905-gd.gif (2472 bytes)

posted: 12.9.2005

Bài 4:

9. ĐẾN GIAI CẤP TU SĨ VÀ TÍN ĐỒ
CŨNG BỊP

Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. ĐạoThiên Chúa La Mã hay Giáo Hội La Mã  có quá nhiều tín lý, giáo luật, thánh luật và những truyền thống và tất cả những thứ này đều mang nặng tính cách huyễn đều nhân danh Chúa để để lừa bịp người đời và bóc lột tín đồ.

Xảo quyệt và ghê gớm hơn nữa là Giáo Hội lại còn dạy dỗ tín đồ phải tuỵệt đối tin tưởng (vô điều kiện) vào Tòa Thánh Vatican hay Giáo Hội, phải tuyệt đối vâng lời (vô điều kiện)  và hành động theo lời dạy và lệnh truyền của các đấng bề trên (các cán bộ trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội).  Đồng thời, Giáo Hội lại còn chủ trương điều kiện hóa tín đồ bằng chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ khiến cho họ giống như con chó trong phòng thí nghiệm của nhà bác học Pavlov. Một khi đã bị điều kiện hoá rồi,   họ chỉ còn biết tuân phục theo lời dạy và hành động theo lệnh truyền của các đấng bề trên của họ.

Vì đã bị điều kiện hóa như thế, tín đồ Da-tô không còn khả năng sử dụng lý trí để suy nghĩ hay phân tách xem những lời dạy và lệnh truyền của Giáo Hội và của các đấng bề trên có thuận lý và hợp tình hay không. Với tình trạng như vậy, tất nhiên là họ  sẽ trở thành những hạng người Giáo Hội bị sai khiến để làm bất cứ việc gì theo lệnh truyền của Giáo Hội. Lịch sử đã cho thấy rõ như vậy: Từ khi đạo Da-tô du nhập vào Việt Nam vào giữa thế kỷ 16 cho đến ngày nay, tất cả tín đồ Da-tô "ngoan đạo" người Việt đều trở thành những hạng vong bản, phản lại dân tộc, sẵn sàng tuân hành lệnh truyền của  Giáo Hội La Mã kể cả những việc làm bán nước cho đế quốc Vatican và các thế lực ngọai cường liên minh với Giáo Hội La Mã. Bằng chứng là: có rất nhiều tín đồ Da-tô  đã nghe theo  ông cố đạo Joseph Marchand (Cố Du) gia nhập vụ nổi loạn của Lê Văn Khôi ở Gia Định Thành vào những năm 1833-1835. Những tín đồ Da-tô khác như PétrusTrương Vĩnh Ký, Trương Như Cương, Cao Xuân Dục, Nguyễn Trường Tộ, Trần Bá Lộc, Ngô Đình Khả, Lê Hoan, Nguyễn Hữu Bài, Trần Lục, Nguyễn Hoàng, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm,  Nguyễn Bá Tòng, Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi, Hoàng Quỳnh, Nguyễn Văn Thiệu, v.v..đều là những tên Việt gian bán nước cho cả đế quốc Vatican lẫn đế quốc Pháp và  sau đó là siêu cường Hoa Kỳ.

Tất cả những tín đố Da-tô y cũng như những văn, thi, nhạc, sử, báo nô và tu sĩ Da-tô (cuồng tín) người Việt đều có bản chất gian dối và lươn lẹo. Cái bản chất ghê tởm này của họ sẽ được lộ rõ ra khi họ tranh luận hay trình bày một trong những đề tài có liên quan tới:

1.- Những việc làm bất chính của Giáo Hội La Mã  chống lại nhân loại và chống lại Việt Nam từ giữa thế kỷ 17 (thời điểm Linh-mục Alexandre de Rhodes thu thập những tin tức tình báo chiến lược tại Đông Dương gửi về Vatican và chính quyền Pháp để chuẩn bị cho công cuộc xâm lăng Việt Nam) cho đến ngày nay.

2.- Việc tín đồ Da-tô người Việt cấu kết chặt chẽ với Vatican và Pháp trong suốt chiều dài lịch sử từ giữa thập niên 1780 cho đến tháng 7 năm 1954

3.- Những việc làm bất chính và đại gian đại ác của chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm trong những năm 1954-1963 và  những hành động của những tu sĩ và tín đồ Da-tô thuộc loại “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” ở miền Nam Việt Nam trong suốt thời kỳ từ tháng 7/1954 cho đến ngày 30/4/1975.

