posted: 12.9.2005
Vấn đề đặt ra là TẠI SAO tín đồ Da-tô ngoan đạo
người Việt lại quá hăng say lao vào làm những chuyện "bịa đặt", "vu khống", "ăn không nói có", "quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, lật lọng và
bịp bợm" như đã được trình bày ở trên? Lịch sử đã chứng minh rằng đạo Da-tô (mà họ gọi
là đạo Công Giáo) là đạo bịp và cũng
là đạo của bạo lực được bắt nguồn từ Cựu Ước và Tân Ước với
triết lý hành động trịch thượng "Theo
ta thì sống, chống ta hay không tin theo ta thì chết" (đã trình
bày đầy đủ ở Chương 3). Đây là những hạt giống bịp bợm và bạo lực
đã được ươm sẵn trong đầu óc
các nhà lãnh đạo Do Thái Giáo và Kitô Giáo. Kể từ đó, họ rình chờ thời
cơ thích hợp (có quyền lực trong tay) đến với họ thì họ sẽ lập tức
thiết lập chế độ đạo phiệt để biến cái ý đồ ngông cuồng và ngu
xuẩn này thành hành động. Nhìn vào lịch sử nước Do Thái, quê hương của đạo
Do Thái Mai- Sen (Mosaic Judaism) và đạo Kitô Do Thái (Jewish Christianity), chúng
ta thấy rằng thời kỳ từ năm 325 trở về trước, cái triết lý hành động
trịch thượng này của đạo Do Thái Mai-Sen (Mosaic Judaism) và đạo Kitô Dô Thái
(Jewish Christianity) chỉ là một thứ ý kiến ngông cuồng và ngu xuẩn, hoàn
toàn nằm trong tư tưởng, không thể
nào thể hiện ra được bằng hành động. Lý do là trong suốt
chiều dài lich sử từ khi đạo Do Thái Mai- Sen (Mosaic Judaism), đạo của bạo
lực, ra đời vào khỏang năm 1250 TCN cho đến
khi Giáo Hội La Mã được cho ra đời vào năm 235, ngọai trừ một
thời gian ngắn từ đời vua Saul (thân
phụ của vua David) từ thế kỷ 11 TCN cho đến 930 TCN, nước Do Thái hết bị
phân hóa và nội chiến rồi lại bị các cường lân Babylone, Ba Tư, Hy Lạp, Syrie và La Mã nối
tiếp nhau xâm chiếm và thống trị. Đạo Kitô Do Thái (Jewish Christianity) ra
đời ở nước Do Thái trong khi quốc
gia này đang nằm dưới ách thống trị của Đế Quốc La Mã. Như vậy là trong thời gian từ khi đao Do Thái và
đao Kitô Do Thái ra đời cho đến năm 325, các nhà lãnh đạo của cả hai hệ
phái Thiên Chúa Giáo đều không có cái “thế” (không có quyền lực
trong tay) đề biến cái ý đồ ngông cuồng "Theo ta thì sống, chống ta hay không tin theo
ta thì chết" thành hành động cụ thể được. Mãi cho đến năm giữa thập niên 310, các nhà lãnh
đạo Giáo Hội Kitô Do Thái mới được chính quyền đế quốc La Mã của
Hoàng Đế Tình trạng này giống
hệt như tín đồ Da-tô người Việt khởi đầu làm tôi tớ cho Vatican và
Pháp và mãi đến tháng 7/1954, nhờ có Hoa Kỳ nuôi dưỡng và bảo trợ, họ
mới có thể nhẩy lên bàn độc trên sân khấu chính trị ở miền Nam Việt
Nam múa may quay cuồng cho đến ngày 30/4/1975. Và cũng từ đó, Giáo Hội La Mã (đạo Kitô La Mã) cương quyết đưa ra chủ thuyết "tôn giáo chỉ đạo chính quyền" (thần
quyền chỉ đạo thế quyền) với chủ tâm thiệt lập chế độ đạo phiệt
Da-tô để biến cái ý đồ ngông cuồng và ngu xuẩn "Theo ta thì sống, chống ta hay không tin theo
ta thì chết" thành hành động.. Sự kiện này chứng tỏ Giáo Hội
La Mã chủ trương trông cậy vào bạo lực để: 1.- Cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải tin theo
những tín điều bịp bợm trong hệ thóng thần học Kitô, 2.- Khủng bố và tàn sát những người bất khuất
kể cả những người khẩu phục nhưng tâm bất phục. Chúng ta thấy, khởi đầu, cái thói quen ăn ngang nói ngược, quay quắt, lắt léo,
lươn lẹo và lật lọng là những đặc tính phát xuất từ những thủ đoạn
bịp bợm rập theo khuôn những chuyện bịp bợm trong Cựu Ước Kinh ..), và trong Tân Ước. Những chuyện bịp trong Cựu Ước như Chúa Jehovah
toàn năng, toàn thiện, có mặt ở khắp mọi nơi, chuyện ông Chúa này tạo
dựng ra vũ trụ trong 6 ngày, chuyện lấy đất sét nặn con người bằng
xương bằng thịt với đủ cả thất tình lục dục rồi đặt tên là
Adam và Eva, v.v,…, và những chuyện bịp trong Tân Ước như
ông Jesus hóa phép sờ tay vào trán người cùi
thì người cùi khỏi bệnh, rờ tay vào mắt người mù thì người mù hết
bệnh, nguyền rủa cây sung (vả) thì cây sung phải héo đi, hóa phép hai con
cá và năm cái bánh mì thành một khối
lượng khổng lồ dư thừa cho khoảng
chừng 5 ngàn người ăn cũng không hết (Matthew: 14: 15-21), và chết rồi lại
sống lại bay lên trời, ngồi bên phải Đức Chúa Cha, v.v...). Đứa con đầu lòng của Giáo Hội La Mã trong cái
nghề "bịa đặt, vu khống, ăn không
nói có" là chuyện "Chúa Ba Ngôi"
được chính thức cho ra đời tại Hội Nghi Nicaea (thuộc Thổ Nhĩ Kỳ) khởi
họp vào ngày 20 tháng 5 năm 325. Tiếp theo đó là hàng ngàn những sản phẩm
bịa đặt khác. Sách Roman Catholicism liệt kê một 45 sản phẩm bịa đặt
này được bịa đặt ra từ năm 300 cho đến năm 1965, nhưng trong đó lại
không có sản phẩm Đức Bà Maria hiện ra, không có tục lệ đồng tế 3
cha và 5 cha,không có những giáo luật và rẩt nhiều chuyện bịa đặt khác.
Dưới đây là một số được bịa đặt ra và thời điểm (năm) được bịa
đặt có ghi trong cuốn sách này: 1.- "Đức Mẹ Đồng
Trinh" được bịa đặt ra vào năm 431 trong thời Giáo Hoàng
Sixtus III (432-440). 2.- Lễ xức dầu
thánh ….vào năm 526 trong thời Giáo Hoàng Felix
IV ((526-530) 3 -"Nơi Luyện Ngục"…… vào năm 593
trong thời Giáo Hoàng Gregory I (590-604), 4.-Tước hiệu giáo hoàng ….. vào năm 607 trong thời
Giáo Hoàng Boniface III (607), 5.- Tục lệ hôn bàn chân Giáo Hoàng….. vào năm 709
trong thời Giáo Hoang Constantine I (708-715), 6.- Nước thánh …..vào năm 850 trong thời Giáo HoLeo
IV (847-855) 7.- Phong thánh cho những người đã chết ….. vào năm
995 trong thời Giáo Hoàng John XV (985-996) 8.- Xác nhận 7 phép bi tích ….vào năm 1439 trong thời
Giáo Hoàng Eugene IV (1431-1447) 9.- Ăn chay vào ngày Thứ Sáu ..… vào năm 998 trong
thời Giáo Hoàng Gregory V (996-999) 10.- Bán Giấy Xá Tội (sale of Indulgenence)vào năm
1190 trong thời GH Clement III (1187-1191).” [1] Cũng nên biết Giáo Hội cũng đã từng sử dụng kỹ
thuật “ăn không nói có” để biến hóa vị thiếu nữ anh hùng dân tộc
trẻ đẹp của nước Pháp là bà Jeanne D' Arc (vào năm 1431) thành một mụ
phủ thủy với đủ mọi thứ tội ác xấu xa gán cho bà ta để có cái cớ
đưa bà ta ra Tòa Án Dị Giáo rồi đem trói vào một cái cọc, chụm củi
và châm lửa thiêu chết bà ta vào năm đó.
