posted: 12.9.2005
Bài 6:
Vì theo đuổi chủ nghĩa bá quyền thống trị toàn
cầu và nô lê hóa nhân loại theo đúng tinh thần thánh lệnh Romanus Pontifex
ban hành vào ngày 8 tháng 1 năm 1454 (như đã trình bày đầy đủ ở Chương
4), Giáo Hội La Mã cần phải sử dụng những tay tổ điệp viên chuyên
nghiệp mang danh nghĩa là các nhà truyền giáo đến các vùng mục tiêu bị
chiếu cố để tìm cách tiếp xúc và
móc nối những phường hạ lưu đê tiện, những quân đầu trộm đuôi cướp,
những hạng người sinh vô gia cư tử
vô địa táng, những tên tội đồ xã hội và những thành phần bất mãn
với chính quyền đương thời để mua
chuộc và dụ khị họ vào đạo bằng những lời hứa hẹn bảo đảm với
họ nếu vào đạo thì họ sẽ được
Giao Hội bảo vệ, nếu là tội đồ thì sẽ được bao che khỏi bị chính
quyền tóm cổ, và cuộc đời của họ sẽ được cải thiện
tốt đẹp hơn. Khi đã dụ khị được một số dân bản địa theo đạo, bọn gián điệp giả danh giáo sĩ
này liền quy tụ họ sống riêng một nơi gọi xóm đạo hay làng đạo và tổ chức những
thanh niên, tráng niên thành những đạo quân thứ 5 nằm tiềm phục chờ
khi Giáo Hội vận động được một
cường quốc liên kết với Giáo Hội xuất quân tiến vào tấn công thì nổi
lên tiếp ứng. Trong khi chờ đợi, những đạo quân thứ 5 này có nhiệm vụ
đi thâu thập các tin tức tình báo chiến
lược cho chúng để chúng gửi về Tòa Thánh Sự kiện này vừa chứng tỏ những việc làm của
Giáo Hội là bất chính, bất nhân, bất nghĩa, đại gian và đại ác vừa
chứng tỏ rằng tín đồ Da-tô bản địa
tại các thuộc địa của bất kỳ đế quốc nào liên minh với Giáo Hội
cũng đều là những phường vong bản phản quốc và những quân vô lại.
Tín đồ đồ Da-tô người Việt cũng ở vào trường hợp này. Lịch sử
đã khẳng định như vậy và ai cũng biết như vậy. Vì bản chất cuồng tín và La Mã hơn cả La Mã,
tín đồ Da-tô người Việt thường bị nhân dân ta lên án là những phường
vong bản phản quốc, mang tội "rước hai con voi Vatican và Pháp
về giầy mả tổ Việt Họ đã gỡ thể diện cho Giáo Hội như thế nào? Tội nghiệp cho họ! Vì cái sở học của họ được
tiếp nhận qua chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ như đã trình bày
ở trên, họ không biệt gì về lĩch sử thế giới với những bước
tiến của loài người mà nhân dân Âu Châu đã phải trải quả cả một
ngàn năm kéo lê kiếp sống đọa đãy dưới ách thống trị bạo tàn của Giáo Hội La Mã cấu kết và các cường
quyền chuyên chính. Họ không biết gì về những bước đường tranh
đấu của loài người với hàng trăm trịệu sinh linh ngã xuống mới thoát ra khỏi cái thòng lọng Da-tô (the
Catholic loop). Họ không biết gì về lịch sử Giáo Hội La Mã với những
rặng núi tội ác chống lại nhân loại trùng trùng như hàng chục rặng núi Hy Mã Lạp Sơn. Cũng vì ảnh
hưởng bới chính sách ngu dân và nhồi sọ của Giáo Hội, họ không có
đủ khả năng đưa ra những bài viết hay ấn phẩm với những luận cứ
có những lý lẽ thuận tai và những trích dẫn trong các sách sử đã và
đang được sử dụng tại các trường trung học, đại học và thư viện
ở các nước dân chủ tự do. Họ cũng không có khả năng phân biệt
được sự khác nhau giữa những ý kiến và sự kiện lịch sử. Vì thế
cho nên trong những ấn phẩm của họ
thường chứa đựng những ý kiến chủ quan của họ, hoặc là họ viện
dẫn những câu nói trong “thánh Kinh”,
“giáo luật”, “quyết định”, “lời dạy” và đem những truyền thống
của Giáo Hội để biện minh cho luận cứ của họ. Thật là khôi hài! Sử dụng những thứ này tức là dùng những nguyên nhân gây ra tội ác là
những chuyện “hoang đường”, “lừa bịp”, “phỉnh gạt”, “võ đoán”,
“chuyên chế” và “phong kiến” đã
có trước của chính họ hay thế lực của họ để biện minh cho những hậu quả là những việc làm
sai trái và tội ác của họ hay thế lực của họ xẩy ra về sau. Rõ ràng
là cãi bựa, cãi cối, cãi hày.nếu không phải là không có đủ khả năng
lý trí để phân biệt sự khác nhau giữa cái thuận lý và cái nghịch lý.
