posted: 12.9.2005
Bài 2: 3.- THÓI QUEN TIẾM DANH THIÊN CHÚA Suốt trong chiều lịch sử từ năm
325 cho đến ngày nay,Giáo Hội làm bất kỳ việc lưu manh hay đại gian đại
ác nào cũng nói là "làm cho Thiên
Chúa, làm vì Thiên Chúa và bởi Thiên Chúa mà làm". Dưới đây là
những bằng chứng: Khi phát động các Cuộc Chiến Thập
Tự, Giáo Hội cũng nhân danh Thiên Chúa đem quân đi tàn phá và tàn sát
không biết bao nhiệu triệu tín đồ Do Thái Giáo, Hồi Giáo, Chính Thống
Giáo ở vùng Trung Đông và tín đồ của hệ phái Cathari ở miền Nam nước
Pháp. Khi cho bọn giáo sĩ Da-tô đến kinh thành
Paris thi hành sứ mạng Tô Tần, Giáo Hội cũng nhân danh Thiên Chúa để
thuyết phục chính quyền Pháp xuất quân đánh chiếm và thống trị Việt
Nam để "mở mang nước Chúa". Khi cho thiết lập các Tòa Án Dị
Giáo vào năm 1184, Giáo Hội cũng nhân danh Thiên Chúa sát hại cả gần trăm
triệu nạn nhân trong suốt thời kỳ từ năm đó cho đến mấy thập kỷ
đầu của thế kỷ 19. Khi ra lệnh cho giáo dân phải cưỡng
bách hay chèn ép những người muốn thành hôn với con em của họ, Giáo Hội
cũng nói láo với họ rằng đó là "vì
Chúa mà làm" và "làm để mở
mang nước Chúa". Khi ban hành các thánh lệnh ăn cướp
vào thế kỷ 15 như đã trình bày ở Chương 4, Giáo Hội cũng nhân danh
Thiên Chúa ban đặc quyền cho Bồ Đào
Nha và Tây đem quân đến các quốc gia ở ngoài lục địa Âu Châu để đánh
cướp đất nước của người ta, chiếm đọat tài nguyên, tàn sát đàn
ông, hãm hiếp đàn bà con gái, hủy diệt các nền văn hóa bản địa và cưỡng
bách những người còn sống sót phải theo đạo làm nô lệ cho Giáo Hội. Độc giả cứ xem những hình
ảnh một số quân lính Hoa Kỳ hành hạ và hãm hiếp người dân và phụ nữa
ở Abu Ghraib được đưa ra trước ánh sáng công luận quốc tế qua các cơ
quan truyền thông trong những ngày đầu tháng 5 năm 2004, thì sẽ mường tượng
ra thảm cảnh
của người dân trong các
quốc gia nạn nhân của Giáo Hội bị các đạo quân thập tự Âu Châu xâm
lăng và quân thập tự địa phương hành hạ dã man đến như thế nào! Là
một trong thành phần trong một gia đình
nạn nhân ở xã Tô Công, tỉnh Thái Bình (Liên Khu 3) trong thời Kháng Chiến
1945-1954, người viết xin long trọng khẳng định rằng mức độ hãm hiếp
phụ nữ và hành hạ nạn nhân trong các làng dân lương bị liên quân Pháp
– Vatican hay quân thập tự quân từ các làng đạo tấn công vào còn ghê
gớm gấp bội phần. Sự kiện này cũng được tác giả Trần Bình Nam xác
nhận trong bài viết có tựa đề là Một
Thế Giới Nhiễu Nhương đề ngày 13 tháng 5 năm 2004 trong đó có một đọan với nguyên văn
như sau: "Những vụ bạo hành và giết
chóc xẩy ra nhiều nơi trên thế giới, nhưng không có một quốc gia nào
mà khi sự việc được phanh phui, dân chúng và chính quyền đã phản ứng
một cách quyết liệt như tại Hoa Kỳ. Trong cuộc chiến tranh tái chiếm
Việt Nam từ năm 1946 đến năm 1954, quân đội Pháp đã có những hành
động giết chóc và tàn bạo không khác vụ Mỹ Lai hay Abu Ghraib, nhưng các
giới chức cao cấp truyền thông của Pháp đã đồng lõa giấu nhẹm." [1] Là chứng nhân và cũng là nạn nhân của
liên quân Pháp-Vatican và của những toán lính đạo của xóm đạo Trại Táo (Phụ Dực, Thái Bình) và làng đạo Ninh Cù
(Thụy Anh, Thái Bình) trong những năm 1950-1953, người viết nhận thấy
trong cuộc chiến 1946-1954, bọn lính
Âu Châu và Bắc Phi trong liên quân Pháp -Vatican dã man một phần thì những
lính người Việt Nam và lính đạo Da-tô trong hàng ngũ giặc dã man gấp mười
(10) lần. Một số trong những hành động cực kỳ dã man này đã được
chúng tôi trình bày khá đầy đủ trong Chương 7 (tiểu mục 4) và trong Chương
5 trong sách Nói Chuyện Với Việt Nam Cộng Hòa Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên,
2004) Đó cũng là bằng chứng hùng hồn
nói lên những sự thật ghê tởm của quân lính thập tự của Giáo Hội
ở bất kỳ nơi nào vào bất kỳ thời điểm nào. Đúng là "giang sơn dễ đổi, bản chât khó chừa”.
Cái bản chất dã man của Giáo Hội La Mã là như vậy. Nó đã như thế từ
ngàn xưa, và cho đến ngàn năm sau, nó cũng sẽ như vậy. Cái bản chất
dã man này sẽ bám chặt lấy thân xác Giáo Hội La Mã cho đến ngày nào
cái "Giáo Hội khốn nạn" này không còn nữa. Không có một việc làm lưu manh nào
mà Giáo Hội không lôi Thiên Chúa ra làm bung xung để lòe bịp thiên hạ.
