905-gd.gif (2472 bytes)

posted: 12.9.2005

  Bài 5:
 
11. ĂN KHÔNG NÓI CÓ VÀ LƯƠN LẸO THỰC SỰ LÀ
BẢN CHẤT CỦA TOÀN BỘ GIÁO HỘI LA MÃ

Vấn đề đặt ra là TẠI SAO tín đồ Da-tô ngoan đạo người Việt lại quá hăng say lao vào làm những chuyện "bịa đặt", "vu khống", "ăn không nói có", "quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, lật lọng và bịp bợm" như đã được trình bày ở trên?

Lịch sử đã chứng minh rằng đạo Da-tô (mà họ gọi là đạo Công Giáo) là  đạo bịp và cũng là đạo của bạo lực được bắt nguồn từ Cựu Ước và Tân Ước với triết lý hành động trịch thượng "Theo ta thì sống, chống ta hay không tin theo ta thì chết" (đã trình bày đầy đủ ở Chương 3). Đây là những hạt giống bịp bợm và bạo lực đã được ươm sẵn  trong đầu óc các nhà lãnh đạo Do Thái Giáo và Kitô Giáo. Kể từ đó, họ rình chờ thời cơ thích hợp (có quyền lực trong tay) đến với họ thì họ sẽ lập tức thiết lập chế độ đạo phiệt để biến cái ý đồ ngông cuồng và ngu xuẩn này thành hành động.

Nhìn vào lịch sử nước Do Thái, quê hương của đạo Do Thái Mai- Sen (Mosaic Judaism) và đạo Kitô Do Thái (Jewish Christianity), chúng ta thấy rằng thời kỳ từ năm 325 trở về trước, cái triết lý hành động trịch thượng này của đạo  Do Thái  Mai-Sen (Mosaic Judaism) và đạo Kitô Dô Thái (Jewish Christianity) chỉ là một thứ ý kiến ngông cuồng và ngu xuẩn, hoàn toàn nằm trong tư tưởng,  không thể nào  thể hiện ra  được bằng hành động. Lý do là trong suốt chiều dài lich sử từ khi đạo Do Thái Mai- Sen (Mosaic Judaism), đạo của bạo lực, ra đời vào khỏang năm 1250 TCN cho đến   khi Giáo Hội La Mã được cho ra đời vào năm 235, ngọai trừ một thời gian ngắn  từ đời vua Saul (thân phụ của vua David) từ thế kỷ 11 TCN cho đến 930 TCN, nước Do Thái hết bị phân hóa và nội chiến rồi lại bị các cường lân  Babylone, Ba Tư, Hy Lạp, Syrie và La Mã nối tiếp nhau xâm chiếm và thống trị. Đạo Kitô Do Thái (Jewish Christianity) ra đời ở  nước Do Thái trong khi quốc gia này đang nằm dưới ách thống trị của Đế Quốc La Mã. 

Như vậy là trong thời gian từ khi đao Do Thái và đao Kitô Do Thái ra đời cho đến năm 325, các nhà lãnh đạo của cả hai hệ phái Thiên Chúa Giáo đều không có cái “thế” (không có quyền lực trong tay) đề biến cái ý đồ ngông cuồng "Theo ta thì sống, chống ta hay không tin theo ta thì chết" thành hành động cụ thể được.

Mãi cho đến năm giữa thập niên 310, các nhà lãnh đạo Giáo Hội Kitô Do Thái mới được chính quyền đế quốc La Mã của Hoàng Đế Constantine (280?-337)  móc nối  rồi cấu kết với nhau để khai sinh ra Giáo Hội La Mã. Cũng từ đó, Đạo Kitô Do Thái biến thể thành đạo Kitô La Mã. Khác với đạo Kitô Do Thái (hòan tòan nằm trong giai cấp bị trị), đạo Kitô La Mã nhảy tót lên bàn độc  có quyền lực trong tay) bắt đầu múa may quay cuồng trên dân khấu chính trị Âu Châu mà khởi  đầu chỉ làm tôi tớ cho các thế lực  chính trị nào hùng mạnh nhất ở Tây Âu và trong vùng ven biển Địa Trung Hải.

Tình trạng này giống hệt như tín đồ Da-tô người Việt khởi đầu làm tôi tớ cho Vatican và Pháp và mãi đến tháng 7/1954, nhờ có Hoa Kỳ nuôi dưỡng và bảo trợ, họ mới có thể nhẩy lên bàn độc trên sân khấu chính trị ở miền Nam Việt Nam múa may quay cuồng cho đến ngày 30/4/1975.

Và cũng từ đó, Giáo Hội La Mã (đạo Kitô La Mã)  cương quyết đưa ra chủ thuyết "tôn giáo chỉ đạo chính quyền" (thần quyền chỉ đạo thế quyền) với chủ tâm thiệt lập chế độ đạo phiệt Da-tô để biến cái ý đồ ngông cuồng và ngu xuẩn "Theo ta thì sống, chống ta hay không tin theo ta thì chết" thành hành động.. Sự kiện này chứng tỏ Giáo Hội La Mã chủ trương trông cậy vào bạo lực để:

1.- Cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải tin theo những tín điều bịp bợm trong hệ thóng thần học Kitô,

2.- Khủng bố và tàn sát những người bất khuất kể cả những người khẩu phục nhưng tâm bất phục.

Chúng ta thấy, khởi đầu, cái thói  quen ăn ngang nói ngược, quay quắt, lắt léo, lươn lẹo và lật lọng là những đặc tính phát xuất từ những thủ đoạn bịp bợm rập theo khuôn những chuyện bịp bợm trong Cựu Ước Kinh ..), và trong Tân Ước.

Những chuyện bịp trong Cựu Ước như Chúa Jehovah toàn năng, toàn thiện, có mặt ở khắp mọi nơi, chuyện ông Chúa này tạo dựng ra vũ trụ trong 6 ngày, chuyện lấy đất sét nặn con người bằng xương bằng thịt với đủ cả thất tình lục dục  rồi đặt tên là   Adam và Eva, v.v,…, và những chuyện bịp trong Tân Ước như ông Jesus hóa phép sờ tay vào trán người cùi   thì người cùi khỏi bệnh,  rờ  tay vào mắt người mù thì người mù hết bệnh, nguyền rủa cây sung (vả) thì cây sung phải héo đi, hóa phép hai con cá và năm  cái bánh mì thành một khối lượng khổng lồ dư thừa cho  khoảng chừng 5 ngàn người ăn cũng không hết (Matthew: 14: 15-21), và chết rồi lại sống lại bay lên trời, ngồi bên phải Đức Chúa Cha, v.v...).

Đứa con đầu lòng của Giáo Hội La Mã trong cái nghề "bịa đặt, vu khống, ăn không nói có" là chuyện "Chúa Ba Ngôi" được chính thức cho ra đời tại Hội Nghi Nicaea (thuộc Thổ Nhĩ Kỳ) khởi họp vào ngày 20 tháng 5 năm 325. Tiếp theo đó là hàng ngàn những sản phẩm bịa đặt khác. Sách Roman Catholicism liệt kê một 45 sản phẩm bịa đặt này được bịa đặt ra từ năm 300 cho đến năm 1965, nhưng trong đó lại không có sản phẩm Đức Bà Maria hiện ra, không có tục lệ đồng tế 3 cha và 5 cha,không có những giáo luật và rẩt nhiều chuyện bịa đặt khác. Dưới đây là một số được bịa đặt ra và thời điểm (năm) được bịa đặt có ghi trong cuốn sách này:

1.- "Đức Mẹ Đồng Trinh" được bịa đặt ra vào năm 431 trong thời Giáo Hoàng Sixtus III (432-440).

2.- Lễ  xức dầu thánh ….vào năm 526 trong thời Giáo Hoàng  Felix IV ((526-530)

3 -"Nơi Luyện Ngục"……  vào năm  593 trong thời Giáo Hoàng Gregory I (590-604),

4.-Tước hiệu giáo hoàng ….. vào năm 607 trong thời Giáo Hoàng Boniface III (607),

5.- Tục lệ hôn bàn chân Giáo Hoàng….. vào năm 709 trong thời Giáo Hoang Constantine I (708-715),

6.- Nước thánh …..vào năm 850 trong thời Giáo HoLeo IV (847-855)

7.- Phong thánh cho những người đã chết ….. vào năm 995 trong thời Giáo Hoàng John XV (985-996)

8.- Xác nhận 7 phép bi tích ….vào năm 1439 trong thời Giáo Hoàng Eugene IV (1431-1447)

9.- Ăn chay vào ngày Thứ Sáu ..… vào năm 998 trong thời Giáo Hoàng Gregory V (996-999)

10.- Bán Giấy Xá Tội (sale of Indulgenence)vào năm 1190 trong thời GH Clement III (1187-1191).” [1]

Cũng nên biết Giáo Hội cũng đã từng sử dụng kỹ thuật “ăn không nói có” để biến hóa vị thiếu nữ anh hùng dân tộc trẻ đẹp của nước Pháp là bà Jeanne D' Arc (vào năm 1431) thành một mụ phủ thủy với đủ mọi thứ tội ác xấu xa gán cho bà ta để có cái cớ đưa bà ta ra Tòa Án Dị Giáo rồi đem trói vào một cái cọc, chụm củi và châm lửa thiêu chết bà ta vào năm  đó. Thế rồi gần 500 năm sau, lại cũng chính Giáo Hội "phong thánh vuốt đuôi" cho bà ta để o bế nhân dân Pháp. [2] 

Cứ mỗi lần bịa đặt thêm ra một chuyện mới là một lần Giáo Hội lại có thêm quyền lực và có thêm môt phương cách moi tiền hay móc túi tín đồ một cách ngon lành. Chuyện Nơi Luyện Ngục, chuyên Bán Giấy Xá Tội, chuyện Đức Mẹ hiện ra là những chuyện điển hình nói lên sự kiện này.