Có khi họ hội ý với nhau, đem những kinh nghiệm về kỹ thuật tuyên truyền bịp bợm mà họ
đã học được của Giáo Hội, theo gương Giáo Hội đã làm, bằng mọi
giá, họ phải cãi cho thắng bằng cách "đổi trắng thay đen, có nói thành không, không nói thành có", với
những luận điệu "cãi cố cãi chay, cãi cuội và mập mờ đánh
lận con đen" để chay tội cho Giáo Hội, chạy tội cho chế độ
đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm, chạy tội cho ông cha và cho chính bản thân của họ. Dưới đây là một vài đoạn văn trong những luận
điệu “cãi cỗi, cãi chày, cãi cuội”
” của Đức Ông Nguyễn Đức Tiến để chạy tội cho Giáo Hội La Mã về
việc “liên kết với đế quốc Pháp đến
đánh chiếm Việt Nam.” Mấy đoạn văn này được Giáo-sư Trần
Chung Ngọc trình bày và đã được đăng trong báo Giáo Điểm số 32 tháng
3 năm 1999. Xin mời quý vị theo dõi câu chuyện và “luận điệu cãi bựa” của ông tu sĩ
Da-tô này: "LTS.- Ngày Thứ
Bảy 30-3-1999, Giao Điểm có liên lạc điện thoại với Giáo Sư Trần Chung
Ngọc để thăm hỏi sức khỏe, nhân tiện xin phỏng vấn GS một số vấn
đề thời sự. Sau đây là nội dung cuộc điện đàm giữa Giao Điểm và
GS Trần Chung Ngọc... GĐ: Trong bài phỏng
vấn của báo Người Việt, Đức Ông Nguyễn Đức Tiến có những nhận
định về vấn đề này khác với những nhận định của GS, không biết
GS đã đọc bài phỏng vấn đó chưa? TCN: Tôi có đọc
rồi, các bạn bè của tôi ở bên GĐ: Lời phê bình
"thiếu trình độ" của GS khá nặng đấy. GS có thể biện minh cho
lời phê bình đó không và những điểm nào cần phân tích, GS có thể nói
rõ hơn cho độc gia Giao Điểm biết. TCN: "Thiếu trình độ" là nhận xét của
tôi, còn ai muốn cho đó là có trình độ thì xin cứ tùy tiện. Phân tích
những điểm này hơi dài, sợ tốn tiền điện thoại của Giao Điểm. GĐ: Không sao đâu,
GS cứ cho biết ý kiến. TCN: Vậy thì được.