4.- Việc những tu sĩ và tín đồ Da-tô người Việt ở Hải Ngoại thuộc loại “nhất Chúa, nhì cha, thứ ba Ngô Tổng Thống  có những hành động vi phạm nhân quyền một cách hết sức thô bạo trong những vụ dưới đây:

a.-  Một nhóm tín đồ Da-tô người Việt cố gắng phá thối buổi ra mắt cuốn sách Đối Thoại Với Giáo Hoàng John Paul II do anh em trong nhóm Giao Điểm tổ chức ở Westminster, California vào ngày 19/8/1995.

b.- Một nhóm tín đồ Da-tô do các ông Bùi Bỉnh Bân, Đoàn Thế Cường và Vạn Võ Hành Khuyên dẫn đầu đến chùa Việt Nam  ở Garden Grove, California vào thượng tuần tháng 6 năm 1996 để hạch sách thày Pháp Châu về điều mà họ cho rằng nhà sư này có “thái độ thân Cộng”.

c.- Một nhóm tín đồ Da-tô mưu đồ phá thối buổi hội thảo văn hóa của anh em văn nghệ sĩ Bắc Mỹ do Tiến-sĩ Vũ Ngự Chiêu và người viết tổ chức tại Seattle, Washington vào ngày 20/12/1997.

d.- Một nhớm tín đồ Gia-tô tổ chức và tham dự vụ biểu tình và bao vây ngôi chùa Đức Viên ở San Jose khởi đầu vào buổi chiều ngày 18/5/1998 và kéo dài trong nhiều ngày, khi Đại Lão Hòa Thượng Thích Dũng từ Việt Nam qua Hoa Kỳ tham quan và lưu trú tại đây.

e.- Vụ biểu tình thị uy và khủng bố tinh thần ông Trần Trường chủ tiệm cho muớn băng Video tại thành phố Westminster, California trong nhiều ngày vào năm 1998 (?) khi ông này trưng hình ông Hồ Chí Minh và lá cờ đỏ sao vàng ở trong cửa tiệm của ông ta. Trong khi đó, hàng năm cứ đến ngày 1/11, tín đồ Da-tô người Việt tại các địa phương ở Bắc Mỹ tổ chức lễ giỗ tên Da-tô tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm một cách vô cùng rầm rộ thì chẳng có ai nói gì cả.

f.- Tháng 7 năm 2001, Bà Minh Anh Hodge, Giám đốc Chương Trình ESL, Ngoại Ngữ và Tiểu Học tại Nha Học Chánh Tacoma, Washington cũng trở thành nạn nhân của các ông “thà mất nước, chứ không thà mất Chúachỉ vì, khi được mời thuyết trình về đề tài Người Việt Tị Nạn Ở Washington vào cuối tháng 4/2000 tại Tacoma Community College (kỷ niệm 25 năm của nguời Việt tị nạn), bà đã cho trình chiếu nhiều tấm hình về cuộc chiến Việt Nam trong đó có tấm hình Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, hình Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan đang nhắm bắn một tù nhân với hai tay bị trói quặp lại sau lưng và hình em bé Kim Phúc bị cháy phỏng bởi bom lửa (Napalm) với thân hình trần truồng vừa chạy vừa khóc trong kinh hoàng. (Độc giả có thể kiểm chứng sự kiện này bằng cách tiếp xúc với bà Minh Anh Hodge hay các nhân viên trong ban giảng huấn ESL hoặc nhân viên văn phòng ESL và Ngoại Ngữ tại Sở Học Chánh Tacoma).

g.- Ông Da-tô Nguyễn Xuân Tùng hai lần chỉ huy đoàn người đồng đạo mà họ gọi là Diến Đàn Kitô Hữu đến bao vây ngôi Chùa Việt Nam ở Garden Grove, California với mục đích khủng bố tinh thần thày Thích Pháp Châu vì rằng nhà sư này vừa là chủ bút tạp chí Hoa Sen vừa là trưởng ban điều hành Đài Phát Thanh Quê Hương Việt Nam: Lần thứ nhất xẩy ra vào 27/10/2002lần thứ hai xẩy ra vào ngày ngày 24/4/2004 kéo dài tới ngày 31/5/2004 (tất cả là 55 ngày), trong đó có ngày đại lễ Phật Đản vào ngày 30 5/2004. (Độc giả có thể kiểm chứng sự kiện này bằng các tiếp xúc với thày Pháp Châu ở ngôi chùa này).