Như vậy, rõ ràng  đạo Kitô La Mã là đạo bịp và là đạo của bạo lực.

Thế nhưng, sự đời thật là oái oăm! Những thằng tướng cướp thường tự xưng là người lương thiện. Những tên tham quan lại nhũng thường rêu rao tự phong là thanh liêm công chính. Những thằng Việt gian được giặc  cho làm quan trong thời kỳ Việt Nam nằm dưới thống trị của liên minh Pháp - Thập  Ác Vatican thì con cháu của chúng lại hãnh diện là dòng dõi quý phái con cháu  nhà quan. Giáo Hội La Ma ba lần vận động chính quyền Pháp xuất quân đánh chiếm và thống trị Việt Nam và  là thành phần nòng cốt trong liên minh Pháp -Vatican thống trị Việt Nam từ năm 1862 đến ngày 20/7/1954 thì lại tự xưng là đạo của bác ái, đạo của tình thương, đạo cứu rỗi, là “Hội Thánh duy nhất, thánh thiện và tông truyền”, là “Hiền Thê của Thiên Chúa Lam Người.” Ghê tởm hơn, cả Giáo Hội và tín đồ Da-tô người Việt vẫn leo lẻo cái miệng phủ nhận tất cả những sự thật về những hành động tội ác của Giáo Hội chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam từ giữa thế kỳ 16 cho đến ngày 30/4/1975 ở trên lãnh thổ Việt Nam. Không những thế mà họ còn rêu rao rằng họ có tinh thần dân tộc. Tín đồ Da-tô người Việt như ông Ngô Đình Diệm có tới ba đời nối tiếp nhau làm Việt gian hết bán nước cho cả Vatican lẫn Pháp, rồi lại mưu toan bán nước cho Nhật, và sau hết  lại bán nước cho Hoa Kỳ, thì lại được  những người đồng đạo suy tôn lên là  "chí sĩ yêu nước", là "người quốc gia yêu nước chân chính" và "đã chết vì bảo tòan chủ quyền độc lập, không để cho Hoa Kỳ  đem quan vào đóng ở miền Nam Việt Nam."   Thì ra đối với Giáo Hội La Mã và tín đồ Da-tô, những người quốc gia yêu nước chân chính là như vậy! Tiếu lâm hết chỗ nói!

Trên đây là nói về thành tích bịp bợm của cơ quan đầu não của Giáo Hội La Mã là Toà Thánh Vatican. Dưới đây là thành tích sử dụng  bạo lực khời đầu của  cái giáo hội quái đản này.

Tư tưởng biến thành hành động. Như đã nói ở trên, Giáo Hội La Mã vốn đã có ý đồ sử dụng bạo lực để cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải ngoan ngoãn khuất phục như đàn cừu đối với người chủ chăn. Nhưng đây chỉ là ý đồ ngông cuồng còn nằm trong tư tưởng. Phải đợi đến khi Giáo Hội  có quyền lực chính trị thì mới có thể biên cái ý đồ ngông cuồng và ngu xuẩn này thành hành động được. Thời điểm khởi đầu của Giáo Hội có quyền lực chính trị là vào cuối thập niên 310. Kể từ đó, Giáo Hội bắt đầu trổ mòi sử dụng bạo lực để cưỡng bách những người dưới quyền phải tuân phục Giáo Hội. Người nào cả gan dám nói lên tiếng nói của lương tâm và lẽ phải thì sẽ bị Giáo Hội trừng trị ngay tức thì. Bằng chứng là ngay trong Hội Nghị Nicaea (khởi nhóm vào ngày 20/5/325), Giám-mục Arius và rất nhiều người đồng quan điểm với ông bị Giáo Hội gán cho là "tà giáo" và bị trục xuât ra khỏi hội nghị, rồi sau đó bị Giáo Hội  tàn sát hết sức dã man chỉ vì cái tội họ không tán đồng cái tín lý quái đản Chúa Ba Ngôi do Giáo Hội đưa ra. Sự kiện này đã được trình bầy đầy đủ ở Chương 4. Ở đây, chúng tôi  chỉ ghi lại đọan văn  nói về con số   nạn nhân bị Giáo Hội tàn sát trong vụ  này để  quý vị dễ dàng  nhìn  ra rõ bộ mặt thật ghê tởm của Giáo Hội. Dưới đây là đoạn văn này:

"Năm 340, Đế Quốc La Mã tiêu diệt hết các giáo phái Kitô đi ngược lại các giáo điều của Hội Nghị Nicaea do Hòang Đế Constantine triệu tập vào năm 325 và chính thức đặt tên cho Giáo Hội Kitô  mới của toàn đế quốc là Công Giáo (tiếng  La-tinh là Catholica, tiếng Hy Lạp là Katholicos, có nghĩa là tôn giáo của hoàn cầu). Saint Cyril of Jerusalem đã viết như sau: "Tất cả mọi người thờ Chúa đều phải qui tụ trong một hệ thống thiêng liêng đặt dưới quyền cai trị của Giáo Hoàng La Mã. Bất cứ ai không phải là thành viên của Giáo Hội  đều bị vứt bỏ ra khỏi cuộc đời này và điều quan trọng hơn là bị vứt bỏ ra đời sau". (All who worshiped God were united in one sacramental system under the government of the Roman Pontiff. Anyone not a member of the Church must be cast out of this life and more important, out of next).  Đây là một lệnh cưỡng bức toàn dân thuộc đế quốc phải theo đạo Công Giáo. Mọi người chống đối đều bị giết. Riêng những người Kitô thuộc giáo phái Arius (Arian Christians) bị giết trên 3.000 người."[3]  

Kể từ đó cho đến ngày nay, ở bất kỳ nơi nào có bàn tay quyền lực của Giáo Hội vươn tới, Giáo Hội đều thi hành chính sách trịch thượng và dã man như vậy. Đọc lịch sử, chúng ta thấy, Ở Âu Châu, tại Pháp, Giáo Hội đã liên tục tiến  hành chính sách này cho đến khi Cách Mạng Pháp  bùng nổ vào ngày 14/7/1789. Ở Tây Ban Nha, chính sách này của Giáo Hội còn kéo dài đến năm 1820. Tai các thuộc địa của các đế quốc liên minh với Giáo Hội như ở Châu Mỹ La Tinh, Phi Luật Tan, Phi Châu và ở Đông Dương, Giáo Hội vẫn còn tiến hành chính sách dã man này cho đến ngày nhân dân các thuộc địa này nổi dậy đánh đuổi quân xâm lăng ra khỏi quê hương của họ và thi hành những biện pháp mạnh để trừng trị Giáo Hội giốnh như Cách Mạng Pháp 1789 và Cách Mạng Ý 1870 đã làm. Đó là các cuộc Cách Mạng  Mexico 1857, Cách Mạng Tây Ban Nha 1936, Cách Mạng Cuba 1959, Cách Mạng Nicaragua 1979, t v.v… đã làm.

Do chính sách trịch thượng và chủ trương sử dụng bạo lực để cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải khuất phục, trong gần hai ngàn năm qua, Giáo Hội đã trực tiệt và gián tiếp gây ra cái chết của gần 300 triệu người và hơn 60 chục triệu dân Phi Châu và Mỹ Châu La-tinh bị  cưỡng bách  đem bán làm nô lệ cho bọn thực dân người da trắng ở Âu Châu đến lập nghiệp ở Mỹ Châu. Giáo Hội đã bất chấp tất cả để đạt thỏa mãn tham vọng của Giáo Hội. Không có một thủ đoạn gián ác nào mà Giáo Hội không sử dụng, không có một hành động tàn ngược nào mà Giáo Hội không dám làm. Sự kiện này được sử gỉa Loraine Boettner ghi nhận trong cuốn Roman Catholicism với nguyên văn như sau:

“Giáo Hội tự phong là “thánh thiện”, nhưng  thực tế, qua các thời kỳ trong lịch sử  và trong khả năng chính thức, Giáo Hội La Mã đã nhân danh tôn giáo phạm những tội ác tàn ngược nhất trong đó có cả những tội giết người, ăn cướp, khủng bố đủ mọi hình thức, hối lộ, làm đồ giả, lừa đảo, và đủ các thứ tội ác khác. Không phải chỉ có tín đồ của Giáo Hội mới làm những tội ác này mà là tất cả những người “mang chức thánh”  từ các  giáo hoàng cho đến các hồng y, giám mục và các tu sĩ. Tìm hiểu lịch sử Giáo Hội, chúng ta thấy tất cả những người này đều là những ác nhân tuốt luốt.”. (“She applies to herself the term “holy,” but the fact is that through the ages and in her official capacity the Roman Church has been guilty the most atrocious crimes, practiced in the name of religion, including murder, robbery, persecution of all kinds, bribery, fraud, deception, and practically every other crimes known  to man. Such crimes have been practiced not merely by church members, but by popes, cardinals, bishops, and  priests who, as a study of church history will show, undeniable were evil men.) [4]

Giáo Hội, các ông tu sĩ và tín đồ Da-tô “ngoan đạo” đã nhân danh Chúa gây ra những rặng núi tội ác  và đã gieo rắc không biết bao nhiêu đau thương tang tóc cho nhân loại. Con số nạn nhân bị Giáo Hội tàn sát, con số người dân Phi Châu và châu Mỹ La-tinh bị   cưỡng bách làm nô lệ cho người da trắng vì chủ trương thóng trị toàn cầu củ Giáo Hội, những khối lượng tác phẩm văn hóa và công trình văn minh của nhân lọai bị Giáo Hội tiêu hủy mà chúng tôi đã trình bày  Chương 5, tất cả cho chúng ta thấy rõ bộ mặt thật vô cùng ghê tởm của Giáo Hội. Giáo Hội quả thật xứng đáng là một thế lực chiếm giải vô địch về thành tích bạo ngược và dã man trong lịch sử loài người.