Thế rồi gần 500 năm sau, lại cũng chính Giáo Hội "phong thánh vuốt đuôi" cho bà ta để o
bế nhân dân Pháp. [2] Cứ mỗi lần bịa đặt thêm ra một chuyện mới
là một lần Giáo Hội lại có thêm quyền lực và có thêm môt phương cách
moi tiền hay móc túi tín đồ một cách ngon lành. Chuyện Nơi Luyện Ngục,
chuyên Bán Giấy Xá Tội, chuyện Đức Mẹ hiện ra là những chuyện điển
hình nói lên sự kiện này. Như vậy, rõ ràng đạo
Kitô La Mã là đạo bịp và là đạo của bạo lực. Thế nhưng, sự đời thật là oái oăm! Những thằng
tướng cướp thường tự xưng là người lương thiện. Những tên tham quan
lại nhũng thường rêu rao tự phong là thanh liêm công chính. Những thằng
Việt gian được giặc cho làm quan
trong thời kỳ Việt Trên đây là nói về thành tích bịp bợm của cơ
quan đầu não của Giáo Hội La Mã là Toà Thánh Tư tưởng biến thành hành động. Như đã nói ở
trên, Giáo Hội La Mã vốn đã có ý đồ sử dụng bạo lực để cưỡng bách
nhân dân dưới quyền phải ngoan ngoãn khuất phục như đàn cừu đối với
người chủ chăn. Nhưng đây chỉ là ý đồ ngông cuồng còn nằm trong tư
tưởng. Phải đợi đến khi Giáo Hội có
quyền lực chính trị thì mới có thể biên cái ý đồ ngông cuồng và ngu
xuẩn này thành hành động được. Thời điểm khởi đầu của Giáo Hội
có quyền lực chính trị là vào cuối thập niên 310. Kể từ đó, Giáo Hội
bắt đầu trổ mòi sử dụng bạo lực để cưỡng bách những người dưới
quyền phải tuân phục Giáo Hội. Người nào cả gan dám nói lên tiếng
nói của lương tâm và lẽ phải thì sẽ bị Giáo Hội trừng trị ngay tức
thì. Bằng chứng là ngay trong Hội Nghị Nicaea (khởi nhóm vào ngày
20/5/325), Giám-mục Arius và rất nhiều người đồng quan điểm với ông bị
Giáo Hội gán cho là "tà giáo" và bị trục xuât ra khỏi hội nghị,
rồi sau đó bị Giáo Hội tàn sát hết
sức dã man chỉ vì cái tội họ
không tán đồng cái tín lý quái đản Chúa Ba Ngôi do Giáo Hội đưa ra. Sự
kiện này đã được trình bầy đầy đủ ở Chương 4. Ở đây, chúng tôi chỉ ghi lại đọan văn nói về con số
nạn nhân bị Giáo Hội tàn sát trong vụ này để quý
vị dễ dàng nhìn ra rõ bộ mặt thật ghê tởm của Giáo Hội.
Dưới đây là đoạn văn này: "Năm 340, Đế Quốc
La Mã tiêu diệt hết các giáo phái Kitô đi ngược lại các giáo điều của
Hội Nghị Nicaea do Hòang Đế Constantine triệu tập vào năm 325 và chính thức
đặt tên cho Giáo Hội Kitô mới của
toàn đế quốc là Công Giáo (tiếng La-tinh
là Catholica, tiếng Hy Lạp là Katholicos, có nghĩa là tôn giáo của hoàn cầu).
Saint Cyril of Kể từ đó cho đến ngày nay, ở bất kỳ nơi nào
có bàn tay quyền lực của Giáo Hội vươn tới, Giáo Hội đều thi hành
chính sách trịch thượng và dã man như vậy. Đọc lịch sử, chúng ta thấy,
Ở Âu Châu, tại Pháp, Giáo Hội đã liên tục tiến hành chính sách này cho đến khi Cách Mạng
Pháp bùng nổ vào ngày 14/7/1789. Ở
Tây Ban Nha, chính sách này của Giáo Hội còn kéo dài đến năm 1820. Tai các
thuộc địa của các đế quốc liên minh với Giáo Hội như ở Châu Mỹ La
Tinh, Phi Luật Tan, Phi Châu và ở Đông Dương, Giáo Hội vẫn còn tiến
hành chính sách dã man này cho đến ngày nhân dân các thuộc địa này nổi
dậy đánh đuổi quân xâm lăng ra khỏi quê hương của họ và thi hành những
biện pháp mạnh để trừng trị Giáo Hội giốnh như Cách Mạng Pháp 1789
và Cách Mạng Ý 1870 đã làm. Đó là các cuộc Cách Mạng Mexico 1857, Cách Mạng Tây Ban Nha 1936, Cách
Mạng Cuba 1959, Cách Mạng Nicaragua 1979, t v.v… đã làm. Do chính sách trịch thượng và chủ trương sử dụng
bạo lực để cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải khuất phục, trong gần
hai ngàn năm qua, Giáo Hội đã trực tiệt và gián tiếp gây ra cái chết của
gần 300 triệu người và hơn 60 chục triệu dân Phi Châu và Mỹ Châu
La-tinh bị cưỡng bách đem bán làm nô lệ cho bọn thực dân người
da trắng ở Âu Châu đến lập nghiệp ở Mỹ Châu. Giáo Hội đã bất chấp
tất cả để đạt thỏa mãn tham vọng của Giáo Hội. Không có một thủ
đoạn gián ác nào mà Giáo Hội không sử dụng, không có một hành động
tàn ngược nào mà Giáo Hội không dám làm. Sự kiện này được sử gỉa
Loraine Boettner ghi nhận trong cuốn Roman Catholicism với nguyên văn như sau: “Giáo Hội tự
phong là “thánh thiện”, nhưng thực
tế, qua các thời kỳ trong lịch sử và
trong khả năng chính thức, Giáo Hội La Mã đã nhân danh tôn giáo phạm những
tội ác tàn ngược nhất trong đó có cả những tội giết người, ăn cướp,
khủng bố đủ mọi hình thức, hối lộ, làm đồ giả, lừa đảo, và đủ
các thứ tội ác khác. Không phải chỉ có tín đồ của Giáo Hội mới
làm những tội ác này mà là tất cả những người “mang chức thánh” từ các giáo
hoàng cho đến các hồng y, giám mục và các tu sĩ. Tìm hiểu lịch sử
Giáo Hội, chúng ta thấy tất cả những người này đều là những ác
nhân tuốt luốt.”. (“She applies to herself the term “holy,” but the fact
is that through the ages and in her official capacity the Roman Church has been guilty the
most atrocious crimes, practiced in the name of religion, including murder, robbery,
persecution of all kinds, bribery, fraud, deception, and practically every other crimes
known to man. Such crimes have been practiced
not merely by church members, but by popes, cardinals, bishops, and priests who, as a study of church history will
show, undeniable were evil men.) [4]
Giáo Hội, các ông tu sĩ và tín đồ Da-tô “ngoan
đạo” đã nhân danh Chúa gây ra những rặng núi tội ác và đã gieo rắc không biết bao nhiêu đau
thương tang tóc cho nhân loại. Con số nạn nhân bị Giáo Hội tàn sát, con
số người dân Phi Châu và châu Mỹ La-tinh bị
cưỡng bách làm nô lệ cho người da trắng vì chủ trương thóng
trị toàn cầu củ Giáo Hội, những khối lượng tác phẩm văn hóa và
công trình văn minh của nhân lọai bị Giáo Hội tiêu hủy mà chúng tôi đã
trình bày Chương 5, tất cả cho chúng
ta thấy rõ bộ mặt thật vô cùng ghê tởm của Giáo Hội. Giáo Hội quả
thật xứng đáng là một thế lực chiếm giải vô địch về thành tích bạo
ngược và dã man trong lịch sử loài người. Ấy thế mà hàng ngày Giáo Hội và tín đồ của Giáo Hội, đặc biệt là bọn
tín đồ Da-tô ngoan đạo người Việt vẫn cứ leo lẻo cái miệng cao rao
là đạo Thiên Chúa La Mã là "đạo của bác ái", "đạo của tình thương", "đạo cứu rỗi", là "Hội Thánh duy nhất thánh thiêng, công giáo và
tông truyền", là "Hiền
Thê của Thiên Chúa Làm Người" đã đem "Tin Mừng" và "Hồng Ân Thiên Chúa" đến cho loài
người. Miệng lưỡi của Giáo Hội La Mã và tin đồ của
Giáo Hội ghê tởm như thế đó! Đối với những người bình thường, nếu đọc
qua lịch sử thế giới và lịch sử Giáo Hội La Mã, tất nhiên là những lời cao rao trên đây
của Giáo Hội được coi như là những lời nói bịp bợm trắng trợn của
những phường lưu manh vô liêm sỉ đến cùng độ vô liêm sỉ. Nhưng đối với tín đồ Da-tô thì lại tin rằng
đạo Kitô là "đạo của
bác ái", "đạo của tình thương",
v.v.. đúng như lời Giáo Hội thường
cao rao hàng ngày. Có một điều đáng buồn là có một số người không phải
là tín đồ Da-tô cho rằng “đạo Ki-tô
cũng dậy người đời làm những điều lành và tránh những điều ác, giống
như các tôn giáo khác ở Đông Phương.”
