905-gd.gif (2472 bytes)

posted: 12.9.2005

Bài 3:

7. NHỮNG THÀNH TÍCH LƯƠN LẸO
CỦA TOÀ THÁNH VATICAN

Nguyên tắc của các nhà viết sử chân chính là khi trình bày một vấn đề gì thì phải trưng dẫn bằng chứng đúng theo nguyên tắc "nói có sách, mách có chứng",lời nói phải  rõ ràng, minh bạch và rạch ròi, và không được phép "nói trổng, nói vô trách nhiệm" hay "chụp mũ" hoặc "vu khống" cho bất kỳ cá nhân hay thế lực được đề cập đến trong đề tài. Trái lại, trong những ấn phẩm của bọn văn nô, sử nô Da-tô, chúng tha thường thấy tình trạng nói trổng (tuyên bố võ đoán,) nói vô trách nhiệm, chụp mũ và vu khống những người hay thế lực liên hệ đến đề tài mà họ không ưa thích với mục đích chửi bới và mạ lị những nạn nhân này, giống như Giáo Hội đã ở Âu Châu trong thời Trung Cổ. Ngoài ra, họ lại còn có những luận điệu bằng những lý luận cùi nhầy, lươn lẹo, cãi chày cãi cối để lấp liêm tội ác hay đánh bóng cho Giáo Hội La Mã và các chế độ đạo phiệt Da-tô. Những đặc tính và thói quen rất Da-tô này đã và đang xẩy ra ở tất cả những nơi nào có  bàn tay quyền lực của Giáo Hội La Mã vươn tới. Dưới đây là một số những thành tích lươn lẹo của Giáo Hội La Mã và của cán bộ tuyên truyền của Giáo Hội:

Thứ nhất.-  Chúng ta thấy trong những năm chót của thế kỷ 20, ít nhất Giáo Hoàng John Paul II đã hai lần sử dụg cụm từ “bảo vệ chân lý” để biện hộ cho những việc làm tội ác của Giáo Hội trong gần hai ngàn năm qua. Một lần vào khi cáo thú tội ác với Chúa  vào ngày 12/3/2000, Ngài nói, "Chúng tôi xin tha thứ vì những..., vì việc sử dụng bạo lực mà một số Kitô hữu  đã dùng trong khi bảo vệ chân lý" [1], và một lần khác, Ngài sử dụng cụm tù này trong  lời tuyên bố ở nước Pháp được ông Phan Đình  Diệm ghi lại như sau: "Trong lần công du nước Pháp  lần sau cùng, Ngài cáo thú "Tội ác của Giáo Hội về việc sử dụng bạo lực đẫm máu để bảo vệ chân lý" [2] . Do đó, người viết sử dụng cụm từ này làm chủ đề trong tiểu mục này.

Tìm hiểu lịch sử về những việc làm tội ác của Giáo Hội trong gần hai ngàn năm qua và phân tách cụm từ “bảo vệ chân lý” trong hai câu văn trên đây của Giáo Hoàng John Paul II, chúng ta thấy nó không những đã không ổn, mà còn "ngược ngạo" nữa. Dưới đây là phần chứng minh:

Chúng ta đặt ra vấn đề là "Ai  hay thế lực nào đã làm gì đụng chạm đến quyền lợi của Giáo Hội mà Giáo Hội phải "bảo vệ"?

Trong gần hai ngàn năm qua, với những thành tích "làm sáng danh Chúa" trong tham vọng bá quyền "mở mang nước Chúa" bằng "chính sách bất khoan dung" đối với những nhóm dân thuộc các tôn giáo khác, Giáo Hội La Mã đã gây nên những núi tội ác mà Giáo Hòang John Paul II và các nhân vật cao cấp trong giáo triều Vatican phải đứng ra cáo thú vào ngày 12/3/2000.  Lịch sử cho thấy rằng, không có một thế lực  nào đem quân đến Âu Châu đàn áp tín đồ Da-tô, mà tại sao Giáo Hội lại bảo rằng “việc sử dụng bạo lực đẫm máu trong khi bảo vệ chân lý”?  Giáo Hoàng John Paul II tuyên bố như vậy, nghe có được không? Thật là vô cùng ngang ngược!

Không ai có thể phủ nhận được những sự kiện dưới đây:

1.- Chính Giáo Hội  La Mã đã chọn ông thượng đế bạo ngược Jehovah hay Đức Chúa Cha quái đản này để thờ phượng, rồi bắt chước ông thượng đế bạo ngược này để làm những việc vừa bạo ngược vừa quái đản cho nên mới gây ra những rặng núi tội ác như vậy.

2.- Chính Giáo Hội đã và đang dùng cuốn Thánh Kính có những chuyện láo khóet và những chuyện loạn luân dâm loàn làm tài liệu dạy dỗ tín đồ, để rồi chính Giáo Hội cũng đã nói láo như trong thánh kinh, cũng đã có rất nhiều ông giáo hoàng và rất nhiều tu sĩ tàn ngược, dã man, sống đời phóng đãng, loạn luân dâm loàn còn tệ hơn tất cả những bạo chúa và hôn quân  khác trong lịch sử nhân loại. (Sẽ được trình bày đầy đủ ở Chương 15).  Giáo Hoàng và các ông tu sĩ là những người "mang chức thánh", là "các đấng bề trên" đem những "lời thánh dạy" ra dạy dỗ tín đồ rằng "phải tuyệt đối vâng lời và tuân phục các đấng bề trên", phải theo gương các đấng bề trên mà hành xử đối với mọi người, thì tất nhiên là tín đồ phải nhìn những cung cách hành xử của các Ngài mà noi theo và bắt chước. Chính vì thế mà họ cũng độc ác và tàn ngược như các Ngài, cũng quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, lật lọng và bịp bợm như các Ngài, cũng sống đời phóng đãng, loạn luân, dâm loàn, vô lương tâm và vô trách nhiệm như các Ngài.

3.-Chính Giáo Hội đã bịa đặt ra (nói láo) những chuyện hoang đường như thiên đường, địa ngục, những tín lý Chúa Cứu Thế,  Chúa Ba Ngôi, Đức Mẹ Đồng Trinh, nơi Luyện Ngục (Purgatory) các phép bí tích, phép mầu, Đức Mẹ hiện xuống cùng chuyện "có Chúa che chở" để lừa bip người đời và dùng bạo lực để cưỡng ép nạn nhân phải tin theo.

4.- Chính Giáo Hội đã phát động hàng chục cuộc chiến thập tự, dẫn quân đi giết người, cướp của, hãm hiếp phụ nữ, tàn sát tín đồ thuộc các hệ phái Thiên Chúa Giáo khác như Hồi Giáo, Do Thái Giáo, Chính Thống Giáo, ở  vùng Cận Đông và tín đồ Cathari ở miền Nam nước Pháp.

5.- Chính Giáo Hội đã cho thiết lập các tòa án dị giáo vào năm 1184 trong thời Giáo Hoàng Lucius III (1181-1185) và được Công Đồng Verona (council of Verona) thông qua cũng vào năm này để làm công cụ tàn sát gần 100 triệu  lương dân vô tội bị Giáo Hội gán cho là “tà giáo”.

6.- Chính Giáo Hội đã cho thi hành chính sách đế quốc thực dân xâm lược qua việc ban hành các sắc lệnh vào những năm  1452, 1454 và 1493.(đã được nói rõ trong Chương 4)

7.- Chính Giáo Hội  đã sai phái các tay tổ gián điệp với danh nghĩa là các nhà truyền giáo đến các lục địa Phi, Mỹ và  Á châu với nhiệm vụ thâu thập các tin tức tình báo chiến lược tại các nơi này làm tài liệu chuẩn bị cho việc đem quân đi đánh chiếm đất đai làm thuộc địa để "mở mang nước Chúa" theo đúng tinh thần của thánh lênh Romanus Pontifex được ban hành vào ngày  8 tháng 1 năm 1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1455). Cũng vỉ thế mà châu Mỹ La Tinh, Phi Luật Tân, Việt Nam, nhiều  quốc gia khác ở các lục địa Á Phi cũng như các nhóm dân sống trên các quần đảo và  đảo ở khắp các đại dương đều trở thành nạn nhân của Giáo Hội.