Ấy thế mà hàng ngày Giáo Hội và  tín đồ của Giáo Hội, đặc biệt là bọn tín đồ Da-tô ngoan đạo người Việt vẫn cứ leo lẻo cái miệng cao rao là đạo Thiên Chúa La Mã là  "đạo của bác ái", "đạo của tình thương", "đạo cứu rỗi", là "Hội Thánh duy nhất thánh thiêng, công giáo và tông truyền", là "Hiền Thê của Thiên Chúa Làm Người" đã đem "Tin Mừng" và "Hồng Ân Thiên Chúa" đến cho loài người.

Miệng lưỡi của Giáo Hội La Mã và tin đồ của Giáo Hội ghê tởm như thế đó!

Đối với những người bình thường, nếu đọc qua lịch sử thế giới và lịch sử Giáo Hội La Mã,  tất nhiên là những lời cao rao trên đây của Giáo Hội được coi như là những lời nói bịp bợm trắng trợn của những phường lưu manh vô liêm sỉ đến cùng độ vô liêm sỉ.

Nhưng đối với tín đồ Da-tô  thì lại tin rằng   đạo Kitô là "đạo của bác ái", "đạo của tình thương", v.v.. đúng như lời Giáo Hội  thường cao rao hàng ngày. Có một điều đáng buồn là có một số người không phải là tín đồ Da-tô cho rằng “đạo Ki-tô cũng dậy người đời làm những điều lành và tránh những điều ác, giống như các tôn giáo khác ở Đông Phương.”   Sở dĩ họ nói như vậy là vì một phần họ không hiểu rõ cái quá trình và bản chất ghê tởm cùng với những rặng núi tội ác của Giáo Hội trùng trùng như hàng chục dãy núi Hy Mã Lạp Sơn. Lý do là trong suốt thời kỳ gần một “trăm năm nô lệ giặc Tây” và hai muơi năm 1954-1975 ở miền Nam, chính quyền bảo hộ Liên Minh Pháp – Vatican và chế độ đạo phiệt Da-tô ở miền Nam đã cho thi hành chính sách ngu dân và nhồi sọ bằng những thủ đoạn thâm độc:

1.- Về phương pháp sư phạm: Áp dụng phương pháp độc thoại, thày giáo đứng trên bục giảng hay ngồi trên ghế nói thao thao bất tuyệt cho học trò nghe, giống y như các nhà truyền giáo Da-tô thuyết giảng cho tín đồ ở trong các nhà thờ, rồi đọc bài đã soạn sẵn cho học trò chép. Trong khi đó tại các nước dân chủ tự do, người ta dùng phương pháp đối thoại để giảng bài cho học trò . Sách giáo khoa được phát cho học trò cầm về nhà.  Cho học trò biết trước ngày tới sẽ học bài nào để các em đọc trước và tìm hiểu. Khi vào lớp, thày trò cùng thảo luận với nhau.

2.- Về phương diện rèn luyện lý trí.- Nhà  trường không chủ trương dạy cho học sinh sinh, sinh viên biết:

 

A.- Phân biệt sự khác nhau giữa một bên là ý kiến (opinions) và một bên là sự kiện (facts),

B.- Phương cách việt bài điểm sách (book report)

C.- Phương cách viết những bài khảo luận (term papers), tiểu luận,  và luận án tiến sĩ (ở bậc đại học).

Ý kiến (opinions) là do cảm nghĩ của một cá nhân hay một tập thể. Ý kiến có thể là khách quan vô tư và cũng có thể chủ quan và thiên lệch và thường thường là chủ quan và thiên lệch  Sự kiện là một việc đã xẩy ra hay có thật;  nó không có tính cách khách quan và cũng không có tính cách chủ quan.

Điểm tệ hai là khi học xong trung học và có nhiều người có bằng cấp đại học, có người có bằng tiến sĩ, họ rồi cũng lăng xăng viết văn, viết sách. Ấy thế mà họ lại không biết sự khác nhau giữa một bên là ý kiến và một bên là sự kiến. Hậu quả là trong các tác phẩm của họ đầy dẫy những ý kiến chủ quan của họ và của nhóm người hay thế lực mà  họ bênh vực.

Người ta viết báo, viết sách nêu lên những sai lầm và tội ác của chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm thì họviết sách điểm mặt tác giả,  tìm đủ mọi cách bới móc đời tư và vu khống đủ điều xấu xa gán cho tác giả với dã tâm chửi bới và hạ nhục tác giả để lấp liếm và chạy tội cho cái chế độ mà họ tôn thờ. Cụ Đỗ Mậu, tác giả cuốn Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi xuất bản vào năm 1986 ở Hoa Kỳ và người viết, tác giả  cuốn A Poèm For My Children (Houston, TX: Văn Hóa, 1999) là nạn nhân của họ ở trong trường hợp này.

Người ta chỉ trích việc chính quyền Ngô Đình Diệm sai lầm trong vấn đề cấm treo cờ Phật Giáo trong dịp lễ Phật Đản vào đầu tháng 5/1963 thì họ biện minh rằng ông Diệm chỉ thi hành luật đã có sẵn. Người ta hỏi lại luật đó do ai làm ra và làm ra có mục đích gì hay phục vụ cho quyền lợi của những người nào thì họ bí lù.

Người ta nêu lên những sai lầm và tội ác của Giáo Hội trong gần hai ngàn năm qua và khẳng định những sai lầm và tội ác này bắt nguồn từ thánh kinh, từ những tín lý, từ những giáo luật, từ những truyền thống trong đạo Da-tô, từ các ông giáo hoàng và giáo triều Vatican cho đến các ông tu sĩ, thì lại lấy thánh kinh, giáo luật và những truyền thống Da-tô ra viện dẫn để bào chữa cho những sai lầm và tội ác của Giáo Hội. Rõ ràng là họ không biết động não, không biết phân tách và lý luận để đưa ra những luận cứ thuận lý để giúp cho lập luận của họ có khả năng thuyết phục.

Trái lại, ở các nước   thi hành chính sách giáo dục khai phóng và tự do, học sinh được giải thích cho biết tường tận sự khác biệt giữa “ý kiến” và  sự kiện”. Đồng thời, trong  các sách  giáo, dưới mỗi bài học đều có một bài tập hoặc là yêu cầu học sinh đọc lại bài học rồi lựa chọn những từ hay nhóm từ nào là “ý kiến” thì để chung vào với nhau, những từ hay nhóm từ nào là “sự kiện” thì để chung vào với nhau; hoặc là tác giả đã lựa chọn những từ hay những nhóm từ là “ý kiến” và những từ hay nhóm từ là “sự kiện” để chung lẫn lộn với nhau và yêu cầu học sinh lựa chọn những từ thuộc loại “ý kiến” thì xếp chung vào với nhau, và những từ thuộc loại “sự kiện” thì xếp chung vào với nhau.

3.- Về Chương trình học: Chính quyền  Liên Minh Pháp – Vatican  (1862) và chính quyền miền Nam trong những năm 1954-1975 không muốn cho học sinh hiểu biết về lịch sử nưỡc nhà và lịch sử thế giới. Đúng ra, đây là chủ trương của Giáo Hội La Mã. Bằng chứng vào năm 1956 học giả Nguyễn Hiến Lê và ông Thanh Giang đã phỏng theo một cuốn sử thế giới trong chương trình trung học của Pháp để biên soạn  một bộ sử thế giới cho học sinh trung học Việt Nam. Bộ sử này vừa mơi phát hành thì tác giả Nguyễn Hiến Lế bị một tín đồ Da-tô ở Cần Thơ mạt sát là “đầu óc đầy rác rưởi chỉ vì (sách) có nói đến thuyết tiến hoá của Darwin”, rồi “một linh mục ở Trung yêu cầu Bộ Giáo Dục cấm bán và tịch thu”, còn tác giả Nguyễn Hiến Lê thì bị mật vụ theo dõi.[5]  

a.-  Môn sử thế giới gần như bị loại ra khỏi chương trình trung học. Trong khi các nước dân chủ tự do như ở Bắc Mỹ hay Tây Âu và ngay cả Việt Nam hiện nay, môn sử thế giới được dạy đầy đủ ở trong chương trình trung học, bao gồm từ thuở loài người còn ăn lông ở lỗ, sống chùm dúm với nhau thành từng nhóm  theo căn bả gia đình và từng thi tộc, rồi dần dà tiến lần đến thời kỳ bộ lạc, tiến đến các chế độ phong kiến địa phương và quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền. Trong những thời kỳ này, ở Âu Châu, thần quyền (tôn giáo) cấu kết với thế quyền (chính quyền) để cùng áp bức và bóc lột nhân dân. Đây là thời Kỳ Giáo Hội La Mã hét ra lửa mửa ra khói, làm mưa làm gió trên sân khấu chính trị và gieo rắc không biết bao nhiêu thảm hoạ đau thương cho loài người bằng những bộ máy công an mật vụ của các Toà Án Dị Giáo, bằng việc phát động hàng chục cuộc chiến thập tự kéo dài ngót nghét cả hai thế kỷ, bằng chính sách bất khoan dung tàn sát tất cả những nhóm dân thuộc các tôn giáo khác, và huỷ diệt hết tất cả các công trình văn minh và văn hoá khác với đạo Kitô La Mã (đã được trình bày đầy đủ ở Chương 5). Tình trạng này đã làm cho bước của tiến nhân loại khựng lại gần một ngàn năm. Cũng vì thế mà các nhà viết sử gọi thời kỳ này là Thời Đại Đen Tối (Dark Ages) của loài người (476-1500).

b.- Môn sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại bị cắt xén và bị bóp méo. Nhìn vào chương trinh sử Việt Nam trong thời cận và hiệ đại, các nhà sử hộc nhận thấy chỉ có những sự kiện và biến cố nào không thể bỏ qua được chíinh quyền mới đưa vào trong chương trình học nhưng phải  bị bóp méo hay được sửa lại hoặc phải được diễn dịch theo ý muốn của Giáo Hội.

