu cho tự do dân chủ và cho quyền tự do tôn giáo của nhân loại, và từ năm 1975 cho đến nay, họ vẫn luôn luôn rêu rao tranh đấu dân chủ tự  do tôn giáo ở Việt Nam. Điểm đặc biệt là họ lớn tiếng nói như vậy không cảm thấy ngượng miệng chút nào cả. Hình như họ không còn có một chút liêm sỉ tối thiểu nào cả. 

Thứ tư.- Việc đưa ra  tín lý tín đồ đòi hòi tín đồ phải đến nhà thờ "xưng tội" để kể lể và tỏ lòng ăn năn với một ông linh mục về những suy tư, thái độ, lời nói và hành động mà Giáo Hội cho là tội lỗi, rồi sau đó, đương sự được ông linh mục này tuyên bố tha thứ cho. Trong việc này, chúng ta thấy rằng khi ngồi tòa  lắng nghe những lời kể lể về những gì mà đương sự cho là tội lỗi, thì ông linh mục này đã "tiếm danh" hay   "nhân vơ" tự cho ông ta là Chúa đối với đương sự. Còn nữa, sau khi nghe đương sự kể lể xong những gì mà đương sự cho là tội lỗi, ông linh mục này lại  "nhân vơ" hay tự phong là Chúa để tha thứ cho đương sự. Tương tự như vây, khi làm lế trong nhà thờ hay ở một nơi nào khác, ông ta cũng "nhận vơ"  tự phong là Chúa. Không biết trong suốt cuộc đời hành nghề, mỗi một ông linh mục hay giám mục của Giáo Hội đã nhân vở là  dại diện của Chúa như vậy là bao nhiêu lần. Chúng ta hãy tưởng tượng xem NẾU có một người nào “nhân vơ” là đại diện Tổng Thồng Hoa Kỳ để tuyên bố huyên thiên với người này người khác để làm oai với thiên hạ, THÌ người đó sẽ bị pháp luật trừng trị  ra sao? Và quần chúng sẽ có cái nhìn như thế nào đối với con người bất bình thường này?

Thứ  năm.- Vào giữa thế kỷ 17,  Giáo Hội La Mã đã ra lệnh cho tên gián điệp Alexander de Rhodes viết cả một cuốn Phép Giảng Tám Ngày trong đó dành hẳn Chương Ngày Thứ Bốn  với tựa đề là “Những Đạo Vạy” để miệt thị và làm hạ giá các tôn giáo cổ truyền của dân tộc Việt Nam là đạo Phật, đạo Lão, đạo Khổng và đạo thờ ông bà.  Đồng thời, chúng ta cũng thấy rõ vào thập niên 1860, Giám-mục Puginier viết hẳn một kế hoạch mà các sử gia gọi là kế hoạch Puginier để triệt hạ đạo Khổng và giai cấp sĩ phu trong nước ta vào thời bấy giờ. Sự kiện này chứng tỏ rằng cả Giáo Hội La Mã và tín đồ Da-tô thù ghét đạo Khổng.

Tháng 9 năm 1950, khi được Tòa Thánh Vatican cho người dẫn sang Hoa Kỳ để năn nỉ xin Hoa Kỳ đưa về Viêt Nam làm thủ tướng, và khi bị bộ ngoại giao Hoa Kỳ  tìm hiểu về đường lối và khả năng chính trị của ông Diệm trong việc ổn định tình thế Việt Nam nếu được đưa lền cầm quyền, thì chính Ngô Đình Diệm đã tuyên bố rằng: “ông tin tưởng vào Vatican và ông chống Cộng cực lực”. Sự kiện này được nhà viết sử Lương Minh Sơn ghi lại nguyên văn như sau:

"Tháng 10 năm 1950, Đức Hồng Y Spellman, Linh-mục McGuire và ba nhân vật Ủy Viên Chính Trị (politiacal churchmen) của một số giáo phái Thiên Chúa Giáo ở Hoa Kỳ như Cha Emmanual Jacque, Giám-mục Carroll và Giáo-sư Edmund Walsh  đưa Ngô  Đình Diệm và Đức Cha Ngô Đình Thục đi găp một số nhân viên của Bộ Ngọai Giao Hoa Kỳ tại Khách Sạn Mayflower  ở Washington D.C. Ông Dean Rusk là một trong những nhân vật của Bộ Ngọai Giao có mặt trong buổi cơm tối hôm đó. Sau này, ông Rusk làm Ngọai Trưởng Hoa Kỳ từ năm 1961 đến 1969. Mục đích của buổi gặp gỡ xã giao này là để chính phủ Hoa Kỳ tìm hiểu về tình hình Việt Nam và để xác định lập trường chính trị của ông Diệm và Đức Cha Thục. Sự kiện  90% dân Việt Nam không phải là tín đồ Thiên Chúa Giáo không làm ông Diệm quan tâm vì ông đã tuyên bố trong bữa cơm tối hôm đó rằng ông "tin tưởng vào quyền lực của Vatican và ông chống Cộng một cách cực lực,:" [COO, Tr. 242].[12] 