Thật là khốn nạn đến cùng độ của khốn nạn! Trong thực tế, ông
Thiên Chúa này chỉ là sản phẩm tưởng
tượng của bọn lưu manh buôn thần bán thánh đội lốt thày tu người Do
Thái bịa đặt ra vào cái thời bán khai với mục đích dùng ông ta (Thiên
Chúa) làm con ngáo ộp để hù dọa người đời khiến cho những người yếu
bóng vía và những phường ngu dốt khiếp sợ phải đem của lễ đến dâng
cúng cho chúng hưởng thụ. Thấy rằng cái mửng làm ăn kiểu này có thể
củng cố quyền lực và kiếm tiền dế dàng, Giáo Hội La Mã liền chộp lấy
dùng làm cốt lõi để khai triển, biến nó thành một hệ thống tín lý bịp
bợm, xoay quanh cái quyền năng của Thiên Chúa (vốn đã được bọn tu sĩ
lưu manh Do Thái bịa đặt ra trước đó), rồi theo thời gian, đặt thêm ra cả hàng ngàn tín lý bịp bợm khác và
hàng ngàn thứ giáo luật lưu manh để vừa lừa bịp vừa cưỡng bách tín
đồ phải tin theo và phải tuân hành. Có như vậy thì Giáo Hội mới có thể
vừa củng cố được quyền lực vừa móc túi tín đồ và thu vơ được
những khối tiền bạc không lồ chất chứa trong “kho bạc của Chúa” như ngày nay. Vốn đã biết rõ là "KHÔNG
CÓ" ông Thiên Chúa nào cả, Giáo Hội cũng vẫn cứ nằng nằng nặc bảo
rằng "CÓ". Ai không tin thì lập
tức bị gán cho cái tội "tà giáo", "chống Chúa" và
"vô thần". Những người bị gán tội này, NẾU
nằm dưới quyền thống trị trực tiếp của Giáo Hội hay chế độ đạo
phiệt tay sai, THÌ nạn nhân hoặc là bị
tóm cổ, giao cho Tòa Án Dị Giáo xử lý bằng cách đem trói vào một cái cọc,
chụm củi và thiêu sống (như trường hợp bà Jeanne d’ Arc vào năm 1431),
hoặc là bị mật vụ theo dõi, bị tóm cổ, rồi bị thủ tiêu, giống như
những nạn nhân bị chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm thủ tiêu
mà chúng tôi trình bày ở nơi Chương 5 trong cuốn Nói Chuyện Với Việt
Nam Cộng Hòa Foudation (Houston, TX: Đa
Nguyên, 2004). Rút cục, chỉ còn có những hạng người
ngu dốt với chỉ số thông minh dưới mức trung bình (IQ bằng hay nhỏ hơn
90) thì mới tin rằng có một ông Thiên Chúa như Giáo Hội tuyên xưng và
rao truyền. Giáo Hội cũng biết rõ như vậy, cho nên Giáo Hội mới
chủ trương cho thi hành chính sách ngu dân để kìm hãm tín đồ và nhân dân dưới
quyền mãi mãi ở trong tình trạng ngu dốt và nhồi nhét vào đầu óc những
bài học do chính Giáo Hội điều nghiên
và biên soạn: 1.- Bài
học thứ nhất được tóm lược
đại khái như thế này: “Thiên Chúa sinh
ra vũ trụ và muôn loài và giao trách nhiệm cho Giáo Hội xử lý muôn loài
muôn vật ở trên trái đất này. Trách nhiệm của Giáo Hội đới với Thiên
Chúa là phải dạy dỗ cho mọi người
ở trong cõi nhân dan này biết rằng mọi thứ người ta có được đều do
Thiên Chúa ban cho cả. Do đó bổn phẩn của con người là luôn luôn phải
tỏ lòng biết ơn Thiên Chúa và thờ phượng Chúa theo phương cách của
Giáo Hội dạy dỗ. Nếu không nghe lời
dạy dỗ của Giáo Hội thì sẽ bị Thiên Chúa trừng phạt và đày xuống
hoả ngục.” 2.- Bài
học thứ hai đại lược là, “Muốn tỏ
lòng biết ơn và thờ phượng Thiên Chúa đúng như lời Giáo Hội dạy dỗ
thì phải học thuộc lòng những bài kinh cầu do Giáo Hội biên soạn, mỗi
tuân ít nhất một lần phải mang theo của lễ bằng tiền mặt (càng hậu
hĩ càng tốt) đến nhà thờ dâng cúng và dự lễ do linh mục sở tại chủ
tế. Ngoài ra, trong ngày, bất kể là lúc nào, ngay khi vừa mới thức dậy
vào lúc sớm tinh sương, khi bắt đầu uống cà phê ăn sáng, khi di chuyển,
lúc ăn cơm trưa và cơm chiều, khi lên giường ngủ và cả khi thức giấc
vào giữa đêm khuya, cũng phải nhớ đến Thiên Chúa a mà cầu khấu để tỏ
lòng biết ơn Ngài. Có điều gì trăn trở hay bức xúc thì phải đếm tìm
cha sở để giãi bày tâm sự Cha tức là tâm sự với Thiên Chúa.” Hai sự kiện trên đây đã trở thành
thói quen trong nếp sống hàng ngày của tín đồ Da-tô “ngoan đạo” người
Việt từ mấy thế kỷ nay. Sự kiện này được nhà văn Da-tô Nguyễn Ngọc
Ngạn ghi lại trong cuốn Xóm Đạo với nguyên văn như sau: “Từ thuở chưa
có trí khôn, cũng giống như bao nhiêu người Công Giáo khác, anh (Thông) đã
được nuôi dưỡng trong bầu không khí thượng tôn tín ngưỡng, bằng những
giáo điều bất di bất dịch, theo thời gian ngấm dần vào trí óc anh, khiến
anh làm cái gì cũng sợ tội, sợ Chúa trừng phạt.” [2]
“Toàn trại này, dường
như ai cũng sùng đạo như nhau, và sự sùng đạo ấy được thể hiện qua
việc cầu nguyện và đi lễ. Buổi sáng, năm giờ chuông đổ lần thứ
nhất, họ đã lục tục đánh thức cả nhà cùng dậy. Việc đầu tiên
khi chưa bước chân xuống đất, là phải làm dấu thánh giá và đọc vài
kinh nhật tụng. Sau đó, đánh răng rửa mặt, thay quần áo đi lễ. Trên
đường đến nhà thờ, họ không bỏ phí thì giờ, lấy tràng hạt ra vừa
lần chuỗi vừa cầu xin. Vào nhà thờ đọc kinh chung cả tiếng đồng hồ
rồi mới tham dự thánh lễ mà dường như vẫn chưa thấy đủ, họ còn
quì nán lại đọc kinh thêm cho đến lúc tới giờ đi làm. Buổi trưa,
đúng giờ ngọ, chuông nhà thờ lại cất lên, nhắc họ dù đang làm gì,
dù đang ở đâu, cũng phải tạm ngưng tay để làm dấu thánh giá và cầu
nguyện. Tối về, cơm nước xong lại
vội vã đến nhà thờ. Và khoảng 9 giờ tối, trước khi đi ngủ, mọi
gia đình đều tụ tập trước bàn thờ để đọc thêm một loạt kinh nữa
trước khi lên giường! Nói chung, một ngày không biết bao nhiêu lần nhớ
đến Chúa. Ăn củ khoai cũng làm dấu thánh giá. Nửa đêm mất ngủ
cũng ngồi lên lần tràng hạt! Vui cũng cám ơn Chúa, mà buồn cũng coi là
thánh giá Chúa trao cho mình gánh vác! Niềm tin mãnh liệt như thế, cho nên
chẳng lạ gì….” [3]
Bài học
thứ ba đại lược là, “Giáo Hội là
đại diện duy nhất của Thiến Chúa ở trên
trái đấty và Cha sở tại vừa là đại diện của Giáo Hội vừa là đại
diện cho Thiên Chúa ở trong họ đạo. Cho nên những gì Giáo Hội và Cha mục
nói, làm và ra lệnh theo ý Thiên Chúa. Tất cả các con chiên ngoan đạo phải
vâng lời và tuân phục tất cả những lời dạy và lệnh truyền của
Giáo Hội và của các Cha. Khẩu hiệu “Nhất Chúa, nhì Cha, thứ ba Ngô Tổng
Thống.” được nhà văn Nguyễn Ngọc
Ngạn ghi lại nơi các trang 18 và 37 trong cuốn Xóm Đạo nó lên thực trạng
này. Nếu không nghe lời hay nghi ngờ những lời dạy và lệnh truyền của
Giáo Hội và các Cha là mang tội chống Thiên Chúa vì Giáo Hội và Cha đều là đại diện của Thiên Chúa. Nếu
Giáo Hội và các Cha làm gì sai quấy
thì đã có Thiên Chúa phán xét. Là con
chiên ngoan, giáo dân không được phép nghi ngờ hay nói những lời bất
kính đối với Giáo Hội và các Cha.” Người viết tóm lược theo kinh nghiệm
nhiều năm sống trong họ đạo Dốc Mơ (Long Khánh) cùng với và iềhiềuu
năm sống chung với những con chiên ngoan đạo và qua sự tìm hiểu các
sách sử nói về Giáo Hội La Mã. Nếu có điều gì không đúng, mong quý vị
chỉ cho biết. Qua những phần trình bày trên đây,
chúng ta thấy rằng Giáo Hội La Mã và giai cấp tu sĩ Da-tô chiếm giảii quán quân về thâm độc và
là những tay cự phách trong cái kỹ thuật hay tài nghề gian dối. Sư kiện
này được học giả Lucien Vinet tóm lược
trong một câu văn gọn gàng như sau: “Giới tu sĩ Da-tô
biết rõ sự độc ác của Giáo Hội La Mã mà họ vẫn bám chặt
lấy để hưởng lợi. Họ thực sự là quân phản Chúa.” (“The real
traitor,” says Lucien Vinet,” is the Roman priest who knows the wickdness of and yet clingsto it for material gain.”)[4]
Riêng về giới tu sĩ Da-tô giáo dân
Việt Nam, ông Charlie Nguyễn, một học giả Da-tô, viết sách Công Giáo