h.- Vụ bọn người cuồng nô vô tổ quốc biểu tình, khủng bố và mưu đồ phá thối buổi ra mắt cuốn sách Trả Ta Sông Núi của Cựu Đại Tá Phạm Văn Liễu được tổ chức ở San Jose, California vào tháng 7/2003.

i.- Những hành động   nhục mạ nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, MC Nguyễn Cao Kỳ Duyên kể từ khi cuốn băng  Thúy Nga Paris 40 được phát hành vào năm 1996. Rồi từ đó, các ca sĩ như Hương Lan, Ái Vân, Băng Kiều, Thanh Tuyền, Thanh Lan, Ngọc Huyền, Hồng Nhung, Trần Thu Hà, Thu Phương, Lam Trường, Phương Thanh, v.v…,tất cả  cũng đã trở thành nạn nhân của bọn người cuồng nô vô tổ quốc này. Tệ hại hơn nữa, cả những người ái mộ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng bị “đàn con Chúa ngoan đạo” ghét cay ghét đắng và bị chụp mũ là thân Cộng hay Cộng Sản nằm vùng.

j.- Hành động chửi bới và hạ nhục những người Việt hải ngoại về thăm quê hương. Điển hình là vụ tổ chức một buổi lễ tẩy chay ông Nguyễn Cao Kỳ chỉ vì ông Kỳ về thăm Việt Nam trong dịp Tết Giáp Thân 2004 Rồi mới đây lại có thêm một nạn nhân nữa là nhạc sĩ Phạm Duy. Những hành động vừa vô học vừa độc tài này còn tệ hơn chế độ Phát xít Ý và Đức Quốc Xã.

Những nạn nhân của muời (10) trường hợp trên đây đều bị gán cho là "Cộng Sản" hoặc "Công Sản nằm vùng" hay "tiếp tay cho Cộng Sản" và “cán bộ tuyên vận của Cộng Sản”. Những hành động ngang ngược trên đây chứng tỏ tín đồ Da-tô người Việt “thuộc loại con cừu ngoan đao” bất chấp cả các quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tôn giáo, tự do di chuyển, v.v… của mọi người được hiến pháp và luật pháp triệt để bảo vệ.

Khi nêu lên một trong những đề tài trên đây và  yêu cầu họ cho biết ý kiến về  những hành động ghê tởm này của họ, chúng ta sẽ thấy cái bản chất quay quẳt, lắt léo, nhập nhằng và lươn lẹo của họ lộ ra rõ ràng nhất khi họ đưa ra những luận cứ của họ.

10.- MỘT VÀI TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH

Trường hợp 1.- Chúng ta hãy lấy môt trường hợp điển hình là việc ông Diệm được Toà Thánh Vatican cho người dẫn sang Mỹ giao cho Hồng Y Francis Spellman vận động chính quyền Hoa Kỳ đưa ông ta về Việt Nam cầm quyền. Chúng ta bảo đây là một sự kiện lịch sử. Họ sẽ phản ứng như thế nào?

Phản ứng của họ sẽ là một trong hai trường hợp sau đây:

A.- Phản bác sự kiện này bằng những lời lẽ ngụy biện. Khi họ ngụy biện, cái bản chất quay quắt, lắt léo, nhập nhằng và lươn lẹo lộ ra cho chúng thấy.