Vì thế mà vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ (Quang Trung) bị cho là “xuất thân là tướng cướp” (Nguyễn Gia Kiểng, Tổ Quốc Ăn Năn (Paris: TXB, 2001), tr 96); việc Giáo Hội La Mã chiếm đoạt tới 25 % diện tích ruộng đất canh tác ở miền Nam bị giấu nhẹm; những thủ đoạn gian manh mà tên Da-tô Lê Phát Đạt (Huyện Sĩ) ăn cướp ruộng đất của nhân dân miền Nam bị giấu nhẹm; chuyện tên tri huyên Hoàng Gia Mô chiếm đoạt cả ngàn mẫu ruộng của làng Cổ Am (huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương) làm của riêng bị giấu nhẹm; việc linh-mục Trần Lục đem năm ngàn giáo dân Phát Diệm có võ trang đi tiếp sức cho Trung Tá Metzinger trong chiến dịch tấn công Chiến Lũy Ba Đình (Thanh Hoá) của lực lượng nghĩa quân kháng chiến dưới quyền chỉ huy của cụ Đinh Công Tráng vào những năm 1886-1887) bị giấu nhẹm; sự kiện các toán lính đạo (thập tự quân) ở trong các làng đạo  được Pháp võ trang tiến vào các làng lương bên cạnh  đốt nhà, đốt miếu, phá đình, phá chùa, giết người, cướp của, hãm hiếp đàn bà con gái trong những năm 1858-1897 và trong những năm 1947-1954 bị giấu nhẹm; các phong trào tranh đấu giải phóng đất nước của nhân dân ta trong thời kỳ 1862-1945 bị cắt xén tối đa, đặc biệt là những phong trào chống thuế khởi đầu từ năm 1908 trở về sau đều bị cắt xén và giấu nhẹm; những hành động tàn sát các nhà ái quốc trong các lực lượng kháng chiến chống Pháp và Vatican một cách cực kỳ dã man bị giấu nhẹm; tình cảnh dân ta đói khổ và tình trạng khốn cùng của anh em công nhân trong các đồn điền cao su, trong các công trường khai thác mỏ than ở Hòn Gay, Cẩm Phả và Uống Bí bị giấu nhẹm; Nguyên nhân đưa đến nạn đói trong Xuân năm Ất Dậu 1945 khiến cho hai triệu người phải chết thảm thương bị xuyên tạc và đổ lỗi cho quân Nhật.

c - Môn sử bị hạ giá  với hệ số 1 và thời lượng bị giảm thiểu tối đa.- Trong khi ở các nước dân chủ tư do ở khắp nơi trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay, môn sử thế giới và môn sử quốc gia sở tại được coi là môn chính ngang hàng với môn quốc văn về cả thời lượng và thang giá trị trong chương trình học , thì ở Việt Nam trong thời “trăm năm đô nô lệ giặc Tây” và ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, hai môn học này không những bị xếp loại là một môn phụ với hệ số 1 (các môn khác như Toán, Lý, Việt Văn, Pháp, Anh được coi là môn chính trong hai ban A và B (nhiều học sinh nhất, chiếm tới gần 90% tổng số học sinh,  có hệ số 4 và 3 hoặc 2),mà lại còn bị cắt xén và bóp méo như đã nói trên. Tình trạng này khiến cho học sinh ban A và ban B không chú ý đến môn sử vì phải để dành thì giờ “luộc cho kỹ” các môn chính có hệ số 4, 3 và 2 như các môn Toán, Lý, Hoá, Anh, Pháp và Việt Văn.

Với những phương cách dạy học như vậy, với chủ trương không dạy cho học sinh sử dụng lý trí để phân tách và lý luận, với chủ trương giới hạn môn sử thế giới, rồi lại bưng bít, cắt xén và xuyên tạc lịch sử Việt Nam như trên, tất nhiên là những thế hệ tiếp nhận nền học vấn ở Việt Nam trong thời kỳ này không biết sử dụng lý trí đế phân tách và tìm hiểu sự vật (cách vật trí tri), chỉ  biết lơ mơ và hiểu sai về sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại, không biết gì về sử thế giới. Chính vì lẽ này mà họ không biết gì về bộ mặt thật ghê tởm của Giáo Hội La Mã. Cũng vì thế mới có một số người không phải là tín đồ Da-tô cho rằng “đạo Ki-tô cũng dậy người đời làm những điều lành và tránh những điều ác, giống như các tôn giáo khác ở Đông Phương.”

Hậu quả của chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ này là có những người thường hay tự xưng là tốt nghiệp đại học  hay Quốc Gia Hành Chánh ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 mà không biết viết một bài điểm sách. Thay vì viết điểm sách thì lại viết những bài điểm mặt những tác giả mà họ không thích hay thù ghét, và viết những bản cung văn để tán tụng Giáo Hội La Mã  hay bọn Da-tô Việt gian  có công với Giáo Hội La Mã. Những ấn phẩm về lịch sử của họ thì toàn là được viết theo tiêu chuẩn và đơn đặt hàng của bộ máy truyền truyền của Giáo Hội La Mã và của chính quyền đạo phiệt Da-tô ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975. Những cuốn sách như Việt Nam Giáo Sử của Linh-mục Phan Phát Huồn, Việt Nam Chính Sử của Nguyễn Văn Chức, Việt Nam Tôn Giáo Chính Trị Quan của Linh-mục Vũ Đình Hoạt, Những Bí Ẩn Đàng Sau Cuộc Thánh Chiến Tại Việt Nam của Lữ Giang, Việt Nam Huyết Lệ Sử của Cao Thế Dung, Tổ Quốc Ăn Năn của Nguyễn Gia Kiểng, Việt Nam 1945-1995 của Lê Xuân Khoa, Khi Đồng Minh Tháo Chạy của Nguyễn Tiến Hưng, v.v.., là  những bằng chứng cho sự kiện này.

Cũng là người Việt Nam, không phải là tín đồ Da-tô “ngoan đạo” và nếu được tiếp nhận sở học ở một quốc thi hành chính sách giáo dục khai phóng và tự do, trình độ kiến thức và tác phẩm của họ sẽ hoàn toàn khác hẳn với trình độ kiến thức và tác phẩm của các tác giả đã được nêu lên trong đoạn văn ở trên. Đọc những tác phẩm như Thập Giá Và Lưỡi Gươm của Linh-mục Trần Tam Tỉnh, Bài Học Chiến Tranh Việt Nam Nhìn Từ Hậu Trường Chính Tri Hoa Kỳ của tác giả Lương Minh Sơn, bốn tác phẩm của ông Charlie Nguyễn, mấy tác phẩm  và nhiều bài viết khác của Giáo-sư Trần Chung Ngọc, các tác phẩm của sử gia Vũ Ngự Chiêu, các tác phẩm của Tiến-sĩ Cao Huy Thuần, của Tiến-sĩ Nguyễn Xuân Thọ, của Giáo-sư Lý Chánh Trung, v.v…,   chúng ta sẽ thấy rõ sự kiện này.

Khuyền cùng tắc phệ. Vì Giáo Hội La Mã  lộng quyền quá cho nên ở Âu Châu mới phát sinh ra Phong Trào Đòi Cải Cách Tôn Giáo (1309-1648), mở đường cho việc phát triển Khoa Học. Nhờ đó mà mới phát sinh ra  Phong Trào Lý Trí và được gọi là Thời Đại Lý Trí (1500-1789) với chủ trương dạy đời rằng người ta chỉ nên tin những điều gì có lý (logic) hay thuận lý thuận tình, còn những gì láo khoét không thuận lý, không thể nào kiểm chứng được bằng các cuộc thí nghiệm hay không thể  chứng minh đựợc là có thật thì phải loại bỏ. Những tín lý Kitô  thuộc loại không thể kiểm chứng được cho nên cần phải bỏ. Với chủ trương như vậy, Thời Đại Lý Trí (Age of Reason) đã làm cho hệ thống tín lý Kitô và Giáo Hội La Mã trở thành bất khả tín đối với nhân dân  loại. Tình trạng này đã khiến cho rất nhiều người bỏ đạo.