Trên Bờ Vực Thẳm như sau: “Chúng ta nên
phân biệt hai loại người đối tượng: Loại người thứ nhất là
các tu sĩ Công Giáo và tập thể chính trị gia, trí thức Công Giáo lưu
manh, là bọn xưa nay chỉ vì tư lợi mà
gây ra rất nhiều tội ác chống loại nhân loại và dân tộc. Đối với
loại người này, chúng ta phải xác định họ là kẻ thù nguy hiểm và
chúng ta phải cần đấu tranh diệt trừ không thể khoan nhượng. Đứng đầu
bọn này phải kể đến Hội Đồng Giám Mục, những dòng tu đang biến đức
tin Công Giáo thành một món hàng béo bở để tận dụng khai thác làm giầu
như dòng tu Đồng Công ở Missouiri. Kế đến là bọn chính trị lưu manh
đang ẩn núp trong các đoàn thể ở nhà thờ như Hiệp Sĩ Đoàn. Vào một
lúc nào đó thuận tiện, chúng sẽ mau chóng biến thành những đoàn quân
võ trang hoặc những đoàn quân mật vụ hiếu sát như những đoàn thể của
Linh-mục Hoàng Quỳnh, Lê Hữu Từ, Le Roy hoặc Trần Kim Tuyến. Loại người
thứ hai là tuyệt đại đa số giáo dân, những người mải lo làm ăn,
vô tư chất phác, họ chỉ vì thiếu hiểu biết đã bị các tu sĩ và trí
thức lưu manh lừa gạt kích động, xô đẩy vào những hoạt động phá hoại
đất nước mà họ vô tình không biết.”[5] “Tuyệt đại đa số giáo dân trình độ tâm
linh quá thấp đâu có ngờ khi họ xếp hàng đi xưng tội, chính họ còn
ít tội hơn kẻ ngồi ở phía sau tòa giải tội. Hầu hết các tu sĩ (Da-tô) là những kẻ đại
gian đại ác ngụy trang dưới những lớp áo đen, áo đỏ, áo trắng đóng
vai đạo đức giả để phỉnh gạt tín đồ. Bề ngoài, họ làm ra vẻ thuận
thảo với nhau, thật sự bên trong nội bộ, họ ganh tị tranh đua nhau và sẵn
sàng hạ thủ nhau để tranh quyền đoạt thế. Họ dùng đủ mọi thủ đoạn
để bòn rút tiền bạc xương máu của giáo dân, để xây nhà thờ nguy nga
đồ sộ chỉ cốt để họ được vênh vang với đời. Mái nhà thờ của
họ càng rộng lớn bao nhiêu càng che khuất ánh sáng mặt trời chân lý bấy
nhiêu. Các bức tường của nhà thờ càng cao bao nhiêu càng ngăn cách giữa
con người với nhau bấy nhiêu. Giáo sĩ là những con ký sinh trùng vừa ăn
bám, vừa phá hoại xã hội. Họ tội lỗi cùng mình lại nắm quyền tha tội
cho đám tín đồ ít tội lỗi hơn họ. Họ thực sự là một bọn cướp
nguy hiểm hơn bọn cướp thường vì những kẻ cướp thường đều bị luật
pháp trừng trị. Trái lại, bọn cướp đội lốt giáo sĩ lại được giáo
dân tôn kính, đi lại tự do vênh váo và được xã hội tâng bốc là
“những vị lãnh đạo tinh thần.” Tất cả các tệ nạn này đều xuất
phát từ sự thiếu hiểu biết của đại đa số giáo dân. Do vậy, việc
giáo dục khai sáng tâm linh là vô cùng cần thiết để cứu nước và bảo vệ nền văn hóa nhân bản rất
cao đẹp của dân tộc ta mà tuyệt đại đa số giáo dân không hề biết tới.”
[6] Gian dối đẻ ra gian dối. Quen mui thấy
mùi ăn mãi. Gian dối một lần mà chót lọt rồi thì lại tiếp tục gian dối
nữa và cứ thế mà gian dối hoài hoài. Gian dối hoài hoài sẽ trở thành
thói quen. Thói quen được lập lại nhiều lần và được sử dụng lâu
ngày sẽ trở thành bản chất. Khởi đầu Giáo Hội củng cố quyền lực
và kiếm tiền bằng gian dối. Theo quy luật gian dối đẻ ra gian dối trên
đây, Giáo Hội càng ngày càng trở nên một tổ chức chuyên nghiệp về
gian dối. Cũng vì thế mà chúng ta không lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy
Giáo Hội La Mã và các Ngài "mang chức
thánh" của Giáo Hội "nói dối
như cuội". Đây là nguyên nhân TẠI SAO các nhà viết sử lại cho rằng
"Phần đông các sử gia cho rằng những
chuyện của các giáo sĩ thuật lại là những chuyện hoang đường."[7] Kính nghiệm cho thấy rằng trong xã hội
loài người, có nhiều người mắc chứng bệnh "ăn gian nói đối", nếu "không ăn gian nói dối" thi họ ăn không
ngon, ngủ không yên. Lại cũng có nhiều người có quyền thế mang chứng bệnh
ưa thích sử dụng bạo lực để cưỡng bức những người bất đồng chính
kiến phải đồng ý với họ, phải hành động theo ý họ, và khủng bố
những ai không chịu khuất phục. Trong lịch sử, Giáo Hội La Mã mang cả hai chứng bệnh quái đản trên đây. Người viết xin khẳng định
như vây. Nếu không đúng, xin Giáo Hoàng Benedict XVI, các Ngài mang chức
thánh trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội và quý vị tín đồ Da-tô người Việt có học vị đại học hay tự
coi là trí thức hãy lên tiếng, viết bài phản bác lời khẳng định trên
đây của người viết. Mong lăm thay!. Nếu các ngài im lặng, không lên tiếng,
có nghĩa là các ngài đồng ý với lời khẳng định trên đây của người
viết. Nói cho rõ hơn, các ngài đã đồng ý với chúng tôi rằng "Đạo Kitô La Mã là đạo bịp và đạo của
bạo lực". Người Việt 1.- Cưỡng bách những người thuộc các
tôn giáo hay văn hóa khác phải theo đạo
Gia-tô. 2.- Thi hành chính sách ngu dân và giáo
dục nhồi sọ với chủ đích làm cho tín đồ và nhân dân dưới quyền
ngu đi, không còn khả năng lý trí để nhận ra
tính cách bịp bợm trong các tín lý thần học Kitô, những thủ
đọan lưu manh và gian ác trong những giáo luật và trong những lời dạy dỗ
của Giáo Hội, 3.- Dùng bạo lực của nhà nước để
bịt miệng những người dám nói lên những việc làm gian dối và những
hành động đại gian đại ác của Giáo Hội trong lịch sử cũng như trong
hiện tại. Phương cách thông thường nhất mà Giáo Hội thường sử dụng
là: A.- Chụp cho họ cái mũ "chống
Chúa" và "tà giáo" hay bất
cứ tội ác gì mà người đường thời đang thù ghét. B.- Làm cho tín đồ Da-tô "ngoan đạo" (vốn đã bị làm cho
ngu xuẩn vì chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội) tin rằng
những nạn nhân bị Giáo Hội chụp mũ như trên là một hạng người tội
lõi, xấu xa, đáng khinh bỉ, và làm cho họ (tín đồ) không còn tin vào những
gì do các nhà viết sử chân chính nói về tội ác của Giáo Hội. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng, NẾU vì lý do gì mà Giáo Hội không thể
trừng phạt hay bịt miệng những người
bị gán cho tội "chống chúa",
"tà giáo", "vô thần" hay "Cộng Sản" hoặc
"Cộng Sản nằm vùng", THÌ nhân dân nổi lên đạp đổ Giáo Hội
và các chế độ đạo phiệt tay sai, sẽ hốt hết các đống rác thuyết
lý thần học bịp bợm của Giáo Hội đem vào nhà máy kỹ nghệ chế biến
thành phân bón cung ứng cho nhà nông trồng mùa. Cách Mạng Pháp 1789, Cách Mạng Y 1870, Cách Mạng Mễ Tây Cơ
1857, Cách Mang Tây Ban Nha 1936, Cách Mạng Cuba 1959, Cách Mạng Nicaragua 1979 đã làm như vậy bằng những biện pháp mạnh
để trừng phạt Giáo Hội cùng bộ tu sĩ và tín đồ cuồng tín (sẽ được
trình bầy đầy đủ trong một phần sau). Nhờ vậy, kể từ đó, sách lược
"hàm huyết phún nhân" để vu khống,
sỉ vả, gièm pha các tôn giáo và các thành phần không chịu khuất phục
Giáo Hội không còn hữu hiệu ở Âu Châu như trước. Dù là như vậy, sách lược "hàm huyết phún nhân" này vẫn còn được
Giáo Hội cho áp dụng ở trong các cộng đồng người Việt hải ngọai, nhất
là ở Bắc Mỹ. Hiện nay (tháng 8 năm 2005), ngôi chùa Việt Nam của thày
Thich Pháp Châu ở miền Nam tiểu bang California đã và đang là nạn nhân của
sách lược này do bọn thập ác người Việt ở Nam California chủ trương. Tất cả những việc làm lưu manh như
đã trình bày trên đây đều được Giáo Hội cho lồng vào cụm từ "nhân danh Thiên Chúa", "làm sáng danh Chúa", "mở rộng nước Chúa", "để làm sạch cho danh dự và sự rực rỡ của
Thượng Đế", v.v.. đề hù doạ tín đồ. Thôi thì, không có cái gì là họ không
nhân danh Thiên Chúa, lấy Thiên Chúa ra để hù doạ tín đồ và người đời.