B.- Đồng ý đó là một sự kiện lịch sử. Khi đó, chúng ta sẽ nói với họ rằng một người mà bản thân không những đã không có tài chính trị, không có thành tích cách mạng xả thân vì nước chống xâm lăng, không  chìm nổi với đất nước và nhân dân, không có khả năng tự tạo cho mình cái thế để nhẩy lên nắm chính quyền lãnh đạo quốc dân một cách hợp lý hay thuận lòng dân, mà còn có một quá khứ ô nhục về tội phản quốc, rồi lại  được một thế lực ngoại bang dẫn dắt đến Hoa Kỳ để chạy chọt van xin được tiếp kiến hết nhân vật này đến nhân vật nọ của Hoa Kỳ cả mấy năm trời mới được đưa về nước cầm quyền. Vậy xin đặt vấn đề: khi được Hoa Kỳ chấp nhận đưa về Việt Nam cầm quyền, ông Diệm có phải chấp nhận những điều kiện có lợi cho Hoa Kỳ trong đó có cả điều kiện ông Diệm phải tuân hành và thi hành nghiêm chỉnh tất mọi chỉ thị của Hoa Kỳ đưa ra,  giống như những trường hợp của ông Tổng Thống Hamid Karzai của nước Afghanistan và ông Thủ Tướng  Ayad Allawi của nước Irak khi được Hoa Kỳ đưa lên cầm quyền ở nước họ hiện nay không?   Đặt xong vấn đề như trên rồi, xin họ trả lời. Khi họ trả lời, nếu quan sát kỹ nét mặt, cặp mắt và cung cách họ lý luận,  cái bản chất quay quắt, lắt léo, nhập nhằng và lươn lẹo của họ sẽ lộ ra cho chúng ta nhìn thấy rõ ở trong những chỗ đó.

Biết rõ  nguồn gốc VÌ SAO mà ông Diệm đước nhẩy lên bàn độc cầm quyền ở miên Nam như vây mà họ còn hò nhau viết sách, viết báo, cao giong trong các đài truyền thanh, truyền hình với những luận điệu lên án Hoa Kỳ "chủ mưu và thuê các tướng lãnh làm cuộc đảo chánh vào 1/11/11963 và chủ mưu sát hại anh em ông Ngô Đình Diệm" thĩ  rõ ràng là họ "gian dối, mưu mô, xảo quyệt, quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, lật lọng và bịp bợm".

Tóm lại,  ông Ngô Đình Diệm đã lât lọng và phản bội Hoa Kỳ cho nên mới nên nông nỗi!

Ông Ngô Đình Diệm đã lật lọng và phản bội Hoa Kỳ như thế nào?

Ông Diệm không những đã không thì hành đúng những điều kiện mà Hoa Kỳ đã đặt ra với ông Diêm   vào khi họ bằng lòng đưa ông Diệm về Việt Nam cầm quyền mà lại còn triệt để  tiến hành kế họach Kitô Hóa miền Nam (làm cho đại khối nhân dân miền Nam Việt Nam không phải là tín đồ Da-tô căm thù  chính quyền miền Nam và căm thù luôn cả Hoa Kỳ) và để mặc cho anh em,  bà con trong  gia đình và những người đồng đạo thao túng chính quyền, coi miền Nam như của riêng của đạo Da-tô.

Cũng nên biết những điều kiện mà Hoa Kỳ đã đặt ra cho ông Ngô Đình Diệm khi chấp nhận lời thỉnh cầu của Giáo Hội La Mã cho ông ta về Việt Nam cầm quyền chắc chắn là tương tự như một số trong những điều kiện mà Hoa Kỳ đưa ra cho Nhật Bản khi gửi tối hậu thư cho chính phủ Đông Kinhvào ngày 26/7/1945. Dưới đay là những điều kiện này:

1.- Phải công nhận và ban bố quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo và tự do tưởng cho nhân dân.

2.- Dẹp bỏ mọi giới hạn để phục hồi và phát huy dân chủ trong  quốc gia.

3.- Dân chủ hoá bộ máy chính quyền

Nếu còn có những người không biết những sự thật lích sử trên đây, chúng ta đặt ra vấn đề với họ là:

1.- Nếu không có Hoa Kỳ, ông Diệm có được đưa về Việt Nam cầm quyền không?

2.- Nếu không có Hoa Kỳ, dù rằng đã được đưa về Việt Nam cầm quyền, chính quyền của ông Diệm có thể đứng vững và tồn tại cho đến năm 1963  không?

