posted: 12.9.2005
Bài 4:
Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. ĐạoThiên
Chúa La Mã hay Giáo Hội La Mã có quá
nhiều tín lý, giáo luật, thánh luật và những truyền thống và tất cả
những thứ này đều mang nặng tính cách huyễn đều nhân danh Chúa để để
lừa bịp người đời và bóc lột tín đồ. Xảo quyệt và ghê gớm hơn nữa là Giáo Hội lại
còn dạy dỗ tín đồ phải tuỵệt đối
tin tưởng (vô điều kiện) vào Tòa Thánh Vatican hay Giáo Hội, phải tuyệt
đối vâng lời (vô điều kiện) và
hành động theo lời dạy và lệnh truyền của các đấng bề trên (các
cán bộ trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội). Đồng thời, Giáo Hội lại còn chủ trương
điều kiện hóa tín đồ bằng chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ
khiến cho họ giống như con chó trong phòng thí nghiệm của nhà bác học
Pavlov. Một khi đã bị điều kiện hoá rồi,
họ chỉ còn biết tuân phục theo lời dạy và hành động theo
lệnh truyền của các đấng bề trên của họ. Vì đã bị điều kiện hóa như thế, tín đồ Da-tô
không còn khả năng sử dụng lý trí để suy nghĩ hay phân tách xem những lời
dạy và lệnh truyền của Giáo Hội và của các đấng bề trên có thuận
lý và hợp tình hay không. Với tình trạng như vậy, tất nhiên là họ sẽ trở thành những hạng người Giáo Hội
bị sai khiến để làm bất cứ việc gì theo lệnh truyền của Giáo Hội.
Lịch sử đã cho thấy rõ như vậy: Từ khi đạo Da-tô du nhập vào Việt
Nam vào giữa thế kỷ 16 cho đến ngày nay, tất
cả tín đồ Da-tô "ngoan đạo"
người Việt đều trở thành những hạng vong bản, phản lại dân tộc, sẵn
sàng tuân hành lệnh truyền của Giáo
Hội La Mã kể cả những việc làm bán nước cho đế quốc Vatican và các
thế lực ngọai cường liên minh với Giáo Hội La Mã. Bằng chứng là: có
rất nhiều tín đồ Da-tô đã nghe theo ông cố đạo Joseph Marchand (Cố Du) gia nhập
vụ nổi loạn của Lê Văn Khôi ở Gia Định Thành vào những năm 1833-1835.
Những tín đồ Da-tô khác như PétrusTrương Vĩnh Ký, Trương Như Cương, Cao
Xuân Dục, Nguyễn Trường Tộ, Trần Bá Lộc, Ngô Đình Khả, Lê Hoan, Nguyễn
Hữu Bài, Trần Lục, Nguyễn Hoàng, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Thục, Ngô Đình
Diệm, Nguyễn Bá Tòng, Lê Hữu Từ, Phạm
Ngọc Chi, Hoàng Quỳnh, Nguyễn Văn Thiệu, v.v..đều là những tên Việt
gian bán nước cho cả đế quốc Tất cả những tín đố Da-tô này cũng như những
văn, thi, nhạc, sử, báo nô và tu sĩ Da-tô (cuồng tín) người Việt đều
có bản chất gian dối và lươn lẹo. Cái bản chất ghê tởm này của họ
sẽ được lộ rõ ra khi họ tranh luận hay trình bày một trong những đề
tài có liên quan tới: 1.- Những việc làm bất chính của Giáo Hội La Mã chống lại nhân loại và chống lại Việt
Nam từ giữa thế kỷ 17 (thời điểm
Linh-mục Alexandre de Rhodes thu thập những tin tức tình báo chiến lược tại
Đông Dương gửi về Vatican và chính quyền Pháp để chuẩn bị cho công cuộc
xâm lăng Việt Nam) cho đến ngày nay. 2.- Việc tín đồ Da-tô người Việt cấu kết chặt
chẽ với Vatican và Pháp trong suốt chiều dài lịch sử từ giữa thập
niên 1780 cho đến tháng 7 năm 1954 3.- Những việc làm bất chính và đại gian đại
ác của chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm trong những năm