Ngay cả đến việc dụ dỗ, tán tỉnh, sờ mó và làm tình bậy bạ với một
em bé gái mới 13,14 tuổi, họ cũng nhân
danh Thiên Chúa và đem Chúa ra hù doạ để cho nạn nhân khiếp sợ mà chiều
theo ý họ. Đây là chuyện có thực trăm phần trăm được sách sử ghi
lại rõ ràng. Chuyện này sách Thực Chất Đạo Công Giáo và Đạo Các Đạo
Chúa ghi lại một cậu chuyện có thật 100% với nguyên văn như sau: “Chương 6, dưới
tựa đề là "The Silencing Of The
Lambs" (Sự Bịt Miệng Con Chiên), các tác giả cho thấy các nạn nhân bị
lạm dụng đều là bị bịt miệng bởi cha mẹ, thầy giáo và các thủ đoạn
hăm dọa, khủng bố của các tu sĩ phạm pháp. Đối với những
thiếu niên của những gia đình ngoan đạo thì các tu sĩ Công Giáo luôn
luôn được chúng coi là những người thánh thiện (holy men) và có uy tín hơn
cả cha mẹ của chúng. Khi bị các tu sĩ lạm dụng tình dục, chúng không
dám về mách cha mẹ vì sợ bị cha mẹ la mắng hay trừng phạt. Năm 1992,
một số nhà tâm lý học đã phỏng vấn 15 em nhỏ ở Lafayeete, Louisiana bị tu sĩ lạm dụng tình dục. Các em cho
biết đã không dám tố cáo vì bị các linh mục hăm dọa: "Nếu tố cáo
sẽ bị Chúa đầy xuống hỏa ngục" hoặc "mày phải câm miệng, nếu
không, quỷ sẽ bắt mày!" Mấy bé gái bị linh mục sờ mó đã khai:
"Cha nói Chúa đã chọn con để giúp cha biết cái đó thế nào!" Trong chương này
có một chuyện đáng chú ý. Đó là chuyện của Cristine Clark thuộc
giáo phận Joliet, Ngày 15/4/1988,
Cristine ký giấy cam kết không tố cáo. Tuy nhiên, Linh-mục Ed Staphanie bị
nhiều người khác tố cáo nên y bị cảnh sát bắt vào mùa thu năm 1992.”
[8] Giả dụ thực sự có một Chúa vô tư, có đức tính
công bằng, thẳng thắn như ông Bao Công trong đời nhà Tống ở nước
Trung Hoa và đầy lòng nhân ái như Đức Phật Thich Ca và Đức Khổng Tử
như người dân Đông Phương thường quan niệm, và giả thử như có địa
ngục thật sự ở dưới âm phủ thi chắc chắc là Giáo Hội La Mã và toàn thể tu sĩ Da-tô đều phải bị
đầy xuống địa ngục tuốt luốt. Rõ ràng là những thứ như hệ thống tín lý Kitô,
giáo luật, thánh lệnh, tập tục và truyền thống trong đạo Da-tô chỉ
là đồ nghề bịp, những phương tiện
giúp cho Giáo Hội và giới tu sĩ Da-tô lừa
bịp người đời và làm những việc làm tội ác trời không dung đất không
tha mà chuyện ông linh-muc Ed Staphanie dụ
dỗ hôn hít sờ mó và làm tính bất chính với em bé gái Cristine Clark
trên đây chỉ là một hạt cát trong cái sa mạc mênh mông tội
ác của Giáo Hội La Mã và giới tu sĩ Da-tô đã gây ra với danh nghĩa là
“nhân danh Chúa”. Thực ra,
chẳng có ai đã nhìn hay biết được hình dáng ông Thiên Chúa
mà Giáo Hội La Mã vẫn thường nhân
danh và tôn vinh. Chẳng ai biết được ông
ta cao hay lùn, trắng hay đen, mập phì
hay ốm tong ốm teo, mồm ngang mũi dọc như thế nào?. Quay đi quay lại chỉ thấy có "Giáo Hội La Mã" tự
phong là "Giáo Hội Thiên Chúa"
và tự nhận là "đại diện độc nhất
cho Thiên Chúa ở trên trái đất". Cứ giả dụ như là thật sự
có một ông Thiên Chúa như vậy đi nữa thì ông ta cũng không biết nói. Tất
cả mọi người đều nghĩ như vậy và Giáo Hội cũng biết như vây: Thiên Chúa mà biết nói năng, Ắt là Giáo Hội cái răng không còn. Những phần trình bày trên đây cho
chúng ta thấy rõ cái bản chất "ăn không
nói có", “vu oan giá hoạ”, "quay
quắt, lắt léo, lươn lẹo, lật lọng và bịp bợm " của Giáo Hội La Mã
từ thế kỷ 4 cho đến ngày nay quả là siêu việt nhưng cũng vô
cùng trắng trợn và vô liêm sỉ đến cùng độ của vô liêm sỉ.
Từ xưa đến nay, Giáo Hội La Mã và tín đồ Da-tô
thường có thói quen nhận vơ là
“đại diện duy nhất của ông Chúa Jehovah ở trên cõi trần gian này”
để tác oai tác quái với nhân dân dưới quyền như đã nói ở trên, nhận vơ “những danh nhân và tư tưởng lớn của các
bậc vĩ nhânlà của Giáo Hội” để đánh bóng Giáo Hội và đánh
bóng cho bọn tín đồ đại gian đái ác làm tay sai bán nước cho Giáo Hội.