Sở dĩ họ nói như vậy là vì một phần họ không hiểu rõ
cái quá trình và bản chất ghê tởm cùng với những rặng núi tội ác của
Giáo Hội trùng trùng như hàng chục dãy núi Hy Mã Lạp Sơn. Lý do là trong
suốt thời kỳ gần một “trăm năm nô lệ giặc Tây” và hai muơi năm
1954-1975 ở miền Nam, chính quyền bảo hộ Liên Minh Pháp – Vatican và chế
độ đạo phiệt Da-tô ở miền Nam đã cho thi hành chính sách ngu dân và nhồi
sọ bằng những thủ đoạn thâm độc: 1.- Về phương pháp
sư phạm: Áp dụng phương pháp độc thoại, thày giáo đứng trên bục
giảng hay ngồi trên ghế nói thao thao bất tuyệt cho học trò nghe, giống y
như các nhà truyền giáo Da-tô thuyết giảng cho tín đồ ở trong các nhà
thờ, rồi đọc bài đã soạn sẵn cho học trò chép. Trong khi đó tại các
nước dân chủ tự do, người ta dùng phương pháp đối thoại để giảng
bài cho học trò . Sách giáo khoa được phát cho học trò cầm về nhà. Cho học trò biết trước ngày tới sẽ học
bài nào để các em đọc trước và tìm hiểu. Khi vào lớp, thày trò cùng
thảo luận với nhau. 2.- Về phương diện
rèn luyện lý trí.- Nhà trường
không chủ trương dạy cho học sinh sinh, sinh viên biết: A.- Phân biệt sự khác nhau giữa một bên là ý kiến
(opinions) và một bên là sự kiện (facts), B.- Phương cách việt bài điểm sách (book report) C.- Phương cách viết những bài khảo luận (term
papers), tiểu luận, và luận án tiến
sĩ (ở bậc đại học). Ý kiến
(opinions) là do cảm nghĩ của một cá nhân hay một tập thể. Ý kiến có
thể là khách quan vô tư và cũng có thể chủ quan và thiên lệch và thường
thường là chủ quan và thiên lệch Sự kiện là một việc đã xẩy ra hay có
thật; nó không có tính cách khách quan
và cũng không có tính cách chủ quan. Điểm tệ hai là khi học xong trung học và có nhiều
người có bằng cấp đại học, có người có bằng tiến sĩ, họ rồi
cũng lăng xăng viết văn, viết sách. Ấy thế mà họ lại không biết sự
khác nhau giữa một bên là ý kiến và một bên là sự kiến. Hậu quả là
trong các tác phẩm của họ đầy dẫy những ý kiến chủ quan của họ và
của nhóm người hay thế lực mà họ
bênh vực. Người ta viết báo, viết sách nêu lên những sai lầm
và tội ác của chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm thì họviết
sách điểm mặt tác giả, tìm đủ mọi
cách bới móc đời tư và vu khống đủ điều xấu xa gán cho tác giả với
dã tâm chửi bới và hạ nhục tác giả để lấp liếm và chạy tội cho
cái chế độ mà họ tôn thờ. Cụ Đỗ Mậu, tác giả cuốn Việt Nam Máu
Lửa Quê Hương Tôi xuất bản vào năm 1986 ở Hoa Kỳ và người viết, tác
giả cuốn A Poèm For My Children (Houston,
TX: Văn Hóa, 1999) là nạn nhân của họ ở trong trường hợp này. Người ta chỉ trích việc chính quyền Ngô Đình Diệm
sai lầm trong vấn đề cấm treo cờ Phật Giáo trong dịp lễ Phật Đản vào
đầu tháng 5/1963 thì họ biện minh rằng ông Diệm chỉ thi hành luật đã
có sẵn. Người ta hỏi lại luật đó do ai làm ra và làm ra có mục đích
gì hay phục vụ cho quyền lợi của những người nào thì họ bí lù. Người ta nêu lên những sai lầm và tội ác của
Giáo Hội trong gần hai ngàn năm qua và khẳng định những sai lầm và tội
ác này bắt nguồn từ thánh kinh, từ những tín lý, từ những giáo luật,
từ những truyền thống trong đạo Da-tô, từ các ông giáo hoàng và giáo
triều Vatican cho đến các ông tu sĩ, thì lại lấy thánh kinh, giáo luật
và những truyền thống Da-tô ra viện dẫn để bào chữa cho những sai lầm
và tội ác của Giáo Hội. Rõ ràng là họ không biết động não, không biết
phân tách và lý luận để đưa ra những luận cứ thuận lý để giúp cho
lập luận của họ có khả năng thuyết phục. Trái lại, ở các nước
thi hành chính sách giáo dục khai phóng và tự do, học sinh được
giải thích cho biết tường tận sự khác
biệt giữa “ý kiến” và “sự
kiện”. Đồng thời, trong các
sách giáo, dưới mỗi bài học đều có
một bài tập hoặc là yêu cầu học sinh đọc lại bài học rồi lựa chọn
những từ hay nhóm từ nào là “ý kiến” thì để chung vào với nhau, những
từ hay nhóm từ nào là “sự kiện” thì để chung vào với nhau; hoặc
là tác giả đã lựa chọn những từ hay những nhóm từ là “ý kiến”
và những từ hay nhóm từ là “sự kiện” để chung lẫn lộn với
nhau và yêu cầu học sinh lựa chọn những từ thuộc loại “ý kiến”
thì xếp chung vào với nhau, và những từ thuộc loại “sự kiện” thì xếp
chung vào với nhau. 3.- Về Chương trình
học: Chính quyền Liên Minh Pháp
– Vatican (1862) và chính quyền miền a.- Môn sử
thế giới gần như bị loại ra khỏi chương trình trung học. Trong khi
các nước dân chủ tự do như ở Bắc Mỹ hay Tây Âu và ngay cả Việt Nam
hiện nay, môn sử thế giới được dạy đầy đủ ở trong chương trình
trung học, bao gồm từ thuở loài người còn ăn lông ở lỗ, sống chùm
dúm với nhau thành từng nhóm theo căn
bả gia đình và từng thi tộc, rồi dần dà tiến lần đến thời kỳ bộ
lạc, tiến đến các chế độ phong kiến địa phương và quân chủ chuyên
chế trung ương tập quyền. Trong những thời kỳ này, ở Âu Châu, thần
quyền (tôn giáo) cấu kết với thế quyền (chính quyền) để cùng áp bức
và bóc lột nhân dân. Đây là thời Kỳ Giáo Hội La Mã hét ra lửa mửa ra
khói, làm mưa làm gió trên sân khấu chính trị và gieo rắc không biết bao
nhiêu thảm hoạ đau thương cho loài người bằng những bộ máy công an mật
vụ của các Toà Án Dị Giáo, bằng việc phát động hàng chục cuộc chiến
thập tự kéo dài ngót nghét cả hai thế kỷ, bằng chính sách bất khoan
dung tàn sát tất cả những nhóm dân thuộc các tôn giáo khác, và huỷ diệt
hết tất cả các công trình văn minh và văn hoá khác với đạo Kitô La Mã
(đã được trình bày đầy đủ ở Chương 5). Tình trạng này đã làm cho
bước của tiến nhân loại khựng lại gần một ngàn năm. Cũng vì thế
mà các nhà viết sử gọi thời kỳ này là Thời Đại Đen Tối (Dark Ages)
của loài người (476-1500). b.- Môn sử Việt Vì thế mà vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ (Quang
Trung) bị cho là “xuất thân là tướng cướp”
(Nguyễn Gia Kiểng, Tổ Quốc Ăn Năn (Paris: TXB, 2001), tr 96); việc
Giáo Hội La Mã chiếm đoạt tới 25 % diện tích ruộng đất canh tác ở miền
Nam bị giấu nhẹm; những thủ đoạn gian manh mà tên Da-tô Lê Phát Đạt
(Huyện Sĩ) ăn cướp ruộng đất của nhân dân miền Nam bị giấu nhẹm;