8.- Chính Gíáo Hội  đã liên minh với các đế quốc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đem quân đi đánh chiếm các vùng đất ở Phi Châu, Châu Mỹ La Tinh và Phi Luật Tân. Tại các vùng đất này, chính Giáo Hội đã sử dụng các Toà Án Di Giáo (Inquisitions), thẳng tay tàn sát  gần hết các dân tộc bản địa, hủy diệt gần hết nền văn hóa  và văn minh của họ.

9.- Chính Giáo Hội  đã có chủ tâm đánh chiếm Đông Dương làm thuộc địa rồi gửi người đi vận động  chính quyền Pháp liên kết với Giáo Hội và xuất quân  đánh chiếm và thống trị Đông Dương làm thuộc địa.

10.- Trong năm 1945, chính Giáo Hội đã cấu kết với chính quyền Pháp dưới quyền lãnh đạo của Tướng Charles de Gaulle trong việc đưa  cựu Linh-mục Thierry d’ Argenlieue lên giữ chức vụ Cao Uỷ Đông Dương vào ngày 17/8/1945 với trách nhiệm tái chiếm Đông Dương và thi hành chính sách “chia để trị” với kế sách xé nước Việt Nam ra thành những   mảnh vụn theo biên giới địa lý, sắc tộc và tôn giáo, rồi biến những mảnh vụn này thành những tiểu quốc theo đạo Da-tô bằng kế sách dùng người Việt đánh người Việt và dùng tín đồ Da-tô cai trị đại khối nhân dân thuộc các tôn giáo khác.

11.- Chính Giáo Hội đã đem ông Da-tô Ngô Đình Diệm sang Mỹ để vận động đưa ông ta về cầm quyền ở Viêt Nam làm tay sai cho Giáo Hội.

12.- Chính Giáo Hội đã đặt ra giáo luật cưỡng bách những người thuộc các tôn giáo khác muốn thành hôn với tín đồ của Giáo Hội thì  phải học giáo lý và làm lễ rửa tội theo đạo Gia-tô trước rồi mới được làm lễ hôn phối.

13.- Các dân tộc tại Phi, Mỹ và Á Châu đều không hề đem quân lính đến  Âu Châu chiếm đất và cưỡng bách tín đồ Gia-tô phải theo tín ngưỡng của họ. Trái lại, các dân tộc này là nạn nhân của Giáo Hội.

14.- Phật giáo, Khổng giáo, Lão giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Thần đạo, Chính Thống giáo và Tin Lành, đều  không hề  phát động thánh chiến đem quân đến Tây và Nam Âu   đánh chiếm đất đai và tàn sát tín đồ Da-tô. Trái lại, các tôn giáo này là nạn nhân của Giáo Hội.

Tất cả   những hành động tội ác trên đây đều do Giáo Hội chủ động cả. Có chỗ nào Giáo Hội ở “tư thế bị động” hay ở trong “tình trạng phải tự vệ” đâu mà bảo rằng: “Giáo Hội phải sử dụng bạo lực trong khi bảo vệ chân lý.” Gíáo Hội nói như vậy có nghe được không? Giáo Hội nói như vậy thì quả thật là “Miệng kẻ sang có gang có thép”, tha hồ “nói ngang nói ngược.” Thú thực, chúng tôi cảm thấy lợm giọng quá!

Thứ hai.-  Sự kiện Giáo Hội La Mã khẳng định và rêu rao   rằng đạo Kitô là đạo của “chân lý” khiến cho chúng ta thấy rõ cái bản chất  lố bịch, trịch thượng, trí  trá và gian dối của Giáo Hội La Mã.  Ai  cũng biết rằng hệ thống tín lý thần học làm nền tảng cho đạo Kitô La Mã là "một tập hợp những ý kiến" có tính cách chủ quan. Tập hợp ý kiến này không phải là một lý thuyết khoa học vì không thể kiểm nghiệm được bằng những phương pháp khoa học và  đã bị các nhà khoa học trong nhiều thế kỷ vừa qua đều cho rằng nó mang nặng tính cành huyễn hoặc, nghịch lý và phản khoa học. Ấy thế mà Giáo Hội lại khơi khơi gọi nó là "chân lý".  Khi được các nhà bác học kiểm  chứng thì thấy rằng cái hệ thộng thần học mà Giáo Hội gọi là "chân lý"  dùng làm căn bản cho cái đạo "cứu rỗi" của Giáo Hội chỉ là cả một khu rừng đầy những chuyện láo khóet, bịp bợm để lừa gạt người đời và những chuyện lọan luân dâm loàn cùng với những việc làm chuyên chính,  bạo ngược và bất nhân, đi nguợc với trào lưu tiến hóa cúa nhân loại.

Sự kiện Thánh Kinh nói rằng, trái đất bằng phẳng và là trung tâm của vũ trụ, nói rằng mặt trời chạy chung quanh  địa cầu, việc Giáo Hòang John Paul II xác nhận không có thiên đường ở trên chín  từng mây, xác nhận không có địa ngục ở trong lòng trái đất, việc Ngài công nhận thuyết tiến hóa của nhà bác học Charles Robert Darwin (1809-1882) (xem lại Chương 4), việc Ngài sử dụng chiếc xe chống đạn đặc biệt Popemobile (tức là chính Ngài cũng không tin tưởng vào sự che chở của Chúa) vào những khi Ngài đi viếng thăm nước ngoài [3], v.v... là những bằng chứng nói lên tính chất láo khoét, bịp bợm, lố bịch, trịch thượng và lưu manh của Giáo Hội La Mã. Cũng vì thế mà ông Charlỉe Nguyễn mới cho rằng "gọi Công Giáo là đạo bịp hay đạo dối không sai chút nào.", rồi ông viết thêm:

"Trước hết, người Công Giáo đã ngộ nhận giáo hội của họ là thánh thiện, vì vậy họ đã gọi nó là Hội Thánh, trong khi chính nó là tên vô địch sát nhân trong lịch sử lòai người. Cái đạo bất nhân man rợ như vậy chỉ có thể được gọi là "Đạo Thánh Đức Chúa Trời" bởi những kẻ tối dạ thất học mà thôi. Cái núi tội ác cao ngất trời xanh đã hùng hồn xác minh cái bản chất của Công Giáo La Mã là phi nhân tính (inhumanity). Ngày nay xã hội Tây Phương đã nhìn nhận rằng phi nhân tính là đồng nghĩa với mọi rợ (inhumanity means barbarism). Triết gia Thomas Bailey Aldrich đã ví nền văn minh Kitô giáo là cái áo lông cừu che đậy sự mọi rợ của nó. ...Vậy người Công Giáo vin vào đâu mà dám gọi cái đạo vô địch sát nhân của họ là đạo thánh? Vin vào đâu mà dám nhục mạ các dân tộc Đông Phương là mọi rợ? Phải chăng Công Giáo là đạo duy nhất thích ăn thịt và uống máu người (qua lễ ăn Bánh Thánh) nên được coi là đạo duy nhất thánh thiện và duy nhất văn minh?" [4]

Thứ ba.- Về thái độ và hành động lật lọng của Giáo Hội: Hầu như toàn thể nhân dân thế giới đều biết rằng từ cuối thập niên 1980, Giáo Hoàng John Paul II đã kêu gọi hòa hợp và hòa giải với các tôn giáo khác trên thế giới. Để biểu lộ thành ý của Giáo Hội trong việc này, Ngài đã đích thân tham dự và chủ tọa buổi cầu nguyện chung trong đó có một số khá nhiều các nhà lãnh đạo các tôn giáo khác nhau được tổ chức tại Assise (Ý Đại Lợi) vào ngày 27/10/1986. Sự kiện này được nhà trí thức Da-tô Trương Tiến Đạt ghi lại trong cuốn Trước Cơn Giông Tố  như sau:

Về phần Giáo Hoàng đương kim Gio-an Phao-lô Đệ Nhị,  hiện nay hầu như ai cũng phải công nhận rằng ngài là một người thánh thiện, nhưng nhiều hành vi của ngài trong quá khứ hoặc trong thời gian gần đây chứng tỏ ngài mất đức tin hoặc đức tin rất lạng quạng. Thí dụ ngày 27/10/1986, ngài đã tổ chức buổi cầu nguyện tại Assise  (Ý), trong đó ngài mời các lãnh tụ của mọi tôn giáo tới để “cùng cầu nguyện với ngài”. Chủ đề của buổi cầu nguyện chung này là “Thiên Chúa và mầu nhiệm của Người được thể hiện nơi mỗi tôn giáo. Đức Giáo Hoàng có ý nói rằng đạo nào cũng có Thiên Chúa trong đó, dưới hình thức này hay hình thức khác." [5]