Sở dĩ  những tín đồ Da-tô người Việt không nhìn ra vấn đề này là  do một phần vì bản chất trịch thương và thiên lệch  của họ, và một vì họ  đã bị chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ làm cho các tế bào thần kinh trong trung khu lý trí bị tê liệt, khiến cho họ không còn khả năng suy luận, họ bị biến thành những người chỉ biết tuân hành theo lệnh truyền của các đấng bề trên giống như các con chó ở trong phòng thí nghiệm của nhà bác học Pavlov.

Trường hợp 2.-  Tín đồ  Da-tô người Việt thường đưa ra luận điệu "ông Diệm  khăng khăng bác bỏ  việc Hoa Kỳ yêu cầu  đưa quân vào Miền Nam cho nên Hoa Kỳ mới  thuê các tướng lãnh làm đảo chánh 1/11/1963 và chủ trương sát hại anh em ông Ngô Đình Diệm". Khi đưa ra luận điệu như vậy, họ tuyên bố khơi khơi một cách võ đoán theo cảm tính của họ, chứ không đưa ra được tài liệu nào chứng minh rằng Hoa Kỳ đưa ra lời yêu cầu ông Diệm để cho họ đưa quân vào miền Nam Việt Nam. Sự kiện này cho chúng ta thấy rằng họ chỉ là những người lập lại như con vẹt những hành động "ăn không nói có,   gian dối, nói láo, lươn lẹo…." do bọ cán bộ truyền truyền của Giáo Hội đã mớm cho họ.  Dưới đây là  bằng chứng cho vấn đề này:

Thứ nhất.- Trong cuốn Retrospect - The Tragedy Lessons Of Vietnam (bản tiếng Việt), ông cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara nói về chủ trương của Hoa Kỳ giảm quân ở  miền Nam Việt Nam như sau:

"Qua những năm với Kennedy, chúng tôi đặt vấn đề trên hai căn bản hoàn toàn mẫu thuẫn nhau. Một là nếu để cho miền Nam rơi vào tay Cộng Sản thì nền an ninh của cả Hoa Kỳ lẫn Tây Phương đều bị đe dọa. Căn bản kia là để cho miền Nam tự liệu lấy cuộc chiến và Hoa Kỳ chỉ hạn chế sự dính líu của mình mà chuyên phụ trách phần vụ huấn luyện và yểm trợ. Trong chừng mực đó, căn bản thứ hai có vẻ thuận chiều hơn nên năm 1963 Hoa Kỳ chuẩn bị cho rút bớt quân số, hành động mà theo một số người phản đối cho rằng làm như vậy là trao miền Nam và thậm chí cả Châu Á cho Cộng Sản." [1]

"Đến năm 1962, mục tiêu về Việt Nam của chính phủ Kennedy đã rõ ràng: chỉ huấn luyện cho miền Nam tự vệ. Đối với tôi, điều này có nghĩa là Hoa Kỳ phải tự đặt cho mình một giới hạn về thời gian và sự yểm trợ. Tôi lý luận rằng hoặc là chương trình huấn luyện thành công - và như vậy thì chúng tôi có thể rút về hoặc - qua thời gian có dấu hiệu thất bại - chúng tôi còn kịp để liệu định.

Nghĩ như vậy nên nhân ngày 23/7/1962, có cuộc họp ở Honululu, tôi mới hỏi (Đại Tướng) Harkins rằng theo ý ông phải mất  bao nhiêu lâu nữa mới có thể chế ngự được tiềm năng của Việt Cộng. Ông ước tính chừng một năm sau khi lực lượng dân vệ và quân sự của Việt Nam bắt đầu họat động mạnh và tảo thanh Việt Cộng.

Tổng kết các điều trên xong, tôi liền ra lệnh phác thảo một kế họach dài hạn, quy định các giai đọan rút các cố vấn Hoa Kỳ được trù định theo dự đoán trong ba năm tới Việt cộng sẽ hòan tòan bị đè bẹp. Lúc ấy chúng tôi sẽ có khoảng 16 ngàn cố vấn tại miền Nam Việt Nam.

Mùa xuân năm sau, vào tháng Ba năm 1963, tôi hỏi ông Robert Thompson xem ông  thấy  có nên rút bớt số cố vấn thì ông trả lời nếu với tiến bộ như vậy và tình hình Việt Cộng bị đánh dẹp một vài nơi trong mùa hè này, thì có thể rút chừng một ngàn.