Điểm thứ nhất, Đức Ông Nguyễn Đức Tiến cho rằng đạo Công
Giáo đã được truyền bá vào Việt Nam từ năm 1533, trong khi người
Pháp đánh chiếm Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1862, nghĩa là cách
nhau gần ba thế kỷ, vậy bảo là đạo Công Giáo đưa Pháp vào đô hộ Việt
Nam là hoàn toàn sai lịch sử. Đây
có phải là lý luận của một người có trình độ hay không? Chúng ta
hãy bỏ qua về sự sai lầm về năm Pháp bắt đầu đánh vào Đà Nẵng là
năm 1858, chứ không phải là năm 1862, nhưng luận điểm rõ ràng phản
ảnh trình độ hiểu biết và lý luận của một Đức Ông. Thời điểm
đạo Gia Tô La Mã bắt đầu truyền bá vào Việt Nam và sự kiện các Thừa
Sai GiaTô xâm nhập Việt Nam, làm gián điệp sửa soạn và vận động cho
việc Pháp đánh chiếm Việt Nam, với sự hỗ trợ đáng kể của những
tín đồ bản địa v.v… hoàn toàn có liên hệ
với nhau. Thời điểm đạo Gia Tô bắt đầu truyền vào Việt Điểm thứ nhì,
Đức Ông Nguyễn Đức Tiến viện dẫn vài đoạn trong cuốn "Gương Sử
Nam" xuất bản năm 1910, không nói rõ tác giả là ai, cho rằng Pháp
chỉ cầu lấy sự thông thương, nhưng vua quan Việt Nam không hiểu tình
thế ngoại quốc, không nên trách tại ai, vì Pháp không chiếm nước mình
thì nước khác cũng chiếm mà thôi. Đây là một kiểu lý luận sặc
mùi thực dân và tay sai mà chúng ta thường thấy trong những sách xuất bản
trong thời đô hộ Pháp. Sau khi chế độ Pháp cáo chung ở Việt Nam, nhiều
sử gia Việt Nam và ngoại quốc đã phủ bác hoàn toàn luận điệu trên, dựa
trên những tài liệu chính xác mới được phanh phui ra. Những tác phẩm
nghiên cứu của Cao Huy Thuần, Nguyễn Xuân Thọ, Linh-mục Trần Tam Tỉnh,
giáo sư Đại Học Mark McLeod, Patrick J.N. Tuck, v.v… đã nêu rõ sự liên hệ giữa Công Giáo
và chính sách thực dân Pháp. Có vẻ như Đức Ông (Nguyễn Đức Tiến)
có dị ứng với những tác phẩm nghiên cứu mới này, cho nên chỉ có thể
viện dẫn một cuốn sách xuất bản từ năm 1910 trong thời Pháp đô hộ
và viết theo luận điệu của các thừa sai ngoại quốc và con chiên bản
địa. Điểm thứ ba,
Đức Ông Nguyễn Đức Tiến trích dẫn cũng một đoạn trong cuốn Gương Sử
Nam, rằng năm 1876, trong kỳ thi cống sĩ, vua Tự Đức có ra một câu văn sách
hỏi rằng: "Nước Nhật Bản theo học các nước Thái Tây mà nên
được phú cường, thế thì nước ta có nên bắt chước không?"
Các cống sĩ tâu rằng: "Nước Nhật Bản thuở trước vẫn là theo sự
văn minh của Tàu, mà bây giờ thay đổi thói cũ theo các nước Thái Tây. Dẫu
là có nên nước phú cường, về sau cũng hóa ra mọi rợ". Dựa vào
câu trên, Đức Ông Nguyễn Đức Tiến lên án triều Tự Đức là phạm một
lỗi to: "Đã hiểu tình thế ngoại quốc mà không theo". Rõ ràng là đoạn
văn trên ngụy tạo lịch sử nhưng không được thông minh cho lắm. Thật
vậy, Thời Minh Trị Duy Tân ở bên Nhật bắt đầu từ năm 1868,
khi đó Nhật mới bắt đầu gửi người đi sang Âu Mỹ học hỏi những kỹ
thuật mới, cách tổ chức chính quyền, v.v Trong
thập niên 1870, Nhật chưa thể gọi là một nước phú cường mà phải
đợi tới cuối thập niên 1880 , đầu thập niên 1890, sự phú cường của
Nhật mới ló dạng. Làm sao mà năm 1876, vua Tự Đức lại có thể ra