Dưới đây là một số thành tích nhân vơ hay
lộn sòng,
và tiếm quyền (cầm nhầm quyền lực) hoặc
là do chính Giáo Hội La Mã đã làm, hoặc là
bọn văn nô tay sai của Giáo Hội được lệnh tiến hành: Thứ nhất.- Chúng ta thấy Giáo Hội đã từng “nhân vơ” nữ anh hùng dân tộc nước Pháp
là bà Jeanne d’ Arc (1412- 1431) bằng cách phong thánh cho bà vào năm 1920 dù
là chính Giáo Hội đã gán cho bà cái tội “phù thủy” rồi đem thiêu sống
cho đến chết vào năm 1431, và suốt từ năm đó cho tới đầu thế kỷ
20, bộ máy tuyên truyền của Giáo Hội luôn luôn rêu rao rằng bà là con
“mụ thủy gian ác” để biện minh cho
việc Giáo Hội đã xử lý bà một
cách vôn cùng dã man như trên. Tìm hiểu về vụ này, các nhà sừ học đều
thấy rằng, dù cho bộ máy tuyền truyền của Giáo Hội đã sử dụng trăm
phương ngàn kế và hàng ngàn chuyện xấu xa ghê tởm nhất ở trên cõi đời
này để gán cho bà Jeanne d’ Arc. Thế nhưng,
qua bao nhiêu thế kỷ, dân tộc Pháp cũng vẫn coi bà là nữ anh
hùng và cũng là vị cứu tinh của dân tộc. Thấy rằng cả hơn 400 năm vẫn không lay chuyển được ý
chí sắt đá và lòng son sắt của dân tộc Pháp đối với bà, năm 1920, Giáo
Hội mới thay đổi thái độ, quay một góc 180 độ, quyết định phong thánh
cho bà. Thảm trạng trên đây của bà Jeanne d’ Arc được học giả Phan Đình Diệm ghi nhận
như sau: “Thử tưởng tượng
từ ngày Giám-mục Pierre Cauchon (đồng âm với con heo) thiêu sống Bà Thánh
Jeanne d’ Arc, cho đến ngày Bà được phong thánh là hơn 400 năm, các tòa
giảng của Giáo Hội trên khắp cõi Âu Châu phải ăn gian nói dối và vu
oan giá họa cho Bà bao nhiều lần? Giết bà cũng một tay Giáo Hội, phong
thánh cho Bà cũng một tay Giáo Hội, nhưng có mấy ai được may mắn như Bà.
Hầu hết các trọng tội mà Giáo hội phạm tại các “Tòa Điều Tra Dị Giáo” là tội đẻ ra tội
theo cấp số cộng và cấp số nhân.”[9] Thứ hai.- Chúng
ta cũng đã từng biết Giáo Hội luôn luôn chống lại những việc làm
khám phá và phát triển khoa học mà vụ án Galileo
Galilei (1564-1642) là bằng chứng cho sự kiện này. Sự kiện
này được sách Roman Catholicism ghi rõ như sau: “Danh sách những sai lầm,: Giáo Hoàng Pius IX lên án (và được Công Đồng Vatican
phê chuẩn) những phong trào đòi tự do
tôn giáo, tự do hành động theo lương tâm, tự do ngôn luận, tự do báo
chí, lên án cả những khám về khoa học nếu không được sự chấp thuận
của Giáo Hội La Mã và khẳng định quyền lực của Giáo Hoàng phải
bao trùm lên trên quyền lực của các nhà cầm quyền thế tục.” (“Syllabus
of Errors, proclaimed by pope Pius IX (1846-1878) and ratified by the Vatican Council;
condemned freedom of religion, conscience, speech, press, and scientific discoveries which
are disapproved by the Roman Church, asserted the temporal authority over all civil
rulers.” [10] Ấy thế mà bộ máy tuyên truyền của Giáo Hội vẫn
thường rêu rao là Giáo Hội đã thực hiện được nhiều tiến bộ khoa học
hơn tất cả các tôn giáo khác. Thiết tưởng ai cũng biết hành động nhận
vơ này của Giáo Hội. Thứ ba.- Vì Vatican
theo chế độ quân chủ tăng lữ chuyên chế, cho nên tất cả các phong
trào tranh đấu cho tự do, dân chủ, dân quyền và nhân quyền đều bị Giáo Hội chống đối tới cùng:
Chính Giáo Hội vẫn liên tục phủ nhận thuyết tiến hóa của nhà bác học
Charles Robert Darwin (1809-1882), chính Giáo Hội đã công khai phủ nhận quyền
tự do tôn giáo của người dân thuộc các tôn giáo khác, chính Giáo Hội
lên án hệ thống trường học mở cừa cho mọi con em trong xã hội cùng
được đi học chỉ vì Giáo Hội nắm độc quyền giáo dục để nhồi sọ
thanh thiếu niên (Public Schools condemned by pope Pius XI (1922-1939) Loraine Boettner, Ibid., tr 9), chính Giáo
Hội phủ nhận quyền tự do báo chí báo chí của nhân dân. Sự kiện này
đã được giáo sư Lý Chánh Trung ghi rõ như sau: “Đức Giáo Hoàng
Grégoire XVI (1831-1846) đã gọi báo chí là “thứ tự do tai hại nhất, đáng
ghét nhất, kinh tởm nhất mà một số người dám đòi hỏi một cách ồn
ào cuồng nhiệt và quảng bá khắp nơi.” [11] . Sau đó,người lên nối ngôi Grégoire XVI (1831-1846) là
Giáo Hoàng Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878) cũng lên án gắt
gao quyền tự doi báo chí và tất cả mọi thứ quyền tự do khác của người
dân như đã nói trong đoạn văn trích dẫn trong mục “thứ hai” ở trên. Ấy thế mà Giáo Hội và tín đồ Da-tô vẫn bô bô
cái miệng nhận vơ là nhờ có
Giáo Hội La Mã cho nên nền văn minh Tây phương mới tiến bộ được như
ngày nay, nhận vơ rằng Giáo Hội
La Mã luôn luôn tranh đấu cho tự do dân chủ và cho quyền tự do tôn giáo
của nhân loại, và từ năm 1975 cho đến nay, họ vẫn luôn luôn rêu rao
tranh đấu dân chủ tự do tôn giáo ở
Việt Nam. Điểm đặc biệt là họ lớn tiếng nói như vậy không cảm thấy
ngượng miệng chút nào cả. Hình như họ không còn có một chút liêm sỉ
tối thiểu nào cả. Thứ tư.- Việc đưa ra tín lý tín đồ đòi hòi tín đồ phải đến
nhà thờ "xưng tội" để
kể lể và tỏ lòng ăn năn với một ông linh mục về những suy tư, thái
độ, lời nói và hành động mà Giáo Hội cho là tội lỗi, rồi sau đó,
đương sự được ông linh mục này tuyên bố tha thứ cho. Trong việc này,
chúng ta thấy rằng khi ngồi tòa lắng
nghe những lời kể lể về những gì mà đương sự cho là tội lỗi, thì
ông linh mục này đã "tiếm danh" hay
"nhân vơ" tự cho ông ta là Chúa đối với
đương sự. Còn nữa, sau khi nghe đương sự kể lể xong những gì mà
đương sự cho là tội lỗi, ông linh mục này lại "nhân vơ" hay tự phong là
Chúa để tha thứ cho đương sự. Tương tự như vây, khi làm lế trong nhà
thờ hay ở một nơi nào khác, ông ta cũng "nhận vơ" tự phong là Chúa. Không biết trong suốt cuộc
đời hành nghề, mỗi một ông linh mục hay giám mục của Giáo Hội đã
nhân vở là dại diện của Chúa như vậy
là bao nhiêu lần. Chúng ta hãy tưởng tượng xem NẾU có một người
nào “nhân vơ” là đại diện Tổng Thồng Hoa Kỳ để tuyên bố