chuyện tên tri huyên Hoàng Gia Mô chiếm đoạt cả ngàn mẫu ruộng của
làng Cổ Am (huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương) làm của riêng bị giấu nhẹm;
việc linh-mục Trần Lục đem năm ngàn giáo dân Phát Diệm có võ
trang đi tiếp sức cho Trung Tá Metzinger trong chiến dịch tấn công Chiến Lũy
Ba Đình (Thanh Hoá) của lực lượng nghĩa quân kháng chiến dưới quyền chỉ
huy của cụ Đinh Công Tráng vào những năm 1886-1887) bị giấu nhẹm; sự kiện
các toán lính đạo (thập tự quân) ở trong các làng đạo được Pháp võ trang tiến vào các làng lương
bên cạnh đốt nhà, đốt miếu, phá
đình, phá chùa, giết người, cướp của, hãm hiếp đàn bà con gái trong
những năm 1858-1897 và trong những năm 1947-1954 bị giấu nhẹm; các phong
trào tranh đấu giải phóng đất nước của nhân dân ta trong thời kỳ
1862-1945 bị cắt xén tối đa, đặc biệt là những phong trào chống thuế
khởi đầu từ năm 1908 trở về sau đều bị cắt xén và giấu nhẹm; những
hành động tàn sát các nhà ái quốc trong các lực lượng kháng chiến chống
Pháp và Vatican một cách cực kỳ dã man bị giấu nhẹm; tình cảnh dân ta
đói khổ và tình trạng khốn cùng của anh em công nhân trong các đồn điền
cao su, trong các công trường khai thác mỏ than ở Hòn Gay, Cẩm Phả và Uống
Bí bị giấu nhẹm; Nguyên nhân đưa đến nạn đói trong Xuân năm Ất Dậu
1945 khiến cho hai triệu người phải chết thảm thương bị xuyên tạc và
đổ lỗi cho quân Nhật. c - Môn sử bị
hạ giá với hệ số 1 và thời lượng
bị giảm thiểu tối đa.- Trong khi ở các nước dân chủ tư do ở khắp
nơi trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay, môn sử thế giới và
môn sử quốc gia sở tại được coi là môn chính ngang hàng với môn quốc
văn về cả thời lượng và thang giá trị trong chương trình học , thì
ở Việt Nam trong thời “trăm năm đô nô lệ giặc Tây” và ở miền Nam
Việt Nam trong những năm 1954-1975, hai môn học này không những bị xếp
loại là một môn phụ với hệ số 1 (các môn khác như Toán, Lý, Việt
Văn, Pháp, Anh được coi là môn chính trong hai ban A và B (nhiều học sinh nhất,
chiếm tới gần 90% tổng số học sinh, có
hệ số 4 và 3 hoặc 2),mà lại còn bị cắt xén và bóp méo như đã nói
trên. Tình trạng này khiến cho học sinh ban A và ban B không chú ý đến môn
sử vì phải để dành thì giờ “luộc
cho kỹ” các môn chính có hệ số 4, 3 và 2 như các môn Toán, Lý, Hoá,
Anh, Pháp và Việt Văn. Với những phương cách dạy học như vậy, với chủ
trương không dạy cho học sinh sử dụng lý trí để phân tách và lý luận,
với chủ trương giới hạn môn sử thế giới, rồi lại bưng bít, cắt
xén và xuyên tạc lịch sử Việt Nam như trên, tất nhiên là những thế hệ
tiếp nhận nền học vấn ở Việt Nam trong thời kỳ này không biết sử dụng
lý trí đế phân tách và tìm hiểu sự vật (cách vật trí tri), chỉ biết lơ mơ và hiểu sai về sử Việt Nam
trong thời cận và hiện đại, không biết gì về sử thế giới. Chính vì
lẽ này mà họ không biết gì về bộ mặt thật ghê tởm của Giáo Hội
La Mã. Cũng vì thế mới có một số người không phải là tín đồ Da-tô
cho rằng “đạo Ki-tô cũng dậy người đời
làm những điều lành và tránh những điều ác, giống như các tôn giáo
khác ở Đông Phương.” Hậu quả của chính
sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ này là có những người thường hay
tự xưng là tốt nghiệp đại học hay
Quốc Gia Hành Chánh ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 mà không biết viết
một bài điểm sách. Thay vì viết điểm sách thì lại viết những bài điểm
mặt những tác giả mà họ không thích hay thù ghét, và viết những bản
cung văn để tán tụng Giáo Hội La Mã hay
bọn Da-tô Việt gian có công với Giáo
Hội La Mã. Những ấn phẩm về lịch sử của họ thì toàn là được viết
theo tiêu chuẩn và đơn đặt hàng của bộ máy truyền truyền của Giáo Hội
La Mã và của chính quyền đạo phiệt Da-tô ở miền Nam Việt Nam trong những
năm 1954-1975. Những cuốn sách như Việt Nam Giáo Sử của Linh-mục Phan
Phát Huồn, Việt Nam Chính Sử của Nguyễn Văn Chức, Việt Nam Tôn Giáo
Chính Trị Quan của Linh-mục Vũ Đình Hoạt, Những Bí Ẩn Đàng Sau Cuộc
Thánh Chiến Tại Việt Nam của Lữ Giang, Việt Nam Huyết Lệ Sử của Cao
Thế Dung, Tổ Quốc Ăn Năn của Nguyễn Gia Kiểng, Việt Nam 1945-1995 của Lê
Xuân Khoa, Khi Đồng Minh Tháo Chạy của Nguyễn Tiến Hưng, v.v.., là những bằng chứng cho sự kiện này. Cũng là người Việt Nam, không phải là
tín đồ Da-tô “ngoan đạo” và nếu được tiếp nhận sở học
ở một quốc thi hành chính sách giáo dục khai phóng và tự do, trình độ
kiến thức và tác phẩm của họ sẽ hoàn toàn khác hẳn với trình độ
kiến thức và tác phẩm của các tác giả đã được nêu lên trong đoạn
văn ở trên. Đọc những tác phẩm như Thập Giá Và Lưỡi Gươm của
Linh-mục Trần Tam Tỉnh, Bài Học Chiến Tranh Việt Nam Nhìn Từ Hậu Trường
Chính Tri Hoa Kỳ của tác giả Lương Minh Sơn, bốn tác phẩm của ông
Charlie Nguyễn, mấy tác phẩm và nhiều
bài viết khác của Giáo-sư Trần Chung Ngọc, các tác phẩm của sử gia Vũ
Ngự Chiêu, các tác phẩm của Tiến-sĩ Cao Huy Thuần, của Tiến-sĩ Nguyễn
Xuân Thọ, của Giáo-sư Lý Chánh Trung, v.v…,
chúng ta sẽ thấy rõ sự kiện này. Khuyền cùng tắc phệ.
Vì Giáo Hội La Mã lộng quyền quá cho
nên ở Âu Châu mới phát sinh ra Phong Trào Đòi Cải Cách Tôn Giáo
(1309-1648), mở đường cho việc phát triển Khoa Học. Nhờ đó mà mới
phát sinh ra Phong Trào Lý Trí và được
gọi là Thời Đại Lý Trí (1500-1789) với chủ trương dạy đời rằng người
ta chỉ nên tin những điều gì có lý (logic) hay thuận lý thuận tình, còn
những gì láo khoét không thuận lý, không thể nào kiểm chứng được bằng
các cuộc thí nghiệm hay không thể chứng
minh đựợc là có thật thì phải loại bỏ. Những tín lý Kitô thuộc loại không thể kiểm chứng được
cho nên cần phải bỏ. Với chủ trương như vậy, Thời Đại Lý Trí
(Age of Reason) đã làm cho hệ thống tín lý Kitô và Giáo Hội La Mã trở
thành bất khả tín đối với nhân dân loại.
Tình trạng này đã khiến cho rất nhiều người bỏ đạo. Để cứu vàn tình thế và nhằm để vô hiệu hóa
những lý luận trên đây của Phong Trào Lý Trí, Giáo Hội đưa ra lời dạy
“niềm tin không cần có lý trí và khoa
học.” để nhồi sọ tín đồ.