một câu hỏi văn sách về nền phú cường của Nhật Bản khi nền phú cường
này chưa hề có? Chúng ta nên để ý, trong một bản điều trần của
Nguyễn Trường Tộ cũng đã viết về "kết quả canh tân" của
Nhật khi Nhật mới bắt đầu canh tân, chưa biết kết quả ra sao. Mặt khác, cuộc thi cống sĩ là thi viết
hay thi vấn đáp mà các cống sĩ đều tâu rằng… Như vậy là tất
cả các cống sĩ đều có cùng một câu trả lời. Vậy thì thi cái nỗi
gì? Nếu là thi viết thì các cống sĩ
chép lại bài của nhau hay sao mà có cùng một câu trả lời như nhau. Vua
quan triều Nguyễn đần đến độ không nhận ra điều này hay sao? Kết luận:
Tác giả cuốn "Gương Sử Nam" đầu óc kém cỏi, không biết đến
tình trạng thực sự của Nhật Bản vào năm 1876, ngụy tạo lịch sử một
cách thiếu thông minh, và người trích dẫn những tài liệu ngụy tạo
này cũng chẳng hơn gì tác giả cuốn Gương Sử Nam. "[i]
Trên đây là nói về những tín hữu Da-tô thuộc lọai đạo gốc. Còn những người tân
tòng thì sao? Vấn đề này sẽ được trình bày đầy đủ ở một phần
khác. Ở đây, chúng tôi chỉ xin tóm lược như thế này: Hơn ai hết, những tín
hữu Da-tô tân tòng đều là những người sống theo triết lý “ăn theo thuở, ở theo thời” hay theo quy luật
sinh tồn để tồn tại và cũng là để thỏa mãn những tham vọng hay ước
muốn của họ, dù là mõi người có hòan cảnh khác nhau. Chính vì theo quy
luật sinh tồn, cho nên, dù muốn dù không, họ cũng phải "lướt theo chiều gió" và thấu
triệt cái nguyên tắc "ở bầu thì tròn, ở ống thì dài." Cũng vì thế
mà dù cho là trong thâm tâm họ rẩt
ghê tởm cái thói quen "bịa đặt",
"vu khống", "ăn không nói có", "quanh co, quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, lật
lọng và bịp bợm", lôn sòng, nhận
vơ và cầm nhầm quyền lực, đội trên đạp dưới, vào luồn ra cúi trong xã hội Da-tô, nhưng: 1.- Vì muốn cho hạnh phúc gia đình không bị phá vỡ
(bị cưỡng bách theo đạo vì hôn nhân), 2.- Vì muốn được dễ dàng leo lên bước thang danh
vọng (như Lâm Lễ Trinh, Lâm Văn Phát,
Hùynh Hữu Nghĩa, Nguyễn Văn Thiệu, Đặng Văn Quang, v.v.. ), 3.- Vì muốn được giúp đỡ chút đỉnh vật chất trong cảnh khốn cùng
(theo đạo lấy gạo mà ăn), 4.- Vì muốn được an toàn về chính trị, khỏi bị
cảnh sát, công an mật vụ quấy nhiễu và gán cho
tội có liên hệ với Cộng
Sản như đồng bào ở Liên Khu V trong
những năm 1955-1963 [ii]
, 5.- Vì muốn được Chúa
hay Đức Mẹ cứu cho thóat
hiểm khi vượt biển hay trong lúc hiểm nghèo (theo đạo vì ngu dốt),
6.- Vì muốn cho công việc làm ăn được dễ dàng
lôi cuốn khách hàng tín đồ Da-tô người Việt (như trường hợp ông
bác sĩ Ng X Th. ở một thành phố lớn đứng hàng thứ nhì tại miền Tây
tiểu bang 7.- Vì muốn theo thời thượng hay theo thế lực mạnh
(xu thời), họ cũng phải đóng kịch hành xử giống như là những
tín đồ Da-tô “ngoan đạo” thực sự với
những ngôn tù và hành động để cho những người đồng đạo và linh mục
quản nhiệm địa phương tin rằng họ là một thứ con chiên ngoan đạo
thư thiệt. Nếu không, Giáo Hội sẽ nghiền nát những điều
ước muốn của họ như Giáo Hội đã làm từ ngàn xưa cho đến ngày nay.