Qua lần họp với (Đại Tướng) Harkins vào ngày 6 tháng 5 năm 1963 tại Honolulu, ông tướng này nói rằng chúng tôi vẫn tiến triển khả quan. Vì vậy, tôi cho giới quân sự rút bớt một ngàn cố vấn vào cuối năm đó." [2]   

"Sau khi bàn cãi sôi nổi, tổng thống ký thuận đề nghị của chúng tôi rút một ngàn quân vào ngày 31 tháng 12 năm 1963. Theo tôi nhớ lại, ông làm như vậy mà không nêu ra lý do tại sao. Dù sao thì đã có quá nhiều phản đối và vì tôi nghi ngờ những người khác có thể muốn ông làm ngược lại. Tôi hối thúc ông tuyên bố một cách công khai. Có như vậy mới chắc chắn.

Điều này gây ra nhiều tranh luận là chuyện không có gì đáng ngạc nhiên, mặc  dầu ông đã phản đối đọan nói: "vào cuối năm nay", ông có cảm tưởng rằng nếu nói như vậy mà không làm được trong vòng chín mươi (90) ngày, chúng tôi sẽ bị lên án là đã lạc quan quá mức. Tôi nói: "Lợi điểm của việc rút quân là chúng ta có thể nói với Quốc Hội  và đồng bào tại Hoa Kỳ rằng chúng tôi thật sự có kế hoạch giảm số quân tác chiến Hoa Kỳ phải trực diện chiến đấu với quân du kích tại miền Nam Việt Nam, rằng người dân miền Nam Việt Nam nên dần dần phát triển khả năng đè bẹp Cống Sản. Và tôi nghĩ điều này sẽ có giá trị rất lớn đối với chúng tôi vì nó phù hợp với quan điểm mạnh mẽ của (Thượng Nghị Sĩ ) Fullbright  cùng các nhân vật khác khi chúng tôi sa lầy tại Á Châu và phải khứng chịu như vậy suốt vài thập niên tới.

"Cuối cùng Tổng Thống (Kennedy) đồng ý, và lời tuyên bố được Tham Vụ Báo Chí Pierre Salinger đưa ra vào chiều hôm ấy. Sau đây là đọan trích trong lời tuyên bố:

"Bộ Trưởng McNamara và Tướng Taylor... báo cáo rằng vào cuối năm nay, chương trình huấn luyện của Hoa Kỳ tại Việt Nam sẽ tiến triển đến mức độ có thể một ngàn binh sĩ Hoa Kỳ mà được bổ nhiệm sang Việt Nam sẽ được rút về. Tình hình chính trị tại Nam Việt Nam vẫn còn nghiêm trọng. Trong khi tình trạng đàn áp tại xứ này vẫn còn ảnh hưởng rất đáng kể tới nỗ lực chiến tranh, và trong tương lai vẫn có thể tiếp diễn."[3]  

Qua bản văn trên, chúng ta thấy rằng  không hề có lời nào của Hoa Kỳ yêu cầu  ông Diệm cho phép đưa thêm quân vào miền Nam Việt Nam. Trái lại, họ lại vạch ra hẳn một kế họach rút thêm một ngàn quân   về Mỹ vào cuối năm 1963. Ấy thế mà bọn văn nô bồi bút Da-tô  người Việt vẫn leo lẻo cái miệng nói rằng "Mỹ yêu cầu ông Diệm cho phép đưa quân vào Việt Nam nhưng bị ông từ chối. Vì thế Mỹ mới chủ trương cho làm đảo chánh và chủ mưu sát hại ông Diệm." Ta gọi trường hợp này là "không nói thành có" của họ.

Thứ hai.-  Trong bài viết Nhân Vật Chống Cộng Số 5: Ngô Đình Diệm (1901-63), ở mục Nhân Vật Chí, trong tờ Người Dân Số 158 tháng 10 năm 2003, nhà nghiên cứu sử học Phạm Tưởng cho chúng ta thấy rõ những việc làm bất chính của ông Diệm, và đầy đủ chi tiết về vấn đề Hoa Kỳ không những không hề yêu cầu ông Diệm   để cho họ đưa quân vào trú đóng ở miền Nam, mà còn nhiều lần từ chối, không chấp thuận lời ông Diệm yêu cầu Hoa Kỳ đem quân vào miền Nam giúp ông ổn định tình hình và đàn áp các phong trào nhân dân  chống lại chế độ đạo phiệt của ông. Dưới đây là  nguyên bản những đọan văn này:

"Còn việc di cư, thì Mỹ huy động đủ mọi phương tiện, tiền bạc để đưa đón, với sự tiếp tay nồng nhiệt của bao nhiêu quốc gia. Các linh mục nhiệt thành lãnh đạo giáo dân. Giáo dân toàn là hậu dụê của những người từng theo doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ đi khai khẩn đất đai. Có tầu bè đưa đi, có cha cố hướng dẫn, có đất đai mầu mỡ. Các giáo dân đều là những người cần cù chăm chỉ. Nay bỗng dưng được giúp đỡ cơm gạo tiền bạc, cấp phát đất đai. Tất cả những yêu tố đó tạo nên thành quả.

Phần ông Diệm đóng góp cái gì? Ai ở trong trường hợp đó mà không có thành quả tương tự hoặc gấp bội nữa, nếu không bớt xén tiền viện trợ của Tổng Ủy Di Cư. (Sự thật là như vậy).  Thì tại sao lại cứ nhất định đó là công lao của Ngô Đình Diệm?

Chưa kể kế hoạch của ông Diệm là đưa giáo dân đến định cư tại những địa điểm đầu sóng ngọn gió để lãnh đủ bão táp cộng sản.

3.-( Về Luận điệu gian dối cho rằng) còn ông Diệm, thì Mỹ không đem quân được vào Việt Nam:

Hãy theo dõi một số dữ kiện:

Ngày 18/8/1961, ông Diệm loan báo tình trạng tổ quốc lâm nguy. Ngày 13/10/(1961), ông sai Nguyễn Đình Thuần, Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng, xin Mỹ gửi đơn vị tác chiến, xin Đài Loan gửi một sư đòan (Mỹ từ chối). Ngày 15 tháng 10 )1961), ông ban bố sắc lệnh SL. 209 TTP đặt lãnh thổ trong tình trạng khẩn cấp. Ngày 7 tháng 12 (năm 1961), ông gửi thư cho Tổng Thống Kennedy, trình bày tình trạng bi đát, kêu gọi giúp đỡ.

Ngày 8 tháng 2 năm 1962, Mỹ thiết lập Bộ Tư Lệnh MAC-V tại Việt Nam! vào giữa năm, số "cố vấn" đang từ 700 tăng lên... 12,000 (12 ngàn).

Ngày 8 tháng 5 năm 1963 xẩy ra vụ Phật Giáo ở đài phát thanh Huế. Ngày 22 (tháng 5 năm 1963), Tổng Thống Kennedy tuyên bố sẵn sàng rút quân Mỹ về ngay ngày hôm sau nếu có sự yêu cầu của Việt Nam Cộng Hòa và hy vọng tình thế cho phép rút một số vào cuối năm. Ông Diệm KHÔNG yêu cầu.

(Trong Plausible Denial của  Mark Lane, ông L. Fletcher Prouty, đại tá không quân trong Đệ Nhị Thế Chiến, từng phục vụ 30 năm trong ngành tình báo, và từ năm 1955 đến 1963 là trưởng nhóm Họat Động Đặc Biệt thuộc Ban Tham Mưu Liên Quân xác nhận là: Sau khi gửi Tướng Victor Krulak và Joseph Mendenhall thuộc bộ ngoại giao, rồi Tướng Maxwell Taylor và Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara qua Việt Nam điều nghiên việc Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam, Tổng Thống Kennedy không những chỉ muốn rút quân đội mà là rút tất cả người Mỹ, kể cả viên chức CIA, đã ban  hành chỉ thị National Security Action Memorandum 263 (NSAM 263) và ngày 2 tháng 10 (1963) tuyên bố 1,000 quân nhân Mỹ ở Việt Nam với tính cách cố vấn sẽ được hồi hương vào cuối năm 1963. Kenneth O' Donnell, từng là cố vấn của (Tổng Thống) Kennedy, trong O'Donnell and  Powers, Johnny, We Hardly Knew Ye, cũng viết là (Tổng Thống) Kennedy sửa soạn đưa tất cả người Mỹ ở Việt Nam về, nếu thắng, sau cuộc bầu cử tổng thống năm 1964).