1954-1963 và những hành động của những
tu sĩ và tín đồ Da-tô thuộc loại “thà
mất nước, chứ không thà mất Chúa” ở miền Nam Việt Nam trong suốt
thời kỳ từ tháng 7/1954 cho đến ngày 30/4/1975. 4.- Việc những tu sĩ và tín đồ Da-tô người Việt
ở Hải Ngoại thuộc loại “nhất Chúa,
nhì cha, thứ ba Ngô Tổng Thống” có
những hành động vi phạm nhân quyền một cách hết sức thô bạo trong những
vụ dưới đây: a.- Một nhóm
tín đồ Da-tô người Việt cố gắng phá thối buổi ra mắt cuốn sách Đối
Thoại Với Giáo Hoàng John Paul II do anh em trong nhóm Giao Điểm tổ chức
ở Westminster, California vào ngày 19/8/1995. b.- Một nhóm tín đồ Da-tô do các ông Bùi Bỉnh
Bân, Đoàn Thế Cường và Vạn Võ Hành Khuyên dẫn đầu đến chùa Việt
Nam ở Garden Grove, California vào thượng
tuần tháng 6 năm 1996 để hạch sách thày Pháp Châu về điều mà họ
cho rằng nhà sư này có “thái độ thân Cộng”. c.- Một nhóm tín đồ Da-tô mưu đồ phá thối buổi
hội thảo văn hóa của anh em văn nghệ sĩ Bắc Mỹ do Tiến-sĩ Vũ Ngự Chiêu
và người viết tổ chức tại Seattle, Washington vào ngày 20/12/1997. d.- Một nhớm tín đồ Gia-tô tổ chức và tham dự
vụ biểu tình và bao vây ngôi chùa Đức Viên ở San Jose khởi đầu vào buổi
chiều ngày 18/5/1998 và kéo dài trong nhiều ngày, khi Đại Lão Hòa Thượng
Thích Dũng từ Việt Nam qua Hoa Kỳ tham quan và lưu trú tại đây. e.- Vụ biểu tình thị uy và khủng bố tinh thần
ông Trần Trường chủ tiệm cho muớn băng Video tại thành phố f.- Tháng 7 năm 2001, Bà Minh Anh Hodge, Giám đốc
Chương Trình ESL, Ngoại Ngữ và Tiểu Học tại Nha Học Chánh Tacoma,
Washington cũng trở thành nạn nhân của các ông
“thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” chỉ vì, khi được
mời thuyết trình về đề tài Người Việt Tị Nạn Ở Washington vào cuối
tháng 4/2000 tại Tacoma Community College (kỷ niệm 25 năm của nguời Việt tị
nạn), bà đã cho trình chiếu nhiều tấm hình về cuộc chiến Việt
Nam trong đó có tấm hình Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, hình Đại
Tá Nguyễn Ngọc Loan đang nhắm bắn một tù nhân với hai tay bị trói quặp
lại sau lưng và hình em bé Kim Phúc bị cháy phỏng bởi bom lửa (Napalm) với
thân hình trần truồng vừa chạy vừa khóc trong kinh hoàng. (Độc giả có
thể kiểm chứng sự kiện này bằng cách tiếp xúc với bà Minh Anh Hodge
hay các nhân viên trong ban giảng huấn ESL hoặc nhân viên văn phòng ESL và
Ngoại Ngữ tại Sở Học Chánh Tacoma). g.- Ông Da-tô Nguyễn Xuân Tùng hai lần chỉ huy đoàn
người đồng đạo mà họ gọi là Diến Đàn Kitô Hữu đến bao vây ngôi
Chùa Việt Nam ở Garden Grove, California với mục đích khủng bố tinh thần
thày Thích Pháp Châu vì rằng nhà sư này vừa là chủ bút tạp chí
Hoa Sen vừa là trưởng ban điều hành Đài Phát Thanh Quê Hương Việt Nam: Lần
thứ nhất xẩy ra vào 27/10/2002 và lần thứ hai xẩy ra vào
ngày ngày 24/4/2004 kéo dài tới ngày 31/5/2004 (tất cả là 55
ngày), trong đó có ngày đại lễ Phật Đản vào ngày 30 5/2004. (Độc giả
có thể kiểm chứng sự kiện này bằng các tiếp xúc với thày Pháp Châu
ở ngôi chùa này). h.- Vụ bọn người cuồng nô vô tổ quốc biểu
tình, khủng bố và mưu đồ phá thối buổi ra mắt cuốn sách Trả Ta