Hành xử như vậy lâu ngày, thét rồi, những
thói quen trong nếp sống Da-tô trở thành bản chất, giống y như những tín
đồ đạo gốc. Tất cả những thói quen "bịa đặt, ăn không nói có, đổi trắng
thay đen, quanh co, quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, lật lọng", lộn sòng, nhận vơ, cầm nhầm quyền lực"
này đã được Giáo Hội La Mã du nhập vào Việt Nam như là một tín lý đi
kèm theo với "những lời Giáo Hội dạy"
mà tất cả tín đồ Da-tô ngoan đạo đều phải tuyệt đối vâng lời. Đây
là một thứ "tin mừng" để
truyền dạy cho tín đồ bản đia và được coi như là một phần của
"Hồng Ân Thiên Chúa" mà chỉ
có những người "tin Chúa" tự
nhận mình là "con cái của Chúa"
hay "dân Chúa" mới được tiếp nhận "ân sủng" quái đản này đến mức tuyệt hảo của nó. Vì là những con cừu (chiên) ngoan đạo được tiếp
nhận ẩn sủng của Chúa (đúng ra là của Giáo Hội) cho nên họ
(tín đồ Da-tô người Việt) rất bén nhậy lãnh hội được những đặc
tính này từ thế kỷ thứ 16 cho đến ngày nay, và bây giờ những đặc tính
này đã trở thành bản chất trong con người của họ. Người Việt 13.- BÀN Khốn nỗi, "vải
thưa không che nổi mắt thánh"!. Dù cho có "bịa đặt" bao nhiêu chuyện tốt đẹp
đi nữa, dù cho đã triệt
để áp dụng "sách lược vu khồng, ăn không nói có, quay quắt, lắt léo, lươn
lẹo và lật lọng" tài giỏi đến đâu đi nữa thì Giáo Hội và tín đồ Da-tô người Việt
cũng vẫn không thể biến tên tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm thành
"một nhà ái quốc": hay "chí sĩ yêu nước". Lý do rất dễ hiểu:
Cái tiểu sử và lý lịch của ông Ngô Đình Diệm vẫn nằm chềnh ềnh
trong các sách sử được lưu trũ trong các thư viện ở trong nước cũng
như ở các nước dân chủ trên thế giới. Những tài liệu này chứng minh
cho mọi người thấy rằng "ông ta xuất thân từ một gia đình có tới ba đời
nối tiếp nhau làm Việt gian và chính bản thân ông ta cũng là Việt gian với
những thành tích vừa bán nước cho Vatican, vừa bán nước cho Pháp, rồi lại
mưu đồ bán nước cho Nhật (không
thành), sau đó lại được Tòa Thánh Vatican đưa sang Hoa Kỳ vận động chính
quyền Hoa Kỳ để cầu xin Hoa Kỳ
đưa về Việt Nam cầm quyến làm tay sai bán nước cho cả Hoa Kỳ và
Vatican." Độc giả có thể kỉểm chứng sự kiện này qua những bài viết hay ấn phẩm dưới
đây: 1.- Loạt bài viết có tựa đề là "Nhân Vật
Chống Cộng Số 5: Ngô Đình Diệm (1901-1963) của tác giả Phạm Tưởng,
đăng trên tờ Người Dân số 156 tháng 8/2003 (trang 31-35), số 157 tháng
9/2003 (tr 19-23) và tháng số 158 tháng10/2003 (trang 26-31). 2.- Mục nói về tiểu sử của ông Ngô Đình Diệm
của tác Giả Vũ Ngự Chiêu trong cuốn Việt Nam Niên Biểu Nhân Vật Chí
(Houston, Texas: Văn Hóa, 1997) tr 261-315 3.- Bài viết có tựa đề là "Xin Bạn Đồng
Nghiệp Thận Trọng Ngòi Bút của tác giả An Khê Nguyễn Bính Thinh, đăng
trong tờ Văn Nghệ Tiền Phong số 441 cà 442 (Khoảng tháng 6 hay tháng 7 năm
1994), được cụ Lê Hữu Dản cho đăng lại trong cuốn Tài Liệu Soi Sáng Sự
Thật 1996 Tập Hai (Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1996), tr 325-334. 4.- Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của cụ Đỗ Mậu
(Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1994), tr. 87-
94 5.- Việt 6.- Sách 7.- Sách Vietnam A History của ký gỉa Stanley Karnow
(New York: The Viking Press, 1983), p 217 8.- Sách Fire In The Lake của Francces Fitzgerald (New
York: Vintages Books, 1972), pp 103-111 9.- Bài viết "Bài Học Chiến Tranh Việt Nam
Nhìn Từ Hậu Trường Chính Trị Hoa Kỳ của tác giả Lương Minh Sơn
[đăng trong tờ Người Việt số ra ngày Thứ Bẩy 9 tháng 11 năm 1996, trang
B1 và đăng lại trong cuốn Sự Thật,
Đặc San Xuân Đinh Sửu 1997 của tác giả Lê Hữu Dản (Fremont, CA: TXN,
1997), tr 20-33] Một cách khác để
kiểm chứng.- Truyền thống "ăn không nói có, bịa đặt, quanh co, quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, lật lọng...