Sau khi được đưa về Việt Nam cầm quyền, ông Diệm cho tổ chức một đại lễ vô cùng long trọng để hiến dâng nước Việt Nam cho đế quốc Vatican với danh nghĩa là “Dâng nước Việt Nam cho Đữc Mẹ Vô Nhiễm”.  bằng một cuộc đại lễ vô cùng  long trọng vào tháng 2-1959. Buổi lễ này được đặt dưới quyển chủ tọa của Hồng Y Agagianian, vị đại diện của Tòa Thánh Vatican. Sự kiện này được Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi lại như sau:

Quả thế, Đức Mẹ cũng bi đưa vào môi trường của chủ nghĩa hiếu thắng huênh hoang, nhất là nhân dịp Đại Hội Thánh Mẫu tháng 2 năm 1959, có Hồng Y Agagianian, sứ thần của Đức Giáo Hoàng qua chủ sự. “Ba trăm ngàn giáo hữu đã đi theo cuộc rước khổng lồ trong này kết thúc, sau đó hồng y đã long trọng dâng nước Việt Nam cho Đức Mẹ Vô Nhiễm”   theo tin tức báo chí thời ấy. Để cuộc rước đó được thành công, ngoài sự  tưởng tượng của Rôma và Paris, người ta đã huy động hàng ngàn tên công binh để xây một bệ lớn trước nhà thờ chính tòa Saigon, để dựng lên những cổng chào, đồng thời đưa ra hàng trăm xe căm  nhông để vận chuyển hàng chục ngàn giáo dân từ các tỉnh về.” [13]  .

KHI một ký giả người Pháp tiếp xúc với ông Diệm và muốn gợi ý ông Diệm chịu ảnh hưởng của nền văn hoá Pháp và dù là Thiên Chúa La Mã thì cũng v vương vương tinh thần Cách Mạng Pháp 1789, THÌ ông Diệm lập tức phủ nhận và xác nhận  rằng ông là tín đồ Da-tô cuồng tín giống như tín đồ Da-tô người Tây Ban Nha trong thời Trung Cổ. Sự kiện này được sử gia Bernard F. Fall ghi nhận như sau:

"Tính hiếu chiến của ông Ngô Đình Diệm thuộc loại như thế này: Lòng tin đạo đã biến ông ta thành con người hiếu chiến đến độ tàn nhẫn như một vị Đại Pháp Quan của Tòa Án Dị Giáo trong thời Trung Cổ ở Tây Ban Nha. Quan điểm của ông ta về chính quyền là hình ảnh của một bạo chúa theo truyền thống quan lại phong kiến hơn là hình ảnh của một tổng thống theo hiến định của một nước cộng hòa. Một người Pháp theo đạo Kitô La Mã khi nói chuyện với ông ta cố ý cao giọng những tiếng "tín ngưỡng của chúng ta" thì ông ta thản nhiên trả lời rằng: "Ông biết mà, tôi tự coi tôi như là một tín hữu Kitô La Mã  giống như người  Kitô Tây Ban Nha," thế có nghĩa ông ta là một đứa con tinh thần (của Giáo Hội La Mã) với niềm tin hung hăng, dữ tợn và hiếu chiến hơn là một tín đồ  dễ dãi và khoan dung giống như người Pháp theo đạo Kitô La Mã." ("Ngo Dinh Diem's militancy is of that kind: His faith is made less of the kindness of the apostles, than of the ruthless militancy of the Grand Inquisitor; and his view of government is made less of the constitutional strength of a President of the republic than of the petty tyranny of a tradition-bound mandarin. To a French Catholic interlocutor who wanted to emphazise Diem's bond with French culture by stressing "our common faith," Diem was reported to have answered calmly: "You know, I consider myself rather as a Spanish Catholic," i.e., a spiritual son of a fiercely aggressive and militant faith rather than of the easygoing and tolerant approach of Gallican Catholicism."[14]   