Đồng thời, Dòng Tu Jesuite được cho ra đời (1534) như là những đội quân
biệt kích tàn ngược nhất để đối
phó với tất cả các phong trào nhân dân chống lại Giáo Hội. Tiếp theo
đó, Giáo Hội triệu tập Công Đồng Trent (The Trent Council) khởi nhóm vào
năm 1545 kéo dài đến năm 1563) để điều nghiên những biện pháp để đối
phó với các phong trào nhân dân nổi dậy chống lại Giáo Hội. Một trong
những biện pháp này là tăng cường quyền lực cho các Toà Án Dị Giáo với toàn quyền truy lùng, bắt giam, tra tấn vả
xử tử những người bị tình nghi không tin tưởng tuyệt đối vào Toà
Thánh Vatican, và thiết lập bộ máy công an mật vụ với những kỹ thuật
rình mò, dò xét nhân dân hết sức là tinh vi và cực kỳ man rợ. Sự kiện này được hỏa giả Da-tô Phan
Đình Diệm ghi nhận như sau: "Năm 1232, Giáo
Hoàng Gregory IX (1227-1241) thiết lập tòa án xử bọn dị giáo, gọi là
Inquisition… Cha con tố các nhau, vợ
chồng tố cáo nhau, anh em tố cáo nhau, bạn hữu tố cáo nhau, hàng xóm
láng giềng tố cáo nhau, v.v. trước tòa án của Giáo Hội. Giáo Hoàng
Paul IV (1555-59) tuyên bố: "Nếu bố tô là dị giáo đồ, tôi cũng sẽ
chụm củi thiêu sống ông ta luôn" [6]
Kể từ đó, chính sách
ngu dân và giáo dục nhồi sọ được triệt để thi hành. Dù
là Giáo Hội đã sử dụng đến trăm phương ngàn kế để đối phó với
các phong trào nổi dậy của nhân dân thì cũng
không dập tắt được ý nguyện của nhân và phong trào đòi dân chủ tự
do càng ngày càng trở nên mạnh. Tuy nhiên, Giáo Hội vẫn không chịu nhìn
nhận sự thật mà nhận tội, tạ lỗi và đền tội với nhân dân, trái lại,
Giáo Hội vẫn ngoan cố bám chặt lấy quyền lực và tiếp tục sử dụng
những thủ đoạn lưu manh hơn và dã man hơn để khống chế nhân dân. Bằng
chứng cho sự kiện này là việc các Giáo Hoàng Pius VII (1800-1823), Gregory
(XVI (1831-1846) và Pius IX (1846-1878) lần lượt và nối tiếp nhau đưa ra những
lời tuyên bố ác độc (một thứ lệnh truyền và cũng là biện pháp) để
đối phó với nhân dân. Sự kiện này được sách Roman Catholicism ghi nhận
như sau: “Giáo Hoàng Pius IX
(1846-1878) lên án những phong trào đòi tự
do tôn giáo, tự do hành động theo lương tâm, tự do ngôn luận, tự do báo
chí, lên án cả những khám phá về
khoa học nếu không được sự chấp thuận của Giáo Hội La Mã và khẳng
định quyền lực của Giáo Hoàng phải bao trùm lên trên quyền lực của
các nhà cầm quyền thế tục.” (Syllabus of Errors, proclamed by pope
Pius IX, and ratified by the Vatican council, condemned freedom of religion, conscience,
speech, press, and scientific dicoveries which are disapproved by the Roman Church,
asserted the pope’s temporal authority over all civil rulers.”[7] . Ngoài việc điều nghiên những biện pháp như trên
để đối phó với phong trào nhân dân nổi dậy ở khắp mọi nơi trên thế
giới, Công Đồng Vatican I (1869-1870) còn đưa ra tín điều “Giáo
Hoàng không bao giờ lầm lẫn….” để nhồi sọ tín đồ tin rằng
những người được đưa lên ngôi vị giáo hoàng thực sự là thần thánh
cho nên mới “không bao giờ lầm lẫn.”, chứ
không phải là người phàm mắt thịt ở trên cõi đời này. Dĩ nhiên là
chỉ có những có trình độ thông minh dưới trung bình mới tin như vậy. Điều khôi hài là tín
điều bịp bợm này được cho ra đời trong thời Giáo Hoàng Pius IX
(1846-1878) thì chính ông giáo hoàng này lại chủ mưu “bắt cóc” một em
bé người Do Thái mới có 6 tuổi đem về nuôi và cho đi học nghề linh mục,
bất chấp cả sự phản đối quyết liệt của cha mẹ em bé nạn nhân, rồi
lại còn tuyên bố công khai rằng “dân Do Thái là lũ chó”. Với hành động ăn cướp và nói năng những lời mất
dạy như trên, với con mắt của người dân Đông Phương, Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878) quả là “một thằng mất dạy, một tên vô lại, vô
giáo dục.” Ấy thế mà tên vô lai mất dạy này là được Giáo
Hoàng John Paul II (1978-2005) phong chân phước tháng 9 năm 2000. Việc làm này
đã gây phản ứng mãnh liệt đối với
nguời dân Do Thái ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là dân Do Thái
ở Ý Đại Lợi. Dưới đây là nguyên văn một bản tin đăng trên tờ The
News Tribune (Tacoma, Washington) số ra ngày 3 tháng 9 năm 2000, nói về phản ứng
của người dân Do Thái và thân nhân gia đình nạn nhân của ông Giáo
Hoàng "vô giáo dục" này: "Gia đình Do Thái phản đối việc phong chân
phước cho Giáo Hoàng Pius IX. Một ông tổ của họ bị Giáo Hội bắt cóc
và được Giáo Hòang Pius IX về nuôi dưỡng. LA MÃ. Theo nguồn tin
của Liên Hiệp Thông Tấn Xã, con cháu của một cậu bé của gia đình người
Do Thái bị bắt cóc hồi thế kỷ 19 cùng với hàng trăm người tham dự cuộc
phản đối được tổ chức vào chiều tối Thứ Bảy trước ngày phong
chân phước cho Giáo Hoàng Pius IX. Bà Elena Mortara, người
chắt của cậu bé Do Thái bi Giáo Hội bắt cóc hồi thế kỷ 19, nói rằng
việc Giáo Hoàng John Paul II tuyên bố phong chân phước cho Giáo Hòang Pius IX
là khơi lại vết thương lòng của chúng tôi. Chắc chắn là như vậy. Trong khi đó, những
gia đình quý tộc Gia-tô người Ý hân hoan đón mừng ngày phong chân phước
cho Giáo Hoàng Pius IX với những hội hè có giàn nhạc và hô vang khẩu hiệu
"Pius IX muôn năm!". (Reo mừng trên sự đau khổ của nạn nhân của
Giáo Hội - NMQ) Việc phong chân phước
cho Giáo Hòang Pius IX (1846-1878) và Giáo Hoàng John XXIII (1958-1963), hai vị tiền
nhiệm của đương kim giáo hoàng, là bước chót trước khi chính thức tiến
hành việc phong thánh cho hai người này. Nhiều nhóm dân gốc
Do Thái người Ý và thuộc nhiều quốc gia khác đã phản đối việc phong
chân phước cho Giáo Hoàng Pius IX vì răng năm 1858 tóan lính hộ vệ Giáo
Hoàng bắt cóc cậu bé lúc đó mới 6 tuổi, con một gia đình người Do Thái
ở Bologna. Sau khi hay tin cậu bé này được một bà người làm theo đạo
Gia-tô bí mật rửa tội, viên chức của Giáo Hội ra lệnh bắt cóc cậu
bé này. Dưới sự bảo trợ của Giáo Hoàng Pius IX, cậu bé này được nuôi
dưỡng theo đạo Gia-tô, rồi trở thành linh mục. Một lãnh tụ của
người Do Thái là Giacomo Saban nói với đám đông dân chúng rằng, "Vết
thương của bà mẹ này bị cướp mất con vẫn còn nguyên vẹn và vẫn
còn đau nhói." Những phát ngôn
viên khác đọc những bản văn do chính Giáo Hoàng Pius viết, trong đó có một
đọan ông giáo hoàng này nói rằng dân Do Thái chỉ là "lũ chó",
chứ không phải là công dân. (Giáo Hoàng Pius IX quên rằng chính dân tộc
Do Thái đã đẻ ra ông Abraham, ông Moses, bà Maria và Chúa Jesus - NMQ). Bà Elena Mortara
nói, "Việc Giáo Hội vinh danh Giáo Hoàng Pius IX là một sự thất vọng
đối với những người - như gia đình Mortara - họ hân hoan đón nhận sự
đối thoại mà Giáo Hoàng John Paul II đã vận động với các tôn giáo
khác." Bà nói, một sự phiền toái khác nữa cũng quan trọng là việc
bắt cóc cậu bé Edgardo ngày xưa cho tới nay vần còn là giáo luật. Truyền
thống của Giáo Hội La Mã cho rằng tín hữu Gia-tô có nhiệm vụ phải rửa
tội cho bất kỳ em bé nào dù là tín đồ Gia-tô hay không, nếu thấy rằng
sinh mạng của em bé đó có thể bị nguy hiểm, bất kể là có được sự
chấp thuận của cha mẹ em bé đó hay không. (Môt thái độ và
hành động xấc xược và ngược ngạo - NMQ) Bà Elena nói,
"Chúng tôi luôn luôn nghĩ rằng thảm cảnh này đã đi vào quá khứ.