Sông Núi của Cựu Đại Tá Phạm Văn Liễu được tổ chức ở San
Jose, California vào tháng 7/2003. i.- Những hành động
nhục mạ nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, MC Nguyễn Cao Kỳ Duyên kể
từ khi cuốn băng Thúy Nga Paris 40 được
phát hành vào năm 1996. Rồi từ đó, các ca sĩ như Hương Lan, Ái Vân, Băng
Kiều, Thanh Tuyền, Thanh Lan, Ngọc Huyền, Hồng Nhung, Trần Thu Hà, Thu Phương,
Lam Trường, Phương Thanh, v.v…,tất cả cũng
đã trở thành nạn nhân của bọn người cuồng nô vô tổ quốc này. Tệ
hại hơn nữa, cả những người ái mộ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng bị
“đàn con Chúa ngoan đạo” ghét
cay ghét đắng và bị chụp mũ là thân Cộng hay Cộng Sản nằm vùng. j.- Hành động
chửi bới và hạ nhục những người Việt hải ngoại về thăm quê hương.
Điển hình là vụ tổ chức một buổi lễ tẩy chay ông Nguyễn Cao Kỳ chỉ
vì ông Kỳ về thăm Việt Những nạn nhân của muời (10) trường hợp trên đây
đều bị gán cho là "Cộng Sản" hoặc "Công Sản nằm
vùng" hay "tiếp tay cho Cộng Sản" và “cán bộ
tuyên vận của Cộng Sản”. Những hành động ngang ngược trên đây
chứng tỏ tín đồ Da-tô người Việt “thuộc loại con cừu ngoan đao”
bất chấp cả các quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do hội họp,
tự do tôn giáo, tự do di chuyển, v.v… của mọi người được hiến pháp
và luật pháp triệt để bảo vệ. Khi nêu lên một trong những đề tài trên đây và yêu cầu họ cho biết ý kiến về những hành động ghê tởm này của họ,
chúng ta sẽ thấy cái bản chất quay quẳt, lắt léo, nhập nhằng và lươn
lẹo của họ lộ ra rõ ràng nhất khi họ đưa ra những luận cứ của họ. 10.- MỘT VÀI TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH Trường hợp 1.-
Chúng ta hãy lấy môt trường hợp điển hình là việc ông Diệm được Toà
Thánh Vatican cho người dẫn sang Mỹ giao cho Hồng Y Francis Spellman vận động
chính quyền Hoa Kỳ đưa ông ta về Việt Phản ứng của họ sẽ là một trong hai trường hợp
sau đây: A.- Phản bác sự kiện này bằng những lời lẽ ngụy
biện. Khi họ ngụy biện, cái bản chất quay quắt, lắt léo, nhập nhằng
và lươn lẹo lộ ra cho chúng thấy. B.- Đồng ý đó là một sự kiện lịch sử. Khi đó,
chúng ta sẽ nói với họ rằng một người mà bản thân không những đã
không có tài chính trị, không có thành tích cách mạng xả thân vì nước
chống xâm lăng, không chìm nổi với
đất nước và nhân dân, không có khả năng tự tạo cho mình cái thế để
nhẩy lên nắm chính quyền lãnh đạo quốc dân một cách hợp lý hay thuận
lòng dân, mà còn có một quá khứ ô nhục về tội phản quốc, rồi lại được một thế lực ngoại bang dẫn dắt
đến Hoa Kỳ để chạy chọt van xin được tiếp kiến hết nhân vật này
đến nhân vật nọ của Hoa Kỳ cả mấy năm trời mới được đưa về
nước cầm quyền. Vậy xin đặt vấn đề: khi được Hoa Kỳ chấp nhận
đưa về Việt Nam cầm quyền, ông Diệm có phải chấp nhận những điều
kiện có lợi cho Hoa Kỳ trong đó có cả điều kiện ông Diệm phải tuân
hành và thi hành nghiêm chỉnh tất mọi chỉ thị của Hoa Kỳ đưa ra, giống như những trường hợp của ông Tổng
Thống Hamid Karzai của nước Afghanistan và ông Thủ Tướng Ayad Allawi của nước Irak khi được Hoa Kỳ
đưa lên cầm quyền ở nước họ hiện nay không?