Lời nói “Thiên Chúa và mầu nhiệm của Người được thể hiện nơi mỗi tôn giáo vừa mới thốt ra khỏi cửa miệng Ngài chưa ráo nước miếng, thì:

A.- Năm 1994,   trong cuốn Crossing the Threshold of Hope, ngài lại khẳng định rằng "Buddhism is in large measure  and "atheistic" system." (Đạo Phật là một hệ thống  thuyết lý "vô thần")  và : “Islam is not a religion of redemption = Hồi giáo không phải  là một tôn giáo cứu độ”. [6]

B.- Rồi tới ngày 5 tháng 9 năm 2000, Giáo Hội lại còn trâng tráo công bố Bản Tuyên Ngôn "Nulla Salus Extra Ecclesiam" nói rằng "Không có cứu độ ngòai Giáo Hội La Mã". Khi viết câu nói trên đây, Giáo Hội có ý muốn nói rằng, "chỉ có Giáo Hội mới có thể mang lại "ơn cứu độ" cho người đời". Nhận xét về những việc làm "lá mặt lá trái", "quay quắt lắt léo và lươn lẹo", "nhổ bọt rồi lại liếm"  này của Giáo Hội, ông Phan Đình Diệm, Hội Trưởng Hội Giê-su Giáo, viết:

"LỜI MỘT.- Từ Công Đồng Chung Vaticano II, Giáo Hội  Công Giáo Roma  La-tinh thay đổi chiến lược chiến thuật "mưu bá đồ vương, kinh bang tế thế". Ba bản văn lớn của Công Đồng Chung Vaticano II vẽ rõ lộ trình chinh phục và thôn tính các tôn giáo thế giới gom lại về một mối thành đoàn chiên của Hoàng Đế Roma là:

1.- Sắc Lệnh về Hiệp Nhất (Unitatis Redintegratio)

2.- Tuyên Ngôn về liên lạc của Giáo Hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo (Nostra Aetate)

3.- Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo (Dignitatis Humanae)

Sau 4 thập niên thời hậu Công Đồng "V2" (Vaticano II), Giáo Hội Roma ví như một hàng quán làm ăn càng ngày càng lụn bại. Đương kim Giáo Hòang John Paul II xuất tuần công du hàng trăm nước để cứu các giáo hội địa phương năm châu thế giới, củng cố đức tin cho họ. Chiến dịch giáo vận tuyên truyền "tôn sùng cá nhân Giáo Hòang John Paul II" lên tột đỉnh chọc thủng chín tầng mây. Các văn kiện và bản văn của Giáo Hội, của các linh mục và giáo dân tung hô vạn tuế Giáo Hội tung bay như bươm bướm. Mô phỏng theo "Cuộc Cách Mạng Văn Hóa" của Mao Trạch Đông, Giáo Hoàng đích thân tổ chức và tham dự "Đại Hội Trẻ Thê Giới" khắp nơi thành công rực rỡ huy hòang, nhưng cuối cùng, sau 15 năm, Đại Hội Trẻ Năm Thánh 2000 Tại Roma, cũng chẳng đẻ non ra được cuộc cách mạng nào. Giáo Hội rơi xuống dốc không phanh: Toàn cõi  Âu Châu âm thầm bỏ đạo, và người Âu Châu đã bước vào tiến trình giải trừ Kitô Giáo trên lục địa này và vùng Địa Trung Hải (Tài liệu Thượng Hội Đồng Giám Mục Châu Âu kỳ 2 năm 1999).

LỜI HAI.- Đương kim Giáo Hòang John Paul II mời nhiều nhà lãnh đạo tôn giáo đến Roma nhiều lần để cầu nguyện chung cho hòa bình thế giới, để mở đối thọai đại kết và liên tôn, để bắc nhịp cầu tình bạn thấm thiết, để hình thành một tổ chức liên tôn từa tựa như "Ngũ Nhạc Kiếm Phái" trong tiểu thuyết của Kim Dung. Giáo Hoàng và Dalai Lama ôm nhau vài lần thắm thiết tại Roma. Giáo Hoàng tung tiền ra như nước, chi tiêu rất hào phóng, thu phục nhân tâm, Ngài ngấp nghé cái ghế "Minh Chủ Tôn Giáo Toàn Cầu" trong Trật Tự Mới của thế giới viết tắt là NOS (Novus Ordo Seclorum). Ngài rất tự tin vào Giáo Hội Roma là giáo hội duy nhất có khung tổ chức toàn cầu, Ngài bổ nhậm các hồng y và giám mục của Ngài trên khắp thế giới. Toàn cầu hóa kinh tế thị trường trong tay Tây Phương, toàn cầu hóa tài chánh trong tay Tây Phương, toàn cầu hóa chính trị và quân sự trong tay Tây Phương..., toàn cầu hóa tôn giáo nhất định cũng sẽ lọt vào trong tayTây Phương và hẳn phải đương nhiên rơi vào trong tay Ngài vì Ngài là người Tây Phương, chứ còn ai bây giờ. Nhưng trớ trêu thay! Con tạo khéo đành hanh, nào ai học được chữ ngờ! Tại "Đại Hội Đồng Tôn Giáo" do Liên Hiệp Quốc triệu tập, họp vào cuối tháng 8 năm 2000 vừa qua, đại danh Dalai Lama được ngưỡng vọng và nhân cách của tác giả "Đạo Lý Cho Thiên Niên Kỷ Mới" đột ngột nổi lên như cồn, và ngôi Minh Chủ Tôn Giáo Toàn Cầu cơ hồ như trái cầu của cô gái kén chồng rơi trúng vào Ngài Dalai Lama Tây Tạng.

LỜI BỐN.- Giáo Hòang và triều đình Roma rơi ngập sâu vào cơn khủng hoảng cực kỳ đen tối và hết hy vọng. Mấy năm gần đây, Giáo Hội Roma nói rất nhiều đến "HY VỌNG": Hãy Bước Vào Ngưỡng Của Hy Vọng,  Những Người Lữ Hành Trên Đường Hy Vọng, Thông Điệp Tin Mừng Của Hy Vọng của Thượng Hội Đồng Giám Mục Châu Âu vòng 2 năm 1999, v. v.... Nói quá nhiều về hy vọng mà thật ra là tuyệt vọng: Bên trong triều đình Giáo Hội Roma chia rẽ năm bè bảy mối, bên ngoài thì kẻ thù truyền kiếp vây khốn tứ bề, các hồng y trấn nhậm cõi xa vẫn bình chân như vại, sống chết mặc bay, tọa hưởng vinh hoa phú quý. Nền thần học kinh bang tế thế đã lỗi thời, chủ nghĩa tuyền tuyền nhồi sọ tín điều, đức tin, và bí tích càng ngày càng bị ngành truyền thông, báo chí và tin học vô hiệu hóa. Tuyên Ngôn "Dominos Jesus" (Ngoài Giáo Hội Roma Không Có Nguồn Ơn Cứu Độ Nào), liền bị giới truyền thông và báo chí quốc tế tức thời phản pháo  kịch liệt bằng các bài báo với những tựa đề:

1.- Other churches not true faith, says Vatican (Vatican nói, các giáo hội khác không có tín ngưỡng chân chính).