Chúng tôi lấy làm buồn khi thấy nó trở thành một mối nhục nhãt của
ngày nay." Nguyên bản Anh ngữ."Jewish family protests Pius' beatification. Their
ancestor was abducted, raised Catholic by 19th century pope. The Associated
Press. ROME.- Decendants of a Jewish-born boy wrenched from his family in the
19th century with the blessing of Pope Pius IX, joined hundreds in a
candlelight protest Saturday on the eve of Pius' beatification. Pope John Paul II's planned declaration today of Pius as among
the Roman Catholic Church's blessed "is the reopening of a wound. There is no doubt
about it," said Elena Mortara, the abducted boy's great great niece. Rome's Catholic noble families, meanwhile, celebtrated the
upcoming beatification with a Saturday church vigil, band and shouts of "Viva Pio
Nonio!" or "Long live Pius IX!". Today's beatification of Pius IX and the 20th
century's John XXIII places the two predecessors of John Paul on the last formal step
before possible sainthood. Italian and international Jewish groups have protested Pius'
beatification in large part because of the 1858 taking of 6-year-old Edgardo Mortara by
papal guards. Church official ordered the boy removed from his Jewish family in "That mother was deprived of her son," Giacomo
Saban, an Italian Jewish leader, told the crowd. "The injury is still alive. It's
still felt." Other speakers read from the passages of Pius' writing, including one in
which he allegedly wrote that Jews were not citizens but "dogs." The church's glorification of Pius is a disappointment to
those - like the Mortara family - who welcomed the dialogue John Paul had fostered among
religions, Elena Mortara said. Equally troublesome was that the percept that governed the
taking of Egardo remains church law today, she said. Church tradition hold that Catholics
have a duty to baptize any child - Catholic or non-Catholic, with parents' permission or
not - if they believe the child' life in danger.." "We always thought that this ordeal was in the
past," Elena Mortara said, "We are sorry that it has become a scandal of the
present."[8] Sách Roman Catholicism ghi nhận rằng “Tiếng nói của giáo hoàng là tiếng nói của
Giáo Hội La Mã.” (In actual practice the Roman Church, since the
Infallibility decree of 1870 holds that the final seat authority is the pope speaking for
the church, p. 89). Những sự kiện
trên đây cho chúng thấy rõ Giáo Hội La Mã đã hành động giống như những
phường ăn cướp, và ăn nói giống như những quân vô lại, những hạng
người mất dạy, đúng như lời sử gia Loraine Bottner ghi nhận trong sách
Roman Catholicism rằng: “Tìm hiểu lịch sử
Giáo Hội, chúng ta thấy tất cả những
giáo hoàng, hồng y, giám mục, linh mục,
tín đồ ngoan đạo đều là những ác nhân tuốt luốt.”. ( Such crimes
have been practiced not merely by church members, but by popes, cardinals, bishops, and priests who, as a study of church history will
show, undeniable were evil men…”)[9] Chó sủa mặc chó,
đoàn lữ hành cứ đi. Mặc cho Giáo Hội La Mã dùng những biện pháp quỷ
quyệt, hung bạo và tàn ngược đến
đâu đi nữa, nhân dân Âu Châu vẫn bất chấp tất cả, dù là Giáo Hội
đã “lên
án những phong trào đòi tự do tôn giáo, tự do hành động theo lương tâm,
tự do ngôn luận, tự do báo chí, lên án cả những khám phá về khoa học nếu không được sự chấp
thuận của Giáo Hội ..”(như đã nói ở trên). Tất cả những lời lẽ
lên án này cũng không làm cho nhân dân khiếp sợ mà chỉ làm cho họ kinh tởm
và “coi Giáo Hội như một thứ củi hủi
cần phải lánh xa.” Nhiều tác giả, Vatican Thú Tội và Xin Lỗi? ( TẠI SAO lại càng ngày càng có nhiều người lánh
xa Giáo Hội và bỏ đạo? Câu trả lời rất là đơn gian? Bởi vì MỘT KHI khi
người ta đã quyết tâm hành động
theo lương tâm và lý trí, THÌ ánh sáng của lương tâm, và lý trí giúp cho
họ nhìn ra bộ mặt thật chuyên chế và độc tài vô cùng ghê tởm của
Giáo Hội. Giáo Hội là một tổ chức kinh doanh bằng những kỹ thuật muợn
danh thần thánh để vừa hù doạ vừa lừa bịp
người đời và dùng bạo lực của
nhà nước để khủng bố và tàn sát tất cả những người không chịu
khuất phục Giáo Hội. Do đó Giáo Hội mới lên án tất cả những thứ tự
do tư tưởng, tuiự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo, tự do
hôn nhân, và cấm luôn cả những khám phá về khoa học. Vậy thì muốn có những thứ tự do trên đây thỉ
phải lánh xa Giáo Hội và bỏ đạo, và muốn lánh xa Giáo Hội và bỏ đạo
thì cũng phải có can đảm và sức mạnh để
đối phó lại với Giáo Hội. Muốn có sức mạnh để đối phó với Giáo
Hội thì phải dựa vào một thế lực
khác có sức mạnh để chống lại Giáo Hội. Trước thế kỷ 16, gần như toàn thể nhân dân Tây
và Nam Âu đều là con cháu những người bị Giáo Hội cưỡng bách phải
khuất phục mà trở thành tín đồ Da-tô của Giáo Hội. Hầu như toàn
thể nhân dân Âu Châu biết rõ sự thật này và mãi mãi không quên sự thật
này, ngoại trừ một nhóm thiểu số tín đồ “ngoan đạo” (cuồng tín)
giống như giáo dân Bùi Chu, Phát Diệm và tất cả những người cuồng tín
thuộc loại “nhất Chúa, nhì Cha, thứ
ba Ngô Tổng Thống”. Thói đời, MỘT
KHI dùng bạo lực cưỡng bách người ta làm những gì mà người ta
không muốn, THÌ người ta sẽ uất hận và căm thù. Giáo Hội
La Mã không những đã sử dụng bạo lực cưỡng bách người ta phải theo
đạo Da-tô mà còn tước đoạt hết tất cả mọi thứ quyền tự do căn bản
của con người kể cả quyền tự do tìm hiểu và nghiên cứu khoa học như
đã nói ở trên. Ở vào tình trạng này thử hỏi rằng có ai lại không bất mãn và căm thù? Nhân dân Âu Châu ở
vào trường hợp này. Cũng vì thế mà lòng uất hận và ngọn lửa căm thù
của họ đối với Giáo Hội La Mã đã chất chứa trong lòng từ nhiều thế
kỷ. Tình trạng này đã khiến cho họ tiềm phục rình chờ cơ hội thuận
lợi là bùng lên thành những cơn bão lửa thiêu rụi tất cả những gì của
Giáo Hội và thuộc về Giáo Hội. Vì thế, đến đầu thế kỷ 16, KHI ông Martin Luther (1483-1546) đứng
lên phất cờ chống lại Giáo Hội vào năm 1517, THÌ người ta theo ông Luther. Nhờ đó
mà đạo Tin Lành Luther ra đời và trở thành một thế lực vô cùng hùng mạnh
chống lại Giáo Hội. KHI Anh Hoàng Henry VIII (1491-1547) vào 1533, THÌ nhân
Anh theo Anh Hoàng Henry VIII chống lại Giáo Hội. Vì thế mà ANH Giáo ra đời..
KHI ông John Calvin (1509-1564) đứng lên phất cờ chống lại Giáo Hội
vào năm 1536, THÌ nhân dân đi theo ông Calvin chống
lại Giáo Hội. Nhờ vậy và đạo Tin Lành Calvin trở thành một thế lực
hùng mạnh ở Âu Châu. Và KHI có
phong trào cách mạng dấy lên chống lại Giáo Hội, THÌ nhân dân Âu Châu hàng hàng lớp
lớp lũ lượt kéo nhau đi theo phong trào cách mạng để chống lại Giáo Hội.