Đặt xong vấn đề như trên rồi, xin họ trả lời. Khi họ trả
lời, nếu quan sát kỹ nét mặt, cặp mắt và cung cách họ lý luận, cái bản chất quay quắt, lắt léo, nhập
nhằng và lươn lẹo của họ sẽ lộ ra cho chúng ta nhìn thấy rõ ở trong
những chỗ đó. Biết rõ nguồn
gốc VÌ SAO mà ông Diệm đước nhẩy lên bàn độc cầm quyền ở miên Nam
như vây mà họ còn hò nhau viết sách, viết báo, cao giong trong các đài
truyền thanh, truyền hình với những luận điệu lên án Hoa Kỳ "chủ mưu và thuê các tướng lãnh làm cuộc
đảo chánh vào 1/11/11963 và chủ mưu sát hại anh em ông Ngô Đình Diệm"
thĩ rõ ràng là họ "gian dối, mưu mô, xảo quyệt, quay quắt, lắt
léo, lươn lẹo, lật lọng và bịp bợm". Tóm lại, ông
Ngô Đình Diệm đã lât lọng và phản bội Hoa Kỳ cho nên mới nên nông nỗi! Ông Ngô Đình Diệm đã lật lọng và phản bội Hoa
Kỳ như thế nào? Ông Diệm không những đã không thì hành đúng những
điều kiện mà Hoa Kỳ đã đặt ra với ông Diêm
vào khi họ bằng lòng đưa ông Diệm về Việt Nam cầm quyền
mà lại còn triệt để tiến hành kế
họach Kitô Hóa miền Nam (làm cho đại khối nhân dân miền Nam Việt Nam
không phải là tín đồ Da-tô căm thù chính
quyền miền Nam và căm thù luôn cả Hoa Kỳ) và để mặc cho anh em, bà con trong gia
đình và những người đồng đạo thao túng chính quyền, coi miền Nam như
của riêng của đạo Da-tô. Cũng nên biết những điều kiện mà Hoa Kỳ đã đặt
ra cho ông Ngô Đình Diệm khi chấp nhận lời thỉnh cầu của Giáo Hội La
Mã cho ông ta về Việt Nam cầm quyền chắc chắn là tương tự như một số
trong những điều kiện mà Hoa Kỳ đưa ra cho Nhật Bản khi gửi tối hậu
thư cho chính phủ Đông Kinhvào ngày 26/7/1945. Dưới đay là những điều kiện
này: 1.- Phải công nhận và ban bố quyền tự do ngôn luận,
tự do tôn giáo và tự do tưởng cho nhân dân. 2.- Dẹp bỏ mọi giới hạn để phục hồi và
phát huy dân chủ trong quốc gia. 3.- Dân chủ hoá bộ máy chính quyền Nếu còn có những người không biết những sự thật
lích sử trên đây, chúng ta đặt ra vấn đề với họ là: 1.- Nếu không có Hoa Kỳ, ông Diệm có được đưa
về Việt 2.- Nếu không có Hoa Kỳ, dù rằng đã được đưa
về Việt Nam cầm quyền, chính quyền của ông Diệm có thể đứng vững và
tồn tại cho đến năm 1963 không? Sở dĩ những
tín đồ Da-tô người Việt không nhìn ra vấn đề này là do một phần vì bản chất trịch thương và
thiên lệch của họ, và một vì họ đã bị chính sách ngu dân và giáo dục nhồi
sọ làm cho các tế bào thần kinh trong trung khu lý trí bị tê liệt, khiến
cho họ không còn khả năng suy luận, họ bị biến thành những người chỉ
biết tuân hành theo lệnh truyền của các đấng bề trên giống như các
con chó ở trong phòng thí nghiệm của nhà bác học Pavlov. Trường hợp 2.- Tín đồ Da-tô
người Việt thường đưa ra luận điệu "ông Diệm khăng
khăng bác bỏ việc Hoa Kỳ yêu cầu đưa quân vào Miền Thứ nhất.-
Trong cuốn Retrospect - The Tragedy Lessons Of Vietnam (bản tiếng Việt), ông cựu
Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara nói về chủ trương của Hoa Kỳ giảm quân
ở miền Nam Việt Nam như sau: "Qua những năm với
Kennedy, chúng tôi đặt vấn đề trên hai căn bản hoàn toàn mẫu thuẫn
nhau. Một là nếu để cho miền "Đến năm
1962, mục tiêu về Việt Nghĩ như vậy nên
nhân ngày 23/7/1962, có cuộc họp ở Honululu, tôi mới hỏi (Đại Tướng)
Harkins rằng theo ý ông phải mất bao
nhiêu lâu nữa mới có thể chế ngự được tiềm năng của Việt Cộng.