2.- Vatican Reaffirms Primacy of Church (Vatican Tái Xác Nhận Vai Trò Ưu Việt của Giáo Hội La Mã)

3.- Vatican Claims Church Monopoly of Salvation (Vatican Đòi Chiếm Độc Quyền Cứu Rỗi)

4.- Vatican Declares Catholicism Sole Path to Salvation (Vatican Tuyên Bố Đạo Kitô La Mã là Con Đường Độc Nhất Đưa Đến Cứu Rỗi)

5.- Vatican Rejects Equality of Religions (Vatican Bác Bỏ Sự Bình Đẳng Giữa Các Tôn Giáo)

6.- Dismay, Disdain Over Vatican Documents (Sững Sờ và Khinh Bỉ  Các Tài Liệu của Vatican)

7.-V.v... trên trăm bài, hàng tỷ độc giả năm châu [7] 

C.- Rồi đến vụ phá nát hạnh phúc gia đình của vợ chồng ông Giam-mục Emmanuel Milingo vào tháng 8 năm 2001. Trong vụ này,  Giáo Hòang John Paul II cưỡng bách nạn nhân phải bỏ vợ dù là lễ thành hôn của cặp vợ chồng này đã được cử hành long trọng trước bàn thờ chúa Jesus Kitô thuộc hệ phái Kitô khác do Mục-sư  Sun Myung Moon chủ lễ. Đối với nền văn hóa Đông Phương, những kẻ nào có dã tâm làm cho vợ chồng người ta bỏ nhau hay phá nát hạnh phúc gia đình của người khác là  hạng người độc ác dã man tệ hại hơn cả loại súc sinh. Như vậy là dưới con mắt của người dân Đông Phương, Giáo Hoàng John Paul II là hạng người độc ác và dã man hơn cả loài súc sinh. Điều khôi hài là hạng người súc sinh này lại được Giáo Hội tôn phong là ông thánh của Giáo Hội.

Ba hành động trên đây hoàn toàn trái ngược với  (hay phản lại) lời tuyên bố "Thiên Chúa và mầu nhiệm của Người được thể hiện nơi mỗi tôn giáo” mà Giáo Hòang John Paul II đã tuyên bố khi Ngài chủ tọa  buổi cầu nguyện chung với các nhà lãnh đạo của các tôn giáo khác do chính Ngài tổ chức  tại Assise ở Ý Đại Lợi vào ngày 27/10/1986.

"Quân bất hí ngôn". Làm vua không nói láo. Thế nhưng, Giáo Hội La Mã và ông Hoàng Đế của Đế Quốc  Vatican thường được gọi là "Giáo Hòang" lại nói láo như cuội. Khi kêu gọi hòa hợp và hòa giải với tôn giáo khác cũng như khi ngồi cầu nguyện chung với các nhà lãnh đạo các tôn giáo khác thì Giáo Hoàng John Paul II nói rằng: “Thiên Chúa và mầu nhiệm của Người được thể hiện nơi mỗi tôn giáo". Nhưng khi   viết  cuốn Crossing The Threshol Of Hope, Ngài lại  tuyên bố rằng, "Buddhism is in large measure an athetistic system" (Trên  một  phạm vi rộng lớn, Phật Giáo là một hế thống vô thần); khi tiếp xúc với ông Giám-mục Emmanuel Milingo để xử lý vụ hôn nhân đi vào lịch sử này thì ngài lại ra lệnh cho ông giám-mục này phải: “từ bỏ cuộc sống chung với Maria Sung và cắt đứt liên hệ với Mục Sư Moon cũng như tổ chức Family Federation For World Peace"; và đặc biệt nhất là ngày 5 tháng 9 năm 2000, Ngài lại cho công bố Bản Tuyên Ngôn "Nulla Salus Extra Ecclesiam" nói rằng "Không có cứu độ ngòai Giáo Hội La Mã". Như vậy là   vừa mới nói xong, Ngài lại nhổ nước miếng; nhổ nước miếng rồi, Ngài lại liếm cho sạch.

Thực ra, không phải Ngài đã tráo trở và lật lọng chỉ có một hay hai lần, mà Ngài đã có những hành động quay quắt lắt léo, lươn lẹo và lật lọng như vậy rất nhiều lần. Thí dụ như trong buổi lễ long trọng được tổ chức vào ngày 12/3/2000 tại Quảng Trường Peter để Ngài và các vị chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatcian xưng thú tội ác thì chính Ngài và các viên chức của Ngài chỉ cáo thú tội ác của Giáo Hội với Chúa, chứ không hề có một lời nào đả động đến việc xin lỗi các quốc gia   và dân tộc nạn nhân đã từng phải gánh chịu không biết bao nhiêu thảm họa đau thương do chính Giáo Hội gây ra. Thât là khôi hài hết chỗ nói! Ai cũng biết rằng những rặng núi tội ác mà Giáo Hội đã gây ra cho nhân loại trong gần hai ngàn năm qua có làm cho Chúa mất một sợi tóc nào đâu. Ấy thế mà Ngài và giáo triều Vatican của Ngài chỉ xin lỗi Chúa mà không hề nói gì đến các dân tộc nạn nhân! 

Thưa Ngài,   hành động như vậy của Ngài có phải là quay quắt, lắt léo và lươn lẹo không?

Còn nữa, cũng trong năm 2000 vừa qua, Ngài đã xin lỗi Trung Hoa mà không thèm xin lỗi Việt Nam trong khi tội ác của Giáo Hội đối với dân tộc Trung Hoa NẾU đem so với những tội ác của Giáo Hội  đối với dân tộc Việt Nam, THÌ thì chẳng khác nào như đem mô đất thấp lè tè để bên cạnh rặng núi Thái Sơn!

Người Việt Nam thường  nói "ma bắt nạt tùy mặt":và "mềm nắn rắn buông" để nói lên những hành động của những bọn du côn, bọn ăn cướp đối với những người lép vế thế cô hay những hành động ăn cướp của các đế quốc thực dân xâm lược đối với các tiểu nhược quốc. Việc Giáo Hội xin lỗi Trung Hoa mà không xin lỗi Việt Nam cũng tương tự như vậy. Giáo Hội tự phong là "Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo tông truyền" và là "Hỉền Thê của Thiên Chúa Làm Người" mà lại hành động chẳng khác gì bọn "du côn", "bọn ăn cướp",  "bọn ma xó" như vậy được sao? "Hỉền Thê của Thiên Chúa Làm Người" gì mà lại khốn nạn như vây? Thật là tội nghiệp cho Chúa Kitô lại có người "Hiền Thê"  mà "nhân dân Âu Châu phải tránh xa như tránh hủi"[8].  Chả trách nào   học giả Henri Guillemen đã phải gọi Giáo Hội La Mã là cái "Giáo Hội Khốn Nạn" [9] và văn hào Voltaire thì gọi là "cái tôn giác ác ôn" [10].

Ngược ngạo hơn nữa, Giáo Hội không những đã không xin lỗi Việt Nam, mà lại còn có những sách lược hành động lưu manh  "ẩy chó bụi rậm" và "xúi trẻ con ăn cứt gà" mà chúng ta đã từng thấy bọn cán bộ và tín đồ bồi bút của Giáo Hội đã và đang tiến hành trong những trường hợp sau đây:

Trường hợp 1.- Trong năm 2001, một tên tín đồ bồi bút của Giáo Hội cho phát hành một cuốn sách có tựa đề là "Tổ Quốc Ăn Năn" trong đó tác giả đặt ra một vấn đề ngược ngạo rất Da-tô như sau:

"Việc bách hại người Công Giáo là một vết nhơ khó tẩy xóa trong lịch sử Việt Nam. Đó là sự kiện chính nhà nước Việt Nam, chứ không phải một đoàn quân xâm lược nào, đã tàn sát một số lớn người Việt Nam hoàn toàn vô tội. Thảm kịch còn lớn hơn nữa vì nhà nước đó biết họ vô tội nhưng vẫn giết họ. Điều đáng ngạc nhiên là  cho tới nay chưa có một chính quyền nào, nhân danh sự liên tục của quốc gia, tổ chức một ngày để xin lỗi những người Công Giáo về sự sai lầm kinh khủng đó." [11].

Rõ ràng là giọng điệu “cả vú lấp miệng em”, ngược ngạo y hệt như giọng điệu của Giáo Hội đã hành xử từ thời Trung Cổ cho đến ngày nay.

Trường hợp 2.- Cũng trong năm 2001, Lịnh-mục Nguyễn Văn Lý mở màn chiến dịch gây rối ở nhà thờ và xóm đạo Nguyệt Biều tại làng Thủy Biều nằm trong giáo phận Huế từ tháng 11/1994 kéo dài trong nhiều năm. Trong những hành động gây rối này, có cả yêu sách đòi lại khối tài sản bất động sản của Giáo Hội La Mã đã bị chính quyền tịch thu. Ngoại trừ những tín đồ Gia-tô cuồng tín, ai cũng biết rằng khối bất động sản này là một phần trong những khối tài sản kếch sù mà Giáo Hội đã dựa vào chính quyền Liên Minh Pháp-Vatican, rồi đến Liên Minh Mỹ-Vatican từ năm 1862 đến tháng 4/1975 để cướp đọat tài nguyên, kinh tài bất chính và ăn chặn tiền ngọai viện cho miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975. Sự kiện này đã được các nhà viết sử trình bày khá đầy đủ trong các sách:

1.- Thập Giá Và Lưỡi Gươm của Linh -mục Trần Tam Tỉnh (Paris, Sudestasie, 1978), tr 48-49

2.- Đối Thoại Với Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ II của nhiều tác giả (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 1996), tr 242-245.