Mấy sự kiện lịch sử trên đây chứng tỏ  ông Ngô Đình Diệm là một tín đồ “ngoan đạo” của Giáo Hội La Mã, luôn luôn tuyệt đối vâng lời Giáo Hội dạy dỗ, sẵn sàng thi hành triệt để những lệnh truyền của Tòa Thánh Vatican.  Như đã nói  trên. Giáo Hội La Mã dạy dỗ tín đồ Gia-tô, trong đó có ông Ngô Đình Diệm, phải thù ghét đạo Khổng, đạo Phật, đạo Lão, và phải thù ghét  tất cả các thành phần thuộc tôn giáo khác không chịu khuất phục Tòa Thánh Vatican. Như vậy là cả về suy tư, thái độ, hành động và cung cách ứng xử hay đạo xử thế của ông Diệm  nhất nhất đều theo đúng lời dạy của Giáo Hội không sai một dấu phẩy hay dấu chấm nào cả. Nói cho rõ hơn, ông Diệm thù ghét đạo Khổng và tất cả các tôn giáo khác đến tận xương tận tủy, giống y hệt như ông Linh-mục Alexandre de Rhodes đã viết ra thành sách để dạy dỗ tín đồ Da-tô người Việt như đã trình bày ở trên.  

Ấy thế mà, có lẽ vì uy tín của đạo Khổng quá lớn đồi với toàn thể nhân dân thế giới, không biết là do lệnh từ Giáo Hội La Mã,  hay là do anh em  ông Ngô Đình Diệm tự ý ra lệnh cho bọn văn nô, sử nô gọi ông Diệm là “nhà Nho”, và  lấy “bụi trúc” in lên trên con dấu của chế độ với ý nghĩa là “tiết trực tâm hư” làm ra vẻ ông ta có cái “tiết tháo” của nhà Nho để lạc dẫn nhân dân Việt Nam và dư luận thế giới. Đây là một hành động lộn sòng. hay mp mờ đánh lận con đen.  Việc làm gian lận này đã  có hiệu  quả làm cho một sử giả người ngọai quốc là ông Denis Warner tưởng lầm ông Ngô Đình Diệm là một nhà Nho  thực sự, rồi   viết một cuốn sách vời tựa đề là "The Last Confucian" (New York, The Macmillan Company,  1963) để nói về một giai đọan lich sử hiện đại của Việt Nam trong đó có vai trò ông Diêm. Tuy nhiên “vải thưa không che đưộc mắt thánh”, “cốt khỉ vẫn hoàn cốt khỉ”. Dù cho Giáo Hội  hay tín đồ Da-tô người Việt có tô son điểm phấn  đánh bóng cho tên Da-tô cuồng tín Ngô Đình Diêm đến mức nào đi nữa thì truớc con mắt của nhân  dân Việt Nam, Ngô Đình Diệm vẫn là một tín đồ Da-tô cuồng tínvà cũng là tên  tam đại Việt gian với những thành tích bán nước cho Đế Quốc Vatican, cho Pháp, cho Nhật và cho Mỹ.

Thứ sáu.- Có lẽ vì biết rõ như vậy, cho nên Giáo Hội mới ra lệnh cho bọn  tín đồ văn    trong cái tổ chức gọi là Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Viêt Nam (Cuội) biên soạn cuốn sách mang tên là “Anh Hùng Nước Tôi”  (San Jose, CA:, Đông Tiến, 1986), với chủ ý là cho lộn sòng cái tên phản thần Tam Đại Việt Nam họ  Ngô này vào ngồi chung với những anh hùng dân tộc Việt Nam thứ thiệt đã từng   quyết tâm liều  thân hy sinh đánh đuổi quân cướp xâm lăng bạo tàn từ phương Bắc và từ Âu Châu trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước, mở nước và giữ nước của dân tộc ta. Khi làm như vậy, bọn người cuồng nô vô tổ quốc này có manh tâm lạc dẫn người đọc và hậu thế lầm tưởng rằng tên tam đại Việt gian khốn kiếp họ Ngô  này cũng là một anh hùng dân tộc như hàng trăm anh hùng dân tộc thứ thiệt có tên ở trong cuốn “gian thư” này.