" này đã trở thành bản chất và đã thấm nhập vào các nhiễm thể của từng tế bào trong
não bộ và xương tủy trong cơ thể của tất cả mọi người trong hệ thống
quyền lực của Giáo Hội La Mã và tín đồ Da-tô "ngoan đạo". Cái
bản chất này của họ sẽ lộ nguyên hình vào những khi hoặc là họ đưa ra những yêu sách đòi tự
do tôn giáo, tự do truyền đạo, dân chủ hóa chính quyền Việt Nam hiện
nay, hoặc là họ đưa ra những luận điệu để
bênh vực, bào chữa, chạy tội cho Giáo Hội La Mã hay
chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm. Muốn cho cái bản chất ghê tởm
này của họ hiện ra, chúng ta chỉ cần nêu lên bất kỳ một trong những
đề tài dưới đây để cho họ trả lời hay tranh luận, khi đó, chúng ta sẽ thấy cái bản chất ghê tởm này hiện
lên trên lên nét mặt, trong cặp mắt hay trong cung cách ăn nói và ngôn ngữ
mà họ sử dụng. Dưới đây là những đề tài nên được nêu ra: 1- Việc Giáo Hội phát động các cuộc Chiến Thập
Tự (Crusades) trong thời Trung Cổ khởi đầu vào năm 1095 trong thời Giáo
Hòang Urban II (1088-1099) kéo dài gần hai thế kỷ, sát hại cả mấy chục
triệu sinh linh ở Trung Đông và ở miền Nam nước Pháp. Theo Giáo-sư Trần
Chung Ngọc, con số nạn nhân bị tàn sát là 20 triệu, không kể các nạn
nhân bị thương và tài sản bị tàn phá.[iii]
. 2- Việc thiết lập các Tòa Án Dị Giáo
(Inquisitions) vào năm 1184 trong thời Giáo Hoàng Lucius III (1161-1185) để truy
lùng, tra tấn, bắt giam và xử thiêu những thành phần bị tình nghi không
tuyệt đối tin tưởng vào những tín lý thần học Ki-tô, khủng bố và sát hại những người có
tác phẩm hay phát minh khoa học không phù hợp với tín lý thần học Ki-tô
và những người thuộc các tín ngưỡng khác sống dưới ách thống trị của
Giáo Hội hay các chính quyền đạo phiệt Da-tô
tay sai của Giáo Hội ở Âu Châu, ở các thuộc địa của hai đế quốc Bồ
Đào Nha và Tây Ban Nha tại Châu Mỹ La Tinh, tại Phi Luật Tân và tại Phi
Châu.Ở Pháp, các toà án quái đản này ngưng hoạt động từ khi Cách Mạng
Pháp 1789 bùng nổ, nhưng vẫn còn tác oai tác quái ở Tây Ban Nha và ở các
thuộc địa của đế quốc này cho đến năm 1821. Theo sách Smokescrens, trong
thời gian này, riêng tại Tây Ban Nha và
tại các thuộc địa của Tây Ban Nha, con số nạn nhân lên đến 68 triệu
(như đã nói ở trên),, chưa ở các nước
khác ở lục địa Âu Châu và các thuộc địa của Đế Quốc Bồ Đào Nha
ở Bat Tây (Nam Mỹ), ở Phi Câu và các nơi khác.. 3.- Việc Giáo Hội ban hành các (nhiều) thánh lệnh trong thế kỷ 15, trao đặc quyền
cho tín đồ Da-tô lãnh Dạo các cường quốc Âu Châu đem quân lính đi
chinh phục các quốc gia ở ngòai lục địa Âu Châu làm thưôc địa, chiếm
đọat đất đai, ăn cướp tài nguyên và cưỡng bách các dân tộc nạn
nhân phải theo đạo và làm nô lệ cho Giáo Hội. Theo ông Charlie Nguyễn,
vì ảnh hưởng của các thánh lện trên đây của Giáo Hội, con số nạn
nhân người Phi Châu bị bắt đi đem đến Mỹ Châu làm nô lệ cho Giáo Hội
và cho tín đồ Da-tô người da trắng là 60 triệu, chưa kể những người
bị chết trên đường di chuyền trên các hải lộ từ Phi Châu đến Mỹ
Châu[iv], và theo Giáo-sư Trần Chung Ngọc, con sô người
da đỏ ở Bắc Mỹ bị hủy diệt là 14 triệu 750 người.[v]
4.- Việc Giáo Hội cấu
kết với các đế quốc thực dân xâm lược Âu Châu đến Việt Nam, Trung
Hoa và nhiều quốc gia khác ở Á Châu rồi
dựa vào các thế lực này để đòi được tự do truyền đạo, trong khi tại
Âu Châu, Giáo Hội không những không chấp nhận cho các tôn giáo khác được