huyên thiên với người này người khác để làm oai với thiên hạ, THÌ
người đó sẽ bị pháp luật trừng trị ra
sao? Và quần chúng sẽ có cái nhìn như thế nào đối với con người bất
bình thường này? Thứ năm.-
Vào giữa thế kỷ 17, Giáo Hội La Mã
đã ra lệnh cho tên gián điệp Alexander de Rhodes viết cả một cuốn Phép
Giảng Tám Ngày trong đó dành hẳn Chương Ngày Thứ Bốn với tựa đề là “Những Đạo Vạy” để
miệt thị và làm hạ giá các tôn giáo cổ truyền của dân tộc Việt Nam
là đạo Phật, đạo Lão, đạo Khổng và đạo thờ ông bà. Đồng thời, chúng ta cũng thấy rõ vào thập
niên 1860, Giám-mục Puginier viết hẳn một kế hoạch mà các sử gia gọi
là kế hoạch Puginier để triệt hạ đạo Khổng và giai cấp sĩ phu trong
nước ta vào thời bấy giờ. Sự kiện này chứng tỏ rằng cả Giáo Hội
La Mã và tín đồ Da-tô thù ghét đạo Khổng. Tháng 9 năm 1950, khi được Tòa Thánh Vatican cho người
dẫn sang Hoa Kỳ để năn nỉ xin Hoa Kỳ đưa về Viêt Nam làm thủ tướng,
và khi bị bộ ngoại giao Hoa Kỳ tìm
hiểu về đường lối và khả năng chính trị của ông Diệm trong việc
ổn định tình thế Việt Nam nếu được đưa lền cầm quyền, thì chính
Ngô Đình Diệm đã tuyên bố rằng: “ông
tin tưởng vào Vatican và ông chống Cộng cực lực”. Sự kiện này
được nhà viết sử Lương Minh Sơn ghi lại nguyên văn như sau: "Tháng 10 năm
1950, Đức Hồng Y Spellman, Linh-mục McGuire và ba nhân vật Ủy Viên Chính Trị
(politiacal churchmen) của một số giáo phái Thiên Chúa Giáo ở Hoa Kỳ như
Cha Emmanual Jacque, Giám-mục Carroll và Giáo-sư Edmund Walsh đưa Ngô Đình
Diệm và Đức Cha Ngô Đình Thục đi găp một số nhân viên của Bộ Ngọai
Giao Hoa Kỳ tại Khách Sạn Mayflower ở
Washington D.C. Ông Dean Rusk là một trong những nhân vật của Bộ Ngọai Giao
có mặt trong buổi cơm tối hôm đó. Sau này, ông Rusk làm Ngọai Trưởng
Hoa Kỳ từ năm 1961 đến 1969. Mục đích của buổi gặp gỡ xã giao này
là để chính phủ Hoa Kỳ tìm hiểu về tình hình Việt Nam và để xác định
lập trường chính trị của ông Diệm và Đức Cha Thục. Sự kiện 90% dân Việt Nam không phải là tín đồ
Thiên Chúa Giáo không làm ông Diệm quan tâm vì ông đã tuyên bố trong bữa
cơm tối hôm đó rằng ông "tin tưởng vào quyền lực của Vatican và
ông chống Cộng một cách cực lực,:" [COO, Tr. 242].[12] Sau khi được đưa về Việt Nam cầm quyền, ông Diệm
cho tổ chức một đại lễ vô cùng long trọng để hiến dâng nước Việt
Nam cho đế quốc Vatican với danh nghĩa là “Dâng nước Việt Nam cho Đữc Mẹ Vô Nhiễm”. bằng một cuộc đại lễ vô cùng long trọng vào tháng 2-1959. Buổi lễ
này được đặt dưới quyển chủ tọa của Hồng Y Agagianian, vị đại diện
của Tòa Thánh “Quả thế, Đức Mẹ
cũng bi đưa vào môi trường của chủ nghĩa hiếu thắng huênh hoang, nhất
là nhân dịp Đại Hội Thánh Mẫu tháng 2 năm 1959, có Hồng Y Agagianian, sứ
thần của Đức Giáo Hoàng qua chủ sự. “Ba trăm ngàn giáo hữu đã đi
theo cuộc rước khổng lồ trong này kết thúc, sau đó hồng y đã long trọng
dâng nước Việt KHI một
ký giả người Pháp tiếp xúc với ông Diệm và muốn gợi ý ông Diệm chịu
ảnh hưởng của nền văn hoá Pháp và dù là Thiên Chúa La Mã thì cũng v
vương vương tinh thần Cách Mạng Pháp 1789, THÌ ông Diệm lập tức phủ nhận
và xác nhận rằng ông là tín đồ
Da-tô cuồng tín giống như tín đồ Da-tô người Tây Ban Nha trong thời
Trung Cổ. Sự kiện này được sử gia Bernard F. Fall ghi nhận như sau: "Tính hiếu chiến của ông Ngô Đình Diệm
thuộc loại như thế này: Lòng tin đạo đã biến ông ta thành con người
hiếu chiến đến độ tàn nhẫn như một vị Đại Pháp Quan của Tòa Án Dị
Giáo trong thời Trung Cổ ở Tây Ban Nha. Quan điểm của ông ta về chính
quyền là hình ảnh của một bạo chúa theo truyền thống quan lại phong kiến
hơn là hình ảnh của một tổng thống theo hiến định của một nước cộng
hòa. Một người Pháp theo đạo Kitô La Mã khi nói chuyện với ông ta cố
ý cao giọng những tiếng "tín ngưỡng của chúng ta" thì ông ta thản
nhiên trả lời rằng: "Ông biết mà, tôi tự coi tôi như là một tín hữu
Kitô La Mã giống như người Kitô Tây Ban Nha," thế có nghĩa ông ta
là một đứa con tinh thần (của Giáo Hội La Mã) với niềm tin hung hăng, dữ
tợn và hiếu chiến hơn là một tín đồ dễ
dãi và khoan dung giống như người Pháp theo đạo Kitô La Mã." ("Ngo Dinh Diem's militancy is of that
kind: His faith is made less of the kindness of the apostles, than of the ruthless
militancy of the Grand Inquisitor; and his view of government is made less of the
constitutional strength of a President of the republic than of the petty tyranny of a
tradition-bound mandarin. To a French Catholic interlocutor who wanted to emphazise Diem's
bond with French culture by stressing "our common faith," Diem was reported to
have answered calmly: "You know, I consider myself rather as a Spanish
Catholic," i.e., a spiritual son of a fiercely aggressive and militant faith rather
than of the easygoing and tolerant approach of Gallican Catholicism."[14] Mấy sự kiện lịch sử trên đây chứng tỏ ông Ngô Đình Diệm là một tín đồ “ngoan
đạo” của Giáo Hội La Mã, luôn luôn tuyệt đối vâng lời Giáo Hội dạy
dỗ, sẵn sàng thi hành triệt để những lệnh truyền của Tòa Thánh
Vatican. Như đã nói trên. Giáo Hội La Mã dạy dỗ tín đồ
Gia-tô, trong đó có ông Ngô Đình Diệm, phải thù ghét đạo Khổng, đạo
Phật, đạo Lão, và phải thù ghét tất
cả các thành phần thuộc tôn giáo khác không chịu khuất phục Tòa Thánh
Vatican. Như vậy là cả về suy tư, thái độ, hành động và cung cách ứng
xử hay đạo xử thế của ông Diệm nhất
nhất đều theo đúng lời dạy của Giáo Hội không sai một dấu phẩy hay
dấu chấm nào cả. Nói cho rõ hơn, ông Diệm thù ghét đạo Khổng và tất
cả các tôn giáo khác đến tận xương tận tủy, giống y hệt như ông
Linh-mục Alexandre de Rhodes đã viết ra thành sách để dạy dỗ tín đồ
Da-tô người Việt như đã trình bày ở trên.