3.- Vatican Thú Tội Và Xin Lỗi? của nhiều tác giả (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 1996), tr 184-199

4.- Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hoà Toàn Thư 1954-1963 của Nguyễn Mạnh Quang (Houston, TX: Văn Hoá, 2000), tr.399-432 và trong lá Thư Ngỏ gửi Giáo Hoàng John Paul II đề ngày 19/9/1999 in trong cuốn sách này nơi các trang 547-558.

Do hành động gây rối chống lại tổ quốc Việt Nam cho nên Linh-mục Lý bị chính quyền Việt Nam bắt giữ vào ngày 1/5/2001. N hân việc Linh-mục Lý bị bắt giữ này, Giáo Hội ra lệnh cho các cơ quan truyền thông của những tín đồ Gia-tô người Việt ở hải ngoại tuyên truyền rằng chính quyền Viện Nam đang đàn áp tôn giáo. Như thế Giáo Hoàng John Paul II đã có lý do lên tiếng đòi chính quyền Việt Nam phải tôn trọng quyền tự do tôn giáo

Trong lịch sử, các chính quyền Cách Mạng Pháp 1789, chính quyền Cách Mạng Ý Đại Lợi 1870, chính quyền Cạch Mạng Mễ Tây Cơ 1857, chính quyền Cách Mạng Cuba 1959, chính quyền cách mạng Nicaragua 1979, v.v... cũng đã tịch thu toàn bộ tài sản của Giáo Hội và tước bỏ hết tất cả những đặc quyền đặc lợi mà Giáo Hội đã tiếm đọat, chứ không riêng gì chỉ có Việt Nam mới làm như vậy.

Trường hợp 3.- Lại cũng trong năm 2001, một cán bộ cao cấp của Giáo Hội là Giám-mục Nguyễn Văn Thuận đến California đưa ra lời tuyên bố nhằm khích động giáo dân người Việt chống lại tổ quốc Việt Nam. Nguyên văn lời tuyên bố vừa ngu xuẩn vừa xấc xược này được tờ tuần báo Việt Báo Miền Nam ghi lại như sau:

"Còn Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, tại Giáo Phận Orange County ngày 15/3/2001, nói theo kiểu rất Việt Nam "Vatican không nói, mà làm. Làm ra sao thì cứ nhớ lại biến cố Đông Âu thì rõ." [12].

8.- MỘT TRƯỜNG HỢP LƯƠN LẸO ĐIỂN HÌNH
DO HẬU QUẢ CHÍNH SÁCH NGU DÂN GÂYRA

Người viết chọn ông Tú Gàn làm một trường hợp điển tiêu biểu hình những tín đồ Da-tô ngoan đạo có trình độ đã học qua bậc cử nhân ở đại học và tiêu biểu cho bọn sử nô Da-tô với tất cả những đặc tính diễn dịch sự kiện (bất kể là sự kiện lịch sử hay những sự kiện thuộc về phạm vi đời tư cá nhân) một cách lươn lẹo để bóp méo lịch sử và xuyên tạc sự thật.

Tú Gàn, một tín đồ Da-tô, có tên thật là Nguyễn Cần và có một bút hiệu khác là Lữ Giang (khi viết sách) , có bằng cử nhân luật (có lẽ tốt nghiệp trường Luật ở Sàigòn), đã từng hành nghề thẩm phán nhiều năm ở Saigòn trước ngày 30/4/1975. và đã viết báo nhiều năm ở hải ngọai. Trong bài viết bài “Chuyện Thiền Sư Nhất Hạnh Về Việt Nam” đăng trên tờ Sàigòn Nhỏ số ra ngày 24/12/2004  của Tú Gàn, trong đó có mấy đọan dưới đây:

1.- “Năm 1961 ông (Thích Nhất Hạnh) được chính phủ Ngô Đình Diệm cho đi học về môn tôn giáo đối chiếu (comparative religion) tại Princeton University ở New Jersey, Hoa Kỳ…”

2.- “Theo tài liệu của cơ quan tình báo VNCH, Sư Cô Chơn Không có tên thật Fleurette Cao Ngọc Phượng, con của ông Cao Văn Mộc làm ở Ty Công Chánh Bến Tre, mẹ là Elizabeth Bùi Kim Tiên là cháu của ông Bùi Văn Nho, một Trung Úy Pháp. Cả gia đình đều có quốc tịch Pháp.”

3.- “Cô Phượng có một người tình là Đại Úy Nguyễn Khá, phục vụ ở An Ninh Quân Đội. Năm 1965 cô đi hoạt động cho Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội và “thọ giới tiếp hiện” với Đại Đức Thích Nhất Hạnh, sinh được một đứa con trai rồi giao cho người anh là Cao Thái nuôi. …” [13]

Khi viết 3 đọan văn trên đây, ông Tú Gàn tin rằng ông đã viết đúng. Cũng như ông Tú Gàn, có rất nhiều người Việt đồng đại với ông Tú Gàn cũng cho rằng ba đọan văn trên đây  không có gì sai cả.

Thế nhưng đối với những người đã tiếp nhận sở học qua chính sách giáo dục khai phóng và tự do, ba đoạn văn trên đây vừa có gian ý vừa có những lỗi lầm do hậu quả của chính sánh ngu dân và giáo dục nhồi sọ tạo ra:

Người viết xin phân tách câu văn 1: “Năm 1961 ông (Thích Nhất Hạnh) được chính phủ Ngô Đình Diệm cho đi học về môn tôn giáo đối chiếu (comparative religion) tại Princeton University ở New Je rsey Hoa Kỳ…”. Trong câu văn này ông Tú Gàn sử dụng động từ “cho đi học”.Viết như vậy, rõ ràng là ông Tú Gàn có hàm ý  muốn nói rằng  thày Nhất Hạnh được chính phủ Ngô Đình Diệm cho đi du học ở Hoa Kỳ về môn tôn giáo đối chiếu. Bình thường, ai cũng hiểu như vậy.

Hiểu như vậy có nghĩa là chính phủ Ngô Đình Diệm dùng tiền bạc thuộc ngân quỹ quốc gia đài thọ tất cả phí tổn di chuyển, học phí, sách vở, ăn ở, và tiền chi phí vặt cho thày Nhất Hạnh trong suốt thời gian theo học tại Hoa Kỳ cho đến ngày hoàn tất chương trình học hay tốt nghiệp, ít nhất là từ 3 năm đến 7 năm.

Thực tế có như vậy không? Chắc chắn là không.

Sự thực là thầy Nhất Hạnh hoặc là được trường Princeton University ở New Jersey hoặc là chính phủ Hoa Kỳ cấp học bổng toàn phần để theo học môn học Tôn Giáo Đối Chiếu tại trường này. Đây là một lọai học bổng hoặc là của riêng trường Priceton hoặc là nằm trong chương trình viện trợ của chính quyền Hoa Kỳ cho các nước có liên hệ như Nam Triều Tiên, Đài Loan, Pakistan, Thái Lan, Phi Luật Tân, Ai Cập, miền Nam Việt Nam, v.v..  Vì được cấp học bổng toàn phần, nhà trường hay chính phủ Hoa Kỳ đài thọ tất cả mọi phí tổn cho thày Nhất Hạnh trong suốt thời gian từ ngày rời Việt Nam đi Hoa Kỳ  cho đến ngày hòan tất chương trình học.

Được biết đầu thập niên 1960, ông Ngô Vĩnh Long (hiện nay là giáo sư phụ trách môn sử tại University of Maine (Đại Học Maine) nằm trong tiểu bang Maine cũng được một học bổng toàn phần của Hoa Kỳ, nhưng bị chính phủ Ngô Đình Diệm có ý đồ chặn lại, không cho đi bằng cách không cấp giấy thông hành cho ông Ngô Vĩnh Long xuất ngoại đi Hoa Kỳ. Tình cờ, chính người Hoa Kỳ đã giúp cho ông Ngô Vĩnh Long được cấp học bổng này biết rõ tự sự liền đến Phủ Tổng Thống trực tiếp can thiệp. Nhờ vậy mà ông Ngô Vĩnh Long mới được chính phủ Diệm cấp giấy thông hành đi du học ở Hoa Kỳ.