Nhờ thế mà phong trào cách mạng càng ngày càng trở nên hùng mạnh. Tình trạng này mở đường
cho Thời Đại Thời Đại Cách Mang Dân Chủ (1603-1815), tức là thời kỳ
các phong trào cách mạng bùng lên dùng biện pháp mạnh trừng trị Giáo Hội
La Mã: Cũngvì trhế mà Cách Mạng Pháp 1789 đã: 1.- Tịch thu toànbộ tài sản của Giáo Hội 2.- Tước bỏ tất cả mội đặc quyền đặc lợi
của Giáo Hội và giới tu sĩ, trong đó quyền thu thuế thập phân của
Giáo Hội bị xoá bỏ, 3.- Lập hiến
chế dân sự cho giới tu sĩ Da-tô, theo
đó, NẾU muốn được hành nghề, THÌ
tu sĩ phải thề trung thành với hiến pháp, chứ không phải thề trung
thành với giáo hoàng như ngày trước,và 4.- Điều khoản “tôn giáo phải tách rời chính
quyền” được ghi vào hiến pháp. 5.- Thẳng tay trừng trị những giáo sĩ và tín đồ
Gia-tô có những hành động phản quốc và chống lại Cách Mạng. Con số
giáo sĩ, nữ tu và tín đồ Gia tô bị đưa ra pháp trường đền tội phản
quốc được cựu giáo sĩ Malachi Martin ghi nhận trong sách The Decline And Fall Of The Roman Church như sau: "Trước hết,
nước Pháp mà Giáo Hòang Pius VI (1775-1799) thường gọi là "người trưởng
nữ của Giáo Hội" xóa bỏ toàn bộ tôn giáo, đưa nhà vua lên đọan
đầu đài, chính thức tôn vinh thần Lý Trí lên ngôi chí tôn, tàn sát
17 ngàn linh mục, 30 ngàn nữ tu và 47 giám mục,
tất cả các tu viện, các dòng tu và các trường học của Giáo
Hội đều bị giải thể, tất cả các thư viện của Giáo Hôi đều bị
thiêu rụi, chính quyền Paris còn
ban hành quyết định ra lệnh cho Tướng Bonaparte (Sau này là Hòang Đế
Napoléon I) "đem quân đi "giải phóng nước Ý", "có toàn
quyền hành động" "hủy diệt Rome và chế độ Giáo Hòang".
Tháng 5 năm 1796, trước khi tiến vào kinh thành Rome, Tướng Bonaparte tuyên bố, "Chúng tôi là những người
bạn của con cháu Brutus (một anh hung củ dân tộc La Mã) và dân Scipios.... Chủ định của chúng tôi là phục hồi
điện Capitol và giải phong nhân dân La Mã thóat khỏi thân phận nô lệ
tôi đòi." Quân Cách Mạng
Pháp tiến chiếm kinh thành ("First, France,
"eldest daughter of the church "he used to call it, abolished all religion,
beheaded its king, enthroned Reason officially as supreme deity, massacred over 17,000
priests and over 30,000 nuns as well as forty-seven bishops, abolished all seminaries,
schools, religious orders, burned all churches and libraries, then sent the Corsian
Bonaparte to liberate Italy and Rome"
"Just as you please," wrote the Paris government to the Corsian. "Destroy Then the capture, and
the humiliation of the Peace of Tolentino between the
papacy and the Corsian: a ransom of 46,000 scudi in three installement (Pius
melted down all available siver and gold ornaments); 100 objects d'art and 500 rare
manuscripts from Vatican; the opening of all papal harbors
to the French fleet; renunciation of all property in Italy and France and Naples and
Sicily - everywhere. "They made us their prisoner Spina," mutters Pius.
"Peace treaty! Bah!" The Theo gương nhân dân Pháp, trong thập niên 1860, nhân
dân Ý Đại Lợi, quê hương của Giáo Hội cũng nổi lên và mãi tới năm
1870 mới bùng thành cơn bão lửa Cách Mạng bắt buộci Giáo Hội phải trả
lại quyền làm người cho họ và trả lại tất cả những đất đai (papal
states) mà Giáo Hội đã chiếm đoạt của họ từ ngàn xưa. Vấn đề này
đã được nói sơ qua trong phần Nhập Đề của bộ sách này và sẽ được
trình bày đầy đủ trong một tập sách khác. Cũng từ đó, nhân dân
Âu Châu được tự do gọi mấy ông tu sĩ Da-tô là “bọn quạ đen” (les corbeaux noirs) một
cách công khai mà không còn sợ bị luật pháp trừng phạt. Văn hào Voltaire
gọi đạo Thiên Chúa La Mã là “cái tôn giáo ác ôn” mà không bị điệụ
ra trước Toà Án Dị Giáo giống như số
phận ông John Huss (1373-1415) vào năm 1415, số phận bà Jeanne d’ Arc
(1412-1431) vào năm 1431, số phận ông
Savonarola Gi rolamo (1452-1498) vào năm 1498, số phận ông Bruno Giordano
(1548-16000 vào năm 1600, số phận nhà bác học Galileo Galilei (1564-1642) phải
bị tù chung thân cho đến ngày nhắm mắt lìa đời, và số phận của gần
70 triệu người dân khác như sách Smokescreens đã ghi nhận: "Chỉ nội trong
thời kỳ thi hành chương trình Inquisition ở Tây Ban Nha, Giáo Hội La Mã đã
tra tấn, gây thương tật và sát hại là 68 triệu, và nhiều nạn nhân này
cũng là những người Thiên Chúa Giáo tin tưởng vào Thánh Kinh." (“The
Roman Catholic Institution tortured, maimed and murdered 68 million people during the
Spanish Inquisition alone, and many these were Bible-believing Christians.”)[11] Cũng nhờ có phong trào cách mạng chống lại Giáo Hội
cuồn cuộn dâng lên như trận hồng thủy Katrina tàn phá cả thành phố
Newleans (Louisiania) và vùng ven biển lân cận trong Vịnh Mễ Tây xẩy ra vào
đầu tháng 9/2005 mà chúng ta không cảm thấy ngạc nhiên khi thấy rằng người
dân Hoa Kỳ đã thẳng thắn nói cho Giáo Hội La Mã và những tín đồ Da-tô
cuồng tín biết rằng: “Quốc gia này có
hiến pháp tôn trọng các quyền tự do và tín ngưỡng của tất cả mọi
người dân, chứ không phải chỉ dành riêng cho tín đồ Kitô sợ Chúa mà
đi nhà thờ thường xuyên. Hoa Kỳ không phải là một quốc gia theo chế độ
đạo phiệt. Những người bảo thủ
Ki-tô giáo càng có thái độ bất khoan dung với ý đồ muốn tọng đức
tin của họ và cổ họng của nhân dân trong nước và ngoài nước thì họ
càng giống những người Hồi giáo cuồng tín mà họ đang tuyên xưng chống
lại.” (“This nation has a constitution designed to respect the rights and
beliefs of all people, not just God-fearing, churchgoing Christians. Không phải chỉ có những người thuộc
các tôn giáo khác và những người chống lại Giáo Hội mới bị Giáo Hội
và các ông giáo hoàng đối xử bằng
những thủ đọan và hành động bốc
lửa bỏ bàn tay, quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, lật lọng và bịp bợm
như trên. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng, ngay cả đối với giới tu
sĩ và tín đồ Gia-tô ngoan đạo của Giáo Hội cũng bị đối xử như vậy.
Ai cũng biết Giáo Hội và các ông giáo hoàng vẫn thường dạy dỗ giáo
dân rằng, "Mọi việc ở trên cõi đời
này đã có Chúa an bài, và nếu hết lòng tin tưởng nơi Chúa thì sẽ được
Chúa che chở cho qua những khi bị tai họa
xẩy ra bất ngờ." Nếu đúng
như vậy thì chính các ông giáo hoàng
và các ngài "mang chức thánh"
của Giáo Hội sẽ được Chúa che chở kỹ hơn bất kỳ tín đồ nào vì
rằng họ là những người hết lòng tin tưởng ở Chúa, tin tưởng nhiều
hơn tất cả các tín đồ của Giáo Hội.. Ấy thế mà Giáo Hoàng John Paul
II và Giáo Hoàng Benedict XVI lại không
tin tưởng rằng Ngài sẽ được Chúa che chở. Bằng chứng là cứ mỗi lần
thi tham quan ra ngoài nước Ý, các Ngài vẫn phải sử dụng chiếc xe chống đạn thuộc lọai đặc biệt có
tên là Popemobile để đề phòng có đứa nào bắn lén hay ném bom sát hại
Ngài. Chúng ta thấy, khi còn sinh tiền, trước tháng 4/2005, Giáo Hoàng John
Paul II đã sử dung chiếc xe chống đạn này cả
hàng trăm lần; rồi trong lần viếng thăm nước Đức vào
tháng 8/2005, Giáo Hoàng Benedict XVI cũng sử dụng chiếc xe chống đạn này
giống y như GiáoHoàng John Paul II lúc sinh tiền. Không ai chối cãi được
việc sử dụng chiếc xe Popemobile này là một hành động chứng tỏ rằng chính các Ngài không hề có một chút tin tưởng
nào vào sự che chở của Chúa ][13].