Ấy thế mà, có lẽ vì uy tín của đạo Khổng quá
lớn đồi với toàn thể nhân dân thế giới, không biết là do lệnh từ
Giáo Hội La Mã, hay là do anh em ông Ngô Đình Diệm tự ý ra lệnh cho bọn
văn nô, sử nô gọi ông Diệm là “nhà Nho”,
và lấy “bụi trúc” in lên trên con dấu của chế
độ với ý nghĩa là “tiết trực tâm hư”
làm ra vẻ ông ta có cái “tiết tháo”
của nhà Nho để lạc dẫn nhân dân Việt Nam và dư luận thế giới. Đây
là một hành động lộn sòng. hay mập mờ đánh
lận con đen. Việc làm gian lận
này đã có hiệu quả làm cho một sử giả người ngọai quốc
là ông Denis Warner tưởng lầm ông Ngô Đình Diệm là một nhà Nho thực sự, rồi
viết một cuốn sách vời tựa đề là "The Last Confucian"
(New York, The Macmillan Company, 1963) để
nói về một giai đọan lich sử hiện đại của Việt Nam trong đó có vai
trò ông Diêm. Tuy nhiên “vải thưa không
che đưộc mắt thánh”, “cốt khỉ vẫn hoàn cốt khỉ”. Dù
cho Giáo Hội hay tín đồ Da-tô người
Việt có tô son điểm phấn đánh bóng
cho tên Da-tô cuồng tín Ngô Đình Diêm đến mức nào đi nữa thì truớc
con mắt của nhân dân Việt Nam, Ngô Đình
Diệm vẫn là một tín đồ Da-tô cuồng tínvà cũng là tên tam đại Việt gian với những thành tích
bán nước cho Đế Quốc Vatican, cho Pháp, cho Nhật và cho Mỹ. Thứ sáu.- Có lẽ vì biết rõ như vậy, cho nên
Giáo Hội mới ra lệnh cho bọn tín đồ
văn nô trong
cái tổ chức gọi là Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Viêt Nam
(Cuội) biên soạn cuốn sách mang tên là “Anh
Hùng Nước Tôi” (San Jose, CA:, Đông
Tiến, 1986), với chủ ý là cho lộn sòng cái tên phản thần Tam Đại Việt Nam họ Ngô này vào ngồi chung với những anh
hùng dân tộc Việt Nam thứ thiệt đã từng
quyết tâm liều thân hy
sinh đánh đuổi quân cướp xâm lăng bạo tàn từ phương Bắc và từ Âu
Châu trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước, mở nước và giữ nước
của dân tộc ta. Khi làm như vậy, bọn người cuồng nô vô tổ quốc này có manh tâm lạc dẫn người đọc và hậu
thế lầm tưởng rằng tên tam đại Việt gian khốn kiếp họ Ngô này cũng là một anh hùng dân tộc như hàng
trăm anh hùng dân tộc thứ thiệt có tên ở trong cuốn “gian thư” này. Thứ bẩy.- Mới đây, ông Gia-tô Lê Hữu Mục
cũng nhận
vơ, cho rằng trước khi viết Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du cũng đã
đọc thánh kinh Ki-tô. Vì thế cho nên kiệt tác này cũng có ảnh hưởng của
tư tưởng Thiên Chúa Giáo. Sư kiện này đuợc học giả Đỗ Quang Vinh ghi
lại trong tác phẩm Bút Thuật Của Nguyễn Du trong Đọan Trường Tân Thanh
với nguyên văn như sau: "Hoặc như học
giả Lê Hữu Mục, mới đây nhất, lại cho rằng, trước khi viết Truyện
Kiều, Nguyễn Du đã đọc Thánh Kinh và trong tư tưởng của Nguyễn
Du không hẳn chỉ tìm thấy vết tích của Phật, Lão, Nho mà còn cả Thiên
Chúa Giáo nữa."[15][
Thứ tám.- từ tháng 4 năm 1975, con số người
Việt sống ở hải ngọai càng ngày càng nhiều. Trong cảnh sống lưu vong
bơ vơ nơi quê người xứ la, lạ ngôn ngữ, lạ phong tục, lạ đủ mọi
thứ, họ cảm thấy thiếu tình quê hương,
thiếu tình dân tộc và khao khát được gặp những người đồng hương để
tâm sự với nhau bất kể gì là khác
nhau về tôn giáo. Vì vậy mà họ mới hẹn nhau vào những buổi chiều hay
những ngày cuối tuần để họp mặt quây
quần nói chuyện tầm phào cho ấm
lòng trong cảnh tha hương. Cũng vì vậy
mới nầy sinh ra phong trào thành lập hội đoàn với mục đích tương tợ
giúp đỡ lẫn nhau và bầu ban đại diện cho tập thể với nhiệm vụ tìm
xem NẾU các chính quyền liên bang, tiểu bang và địa phưong có những chương
trình hay biện pháp gì giúp đỡ người Việt tỵ nạn thì thông báo cho
nhau biết và giúp đỡ nhau để làm những thủ tục giấy tờ xin được
thụ hưởng. Như vậy, trong thực tế, các hội đòan này chỉ là các hội
tương tế. Giấy xin phép và giấy cho phép của chinh quyền tiểu bang cũng ghi rõ là
hội tương tế. Thế rồi, từ cuối thập niên 1970 trở đi, tuy rằng
trên pháp lý, giấy phép hoạt động của
các hội đoàn vẫn là những hội đoàn tương tế, không phải là một đảng
phái chính trị, nhưng trong thực tế, các hội đoàn này đã bị những người
chịu ảnh hưởng sâu nặng của cái thế lực có chủ trương "thần quyền chỉ đạo thế quyền"
biến thành một chính quyền đạo phiệt Da-tô riêng đối với người
Việt trong cộng đồng địa phương. Đây là một hành động "tiếm đọat"
hay "nhận vơ" hoặc "cầm nhầm" quyền lực ở
trong các cộng đồng người Việt tại Bắc Mỹ. Kể từ đó, người Việt nào trong cộng đồng bất
đồng chính kiến với những người trong ban đại diện của hội đoàn (xin gọi là "hội đồng chuột")
liền bị họ chup cho cái mũ "phá họai
cộng đồng", "cộng sản
năm vùng" và "cán bộ cộng
sản" . Dần dần, cái mũ này được sử dụng để chụp cho các văn nghệ sĩ có những ấn phẩm có nội dung nói lên những
lỗi lầm và tội ác của hai chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm
và quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu ở miền Nam trong những năm
1954-1975 hay bộ mặt thât của Giáo Hội La Mã. Đồng thời, cái mũ này cũng
được sử dụng để chụp cho các nhà tu hành Phật giao từ Việt Nam sang
Mỹ tham quan và các nhà sư ở Bắc Mỹ không chịu khuất phục đi theo họ
để hò hét phóng ra những lời lẽ xú uế để chửi bới và sỉ vả chính quyền Việt Nam hiện nay. Từ
mấy chục hai chục năm nay, thày Thích
Pháp Châu tại Chùa Phật Giáo Việt Nam (12292 Magnolia Street, Garden Grove, CA 92641) đã và đang là nạn nhân của
cái tệ trạng "tiếm quyền" hay "nhân vơ" quyền lực của
bọn cuồng nô vô tổ quốc mang danh là người Việt đang định cư ở Nam
California.. Thứ tám.- Mới đây, trong những tuần lễ cuối
năm 2003 và đầu năm 2004, trong thời gian ông Nguyễn Cao Kỳ về thăm Việt
Nam và trở lại Hoa Kỳ, bọn văn nô Da-tô và
nhiều "hội đồng chuột" đạo phiệt
trên đây cũng lại "nhận vơ" hay "cầm nhầm" quyền lực, rồi hùa
nhau viết những bài báo và điện thư (E-mail) phóng ra những lời lẽ xú uế
chuyền nhau để chửi bới, hạ nhục và chụp cho ông Nguyễn Cao Kỳ cái mũ
"Việt gian" "trở cờ", "phản bội chính nghĩa quốc gia".