Năm 1966, người viết được cấp học bổng là do bà AlaDyce, trưởng ban cứu xét  hồ sơ của những ứng viên nộp đơn học bổng USAID. Vì thời gian này, ông Linh-mục Cao Văn Luận không còn có quyền lực ở Nha Du Học nữa, chính những nhân viên USAID lo hết tất cả mọi thủ tục và giấy tờ cho người viết. Đến ngày sắp khởi hành đi Hoa Kỳ, họ gửi thư thông báo đến lớp học ESL tại Hội Việt Mỹ ở Đường Mạc Đĩnh Chi cho biết phải đến văn phòng sở USAID tại số 71 Đường Hồng Thập Tự, Sàigòn để nghe họ dặn dò, cũng là để lãnh nhận giấy thông hành, vé máy bay cùng  tất cả những giấy tờ khác và cái check 240 Mỹ kim để lên đường đi Hoa Kỳ.

Người viết nghĩ rằng trường hợp thày Nhất Hạnh được cấp học bổng đi du học Hoa Kỳ cũng giống như trường hợp của người viết hay trường hợp ông Ngô Vĩnh Long, chứ không phải như ông Tú Gàn  đã viết như trên.

Như vậy là khi viết   câu văn, “được chính phủ Ngô Đình Diệm cho đi học về môn tôn giáo đối chiếu (comparative religion) tại Princeton University ở New Je rsey Hoa Kỳ”,  ông Tú Gàn đã có hai gian ý:

Gian ý thứ nhất: Sử  dụng nhóm chữ “(Thày Nhất Hạnh) được chính phủ Ngô Đình Diệm cho đi học”), ông Tú Gàn đã lươn lẹo với gian ý để lạc dẫn (mislead) hay làm cho người đọc hiểu lầm rằng rằng chính quyền Ngô Đình Diệm bỏ tiền ra đài thọ hết tất cả mọi phí khỏan như học phí, ăn ở, vé máy bay khứ hồi, di chuyển thường ngày, sách vở, bảo hiểm y tế, v.v.. trong suốt thời gian thầy Nhất Hạnh lưu trú tại Hoa Kỳ.

Gian ý thứ hai, khi cố ý nói rõ “đi học về môn tôn giáo đối chiếu (comparative religion) tại Princeton University ở New Jersey Hoa Kỳ.”, bề ngòai, ông Tú Gàn   đã ngầm để cho độc giả hiểu rằng chính quyền Ngô Đình Diệm không kỳ thị Phật Giáo, mà trái lại, còn bỏ tiền ra đài thọ tất cả mọi khỏan phí tổn cho thày Nhất Hạnh du học ở Hoa Kỳ trong thời gian dài cả mấy năm trời!

Cái lối viết quay quắt,   lắt léo, lươn lẹo và nhập nhằng như kiểu ông Tú Gàn viết trên đây là nằm trong sách lược chung của Giáo Hội La Mã mà bọn văn nô Gia-tô thường sử dụng. Trước đây, trong bộ sách Thực Chất Của Giáo Hội La Mã (Tacoma, WA: TXB, 1999), người viết đã trình bày khá rõ ràng về sở học cùng những thành tích viết lách lươn lẹo và bóp méo những sự thật lịch sử  của ông Tú Gàn ở trong các Chương 17, 18,19 và 20.

Trở lại  vấn đề  TẠI SAO chính quyền Ngô Đình Diệm lại “cho” thày Nhất Hạnh đi học môn giáo dục đối chiếu ở Princeton University “?

Đây là lời giải thích của người viết: Thành thật mà nói, Hoa Kỳ là cha đẻ ra các chính quyền miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975. Ông Ngô Đình Diệm được Giáo Hội La Mã cho người dẫn sang Mỹ giao cho Hồng Y Francis Spellman chạy chọt với các nhân vật có thế lực trên chính trường Hoa Kỳ để xin xỏ cho về Việt Nam cầm quyền làm tay sai cho Hoa Kỳ để cho Giáo Hội La Mã thi hành sách lược “cáo đội lốt hùm” rồi “mượn gió bẻ măng”. Như vậy, trong thực tế, thân phận ông Ngô Đình Diệm làm tay sai cho Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1965-1963 không khác gì thân phận ông Bảo Đại làm tay sai cho Pháp ở Việt Nam trong những năm 1948-1954 và thân phận Tổng Thống Hamid Kazai của nước Afghanistanthân phận Thủ Tướng Ayad Allawi của nước Irak làm tay sai cho Hoa Kỳ hiện nay (2004).

Để cho rõ ràng hơn, ta có thể nói như thế này: Ông Chủ Hoa Kỷ bảo (sai) thằng đầy tớ Ngô Đình Diệm (giữ vai trò quản lý tại Việt Nam) phải làm thủ tục giấy tờ cho một sinh viên có đủ điều kiện mà Hoa Kỳ đã tuyển chọn cho sang du học ở Hoa Kỳ thì thằng đầy tớ chỉ biết phải tuân hành mà làm theo. Nếu vì lý dod không phải là tín đồ Da-tô mà kiếm cớ làm khó dễ, NẾU ông chủ biết, THÌ sẽ được nhắc nhở cho biết rằng cái thân phận đầy tớ thì phải nghe lời ông chủ, bằng không, thì sẽ bị khiển trách. Đây cũng là những trường hợp của ông Ngô Vĩnh Long, của thày Nhất Hạnh, và cũng là của nhiều người khác được chính quyền Hoa Kỳ cấp học bổng cho sang Mỹ du học.

Thực ra, khi được lệnh (nói cho oai là được yêu cầu) làm thủ tục cho thày Thich Nhất Hạnh đi du học ở Hoa Kỳ, thâm tâm ông Gia-tô Ngô Đình Diệm cũng như anh em nhà Ngô  những người tuyệt đối tin tưởng Tòa Thánh Vatican và triệt để tuân hành những lệnh truyền của Giáo Hội La Mã có quyền thế trong chính quyền lúc bấy giờ  đã tìm đủ mọi cách ngăn cản, những không được, vì lúc đó chính quyền Hoa Kỳ muốn có một vài tu sĩ Phật giáo được cấp học bổng du học ở Mỹ để tạo ra có cái cớ chứng tỏ với nhân dân Hoa Kỳ rằng chính quyền Hoa Kỳ viện trợ đồng đều cho nhân dân Việt Nam không phân biệt tôn giáo và cũng làvớt vát thể diện cho Hoa Kỳ, bớt phải mang tiếng là bảo trợ cho một chế độ đạo phiệt Gia-tô bạo ngược đang ra công chèn ép và đàn áp Phật Giáo gần như toàn thể  nhân dân thế giới đều biết và lên án kịch liệt. Những người mang căn bệnh cuồn tín thuộc loại “Nhất Chúa, nhì Cha, thư ba Ngô Tổng Thống  chắc chắn là không đủ trình độ thông minh để nhìn ra sự thực này.  Thực ra, NẾU không có Hoa Kỳ tích cực can thiệp, THÌ  bằng cách nào đi nữa, thày Nhất Hạnh cũng không được chính quyền Sàigòn cấp giấy thông hành xuất ngoại sang Hoa Kỳ du học. Trường hợp của ông Ngô Vĩng Long cũng như vậy. Ngay cả trường hợp sang Mỹ du  học người viết cũng vậy. Có lẽ  vì có kinh nghiệm với chế độ đạo phieựet Da-tô Ngô Đình Diệm, người Hoa Kỳ đã biết rõ bản chất của bọn Việt gian “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” lam tay sai người ngoại quốc thường có tâm địa xấu xa như vậy, cho nên trong những năm 1964-1968, chính phủ Hoa Kỳ mới giao cho sở USAID trực tiếp tổ chức các kỳ thi tuyển  chọn các ứng viên có đủ điều kiện để cấp học bổng  và trực tiếp lo đủ mọi thứ giấy tờ cho những ứng viên đã được chấp thuận cho đi du học mà chính quyền Sàiigòn không có quyền nhúng tay vào. Nhờ vậy mà người viết và hàng ngàn những người khác mới  thoát khỏi được bàn tay của các ông kẹ ngưoi Việt Nam trong chính quyền Sàigòn để đi du học ở Hoa Kỳ.