Hành động này chứng tỏ rằng Giáo Hội và các Ngài đã lừa bịp giáo
dân, Giáo Hội và các Ngài đã dạy dỗ và đòi hỏi họ phải tin tưởng
những lời láo khoét mà chính các Ngài chẳng có một chút mảy may tin tưởng
nào cả. Nói về thành tích quay quắt, lắt
léo, lươn lẹo và bịp bợm của Giáo
Hoàng John Paul II đối với giai cấp giáo sĩ của
Giáo Hội, sách Vicars of Christ ghi lại rõ ràng như sau: "Giáo Hoàng John Paul II thường nói sự cam kết
của giáo sĩ là được tự do tuyệt đối. Nếu vậy, thì tại sao ông ta lại không
để cho các giáo sĩ từ giã cái nghề tu hành của họ? Tại sao lại cưỡng
bách họ tiếp tục ở lại với Giáo Hội khi mà chính họ không còn thể chịu được cái cảnh cô đơn hiu quạnh
lạnh lùng, cái cảnh mà Chúa cũng phải nói là không tốt cho con người?"["John
Paul (II) often says that the priest's
commitment was made absolutely freedom. If so, why does he not allow priests to leave the
ministry? Why compel them to stay on when they themselves can no longer abide the
loneliness which God said is not good for man?" [14]
Đúng là “Miệng kẻ
sang có gang có thép” và “lưỡi không
xương nhiều đường lắt léo”. Thực ra, cái bản chất và truyền thống
ăn không nói có, quay quắt lắt léo, lươn lẹo, lật lọng và bịp bợm
này là do chủ trương của Giáo Hội đã có từ thế kỷ IV cho đến ngày
nay, chứ không phải là do nơi cá nhân Giáo Hoàng John Paul II. Ngài chỉ là
người được ủy nhiệm cầm quyền để
thi hành các chủ trương và chính sách đã có sẵn từ trước và do tập đoàn giáo
sĩ nắm quyền đương thời trong giáo
triều Giáo Hội và các ông giáo hoàng mà quay quắt lắt leo, lươn lẹo, lật lọng
và bịp bợm như vậy thì LÀM SAO giai cấp tu sĩ và tin đồ Gia-tô lại không theo cái gương này của Giáo Hội
và các ông giáo hoàng mà hành xử đối với
mọi người xung quanh? Để
kiểm chứng sự kiện này, độc giả hãy làm một cuộc du hành "thăm dân cho biết sự tình" ,
đi đến các họ đạo tiếp xúc các ông mang chức thánh người Việt và
tín đồ Gia-tô ngoan đạo làm việc trong các bộ môn trong ngành truyền
thông hay những tác giả có những ấn phẩm hay bài viết bênh vực hay chạy tội cho những việc
làm tội ác của Giáo Hội La Mã và của các chế độ đạo phiệt Gia-tô
đã được nêu lên trong bộ sách này. Có tiếp xúc với họ, độc giả mới
có những dữ kiện để phối kiểm những điều mà người viết đã
trình bày trong chương sách này. Qua những sự kiện đã được trình
bày trên đây, chúng ta thấy rằng, không kể tín lý Tội Tổ Tông đã có từ trước trong đạo Do Thái, các tín
lý Chúa Cứu Thế, Chúa Ba Ngôi và Đức Mẹ Đồng Trinh là những cái vòng
khoen đầu tiên trong một sợi dây chuyền tín lý láo khóet (ăn không nói có) móc nối trộn lộn với
những vòng khoen "quay quắt, lắt léo, lươn lẹo" (những giải thích lươn lẹo quanh co để lấp
liếm những tính cách láo khóet của
những tín lý quái đản do Giáo Hội bịa đặt ra). Những vòng khoen
này móc nối với những vòng khoen tội ác sử dụng bạo lực để (1) khủng
bố và đàn áp những người bất khuất chống lại Giáo Hội và những người
khẩu phục mà tâm bất phục và (2) đem
quân thập tự đi chinh phục các vùng đất ở ngoài lục địa Âu Châu (việc ban hành thánh lệnh Romanus Pontifex vào
ngày 8 tháng 1 năm 1454, đã nói ở Chương 4),
và (3) thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ với dã tâm kìm hãm người dân dưới quyền mãi
mãi ở trong tình trạng ngu dốt. Vì không được học lịch sử thế giới, cho nên
những thế hệ Việt 3.- Không dạy cho học sinh biết phân biệt sự khác
biệt giữa ý kiến (opinions) và sư kiện (facts). Hậu qủa là ngày nay có
nhiều người ở lứa tuổi 50 trở
lên rồi vẫn không biết sử dụng lý
trí để phân biệt được sự khác biệt này. Tình trạng này khiến cho họ
lầm tưởng rằng những ý kiến phát biểu theo cảm tính của những người
có thế lực trong chính quyền Bảo Đại và chính quyền miền Nam Việt Nam
là những lẽ phải hay chân lý và phải triệt để tuân hành. 4.- Không dạy cho học sinh biết phương pháp và
nguyên tắc viết điểm sách. Hậu quả là đã có những ông tốt nghiệp
Quốc Gia Hành Chánh và hình như có cả bằng cử nhân luật nữa mà khi viết
điểm sách mà ông ta không thích nội
dung của cuốn sách ấy thì lại quay ra viết bài điểm mặt tác giả và
dùng những lời lẽ hạ cấp để hạ giá tác giả. Đây là trường hợp
ông bạn họ Trương, tác giả viết bài Đọc Sách A Poem For My Children
đăng trong tờ Văn Nghệ Tiền Phong số 559, tháng 5/1999, và các tác giả của
các bài viết điểm sách Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của cụ Đỗ Mậu
đăng trên tờ Văn Nghệ Tiền Phong liên tiếp trong nhiều năm kể từ năm
1987. 5.- Không dạy cho học sinh phương pháp viết bài khảo
luận và viết một tiểu luận. Hậu
quả là có những người đã có bằng đại học rồi mà vẫn không những
đã không có một chút kiến thức về tình tự dân tộc, không hề lặn lộn
chìm nổi với nhân dân trong suốt hai thời kỳ chiến tranh giải phóng quê
hương và thống nhất đất nước, mà lại còn có chủ tâm viết với mục
đích chạy tội cho Giáo Hội La Mã và
những người đồng đạo làm Việt gian bán nước cho Vatican, cho Pháp và
cho Mỹ, cho nên mới viết nhăng viết cuội với những lời tuyến bố võ
đoán theo cảm tính, không cần phải chứng minh. Đây là nguyên nhân khiến
cho họ rơi vào tình trạng “câu sau đá ngược
câu trước.” Đây là trường hợp
tác giả của những cuốn như Tổ Quốc Ăn Năn, Việt Nam Tôn Giáo Chính Trị
Quan, Việt Nam Chính Sử, Những Bí Ẩn Lịch Sử Đàng Sau Cuộc Chiến Việt
Nam, Việt Nam Huyết Lệ Sử, Việt Nam 1945-1995, v.v… Vì không có một chút kiến thức về tình tự
dân tộc, không hề lặn lộn chìm nổi với nhân dân trong suốt
hai thời kỳ chiến tranh giải phóng quê hương và thống nhất đất nước,
không biết gì về lịch sử thế giới, không biết gì về lịch
sử Giáo Hội La Mã. Họ cũng không có đủ khả năng lý trí để nhận thức
được sự khác biệt giữa một bên là tính cách bình đẳng và
nghĩa vụ hỗ tương giữa hai hay nhiều quốc gia đồng minh trong một
liên minh chống lại một liên minh thù địch (như Đồng Minh Anh - Mỹ - Nga
- Trung Hoa chống lại phe Trục Đức - Ý - Nhật trong thời Đệ Nhị Thế
Chiến), và một bên là mối
quan hệ chủ tớ giữa ông chủ
đế quốc thực dân xâm lược và một chính quyền bù nhìn bản địa
làm tay sai tại địa phương (như chính quyền Bảo Đại làm tay sai cho
Liên Minh Pháp - Vatican, và chính quyền miền Nam làm tay sai cho Liên Minh Mỹ
- Vatican trong những năm 1954-1975).. Cái
quan hễ chủ-tờ của Hoa Kỳ và Miên
Nam Việt “…thân phận các
nuớc chậm tiến (lại lỡ là đồng minh của Mỹ nữa) không bao giờ được
tự quyết định số phận mình. Mỹ tính, Mỹ làm hết. Chống lại là đi
làm“đại sứ lưu động” hoặc chết).Kinh nghiệm Trung Hoa Dân Quốc, Ðại
Hàn còn sờ sờ ra đó! Làm trái ý Mỹ là hết đời liền.”[15]
Cũng vì không
có dủ khả năng lý trí để nhận thức được sự thực đau buồn và tủi
nhục trên đây, cho nên họ mới đinh ninh cho rằng trong thời gian trên đây
(1954-1975), miền Nam Việt Nam là đồng minh của Hoa Kỳ. Cũng thế mà tác
giả Da-tô Tiến-sĩ Nguyễn Tiên Hưng mới
cho ra đời cuốn sách có tựa đề là “Khi
Đồng Minh Tháo Chạy.” Quả thật là họ đã “nhận vơ” rằng Hoa Kỳ là “ |