Khôi hài hơn nữa, họ còn tuyên bố "khai
trừ ông Kỳ ra khỏi cộng đồng và
hàng ngũ người Việt Quốc Gia." Người viết không phải là bà con thân thiết với
ông Kỳ, không hề chịu ơn ông Kỳ
và cũng không hề trực tiếp gặp mặt
ông Nguyễn Cao Kỳ một lần nào. Bình thường, người viết chỉ xem ông Kỳ
như là một nhân vật Xuân Tóc Đỏ trên
sân khấu chính trị miền Nam trong những năm 1960-1975, không có gì đáng
nói. Thế nhưng, những hành động
"lố lăng" của các "hội đồng chuột" đạo phiệt tại Bắc
Mỹ trong thời gian nói trên đã khiến cho người viết ghi lại đây những
sự kiện lố lăng này. Làm như vậy, người viết hy vọng rằng thế hệ
trẻ hiện nay và các thế hệ sau này sẽ nhìn thấy rõ chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ do Giáo Hội La Mã chủ trương cho thi hành
ở miền Nam Việt Nam cho đến ngày 30/4/1975 đã làm cho những người tiếp nhận nền giáo dục
này mất hẳn khả năng lý trí để phân tách hầu nhận ra cái giá trị được sống trong một chế
độ tự do dân chủ là phải biết tôn trọng quyền tự do của những người
khác. Từ căn bản phải tôn trọng quyền tự do của khác, người viết xin nêu ra mấy
vấn đề với các ông trong "hội đồng chuột
đạo phiệt" tại Bắc Mỹ này như sau: 1.- Các ông có biết rằng các hội đòan của các ông chỉ là các "hội đoàn tương tế" hay không? 2.- Các ông có biết rằng hạ nhục và chửi bới
người khác là một hành động mạ lỵ và phải nói chuyện với pháp luật
hay không? 3.- Các ông có biết rằng ông Kỳ cũng như bất kỳ
một người dân thuộc quốc gia nào khác đã được Hoa Kỳ chấp nhận cho
vào sinh sống ở Hoa Kỳ dù là tỵ nạn hay di cư cũng đều phải tuân
hành luật pháp của các chính quyền
liên bang, tiểu bang và địa phương nơi họ sinh sống hay không?. 5.- Chẳng lẽ người Việt sống ở Hoa Kỳ đã phải
tuân hành lụật pháp của các chính quyền trên đây của Hoa Kỳ mà lại
còn phải tuân hành những thứ luật rừng của các "hội đồng chuột đạo phiệt" tại các
địa phương của các ông nữa hay sao? 6.- Các ông có biết rằng
tất cả những người được cho phép vào sinh sống ở Hoa Kỳ
đều được hưởng các quyền tự do theo hiến định và được pháp luật
Hoa Kỳ triệt để bảo vệ hay không? 7.- Phần lớn các ông đều là những người ít nhất
đã học hết chương trình lớp 11, trong đó có rất nhiều người có cấp
bằng đại học hoặc Quốc Gia Hành Chánh chẳng lẽ lại không hiểu những
điều sơ đẳng này hay sao? 8.- Ở Hoa Kỳ và ở tất cả các quốc gia dân chủ
tự do thực sự, các em bé mới học
xong bậc tiểu học đều ý thức được rằng sống trong chế độ tự
do dân chủ là phải tôn trọng các quyền tự do hiến định của những
người khác. Các ông có biết như vậy không? 9.- Phần lớn chúng
ta trước kia đã từng là viên chức trong chính quyền hay sĩ quan trong quân
đội Việt Nam Cộng Hòa, hoặc là những trí
thức đã có bằng đại học ở Việt Nam trước đây, mà lại KHÔNG BIẾT cái giá
trị được sống trong chế độ tự do dân là phải biết tôn trọng quyền
tự do hiến định của những người khác. Như thế thì có phải
rõ ràng là kiến thức tổng quát của
chúng ta không bằng một em bé mới học xong bậc tiểu học ở Hoa Kỳ hay
không? NẾU các ông không biết những điểu nêu ra trên đây,
mà lại còn dùng những luận điệu cãi bựa, cãi cối cái chày, rồi dùng
những ngôn từ hạ cấp để hạ nhục và chứi bới người viết và những
người bất đồng chính kiến với quý vị,
THÌ quả thật là đáng buồn cho miền Nam trong suốt thời kỳ
từ tháng 7/1954 cho đến ngày 30/4/1975! Sở dĩ xẩy ra tình trạng dở khóc dở cười như vật
là do nơi hầu hết mọi người trong chúng ta đã tiếp nhận nền học vấn
của chúng ta qua chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ trong thời liên
minh giặc Pháp - Thập Ác Vatican thống trị Việt Nam trong những năm
1884-1954 và trong thời hai chế độ đạo
phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Da-tô Nguyễn văn Thiệu ở miền
Nam trong những năm 1954-1975. Nếu các ông cứ tiếp tục hành động thiếu
văn minh như vậy, người ta sẽ nói rằng các ông không có khả năng thích
nghi sống trong một chế độ dân chủ tự do như ở Bắc Mỹ. Không thể thích nghi sống trong một chế độ dân
chủ thì làm sao các ông có thể tranh đấu cho tự do và dân chủ được? Giáo Hội La Mã và tín đồ Da-tô đã hành xử theo cung cách "lộn sòng”,
"nhận
vơ" và "tiếm quyền" (cầm nhầm quyền lực) như vậy từ thế kỷ 4 cho đến ngày nay. Tín đồ
Da-tô suốt đời và hết đời này qua đời khác đều sống trong một môi
sinh gồm toàn những người đều hành xử như vậy. Lâu ngày, thói quen
này biến thành bản chất trong con người của họ. Cái bản chất ghê tởm
này đã ăn sâu vào trong từng nhiễm thể của mỗi tế bào trong cơ thể,
rồi trở thành một trong những nét đặc
thù di tuyền,
truyền tử lưu tôn từ thế hệ này sang thế hệ khác và đời
đời cứ như thế. Nét đặc thù này sẽ lên men trên nét mặt của những
ông cán bộ các cấp từ áo trắng, áo hồng, áo tím cho đến áo đen cho
đến những văn, thi, nhạc, báo nô Da-tô và những người làm việc trong
ngành truyền thông hay trong bộ máy tuyên truyền của Giáo Hội. [1] Trần Bình [2] Nguyễn Ngọc Ngạn, Xóm Đạo. (Đông Kinh, Nhật Bản: Tân Văn, 2003), tr. 71. [3] Nguyễn Ngọc Ngạn, Sđd., tr 148. [4] Loraine Bottner, Ibid., p. 73-74. [5]
Charlie Nguyễn, Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm
( [6] Charlie Nguyễn, Sđd., tr. 63-64. [7]
Phan Phát Huồn, Vi?t [8]
Charlie Nguyễn, Thực Chất Đạo Công Giáo
và Các Đạo Chúa ( [9] Phan Đình Diệm,”Mea Culpa – Giáo Hội Công Giáo Roma La-tinh Cáo Thú Tội Lỗi Ngàn Năm” www.kitohoc.com/Bai/Net066.html , ngày 4/5/2000. [10] Loraine Bottner, Ibid., p. 8 [11]
Lý Chánh Trung, Tôn Giáo Và Dân Tộc
(Sàigòn: Lử [12] Lê Hữu Dản, Đặc San Xuân Đinh Sửu 1997 (Fremont, CA: TXB, 1997), tr 23. [13] Trần Tam Tỉnh, Lưỡi Gươm Và Thập Giá, (Paris, Sudestasie, 1978), trang 126-127 [14]
Bernard F. Fall, The Two [15]
Đỗ Quang Vinh, Bút Thuật Của Nguyễn |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com