Trên đây là gian ý của Tú Gàn khi viết câu văn 1.

Về hai đoạn văn số 2 và số 3, thú thực người viết không thể ngờ rằng một người có bàng cử nhân luật, đã từng giữ chức vụ thẩm phán tại Sài gòn ở miền Nam Việt Nam trong nhiều năm trước ngày 30/4/1975, đã sinh sống  ở Hoa Kỳ có tới từ 15 năm hay lâu hơn,  cũng là một nhà báo và một nhà văn lâu nămmà  lại có thể viết hai đọan văn trên đây!

Nếu học được theo học ở một quốc gia thi hành chính sách giáo dục tự do và khai phóng, thì dù chỉ mới học hết lớp 8 thôi, chắc chắn là ông Tú Gàn sẽ không viết những đọan văn như vậy. Nhưng vì bị ảnh hưởng sâu nặng của độc kế ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mã  ngay từ ngày còn bế ngửa cho đến khi học hết 3 hay 4 năm luật ở Sàigòn, rồi lại được cho làm thẩm phán để cầm giữ cán cân công lý thuận lợi cho Giáo Hội trong nhiều năm, cho nên ông ta mới viết như vậy mà không biết là sai trái.

Người viết tin rằng,   khi đọc hết hai đoạn văn trên đây của ông Tú Gàn, có rất nhiều người cũng không nhận thấy có gì là sai trai cả! Vậy sai trái ở chỗ nào?

Dưới đây là nhận xét của người viết về hai đọan văn trên đây:

Thứ nhất, việc sử dụng cụm từ “Theo tài liệu của cơ quan tình báo VNCHở đầu đọan văn số 2 , người viết thấy có điều bất ổn. Bất ổn ở chỗ là chỉ nói “trổng”, không nêu ra nguồn gốc của tài liệu này.

Tài liệu này mang số mấy? Được ban hành hay công bố vào ngày, tháng, năm nào? Trích dẫn từ tài liệu nào?

Từ  tháng 4/1975 cho đến nay, tại hải ngoại, có một số tín đồ Da-tô “ngoan đạo” thuộc lọai “tuyệt đối trung thành với Vatican” ưa thích sử dụng cụm từ “Theo tài liệu của cơ quan tình báo VNCH  hayTheo nguồn tin tình báo của Hoa K” rồi kèm theo một mệnh đề hay một câu văn hàm chứa dã tâm chụp mũ “Cộng Sản” cho những người khác tôn giáo bất đồng chính kiến với họ để khủng bố tinh thần nạn nhân. Chính bản thân người viết cũng đã từng là nạn nhân của cái “mửng” này vào những tháng cuối năm 1997, sau khi viết bài Tướng Nguyễn Chánh Thi Với Cuộc Chính Biến 11/11/1960 in trong cuốn Nhìn Lại Biến Cố 11/11/1960 (Houston, TX: Văn Hóa, 1997). Người viết đã cho in cả bản văn chụp mũ  này ở trang 237 trong cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Tòan thư 1952-1963(Tacoma, WA: txb, 1999)

Tín đồ Da-tô người Việt và những người được hưởng ân sủng của các chế độ miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975  thường gọi miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 là Việt Nam Cộng Hòa và có hiến pháp bảo đảm quyền tự do dân chủ cho người dân.(Một lối nói lừa bịp dư luận và nhân dân thế giới giống như Toà Thánh Vatican và tín đồ Da-tô  vẫn bô bô cái miệng tranh đấu cho dân chủ tự do và tôn trọng quyền tự do tôn giáo của những người thuộc các tôn giáo khác, nhưng chính quốc gia Vatican lại theo chế độ chính trị tăng lữ quân chủ chuyên chế và vẫn còn chủ trương đòi hỏi những người thuộc các tôn giáo khác muốn thành hôn với tín đô Da-tô thì phải từ bỏ tôn giáo cổ truyền của gia đình, phải theo học lớp giáo lý và phải làm lễ rửa tội theo đạo Da-tô rồi mới được tiến hành làm lễ thành hôn. Như vậy thì có phải là  ĐẠI BỊP không?

Thế nhưng, ở vào trường hợp rõ rành như vậy mà nói rằng Giáo Hội và tín đồ Dal-tô là những quân ĐẠI BỊP thi họ phủ nhận việc làm đại bịp này và họ  phản đối là vu khống cho Giáo Hội La Mã và họ. Sở dĩ họ phủ nhận và phản đối là vì họ không đủ khả năng nhìn ra sự mâu thuẫn giữa những lời nói và hành động của họ và sự mẫu thuẫn giữa những lời nói trrước và lời nói sau của họ. Ở vào trường hợp này, ta gọi là lời nói sau đá ngược lời nói trước.

Mâu thuẫn 9hay đá ngược nhau)  ở chỗ nào?   Mâu thuẫn (đá ngược nhau) ở chỗ là:

A.- KHI họ muốn miệt thì chính quyền miền bắc lf chế độc độc tài cộng Sản, THÌ họ rêu rao là miền Nam theo chế độ đân chủ tự do, có hiến pháp bảo đảm tất cả mọi thứ quyền tự do của người dân.

B.- KHI họ muốn chụp mũ “cộng sản” cho những người khác tôn giáo bất đồng chính kiến với họ, THÌ họ sử dụng cụm từ “Theo tin tức tình báo của VNCH.” (lừa bịp dư luận) để lấy cơ sở chụp mũ cho nạn nhân là “cộng sản” hay phá rối an ninh trật tự.

Đã cao rao miền Nam theo chế độ dân chủ tự do và có Hiến pháp bảo đảm quyền tự do dân chủ của người dân mà TẠI SAO lại có tình báo  theo dõi người dân như theo dõi quân thù vậy?

Như vậy có phải là mâu thuẫn không?  Nói một cách khác là  lời nói sau đá ngược lời nói trước.

Qua cung cách viết của họ, những người đã từng sống ở các chế độ tự do dân chủ thực sự như ở Bắc Mỹ, Nhật Bản hay Âu Châu và những người am hiều các chế độ dân chủ không thể nào lại không đặt vấn đề “TẠI SAO miền Nam Việt Nam hay Việt Nam Cộng Hòa là một nước dân chủ tự do có hiến pháp bảo đảm các quyền tự do căn bản cho người dân mà lại có cả tình báo viên theo dõi nhân dân, theo dõi cả một ông tu sĩ Phất giáo như trường hợp thày Nhất Hạnh và  dùng mật vụ theo dõi cả một học giả viết lịch sử  như trường hợp sử gia Nguyễn Hiến Lế?

Ai cũng biết rằng, bất kỳ quốc gia nào cũng vậy, ngoài các bộ và các sở hay các cơ quan chuyên biệt khác, bộ máy cai trị  của nhà nước còn có:

1.- Tổ chức (nha hay bộ) công an (giống như FBI ở Hoa Kỳ) có nhiệm vụ điều tra và theo dõi những tội ác xã hội ở trong lãnh thổ.

2.- Tổ chức vào tình báo hay mật vụ (giống như CIA của Hoa Kỳ, 2ème Bureau của Pháp, KGB của Nga) có trách nhiệm tung nhân viên vào vùng địch để thâu thập những tin tức họat động của địch có phương hại đến quyền lợi của đất nước.

Căn cứ vào sự phân nhiệm của tổ chức tình báo trên đấy, căn cứ  vào sự thú nhận của ông Da-tô Tú Gàn qua lời viết, “Theo tin tức tinh báo của VNCH…” và căn cứ vào việc mật vụ theo dõi sử gia Nguyễn Hiến Lế chỉ vỉ ông viết bộ sử thế giới, chúng ta thấy rằng chế đồ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm coi Phật giáo và nhân dân như thù địch, và chỗ nào có những người dân phi Ki-tô giáo cư ngụ đều là vùng địch cả. Vì thế chính quyền Ngô Đình Diệm mới tung nhân viên tình báo theo dõi nhà sư Thích Nhất Hạnh và phái nhân viên mật vụ theo dõi sử gia Nguyễn Hiên Lê.