Ông ước tính chừng một năm sau khi lực lượng dân vệ và quân sự của
Việt Nam bắt đầu họat động mạnh và tảo thanh Việt Cộng. Tổng kết các điều
trên xong, tôi liền ra lệnh phác thảo một kế họach dài hạn, quy
định các giai đọan rút các cố vấn Hoa Kỳ được trù định theo dự
đoán trong ba năm tới Việt cộng sẽ hòan tòan bị đè bẹp. Lúc ấy
chúng tôi sẽ có khoảng 16 ngàn cố vấn tại miền Mùa xuân năm sau, vào
tháng Ba năm 1963, tôi hỏi ông Robert Thompson xem ông thấy có
nên rút bớt số cố vấn thì ông trả lời nếu với tiến bộ như vậy và
tình hình Việt Cộng bị đánh dẹp một vài nơi trong mùa hè này, thì có
thể rút chừng một ngàn. Qua lần họp với
(Đại Tướng) Harkins vào ngày 6 tháng 5 năm 1963 tại Honolulu, ông tướng
này nói rằng chúng tôi vẫn tiến triển khả quan. Vì vậy, tôi cho giới
quân sự rút bớt một ngàn cố vấn vào cuối năm đó." [2] "Sau khi bàn
cãi sôi nổi, tổng thống ký thuận đề nghị của chúng tôi rút
một ngàn quân vào ngày 31 tháng 12 năm 1963. Theo tôi nhớ lại, ông làm
như vậy mà không nêu ra lý do tại sao. Dù sao thì đã có quá nhiều phản
đối và vì tôi nghi ngờ những người khác có thể muốn ông làm ngược
lại. Tôi hối thúc ông tuyên bố một cách công khai. Có như vậy mới chắc
chắn. Điều này gây ra
nhiều tranh luận là chuyện không có gì đáng ngạc nhiên, mặc dầu ông đã phản đối đọan nói:
"vào cuối năm nay", ông có cảm tưởng rằng nếu nói như vậy mà
không làm được trong vòng chín mươi (90) ngày, chúng tôi sẽ bị lên án
là đã lạc quan quá mức. Tôi nói: "Lợi điểm của việc rút quân
là chúng ta có thể nói với Quốc Hội và
đồng bào tại Hoa Kỳ rằng chúng tôi thật sự có kế hoạch giảm số
quân tác chiến Hoa Kỳ phải trực diện chiến đấu với quân du kích tại
miền Nam Việt Nam, rằng người dân miền Nam Việt Nam nên dần dần
phát triển khả năng đè bẹp Cống Sản. Và tôi nghĩ điều này sẽ
có giá trị rất lớn đối với chúng tôi vì nó phù hợp với quan điểm
mạnh mẽ của (Thượng Nghị Sĩ ) Fullbright cùng
các nhân vật khác khi chúng tôi sa lầy tại Á Châu và phải khứng chịu
như vậy suốt vài thập niên tới. "Cuối cùng
Tổng Thống (Kennedy) đồng ý, và lời tuyên bố được Tham Vụ Báo
Chí Pierre Salinger đưa ra vào chiều hôm ấy. Sau đây là đọan trích trong lời
tuyên bố: "Bộ Trưởng
McNamara và Tướng Taylor... báo cáo rằng vào cuối năm nay, chương trình huấn
luyện của Hoa Kỳ tại Việt Nam sẽ tiến triển đến mức độ có thể
một ngàn binh sĩ Hoa Kỳ mà được bổ nhiệm sang Việt Nam sẽ được rút
về. Tình hình chính trị tại Qua bản văn trên, chúng ta thấy rằng không hề
có lời nào của Hoa Kỳ yêu cầu ông
Diệm cho phép đưa thêm quân vào miền Nam Việt Thứ hai.- Trong bài viết Nhân Vật Chống Cộng Số 5: Ngô Đình Diệm
(1901-63), ở mục Nhân Vật Chí, trong tờ Người Dân Số 158 tháng 10