Ông Diệm bị lật đổ. Chỉ bốn ngày sau khi (Tổng Thống)  Kenndey bị ám sát, Tổng Thống Johnson lại tác xác nhận việc rút 1,000 quân vào cuối năm 1963 của chỉ thị NSAM 263 bằng chỉ thị NSAM 273 ngày 26 tháng 11 năm 1963.

Qua bao nhiêu xáo trộn, các tướng lãnh ai cũng giữ quân ở nhà để tranh giành quyền bính, tình hình quá nguy ngập. Ngày 17 tháng 3 năm 1964, mới có chỉ thị NSAM 288 về khả năng mang đơn vị chiến đấu bảo vệ khu vực Saigòn và ngày 25 tháng 5 thảo quyết định đệ trình Quốc Hội (và được chuẩn y) về việc quân đội Mỹ tham dự chiến đấu (the United States is prepared, upon request of the Government of South Vietnam or the Government of Laos, to use all measures, including the commitment of armed forces to assist the government in the defense of its independence and territorial integrity against aggression or subversion supported, controlled or directed from any Communist country).

Tuy vậy, mãi tới ngày 8 tháng 3 năm 1965 (16 tháng sau), Mỹ mới đổ 1,500 thủy quân lục chiến ở Chu Lai.

Thiêt lập bộ tư lệnh với 12,000 cố vấn (thời ông Diệm) và đổ bộ 1,500 binh sĩ (thời sau ông Diệm) , cứ so sánh thì sẽ thấy rõ ràng Việt Nam đã bị xâm phạm chủ quyền nhiều dưới thời ông Diệm hay thời sau Diệm." [4]   

Bản văn trên đây cho chúng ta thấy rõ chính ông Diệm đã nhiều lần yêu cầu Mỹ gửi quân vào Việt Nam và nhờ Mỹ yêu cầu Đài Loan gửi một sư đòan  vào Việt Nam (dĩ nhiên là do Mỹ tài trợ). Nhưng tất cả đều bị Mỹ từ chối, rồi ông Diệm dùng thủ đọan đánh lừa Mỹ bằng cách "ban hành sắc lệnh 209 TTP đặt lãnh thổ trong tình trạng khẩn cấp và  gửi thư cho Tổng Thống Kennedy, trình bày tình trạng bi đát, kêu gọi giúp đỡ." Sự thật là như vậy. Ấy thế mà bọn  văn nô bồi bút Da-tô người Việt vẫn thường   bô bô tuyến bố  rằng "Mỹ yêu cầu ông Diệm cho phép đưa quân vào Việt Nam nhưng bị ông từ chối. Vì thế Mỹ mới chủ trương cho làm đảo chánh và chủ mưu sát hại ông Diệm." Ta gọi trường hợp này là "có nói thành không" của họ.

Đúng là “giang sơn dễ đổi bản chất khó chừa”. Cái bản chất ăn không nói có, quay quắt, lắt léo, nhập nhằng và lươn lẹo của Giáo Hội La Mã  cũng như của giới tu sĩ và  của  những tín đồ Da-tô “ngoan đạo” đã hoà nhập vào từng tế bào trong cơ thể của họ. Vì thế mà các thế hệ ông cha của họ trong thời “trăm năm nô lệ giặc Tây”  xuyên suốt thời Kháng Chiến 1945-1954” và cho đến đời họ của họ ở Miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 và ở hải ngoại từ tháng 5/1975  cho đến nay, tính ra cả mấy thế hệ rồi mà cái bản chất ghê tởm này của họ vẫn nguyên vẹn như xưa.


[1]  "Robert S. McNamara, Hồi Ký: Những Thảm Kịch Và Bài Học Việt Nam - Duy Nguyên dịch  (San Jose, Ca, Nhà Xuất Bản Thế Giới, 1995) tr 41-42

[2]  Robert S. McNamara,  Sđd., tr 65-66

[3]  Robert S. McNamara,  Sđd., tr  106-107

[4]  Phạm Tuởng, "Nhân Vật Chống Cộng Số 5: Ngô Đình Diệm (1901-63)" Người Dân Số 158, tháng 10/ 2003: 26-31.

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com