Sử dụng tình báo hay mật vụ để theo dõi nhân dân như vậy, hiển nhiên là chính quyền Ngô Đình Diệm chỉ coi có tín đồ Da-tô mới là người dân  đáng tin tưởng của chế độ,  và coi đại khối nhân dân không phải là tín đồ Da-tô đều là kẻ đich cả. Đồng thời, nó cũng cho chúng ta thấy là bộ máy tình báo, mật vụ và công an của chính quyền Ngô Đình Diệm hết sức đồ sộ và vô cùng ghê gớm.

Sự thật, bộ máy mật vụ và công an của chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm  thật là vô cùng khủng khiếp. Người viết đã từng sống ở miền Nam từ tháng 3 năm 1955 cho đến ngày 30/4/1975, đã từng chứng kiến tận mắt các ông mật vụ tác oai tác quái ở Sàigòn và các vùng Gia Định và Chợ Lớn, đã từng tìm đọc các tài liệu sử do các nạn nhân của chế độ Ngô Đình Diệm ghi lại, và đã tùng đọc những sách   sử nói về các tổ chức mật vụ công an của chế độ này, cho nên mới biết khá rõ về mực độ tinh vi và mức độ tàn ác của  bộ máy công an và mật vụ chế độ này. Độc giả có thể tìm đọc cuốn Vietnam: A Dragon Embatlted của sử gia Joseph Buttinger (New York:Frederick A. Praeger, 1967, p.956, và sách Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của Cụ Đỗ Mậu (Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1993, tr 645), sách Chín Năm Máu Lửa Dưới Chế Độ Ngồ Đình Diệm của hai tác giả Nguyệt Đam và Thần Phong, sách Những Bí Ẩn Lịch Sử Dưới Chế Độ Ngô Đình Diệm của tác giả Lê Trọng Văn,  bộ sách Biến Cố 11 của Giáo-sư Trần Tương, sách Việt Nam Phật Giáo Trânh Đấu Sử của tác gỉa Tuệ Giác, v..v… thì sẽ thấy rõ bộ mặt thật vô cùng ghê tởm của chế đô đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm.

Thứ hai, mới độc qua hai đọan văn số 2 và số 3 trên đây,   một em bé học sinh mới học xong cấp hai hay lớp 9 ở Hoa Kỳ có thể cho rằng  tác giả của hai đoạn văn trên đây có thể chưa học xong lớp 9, cho nên mới viết càn như vậy. Người viết xin hỏi ông Tú Gàn  rằng TẠI SAO ông lại đem đời tư của cá nhân bà Cao Ngọc Phượng ra bới móc cả cha lẫm mẹ và ông nội của bà ấy ra phơi bày cho thiên hạ biết? Thế cũng chưa đủ, TẠI SAO, ông lại còn nhẫn tâm lôi cả những chuyền trong đời sống riêng tư của bà ấy ra rao bán cho độc giả? Là người có bằng cử nhân luật và đã hành nghề thẩm phán, ông có biết rằng viết như vậy là mang tội bới móc đời tư của một cá nhân để hạ nhục người ta không?

Người viết xin đặt ngược vấn đề như thế này: NẾU có một người nào đó đem đời tư của ông Tú Gàn và vợ ông Tú Gàn ra viết giống như ông Tú Gàn đã viết về đời tư của thày Nhất Hạnh và bà Cao Thị Phượng với những chuyện bịa đặt nhằm mục đích bêu riếu và sỉ nhục, THÌ ông Tú Gàn và vợ ông Tú Gàn sẽ có cảm tưởng như thế nào?

Nói như vậy để khai trí ông Tú Gàn và những người bị độc kế ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mã mà thôi. Chứ ở Hoa Kỳ hay ở bất kỳ theo chế độ tự do dân chủ (dân chủ thực sự, chứ không phải dân chủ giả hiệu như miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975), luật pháp không cho phép bất kỳ người nào được đem chuyện đời tư của một cá nhân nào ra bêu riếu như ông Tú Gàn đã viết hai đọan văn số 2 và số 3 trên đây.

Sự kiện này cho chúng ta thấy rằng chỉ những hạng người dốt nát mới có thể viết như vậy. Nhưng ông Tú Gàn có bằng cử nhân luật tốt nghiệp tại Phân Khoa Luật của Trường Đại Học Sàigòn, là một nhân viên có địa vị của một ông thầm phán trong chính quyền miền Nam trước tháng 4/1975, chứ đâu có phải là một tên vô học hay ngu dốt!. Điều này chứng tỏ rằng, cái sở học của ông ta đã được tiếp nhận qua độc kế ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mã ở Việt Nam cho nên ông ta không biết viết như vậy là viết sai, viết càn, viết bậy, không đúng với nguyên tắc hành xử của những người đã học hết chương trình trung học ở  các quốc gia theo chính sách giáo dục và khai phóng. Như vậy, ta có thể kết luận rằng độc kế ngu dân và giáo dục nhồi sọ đã làm cho ông Tú Gàn dốt nát viết  càn viết ẩu như thế!


[1]  Nhiều tác giả, Vatican Thú Tội Và Xin Lỗi? (Garden Grove, California: Giao Ði?m, 2001), tr 209-212

[2]  Nhiều tác giả, Sđd., , tr 213

[3]  Ngườii viết đã trình bày đề tàii này khá rõ ràng trong cuốn VNĐNCHCHTT 1954-1963 nơi Chương 15 trong đó có ghi lại một bài báo đăng trong tờ Thằng Mõ số 703 (California) ra ngày7 tháng 10 năm 1995 với nguyên văn như sau:  "Nỗ Lực Bảo Vệ Đức Giáo Hoàng Trong Cuộc Thánh Du Hoa Kỳ.- Nữu Uớc (Tin Tổng hợp). Hồi đầu tháng 9 vừa qua, Toa Thánh Vatican đã gởi sang Hoa Kỳ chiếc xe Mercedes bọc thép có vòm kính bên trên. Hiện không rõ xe này ở đâu. Nhà chức trách nói rằng tiết lộ nơi để xe sẽ làm nguy hại cho hệ thống an ninh bảo vệ Đức Giáo Hoàng. Ngài sẽ công du Hoa Kỳ từ ngày 4 đến ngày 8/10/1995. Các viên chức thừa hành luật pháp đã khởi iự một nỗ lực chua từng có để bảo vệ Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ II trong chuyến đicủa Ngài đến Nữu Uớc, New JerseyMaryland. Trong cuộc thăm viếng khu vực Nữu Uớc lần sau cùng trước đây vào năm 1979, Đức Thánh Cha đôi khi di chuyển trên chiếc xe limousine không mui và tự do hòa lẫn vào đám tín đồ. Bây giờ không còn như thế nữa..” Theo báo THẰNG MÕ số 703 ngày 7/10/1995."

[4]  Charlie Nguyễn, Công Giáo Huyền Thoại Và Tội Ác (Garden Grove, California: Giao Ðiểm, 2001), tr 42-43

[5]  Trương Tiến Đạt, Trước Cơn Giống Tố (San Jose, California: TXB, 1995, tr 7)

[6]  Phan Đình Diệm "Tuyên Ngôn "Nulla Salus Extra Ecclesiam" Bài 1 Của Giáo Hội Công Giáo Roma Ngày 5 tháng 9 năm 2000 - Thánh Bộ Đức Tin Công Bố Tài Liệu Về Vấn Đề "Không Có Cứu Độ Bên Ngòai Giáo Hội." tanvien@giesugiao.com Ngày 19/9/2000.

[7] John Paul II, Crossing The Threshold Of Hope (New York: Alfred A. Knopf, 1994, p. 86,  p.9)

[8]  Nhiều tác giả, Vatican Thú Tội Và Xin Lỗi?, Sđd., tr 245.

[9]  Nhiều tác giả, Sđd., tr. 92

[10] Bùi Ðức Sinh, Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo - Phần Nhì (Sàigòn: Chân Lý, 1972), tr 165

[11]  Nguyễn Gia Kiểng, Tổ Quốc Ăn Năn (Paris, TXB, 2001), tr 187

[12]  Vi Anh, "Vatican Làm, Không Nói." Việt Báo Miền Nam số 305. Ngày 14/7/2001, tr A1-A2

[13] Tú Gàn, “Chuyện Thiền Sư Nhất Hạnh Về Việt Nam.” Sàigòn Nhỏ. Ngày 24/12/2004

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com