Để cứu vàn tình thế và nhằm để vô hiệu hóa những lý luận trên đây của Phong Trào Lý Trí, Giáo Hội đưa ra lời dạy “niềm tin không cần có lý trí và khoa học.  để nhồi sọ tín đồ. Đồng thời, Dòng Tu Jesuite được cho ra đời (1534) như là những đội quân biệt kích tàn ngược nhất  để đối phó với tất cả các phong trào nhân dân chống lại Giáo Hội. Tiếp theo đó, Giáo Hội triệu tập Công Đồng Trent (The Trent Council) khởi nhóm vào năm 1545 kéo dài đến năm 1563) để điều nghiên những biện pháp để đối phó với các phong trào nhân dân nổi dậy chống lại Giáo Hội. Một trong những biện pháp này là tăng cường quyền lực cho các Toà Án Dị Giáo với  toàn quyền truy lùng, bắt giam, tra tấn vả xử tử những người bị tình nghi không tin tưởng tuyệt đối vào Toà Thánh Vatican, và thiết lập bộ máy công an mật vụ với những kỹ thuật rình mò, dò xét nhân dân hết sức là tinh vi và cực kỳ man rợ.  Sự kiện này được hỏa giả Da-tô Phan Đình Diệm ghi nhận như sau:

"Năm 1232, Giáo Hoàng Gregory IX (1227-1241) thiết lập tòa án xử bọn dị giáo, gọi là Inquisition…  Cha con tố các nhau, vợ chồng tố cáo nhau, anh em tố cáo nhau, bạn hữu tố cáo nhau, hàng xóm láng giềng tố cáo nhau, v.v. trước tòa án của Giáo Hội. Giáo Hoàng Paul IV (1555-59) tuyên bố: "Nếu bố tô là dị giáo đồ, tôi cũng sẽ chụm củi thiêu sống ông ta luôn" [6]

Kể từ đó, chính sách   ngu dân và giáo dục nhồi sọ được triệt để thi hành. Dù là Giáo Hội đã sử dụng đến trăm phương ngàn kế để đối phó với các phong trào nổi dậy của nhân dân thì  cũng không dập tắt được ý nguyện của nhân và phong trào đòi dân chủ tự do càng ngày càng trở nên mạnh. Tuy nhiên, Giáo Hội vẫn không chịu nhìn nhận sự thật mà nhận tội, tạ lỗi và đền tội với nhân dân, trái lại, Giáo Hội vẫn ngoan cố bám chặt lấy quyền lực và tiếp tục sử dụng những thủ đoạn lưu manh hơn và dã man hơn để khống chế nhân dân. Bằng chứng cho sự kiện này là việc các Giáo Hoàng Pius VII (1800-1823), Gregory (XVI (1831-1846) và Pius IX (1846-1878) lần lượt và nối tiếp nhau đưa ra những lời tuyên bố ác độc (một thứ lệnh truyền và cũng là biện pháp) để đối phó với nhân dân. Sự kiện này được sách Roman Catholicism ghi nhận như sau:

Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878) lên án những phong trào đòi tự do tôn giáo, tự do hành động theo lương tâm, tự do ngôn luận, tự do báo chí, lên án cả những khám  phá về khoa học nếu không được sự chấp thuận của Giáo Hội La Mã và khẳng định quyền lực của Giáo Hoàng phải bao trùm lên trên quyền lực của các nhà cầm quyền thế tục.” (Syllabus of Errors, proclamed by pope Pius IX, and ratified by the Vatican council, condemned freedom of religion, conscience, speech, press, and scientific dicoveries which are disapproved by the Roman Church, asserted the pope’s temporal authority over all civil rulers.”[7]   .

Ngoài việc điều nghiên những biện pháp như trên để đối phó với phong trào nhân dân nổi dậy ở khắp mọi nơi trên thế giới, Công Đồng Vatican I (1869-1870) còn đưa ra tín điều  Giáo Hoàng không bao giờ lầm lẫn….” để nhồi sọ tín đồ tin rằng những người được đưa lên ngôi vị giáo hoàng thực sự là thần thánh cho nên  mới “không bao giờ lầm lẫn.”, chứ không phải là người phàm mắt thịt ở trên cõi đời này. Dĩ nhiên là chỉ có những có trình độ thông minh dưới trung bình  mới tin như vậy.

Điều khôi hài là  tín điều bịp bợm này được cho ra đời trong thời Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878) thì chính ông giáo hoàng này lại chủ mưu “bắt cóc” một em bé người Do Thái mới có 6 tuổi đem về nuôi và cho đi học nghề linh mục, bất chấp cả sự phản đối quyết liệt của cha mẹ em bé nạn nhân, rồi lại còn  tuyên bố công khai rằng “dân Do Thái là lũ chó”.

Với hành động ăn cướp và nói năng những lời mất dạy như trên, với con mắt của người dân Đông Phương,  Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878) quả là “một thằng mất dạy, một tên vô lại, vô giáo dục.” Ấy thế mà tên vô lai mất dạy này là được Giáo Hoàng John Paul II (1978-2005) phong chân phước tháng 9 năm 2000. Việc làm này đã  gây phản ứng mãnh liệt đối với nguời dân Do Thái ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là dân Do Thái ở Ý Đại Lợi. Dưới đây là nguyên văn một bản tin đăng trên tờ The News Tribune (Tacoma, Washington) số ra ngày 3 tháng 9 năm 2000, nói về phản ứng của người dân Do Thái và thân nhân gia đình nạn nhân của ông Giáo Hoàng "vô giáo dục" này:

"Gia đình Do Thái phản đối việc phong chân phước cho Giáo Hoàng Pius IX. Một ông tổ của họ bị Giáo Hội bắt cóc và được Giáo Hòang Pius IX về nuôi dưỡng. LA MÃ. Theo nguồn tin của Liên Hiệp Thông Tấn Xã, con cháu của một cậu bé của gia đình người Do Thái bị bắt cóc hồi thế kỷ 19 cùng với hàng trăm người tham dự cuộc phản đối được tổ chức vào chiều tối Thứ Bảy trước ngày phong chân phước cho Giáo Hoàng Pius IX.

Bà Elena Mortara, người chắt của cậu bé Do Thái bi Giáo Hội bắt cóc hồi thế kỷ 19, nói rằng việc Giáo Hoàng John Paul II tuyên bố phong chân phước cho Giáo Hòang Pius IX là khơi lại vết thương lòng của chúng tôi. Chắc chắn là như vậy.

Trong khi đó, những gia đình quý tộc Gia-tô người Ý hân hoan đón mừng ngày phong chân phước cho Giáo Hoàng Pius IX với những hội hè có giàn nhạc và hô vang khẩu hiệu "Pius IX muôn năm!". (Reo mừng trên sự đau khổ của nạn nhân của Giáo Hội - NMQ)

Việc phong chân phước cho Giáo Hòang Pius IX (1846-1878) và Giáo Hoàng John XXIII (1958-1963), hai vị tiền nhiệm của đương kim giáo hoàng, là bước chót trước khi chính thức tiến hành việc phong thánh cho hai người này.

Nhiều nhóm dân gốc Do Thái người Ý và thuộc nhiều quốc gia khác đã phản đối việc phong chân phước cho Giáo Hoàng Pius IX vì răng năm 1858 tóan lính hộ vệ Giáo Hoàng bắt cóc cậu bé lúc đó mới 6 tuổi, con một gia đình người Do Thái ở Bologna. Sau khi hay tin cậu bé này được một bà người làm theo đạo Gia-tô bí mật rửa tội, viên chức của Giáo Hội ra lệnh bắt cóc cậu bé này. Dưới sự bảo trợ của Giáo Hoàng Pius IX, cậu bé này được nuôi dưỡng theo đạo Gia-tô, rồi trở thành linh mục.

Một lãnh tụ của người Do Thái là Giacomo Saban nói với đám đông dân chúng rằng, "Vết thương của bà mẹ này bị cướp mất con vẫn còn nguyên vẹn và vẫn còn đau nhói."

Những phát ngôn viên khác đọc những bản văn do chính Giáo Hoàng Pius viết, trong đó có một đọan ông giáo hoàng này nói rằng dân Do Thái chỉ là "lũ chó", chứ không phải là công dân. (Giáo Hoàng Pius IX quên rằng chính dân tộc Do Thái đã đẻ ra ông Abraham, ông Moses, bà Maria và Chúa Jesus - NMQ).

Bà Elena Mortara nói, "Việc Giáo Hội vinh danh Giáo Hoàng Pius IX là một sự thất vọng đối với những người - như gia đình Mortara - họ hân hoan đón nhận sự đối thoại mà Giáo Hoàng John Paul II đã vận động với các tôn giáo khác." Bà nói, một sự phiền toái khác nữa cũng quan trọng là việc bắt cóc cậu bé Edgardo ngày xưa cho tới nay vần còn là giáo luật. Truyền thống của Giáo Hội La Mã cho rằng tín hữu Gia-tô có nhiệm vụ phải rửa tội cho bất kỳ em bé nào dù là tín đồ Gia-tô hay không, nếu thấy rằng sinh mạng của em bé đó có thể bị nguy hiểm, bất kể là có được sự chấp thuận của cha mẹ em bé đó hay không. (Môt thái độ và hành động xấc xược và ngược ngạo - NMQ)

Bà Elena nói, "Chúng tôi luôn luôn nghĩ rằng thảm cảnh này đã đi vào quá khứ. Chúng tôi lấy làm buồn khi thấy nó trở thành một mối nhục nhãt của ngày nay."

Nguyên bản Anh ngữ."Jewish family protests Pius' beatification. Their ancestor was abducted, raised Catholic by 19th century pope. The Associated Press. ROME.- Decendants of a Jewish-born boy wrenched from his family in the 19th century with the blessing of Pope Pius IX, joined hundreds in a candlelight protest Saturday on the eve of Pius' beatification.