năm 2003, nhà nghiên cứu sử học Phạm Tưởng cho chúng ta thấy rõ những
việc làm bất chính của ông Diệm, và đầy đủ chi tiết về vấn đề
Hoa Kỳ không những không hề yêu cầu ông Diệm
để cho họ đưa quân vào trú đóng ở miền Nam, mà còn nhiều
lần từ chối, không chấp thuận lời ông Diệm yêu cầu Hoa Kỳ đem quân
vào miền Nam giúp ông ổn định tình hình và đàn áp các phong trào nhân
dân chống lại chế độ đạo phiệt
của ông. Dưới đây là nguyên bản những
đọan văn này: "Còn việc di
cư, thì Mỹ huy động đủ mọi phương tiện, tiền bạc để đưa đón, với
sự tiếp tay nồng nhiệt của bao nhiêu quốc gia. Các linh mục nhiệt thành
lãnh đạo giáo dân. Giáo dân toàn là hậu dụê của những người từng
theo doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ đi khai khẩn đất đai. Có tầu bè
đưa đi, có cha cố hướng dẫn, có đất đai mầu mỡ. Các giáo dân đều
là những người cần cù chăm chỉ. Nay bỗng dưng được giúp đỡ cơm gạo
tiền bạc, cấp phát đất đai. Tất cả những yêu tố đó tạo nên thành
quả. Phần ông Diệm
đóng góp cái gì? Ai ở trong trường hợp đó mà không có thành quả tương
tự hoặc gấp bội nữa, nếu không bớt xén tiền viện trợ của Tổng
Ủy Di Cư. (Sự thật là như vậy). Thì
tại sao lại cứ nhất định đó là công lao của Ngô Đình Diệm? Chưa kể kế hoạch
của ông Diệm là đưa giáo dân đến định cư tại những địa điểm đầu
sóng ngọn gió để lãnh đủ bão táp cộng sản. 3.-( Về Luận điệu
gian dối cho rằng) còn ông Diệm, thì
Mỹ không đem quân được vào Việt Hãy theo dõi một
số dữ kiện: Ngày 18/8/1961, ông
Diệm loan báo tình trạng tổ quốc lâm nguy. Ngày 13/10/(1961), ông sai Nguyễn
Đình Thuần, Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng, xin Mỹ gửi đơn vị tác chiến,
xin Đài Loan gửi một sư đòan (Mỹ từ chối). Ngày 15 tháng 10
)1961), ông ban bố sắc lệnh SL. 209 TTP đặt lãnh thổ trong tình trạng khẩn
cấp. Ngày 7 tháng 12 (năm 1961), ông gửi thư cho Tổng Thống Kennedy, trình
bày tình trạng bi đát, kêu gọi giúp đỡ. Ngày 8 tháng 2 năm
1962, Mỹ thiết lập Bộ Tư Lệnh MAC-V tại Việt Ngày 8 tháng 5 năm
1963 xẩy ra vụ Phật Giáo ở đài phát thanh Huế. Ngày 22 (tháng 5 năm
1963), Tổng Thống Kennedy tuyên bố sẵn sàng rút quân Mỹ về ngay ngày
hôm sau nếu có sự yêu cầu của Việt (Trong Plausible
Denial của Mark Lane, ông L. Fletcher
Prouty, đại tá không quân trong Đệ Nhị Thế Chiến, từng phục vụ 30
năm trong ngành tình báo, và từ năm 1955 đến 1963 là trưởng nhóm Họat Động
Đặc Biệt thuộc Ban Tham Mưu Liên Quân xác nhận là: Sau khi gửi Tướng
Victor Krulak và Joseph Mendenhall thuộc bộ ngoại giao, rồi Tướng Maxwell
Taylor và Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara qua Việt Nam điều nghiên việc
Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam, Tổng Thống Kennedy không những chỉ muốn