Thứ bẩy.- Mới đây, ông Gia-tô Lê Hữu Mục cũng nhận vơ, cho rằng trước khi viết Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du cũng đã đọc thánh kinh Ki-tô. Vì thế cho nên kiệt tác này cũng có ảnh hưởng của tư tưởng Thiên Chúa Giáo. Sư kiện này đuợc học giả Đỗ Quang Vinh ghi lại trong tác phẩm Bút Thuật Của Nguyễn Du trong Đọan Trường Tân Thanh với nguyên văn như sau:

"Hoặc như học giả Lê Hữu Mục, mới đây nhất, lại cho rằng, trước khi viết Truyện Kiều, Nguyễn Du đã đọc Thánh Kinh trong tư tưởng của Nguyễn Du không hẳn chỉ tìm thấy vết tích của Phật, Lão, Nho mà còn cả Thiên Chúa Giáo nữa."[15][

Thứ tám.- từ tháng 4 năm 1975, con số người Việt sống ở hải ngọai càng ngày càng nhiều. Trong cảnh sống lưu vong bơ vơ nơi quê người xứ la, lạ ngôn ngữ, lạ phong tục, lạ đủ mọi thứ, họ cảm  thấy thiếu tình quê hương, thiếu tình dân tộc và khao khát được gặp những người đồng hương để tâm sự với nhau bất kể  gì là khác nhau về tôn giáo. Vì vậy mà họ mới hẹn nhau vào những buổi chiều hay những ngày cuối tuần để họp mặt  quây quần  nói chuyện tầm phào cho ấm lòng  trong cảnh tha hương. Cũng vì vậy mới nầy sinh ra phong trào thành lập hội đoàn với mục đích tương tợ giúp đỡ lẫn nhau và bầu ban đại diện cho tập thể với nhiệm vụ tìm xem NẾU các chính quyền liên bang, tiểu bang và địa phưong có những chương trình hay biện pháp gì giúp đỡ người Việt tỵ nạn thì thông báo cho nhau biết và giúp đỡ nhau để làm những thủ tục giấy tờ xin được thụ hưởng. Như vậy, trong thực tế, các hội đòan này chỉ là các hội tương tế. Giấy xin phép và giấy cho phép của chinh quyền tiểu bang  cũng ghi rõ  là hội tương tế.

Thế rồi, từ cuối thập niên 1970 trở đi, tuy rằng trên pháp lý, giấy phép hoạt  động của các hội đoàn vẫn là những hội đoàn tương tế, không phải là một đảng phái chính trị, nhưng trong thực tế, các hội đoàn này đã bị những người chịu ảnh hưởng sâu nặng của cái thế lực có chủ trương "thần quyền chỉ đạo thế quyền" biến thành một chính quyền  đạo phiệt Da-tô riêng đối với người Việt trong cộng đồng địa phương. Đây là một hành động "tiếm đọat" hay "nhận vơ" hoặc "cầm nhầm" quyền lực ở trong các cộng đồng người Việt tại Bắc Mỹ. 

Kể từ đó, người Việt nào trong cộng đồng bất đồng chính kiến với những người trong ban đại diện của hội  đoàn (xin gọi là "hội đồng chuột") liền bị họ chup cho cái mũ "phá họai cộng đồng", "cộng sản năm vùng" và "cán bộ cộng sản" . Dần dần, cái mũ này được sử dụng  để chụp cho các văn nghệ sĩ  có những ấn phẩm có nội dung nói lên những lỗi lầm và tội ác của hai chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu ở miền Nam trong những năm 1954-1975 hay bộ mặt thât của Giáo Hội La Mã. Đồng thời, cái mũ này cũng được sử dụng để chụp cho các nhà tu hành Phật giao từ Việt Nam sang Mỹ tham quan và các nhà sư ở Bắc Mỹ không chịu khuất phục đi theo họ để hò hét phóng ra những lời lẽ xú uế để chửi bới và  sỉ vả chính quyền Việt Nam hiện nay. Từ mấy chục hai chục năm  nay, thày Thích Pháp Châu tại Chùa Phật Giáo Việt Nam (12292 Magnolia Street, Garden  Grove, CA 92641) đã và đang là nạn nhân của cái tệ trạng "tiếm quyền" hay "nhân vơ" quyền lực của bọn cuồng nô vô tổ quốc mang danh là người Việt đang định cư ở Nam California..