Pope John Paul II's planned declaration today of Pius as among the Roman Catholic Church's blessed "is the reopening of a wound. There is no doubt about it," said Elena Mortara, the abducted boy's great great niece.

Rome's Catholic noble families, meanwhile, celebtrated the upcoming beatification with a Saturday church vigil, band and shouts of "Viva Pio Nonio!" or "Long live Pius IX!".

Today's beatification of Pius IX and the 20th century's John XXIII places the two predecessors of John Paul on the last formal step before possible sainthood.

Italian and international Jewish groups have protested Pius' beatification in large part because of the 1858 taking of 6-year-old Edgardo Mortara by papal guards. Church official ordered the boy removed from his Jewish family in Bologna after hearing he had his secretly baptized by a Catholic housemaid. Under Pius' patronage, Edgardo grew up a church ward and a later priest.

"That mother was deprived of her son," Giacomo Saban, an Italian Jewish leader, told the crowd. "The injury is still alive. It's still felt." Other speakers read from the passages of Pius' writing, including one in which he allegedly wrote that Jews were not citizens but "dogs."

The church's glorification of Pius is a disappointment to those - like the Mortara family - who welcomed the dialogue John Paul had fostered among religions, Elena Mortara said. Equally troublesome was that the percept that governed the taking of Egardo remains church law today, she said. Church tradition hold that Catholics have a duty to baptize any child - Catholic or non-Catholic, with parents' permission or not - if they believe the child' life in danger.."

 

"We always thought that this ordeal was in the past," Elena Mortara said, "We are sorry that it has become a scandal of the present."[8]  

Sách Roman Catholicism ghi nhận rằng “Tiếng nói của giáo hoàng là tiếng nói của Giáo Hội La Mã.” (In actual practice the Roman Church, since the Infallibility decree of 1870 holds that the final seat authority is the pope speaking for the church,  p. 89). Những sự kiện trên đây cho chúng thấy rõ Giáo Hội La Mã đã hành động giống như những phường ăn cướp, và ăn nói giống như những quân vô lại, những hạng người mất dạy, đúng như lời sử gia Loraine Bottner ghi nhận trong sách Roman Catholicism rằng:

“Tìm hiểu lịch sử Giáo Hội, chúng ta thấy tất cả  những giáo hoàng, hồng y, giám mục,  linh mục, tín đồ ngoan đạo đều là những ác nhân tuốt luốt.”. ( Such crimes have been practiced not merely by church members, but by popes, cardinals, bishops, and  priests who, as a study of church history will show, undeniable were evil men…”)[9] 

Chó sủa mặc chó, đoàn lữ hành cứ đi. Mặc cho Giáo Hội La Mã dùng những biện pháp quỷ quyệt,  hung bạo và tàn ngược đến đâu đi nữa, nhân dân Âu Châu vẫn bất chấp tất cả, dù là Giáo Hội đã  “lên án những phong trào đòi tự do tôn giáo, tự do hành động theo lương tâm, tự do ngôn luận, tự do báo chí, lên án cả những khám  phá về khoa học nếu không được sự chấp thuận của Giáo Hội ..”(như đã nói ở trên). Tất cả những lời lẽ lên án này cũng không làm cho nhân dân khiếp sợ mà chỉ làm cho họ kinh tởm và “coi Giáo Hội như một thứ củi hủi cần phải lánh xa.” Nhiều tác giả, Vatican Thú Tội và Xin Lỗi? (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2000), tr 245. Vì thế mà càng ngày càng có thêm nhiều người cương quyết hành động theo lương tâm, nhất quyết lao đầu vào Phong Trào Lý Trí để tìm hiểu sự vật, nghiên cứu các hiện tượng thiên nhiên bất kể là Giáo Hội chấp thuận hay không chấp thuận. Nhờ vậy, mà nhân loại càng ngày càng có thêm những khám mới về khoa học, càng có nhiều người đi theo chủ nghĩa duy lý, và số người bỏ đạo Da-tô càng ngày càng nhiều hơn.

TẠI SAO lại càng ngày càng có nhiều người lánh xa Giáo Hội và bỏ đạo?

Câu trả lời rất là đơn gian? Bởi vì MỘT KHI khi người ta  đã quyết tâm hành động theo lương tâm và lý trí, THÌ ánh sáng của lương tâm, và lý trí giúp cho họ nhìn ra bộ mặt thật chuyên chế và độc tài vô cùng ghê tởm của Giáo Hội. Giáo Hội là một tổ chức kinh doanh bằng những kỹ thuật muợn danh thần thánh để vừa hù doạ vừa lừa  bịp người đời và  dùng bạo lực của nhà nước để khủng bố và tàn sát tất cả những người không chịu khuất phục Giáo Hội. Do đó Giáo Hội mới lên án tất cả những thứ tự do tư tưởng, tuiự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo, tự do hôn nhân, và cấm luôn cả những khám phá về khoa học.

Vậy thì muốn có những thứ tự do trên đây thỉ phải lánh xa Giáo Hội và bỏ đạo, và muốn lánh xa Giáo Hội và bỏ đạo thì cũng phải có can đảm và sức mạnh  để đối phó lại với Giáo Hội. Muốn có sức mạnh để đối phó với Giáo Hội thì  phải dựa vào một thế lực khác có sức mạnh để chống lại Giáo Hội.

Trước thế kỷ 16, gần như toàn thể nhân dân Tây và Nam Âu đều là con cháu những người bị Giáo Hội cưỡng bách phải khuất phục mà trở thành tín đồ Da-tô của Giáo Hội. Hầu như toàn thể nhân dân Âu Châu biết rõ sự thật này và mãi mãi không quên sự thật này, ngoại trừ một nhóm thiểu số tín đồ “ngoan đạo” (cuồng tín) giống như giáo dân Bùi Chu, Phát Diệm và tất cả những người cuồng tín thuộc loại “nhất Chúa, nhì Cha, thứ ba Ngô Tổng Thống”.

Thói đời, MỘT KHI dùng bạo lực cưỡng bách người ta làm những gì mà người ta không muốn, THÌ  người ta sẽ uất hận và căm thù. Giáo Hội La Mã không những đã sử dụng bạo lực cưỡng bách người ta phải theo đạo Da-tô mà còn tước đoạt hết tất cả mọi thứ quyền tự do căn bản của con người kể cả quyền tự do tìm hiểu và nghiên cứu khoa học như đã nói ở trên. Ở vào tình trạng này thử hỏi rằng có ai lại không  bất mãn và căm thù? Nhân dân Âu Châu ở vào trường hợp này. Cũng vì thế mà lòng uất hận và ngọn lửa căm thù của họ đối với Giáo Hội La Mã đã chất chứa trong lòng từ nhiều thế kỷ. Tình trạng này đã khiến cho họ tiềm phục rình chờ cơ hội thuận lợi là bùng lên thành những cơn bão lửa thiêu rụi tất cả những gì của Giáo Hội và thuộc về Giáo Hội.

Vì thế, đến đầu thế kỷ 16, KHI ông Martin Luther (1483-1546) đứng lên phất cờ chống lại Giáo Hội vào năm 1517, THÌ người ta theo ông Luther. Nhờ đó mà đạo Tin Lành Luther ra đời và trở thành một thế lực vô cùng hùng mạnh chống lại Giáo Hội. KHI  Anh Hoàng Henry VIII (1491-1547) vào 1533, THÌ  nhân Anh theo Anh Hoàng Henry VIII chống lại Giáo Hội. Vì thế mà ANH Giáo ra đời.. KHI ông John Calvin (1509-1564)  đứng lên phất cờ chống lại Giáo Hội vào năm  1536, THÌ nhân dân đi theo ông Calvin chống lại Giáo Hội. Nhờ vậy và đạo Tin Lành Calvin trở thành một thế lực hùng mạnh ở Âu Châu.

KHI có phong trào cách mạng dấy lên chống lại Giáo Hội, THÌ nhân dân Âu Châu hàng hàng lớp lớp lũ lượt kéo nhau đi theo phong trào cách mạng để chống lại Giáo Hội.

Nhờ thế mà phong trào cách mạng càng ngày càng trở  nên hùng mạnh. Tình trạng này mở đường cho Thời Đại Thời Đại Cách Mang Dân Chủ (1603-1815), tức là thời kỳ các phong trào cách mạng bùng lên dùng biện pháp mạnh trừng trị Giáo Hội La Mã: Cũngvì trhế mà Cách Mạng Pháp 1789 đã:

1.- Tịch thu toànbộ tài sản của Giáo Hội

2.- Tước bỏ tất cả mội đặc quyền đặc lợi của Giáo Hội và giới tu sĩ, trong đó quyền thu thuế thập phân của Giáo Hội bị xoá bỏ,

3.- Lập  hiến chế dân sự cho giới  tu sĩ Da-tô, theo đó,  NẾU muốn được hành nghề, THÌ tu sĩ phải thề trung thành với hiến pháp, chứ không phải thề trung thành với giáo hoàng như ngày trước,và

4.- Điều khoản “tôn giáo phải tách rời chính quyền” được ghi vào hiến pháp.