rút quân đội mà là rút tất cả người Mỹ, kể cả viên chức CIA,
đã ban hành chỉ thị National Security
Action Memorandum 263 (NSAM 263) và ngày 2 tháng 10 (1963) tuyên bố 1,000 quân
nhân Mỹ ở Việt Nam với tính cách cố vấn sẽ được hồi hương vào cuối
năm 1963. Kenneth O' Donnell, từng là cố vấn của (Tổng Thống) Kennedy,
trong O'Donnell and Powers, Johnny, We Hardly
Knew Ye, cũng viết là (Tổng Thống) Kennedy sửa soạn đưa tất cả người
Mỹ ở Việt Ông Diệm bị lật
đổ. Chỉ bốn ngày sau khi (Tổng Thống) Kenndey
bị ám sát, Tổng Thống Johnson lại tác xác nhận việc rút 1,000 quân
vào cuối năm 1963 của chỉ thị NSAM 263 bằng chỉ thị NSAM 273 ngày 26
tháng 11 năm 1963. Qua bao nhiêu xáo
trộn, các tướng lãnh ai cũng giữ quân ở nhà để tranh giành quyền
bính, tình hình quá nguy ngập. Ngày 17 tháng 3 năm 1964, mới có chỉ thị
NSAM 288 về khả năng mang đơn vị chiến đấu bảo vệ khu vực Saigòn và
ngày 25 tháng 5 thảo quyết định đệ trình Quốc Hội (và được chuẩn
y) về việc quân đội Mỹ tham dự chiến đấu (the United States is prepared,
upon request of the Government of South Vietnam or the Government of Laos, to use all
measures, including the commitment of armed forces to assist the government in the defense
of its independence and territorial integrity against aggression or subversion supported,
controlled or directed from any Communist country). Tuy vậy, mãi tới ngày 8 tháng 3 năm 1965 (16
tháng sau), Mỹ mới đổ 1,500 thủy quân lục chiến ở Thiêt lập bộ tư
lệnh với 12,000 cố vấn (thời ông Diệm) và đổ bộ 1,500 binh sĩ (thời
sau ông Diệm) , cứ so sánh thì sẽ thấy rõ ràng Việt Nam đã bị xâm phạm
chủ quyền nhiều dưới thời ông Diệm hay thời sau Diệm." [4]
Bản văn trên đây cho chúng ta thấy rõ chính ông Diệm
đã nhiều lần yêu cầu Mỹ gửi quân vào Việt Đúng là “giang
sơn dễ đổi bản chất khó chừa”. Cái bản chất ăn không nói
có, quay quắt, lắt léo, nhập nhằng và lươn lẹo của Giáo Hội La Mã cũng như của giới tu sĩ và của những
tín đồ Da-tô “ngoan đạo” đã hoà nhập vào từng tế bào trong cơ thể
của họ. Vì thế mà các thế hệ ông cha của họ trong thời “trăm năm nô
lệ giặc Tây” xuyên suốt thời
Kháng Chiến 1945-1954” và cho đến đời họ của họ ở Miền Nam Việt
Nam trong những năm 1954-1975 và ở hải ngoại từ tháng 5/1975 cho đến nay, tính ra cả mấy thế hệ rồi
mà cái bản chất ghê tởm này của họ vẫn nguyên vẹn như xưa. [1] "Robert S. McNamara, Hồi Ký: Những Thảm Kịch Và Bài Học Việt
[2] Robert S. McNamara, Sđd., tr 65-66 [3] Robert S. McNamara, Sđd., tr 106-107 [4] Phạm Tuởng, "Nhân Vật Chống Cộng Số 5: Ngô Đình Diệm (1901-63)" Người Dân Số 158, tháng 10/ 2003: 26-31. |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com