Thứ tám.- Mới đây, trong những tuần lễ cuối năm 2003 và đầu năm 2004, trong thời gian ông Nguyễn Cao Kỳ về thăm Việt Nam và trở lại Hoa Kỳ, bọn văn nô Da-tô  và nhiều "hội đồng chuột" đạo phiệt   trên đây cũng lại  "nhận vơ" hay "cầm nhầm" quyền lực, rồi hùa nhau viết những bài báo và điện thư (E-mail) phóng ra những lời lẽ xú uế chuyền nhau để chửi bới,  hạ  nhục và chụp cho ông Nguyễn Cao Kỳ cái mũ "Việt gian" "trở cờ", "phản bội chính nghĩa quốc gia". Khôi hài hơn nữa, họ còn tuyên bố "khai trừ ông Kỳ ra  khỏi cộng đồng và hàng ngũ người Việt Quốc Gia."

Người viết không phải là bà con thân thiết với ông Kỳ, không hề  chịu ơn ông Kỳ và cũng không hề  trực tiếp gặp mặt ông Nguyễn Cao Kỳ một lần nào. Bình thường, người viết chỉ xem ông Kỳ như là một nhân vật  Xuân Tóc Đỏ trên sân khấu chính trị miền Nam trong những năm 1960-1975, không có gì đáng nói. Thế nhưng,  những hành động "lố lăng" của các "hội đồng chuột" đạo phiệt tại Bắc Mỹ trong thời gian nói trên đã khiến cho người viết ghi lại đây những sự kiện lố lăng này. Làm như vậy, người viết hy vọng rằng thế hệ trẻ hiện nay và các thế hệ sau này sẽ nhìn thấy rõ  chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ  do Giáo Hội La Mã chủ trương cho thi hành ở miền Nam Việt Nam cho đến ngày 30/4/1975 đã làm cho  những người tiếp nhận nền giáo dục này mất hẳn khả năng lý trí để phân tách hầu nhận  ra cái giá trị được sống trong một chế độ tự do dân chủ là phải biết tôn trọng quyền tự do của những người khác. Từ căn bản phải tôn trọng quyền tự do của khác, người viết  xin nêu ra mấy vấn đề  với các ông trong "hội đồng chuột   đạo phiệt" tại Bắc Mỹ này như sau:

1.- Các ông có biết rằng các  hội đòan của các ông chỉ  là các "hội đoàn tương tế" hay không?

2.- Các ông có biết rằng hạ nhục và chửi bới người khác là một hành động mạ lỵ và phải nói chuyện với pháp luật hay không?

3.- Các ông có biết rằng ông Kỳ cũng như bất kỳ một người dân thuộc quốc gia nào khác đã được Hoa Kỳ chấp nhận cho vào sinh sống ở Hoa Kỳ dù là tỵ nạn hay di cư cũng đều phải tuân hành luật pháp  của các chính quyền liên bang, tiểu bang và địa phương nơi họ sinh sống hay không?.

5.- Chẳng lẽ người Việt sống ở Hoa Kỳ đã phải tuân hành lụật pháp của các chính quyền trên đây của Hoa Kỳ mà lại còn phải tuân hành những thứ luật rừng của các "hội đồng chuột đạo phiệt" tại các địa phương của các ông nữa hay sao?

6.- Các ông có biết rằng   tất cả những người được cho phép vào sinh sống ở Hoa Kỳ đều được hưởng các quyền tự do theo hiến định và được pháp luật Hoa Kỳ triệt để bảo vệ hay không?

7.- Phần lớn các ông đều là những người ít nhất đã học hết chương trình lớp 11, trong đó có rất nhiều người có cấp bằng đại học hoặc Quốc Gia Hành Chánh chẳng lẽ lại không hiểu những điều sơ đẳng này hay sao?

8.- Ở Hoa Kỳ và ở tất cả các quốc gia dân chủ tự do thực sự,  các em bé mới học xong bậc tiểu học đều ý thức được rằng sống trong chế độ tự do dân chủ là phải tôn trọng các quyền tự do hiến định của những người khác. Các ông có biết như vậy không?

9.- Phần lớn  chúng ta trước kia đã từng là viên chức trong chính quyền hay sĩ quan trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, hoặc là những  trí thức đã có bằng đại học ở Việt Nam trước đây, mà lại KHÔNG BIẾT  cái giá trị được sống trong chế độ tự do dân là phải biết tôn trọng quyền tự do hiến định của những người khác. Như thế thì có phải rõ ràng là kiến thức tổng quát  của chúng ta không bằng một em bé mới học xong bậc tiểu học ở Hoa Kỳ hay không?