5.- Thẳng tay trừng trị những giáo sĩ và tín đồ Gia-tô có những hành động phản quốc và chống lại Cách Mạng. Con số giáo sĩ, nữ tu và tín đồ Gia tô bị đưa ra pháp trường đền tội phản quốc được cựu giáo sĩ Malachi Martin ghi nhận trong sách The Decline And Fall  Of The Roman Church như sau:

"Trước hết, nước Pháp mà Giáo Hòang Pius VI (1775-1799) thường gọi là "người trưởng nữ của Giáo Hội" xóa bỏ toàn bộ tôn giáo, đưa nhà vua lên đọan đầu đài, chính thức tôn vinh thần Lý Trí lên ngôi chí tôn, tàn sát 17 ngàn linh mục, 30 ngàn nữ tu và 47 giám mục,   tất cả các tu viện, các dòng tu và các trường học của Giáo Hội đều bị giải thể, tất cả các thư viện của Giáo Hôi đều bị thiêu rụi,  chính quyền Paris còn ban hành quyết định ra lệnh cho Tướng Bonaparte (Sau này là Hòang Đế Napoléon I) "đem quân đi "giải phóng nước Ý", "có toàn quyền hành động" "hủy diệt Rome và chế độ Giáo Hòang". Tháng 5 năm 1796, trước khi tiến vào kinh thành Rome, Tướng Bonaparte  tuyên bố, "Chúng tôi là những người bạn của con cháu Brutus (một anh hung củ dân tộc La Mã) và dân Scipios....  Chủ định của chúng tôi là phục hồi điện Capitol và giải phong nhân dân La Mã thóat khỏi thân phận nô lệ tôi đòi."

Quân Cách Mạng Pháp tiến chiếm kinh thành Rome và nước Ý. Hòa Ước Tolentino được ký kết giữa Tướng Bonaparte và  Giáo Triều Vatican. Đây là một sự sỉ nhục cho Tòa Thánh Vatican. Giáo Hội phải nộp cho nước Pháp một khoản tiền là 46 ngàn đồng scudi (tiền Vatican) trả làm ba hạn kỳ (Giáo Hòang Pius VI phải đem  các đồ trang trí bằng vàng và bằng bạc ra đúc tiền để trả cho Pháp), 100 món đồ nghệ thuật và 500 tác phẩm hiếm bị tịch thu mang về Pháp; tất cả các hải cảng nằm trong lãnh thổ của Tòa Thánh Vatican phải mở cửa cho hậm đội  Pháp làm căn cứ trú quân, phải từ bỏ tất cả tài sản của Giáo Hội ở trong lãnh thổ các nước Ý, Pháp, Naples, và Sicily ... tất cả mọi nơi. Giáo Hoàng Pius VI ((1775-1799)  than thở, "Hòa Ước! Tệ quá đi! Quân đội Pháp chiếm đóng Vatican và Quirinal, truất phế  Giáo Hoàng Pius VI   và thiết lập nước Cọng Hòa La Mã...."

("First, France, "eldest daughter of the church "he used to call it, abolished all religion, beheaded its king, enthroned Reason officially as supreme deity, massacred over 17,000 priests and over 30,000 nuns as well as forty-seven bishops, abolished all seminaries, schools, religious orders, burned all churches and libraries, then sent the Corsian Bonaparte  to liberate Italy and Rome" "Just as you please," wrote the Paris government to the Corsian. "Destroy Rome and the papacy utterly " "We are the friends of the descandants of Brutus and the Scipios... Our intention is to restore the Capitol to free the Roman people from their long slavery," The Corsian declared in May 1796, just before taking Rome.

Then the capture, and the humiliation of the Peace of Tolentino between the   papacy and the Corsian: a ransom of 46,000 scudi in three installement (Pius melted down all available siver and gold ornaments); 100 objects d'art and 500 rare manuscripts from Vatican; the opening of all papal  harbors to the French fleet; renunciation of all property in Italy and France and Naples and Sicily - everywhere. "They made us their prisoner Spina," mutters Pius. "Peace treaty! Bah!" The Vatican and Quirinal were occupied by French troops. They deposed Pius, and created  the  republic of Rome....") [10]

Theo gương nhân dân Pháp, trong thập niên 1860, nhân dân Ý Đại Lợi, quê hương của Giáo Hội cũng nổi lên và mãi tới năm 1870 mới bùng thành cơn bão lửa Cách Mạng bắt buộci Giáo Hội phải trả lại quyền làm người cho họ và trả lại tất cả những đất đai (papal states) mà Giáo Hội đã chiếm đoạt của họ từ ngàn xưa. Vấn đề này đã được nói sơ qua trong phần Nhập Đề của bộ sách này và sẽ được trình bày đầy đủ trong một tập sách khác.

Cũng từ đó, nhân dân   Âu Châu được tự do gọi mấy ông tu sĩ Da-tô là “bọn quạ đen” (les corbeaux noirs) một cách công khai mà không còn sợ bị luật pháp trừng phạt. Văn hào Voltaire gọi đạo Thiên Chúa La Mã là “cái tôn giáo ác ôn” mà không bị điệụ ra trước Toà Án Dị Giáo  giống như số phận ông John Huss (1373-1415) vào năm 1415, số phận bà Jeanne d’ Arc (1412-1431) vào năm 1431,  số phận ông Savonarola Gi rolamo (1452-1498) vào năm 1498, số phận ông Bruno Giordano (1548-16000 vào năm 1600, số phận nhà bác học Galileo Galilei (1564-1642) phải bị tù chung thân cho đến ngày nhắm mắt lìa đời, và số phận của gần 70 triệu người dân khác như sách Smokescreens đã ghi nhận:

"Chỉ nội trong thời kỳ thi hành chương trình Inquisition ở Tây Ban Nha, Giáo Hội La Mã đã tra tấn, gây thương tật và sát hại là 68 triệu, và nhiều nạn nhân này cũng là những người Thiên Chúa Giáo tin tưởng vào Thánh Kinh." (“The Roman Catholic Institution tortured, maimed and murdered 68 million people during the Spanish Inquisition alone, and many these were Bible-believing Christians.”)[11]  

Cũng nhờ có phong trào cách mạng chống lại Giáo Hội cuồn cuộn dâng lên như trận hồng thủy Katrina tàn phá cả thành phố Newleans (Louisiania) và vùng ven biển lân cận trong Vịnh Mễ Tây xẩy ra vào đầu tháng 9/2005 mà chúng ta không cảm thấy ngạc nhiên khi thấy rằng người dân Hoa Kỳ đã thẳng thắn nói cho Giáo Hội La Mã và những tín đồ Da-tô cuồng tín biết rằng:

Quốc gia này có hiến pháp tôn trọng các quyền tự do và tín ngưỡng của tất cả mọi người dân, chứ không phải chỉ dành riêng cho tín đồ Kitô sợ Chúa mà đi nhà thờ thường xuyên. Hoa Kỳ không phải là một quốc gia theo chế độ đạo phiệt. Những người  bảo thủ Ki-tô giáo càng có thái độ bất khoan dung với ý đồ muốn tọng đức tin của họ và cổ họng của nhân dân trong nước và ngoài nước thì họ càng giống những người Hồi giáo cuồng tín mà họ đang tuyên xưng chống lại.” (“This nation has a constitution designed to respect the rights and beliefs of all people, not just God-fearing, churchgoing Christians. America is not a theocracy. The more the intolerant, Christian fundamentalists jam their beliefs down people throats in this nation and beyond, the more they sound like the Muslim jihadists they profess to be against.” [12]

Không phải chỉ có những người thuộc các tôn giáo khác và những người chống lại Giáo Hội mới bị Giáo Hội và các ông giáo hoàng  đối xử bằng những thủ đọan và hành động  bốc lửa bỏ bàn tay, quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, lật lọng và bịp bợm như trên. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng, ngay cả đối với giới tu sĩ và tín đồ Gia-tô ngoan đạo của Giáo Hội cũng bị đối xử như vậy. Ai cũng biết Giáo Hội và các ông giáo hoàng vẫn thường dạy dỗ giáo dân rằng, "Mọi việc ở trên cõi đời này đã có Chúa an bài, và nếu hết lòng tin tưởng nơi Chúa thì sẽ được Chúa che chở cho qua  những khi bị tai họa xẩy ra bất ngờ."  Nếu đúng như vậy thì  chính các ông giáo hoàng và các ngài "mang chức thánh" của Giáo Hội sẽ được Chúa che chở kỹ hơn bất kỳ tín đồ nào vì rằng họ là những người hết lòng tin tưởng ở Chúa, tin tưởng nhiều hơn tất cả các tín đồ của Giáo Hội.. Ấy thế mà Giáo Hoàng John Paul II  và Giáo Hoàng Benedict XVI lại không tin tưởng rằng Ngài sẽ được Chúa che chở. Bằng chứng là cứ mỗi lần thi tham quan ra ngoài nước Ý, các Ngài vẫn phải sử dụng chiếc xe  chống đạn thuộc lọai đặc biệt có tên là Popemobile để đề phòng có đứa nào bắn lén hay ném bom sát hại Ngài. Chúng ta thấy, khi còn sinh tiền, trước tháng 4/2005, Giáo Hoàng John Paul II đã sử dung chiếc xe chống đạn này cả   hàng trăm lần; rồi trong lần viếng thăm nước Đức vào tháng 8/2005, Giáo Hoàng Benedict XVI cũng sử dụng chiếc xe chống đạn này giống y như GiáoHoàng John Paul II lúc sinh tiền. Không ai chối cãi được việc sử dụng chiếc xe  Popemobile này  là một hành động chứng tỏ rằng chính các Ngài không hề có một chút tin tưởng nào vào sự che chở của Chúa ][13]. Hành động này chứng tỏ rằng Giáo Hội và các Ngài đã lừa bịp giáo dân, Giáo Hội và các Ngài đã dạy dỗ và đòi hỏi họ phải tin tưởng những lời láo khoét mà chính các Ngài chẳng có một chút mảy may tin tưởng nào cả.