NẾU các ông không biết những điểu nêu ra trên đây, mà lại còn dùng những luận điệu cãi bựa, cãi cối cái chày, rồi dùng những ngôn từ hạ cấp để hạ nhục và chứi bới người viết và những người bất đồng chính kiến với quý vị,   THÌ quả thật là đáng buồn cho miền Nam trong suốt thời kỳ từ tháng 7/1954 cho đến ngày 30/4/1975! 

Sở dĩ xẩy ra tình trạng dở khóc dở cười như vật là do nơi hầu hết mọi người trong chúng ta đã tiếp nhận nền học vấn của chúng ta qua chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ trong thời liên minh giặc Pháp - Thập Ác Vatican thống trị Việt Nam trong những năm 1884-1954 và trong thời hai chế độ  đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Da-tô Nguyễn văn Thiệu ở miền Nam trong những năm 1954-1975. Nếu các ông cứ tiếp tục hành động thiếu văn minh như vậy, người ta sẽ nói rằng các ông không có khả năng thích nghi sống trong một chế độ dân chủ tự do như ở Bắc Mỹ.

Không thể thích nghi sống trong một chế độ dân chủ thì làm sao các ông có thể tranh đấu cho tự do và dân chủ được?

Giáo Hội La Mã và tín đồ Da-tô đã hành xử  theo cung cách "lộn sòng”, "nhận vơ" và "tiếm quyền" (cầm nhầm quyền lực) như vậy  từ thế kỷ 4 cho đến ngày nay. Tín đồ Da-tô suốt đời và hết đời này qua đời khác đều sống trong một môi sinh gồm toàn những người đều hành xử như vậy. Lâu ngày, thói quen này biến thành bản chất trong con người của họ. Cái bản chất ghê tởm này đã ăn sâu vào trong từng nhiễm thể của mỗi tế bào trong cơ thể, rồi trở thành một trong những  nét đặc thù  di tuyền,   truyền tử lưu tôn từ thế hệ này sang thế hệ khác và đời đời cứ như thế. Nét đặc thù này sẽ lên men trên nét mặt của những ông cán bộ các cấp từ áo trắng, áo hồng, áo tím cho đến áo đen cho đến những văn, thi, nhạc, báo nô Da-tô và những người làm việc trong ngành truyền thông hay trong bộ máy tuyên truyền của Giáo Hội.


[1] Trần Bình Nam.  "Một Thế Giới Nhiễu Nhương." nguyen.minh.duc@wanadoo.fr 13 May 2004

[2] Nguyễn Ngọc Ngạn, Xóm Đạo. (Đông Kinh, Nhật Bản: Tân Văn, 2003), tr. 71.

[3] Nguyễn Ngọc Ngạn, Sđd., tr 148.  

[4] Loraine Bottner, Ibid., p. 73-74.

[5] Charlie Nguyễn, Công Giáo Trên Bờ Vực Thm (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2001), tr. 29-30.

[6] Charlie Nguyễn, Sđd., tr. 63-64.

[7] Phan Phát Huồn, Vi?t Nam Giáo Sử Quyển I (Sàigòn: Cứu Thế Tùng Thư,1965), tr 39.

[8] Charlie Nguyễn, Thực Chất Đạo Công Giáo và Các Đạo Chúa (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2003), tr. 75-77.

[9] Phan Đình Diệm,”Mea Culpa – Giáo Hội Công Giáo Roma La-tinh Cáo Thú Tội Lỗi Ngàn Nămwww.kitohoc.com/Bai/Net066.html , ngày 4/5/2000.

[10] Loraine Bottner, Ibid., p. 8

[11] Lý Chánh Trung, Tôn Giáo Và Dân Tộc (Sàigòn: La Thiêng,1973), tr 76.

[12] Lê Hữu Dản, Đặc San Xuân Đinh Sửu 1997 (Fremont, CA: TXB, 1997), tr 23.

[13] Trần Tam Tỉnh, Lưỡi Gươm Và Thập Giá, (Paris, Sudestasie, 1978), trang 126-127

[14] Bernard F. Fall, The Two Vietnams (New York: Frederick A. Praeger, 1964), p. 236.

[15] Đỗ Quang Vinh, Bút Thuật Của  Nguyễn Du trong Đoạn Trường Tân Thanh  (Canada: TXB, 2003), tr 7.

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com