Nói về thành tích quay quắt, lắt léo, lươn lẹo và bịp bợm của  Giáo Hoàng John Paul II đối với giai cấp giáo sĩ của   Giáo Hội, sách Vicars of Christ ghi lại rõ ràng như sau:

"Giáo Hoàng John Paul II thường nói sự cam kết của giáo sĩ là được tự do tuyệt đối. Nếu vậy, thì tại sao  ông ta lại  không để cho các giáo sĩ từ giã cái nghề tu hành của họ? Tại sao lại cưỡng bách họ tiếp tục ở lại với Giáo Hội khi mà chính họ không còn  thể chịu được cái cảnh cô đơn hiu quạnh lạnh lùng, cái cảnh mà Chúa cũng phải nói là không tốt cho con người?"["John Paul  (II) often says that the priest's commitment was made absolutely freedom. If so, why does he not allow priests to leave the ministry? Why compel them to stay on when they themselves can no longer abide the loneliness which God said is not good for man?" [14]

Đúng là “Miệng kẻ sang có gang có thép” và “lưỡi không xương nhiều đường lắt léo”. Thực ra, cái bản chất và truyền thống ăn không nói có, quay quắt lắt léo, lươn lẹo, lật lọng và bịp bợm này là do chủ trương của Giáo Hội đã có từ thế kỷ IV cho đến ngày nay, chứ không phải là do nơi cá nhân Giáo Hoàng John Paul II. Ngài chỉ là người được ủy nhiệm cầm quyền  để thi hành các chủ trương và chính sách đã có sẵn từ trước và do tập  đoàn  giáo sĩ  nắm quyền đương thời trong giáo triều Vatican mà thôi. 

Giáo Hội và các ông giáo hoàng  mà quay quắt lắt leo, lươn lẹo, lật lọng và bịp bợm như vậy thì LÀM SAO giai cấp tu sĩ và tin đồ Gia-tô  lại không theo cái gương này của Giáo Hội và các ông giáo hoàng mà hành xử đối với   mọi người xung quanh?  Để kiểm chứng sự kiện này, độc giả hãy làm một cuộc du hành "thăm dân cho biết sự tình" , đi đến các họ đạo tiếp xúc các ông mang chức thánh người Việt và tín đồ Gia-tô ngoan đạo làm việc trong các bộ môn trong ngành truyền thông hay những tác giả có những ấn phẩm hay bài viết  bênh vực hay chạy tội cho những việc làm tội ác của Giáo Hội La Mã và của các chế độ đạo phiệt Gia-tô đã được nêu lên trong bộ sách này. Có tiếp xúc với họ, độc giả mới có những dữ kiện để phối kiểm những điều mà người viết đã trình bày trong chương sách này.

Qua những sự kiện đã được trình bày trên đây, chúng ta thấy rằng, không kể tín lý Tội Tổ Tông  đã có từ trước trong đạo Do Thái,  các  tín lý Chúa Cứu Thế, Chúa Ba Ngôi và Đức Mẹ Đồng Trinh là những cái vòng khoen đầu tiên trong một sợi dây chuyền tín lý láo khóet (ăn không nói có) móc nối trộn lộn với những vòng khoen "quay quắt, lắt léo, lươn lẹo" (những giải thích lươn lẹo quanh co để lấp liếm  những tính cách láo khóet của những tín lý quái đản do Giáo Hội bịa đặt ra). Những vòng khoen này móc nối với những vòng khoen tội ác sử dụng bạo lực để (1) khủng bố và đàn áp những người bất khuất chống lại Giáo Hội và những người khẩu phục mà tâm bất phục và (2)  đem quân thập tự đi chinh phục các vùng đất ở ngoài lục địa Âu Châu (việc ban hành thánh lệnh Romanus Pontifex vào ngày 8 tháng 1 năm 1454, đã nói ở Chương 4),   và (3) thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ với  dã tâm kìm hãm người dân dưới quyền mãi mãi ở trong tình trạng ngu dốt.

Vì không được học lịch sử thế giới, cho nên những thế hệ Việt Nam tiếp nhận nền học vấn qua chính sách ngu dân như vậy không biết gì về  bộ măt thật ghế tởm của đạo Kitô La Mã. Vì không biết gì về bộ mặt thật ghê tởm của đạo Kitô La Mã,, cho nên họ mới cho rằng “đạo Ki-tô cũng dậy người đời làm những điều lành và tránh những điều ác, giống như các tôn giáo khác ở Đông Phương.”  

3.- Không dạy cho học sinh biết phân biệt sự khác biệt giữa ý kiến (opinions) và sư kiện (facts). Hậu qủa là ngày nay có nhiều người ở lứa tuổi  50 trở lên rồi vẫn không  biết sử dụng lý trí để phân biệt được sự khác biệt này. Tình trạng này khiến cho họ lầm tưởng rằng những ý kiến phát biểu theo cảm tính của những người có thế lực trong chính quyền Bảo Đại và chính quyền miền Nam Việt Nam là những lẽ phải hay chân lý và phải triệt để tuân hành.

4.- Không dạy cho học sinh biết phương pháp và nguyên tắc viết điểm sách. Hậu quả là đã có những ông tốt nghiệp Quốc Gia Hành Chánh và hình như có cả bằng cử nhân luật nữa mà khi viết điểm sách  mà ông ta không thích nội dung của cuốn sách ấy thì lại quay ra viết bài điểm mặt tác giả và dùng những lời lẽ hạ cấp để hạ giá tác giả. Đây là trường hợp ông bạn họ Trương, tác giả viết bài Đọc Sách A Poem For My Children đăng trong tờ Văn Nghệ Tiền Phong số 559, tháng 5/1999, và các tác giả của các bài viết điểm sách Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của cụ Đỗ Mậu đăng trên tờ Văn Nghệ Tiền Phong liên tiếp trong nhiều năm kể từ năm 1987.

5.- Không dạy cho học sinh phương pháp viết bài khảo luận và viết một tiểu luận.  Hậu quả là có những người đã có bằng đại học rồi mà vẫn không những đã không có một chút kiến thức về tình tự dân tộc, không hề lặn lộn chìm nổi với nhân dân trong suốt hai thời kỳ chiến tranh giải phóng quê hương và thống nhất đất nước, mà lại còn có chủ tâm viết với mục đích chạy tội  cho Giáo Hội La Mã và những người đồng đạo làm Việt gian bán nước cho Vatican, cho Pháp và cho Mỹ, cho nên mới viết nhăng viết cuội với những lời tuyến bố võ đoán theo cảm tính, không cần phải chứng minh. Đây là nguyên nhân khiến cho họ rơi vào tình trạng “câu sau đá ngược câu trước.”  Đây là trường hợp tác giả của những cuốn như Tổ Quốc Ăn Năn, Việt Nam Tôn Giáo Chính Trị Quan, Việt Nam Chính Sử, Những Bí Ẩn Lịch Sử Đàng Sau Cuộc Chiến Việt Nam, Việt Nam Huyết Lệ Sử, Việt Nam 1945-1995, v.v…

không có một chút kiến thức về tình tự dân tộc, không hề lặn lộn chìm nổi với nhân dân trong suốt hai thời kỳ chiến tranh giải phóng quê hương và thống nhất đất nước, không biết gì về lịch sử thế giới, không biết gì về lịch sử Giáo Hội La Mã. Họ cũng không có đủ khả năng lý trí để nhận thức được sự khác biệt giữa một bên là tính cách bình đẳng và nghĩa vụ hỗ tương  giữa hai hay nhiều quốc gia đồng minh trong một liên minh chống lại một liên minh thù địch (như Đồng Minh Anh - Mỹ - Nga - Trung Hoa chống lại phe Trục Đức - Ý - Nhật trong thời Đệ Nhị Thế Chiến), một bên là mối quan hệ chủ tớ giữa ông chủ đế quốc thực dân xâm lược và một chính quyền bù nhìn bản địa làm tay sai tại địa phương (như chính quyền Bảo Đại làm tay sai cho Liên Minh Pháp - Vatican, và chính quyền miền Nam làm tay sai cho Liên Minh Mỹ - Vatican trong những năm 1954-1975)..  Cái quan hễ chủ-tờ của Hoa Kỳ và  Miên Nam Việt Nam được ông Thanh Thương Hoàng nói rõ như sau:

“…thân phận các nuớc chậm tiến (lại lỡ là đồng minh của Mỹ nữa) không bao giờ được tự quyết định số phận mình. Mỹ tính, Mỹ làm hết. Chống lại là đi làm“đại sứ lưu động” hoặc chết).Kinh nghiệm Trung Hoa Dân Quốc, Ðại Hàn còn sờ sờ ra đó! Làm trái ý Mỹ là hết đời liền.”[15]

Cũng vì  không có dủ khả năng lý trí để nhận thức được sự thực đau buồn và tủi nhục trên đây, cho nên họ mới đinh ninh cho rằng trong thời gian trên đây (1954-1975), miền Nam Việt Nam là đồng minh của Hoa Kỳ. Cũng thế mà tác giả Da-tô Tiến-sĩ Nguyễn Tiên Hưng  mới cho ra đời cuốn sách có tựa đề là “Khi Đồng Minh Tháo Chạy.”

Quả thật là họ đã “nhận vơ” rằng Hoa Kỳ là “