tồn tại, mà con truy lùng, bắt giam,
tra tấn và xử tử các thành phần không phải là tín đồ của Giáo Hội. Theo các tài liệu cón số
người Việt Nam chết trong các hai cuộc chiến từ năm 1945-1954 và 1954-1975
vào khoảng trên 5 triệu, chưa kể con số những người bị thương tật
trong hai cuộc chiến này, chưa kể con
số những người trong các lực lượng nghĩa quan kháng chiến của nhân
dân ta bị liên quân Pháp Vatican và lính đạo Việt Nam sát hại trong suốt
thời kỳ từ năm 1862 cho đến đầu thập niên 1930, chưa kể hai triệu
người Việt Nam chết thảm thương trong nạn đói vào mùa Xuân năm Ât Dậu
1954 do chính quyền bảo hộ Pháp-Vatican chủ trương gây nên:. Chủ trương
dã man này được ông Hoàng Trọng Miên ghi nhận như sau: “Giữa thời kỳ
ấy, để phòng dân miền Bắc nổi loạn, Pháp tung đám tay sai đi khắp
nơi vơ vét hhết thóc gạo tải về tập trung ở các kho dự trũ riêng, lấy
cớ là để tiếp tế cho quân đội Nhật Bản. Hết ép buộc mua rẻ của
dân que, Pháp lại vãi tiền ra mua thóc, ngô bằng một giá cao để thu cho kỳ
sạch ngũ cốc hiếm hoi của miền Bắc, gạo Nam Kỳ thì không được đưa
ra Bắc, lấy cớ là phi cơ Đồng Minh ngày đêm không ngưng bắn phá tầu
bè, ghe thuyền, còn đường xe lửa xuyên Đông Dương thì Pháp dành cho Nhật
chuyên chở quân sự. Lúa thừa ở miền
Nam, chứa đầy kho Pháp đem đfốt thay than củi cơ các nhà máy điện. Dân
quê ở Bắc khởi sự chế đói từ cuối năm 1944. Mùa lúa tháng nmười bị
thất bát. Người có tiền ở thôn quê cũng đành nhịn ăn vì thóc gạo
dã bị láy di sạch. Tại thành phố mỗi khẩu phần người Việt đều phải
ăn gạo “bông” (phiếu) ở trong tay chính quyền Pháp phân phát rất hạn
chế…”[vi]
5.- Vai trò và
hành động của Giáo Hội La Mã và tín đồ Da-tô người Việt trong suốt
thời kỳ Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp
-Vatican đánh chiếm và thống trị Việt
Nam từ năm 1858 cho đến 1945. 6.- Vai trò và
hành động của Giáo Hội La Mã và một số khá nhiều tín đồ Da-tô người
Việt trong những năm kháng 1945-1954 chiến
của dân tộc Việt 7.- Vai trò và
hành động của Giáo Hội La Mã và một
số khá nhiều tín đồ Da-tô người
Việt trong hai chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt
Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975. 8.- Khối lượng tài sản khổng lồ của Giáo Hội
La Mã tại Việt Nam mà Giáo Hội đã dựa vào chính quyền bảo hộ Pháp – Vatican ăn cướp của dân tộc Việt
Nam trong những năm từ 1862 cho đến năm 1939. Khối tài sản này đã được
Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi rõ ràng nơi các trang 48-49 trong cuốn Thập Giá
Và Lưỡi Gươm (Paris: Sudestasie, 1978) và nơi
tiểu mục “Câu Chuyện Thứ Chín” trong Thư Ngỏ đề ngày 15/3/1995 gửi Giáo Hoàng John Paul
II của tác giả Vũ Trọng Minh in trong cuốn Đối Thoại với Giáo Hoàng
Gioan Phao Lồ II (Garden Grove, CA: Giáo Điểm, 1995) nơi các trang 227-248., 9.- Vai trò của
Giáo Hội La Mã trong việc đưa ông Ngô Đình Diệm sang Mỹ, giao cho Hồng Y
Francis Spellman lo việc vận động với những nhân vật quyền thế trên
sân khấu chính trị Hoa Kỳ để đưa ông Diệm về Việt Nam cầm quyền. 10.-Vấn đề kỳ thị và đàn áp Phật Giáo của chế
độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm (1954-1963). 11.- Những tội ác của anh em ông Ngô Đình Diệm
và đảng Cần Lao Công Giáo với những bản án đã được Tòa Án của chính quyền miền Nam trong thời Thủ
Tướng Nguyễn Khánh tuyên xử, trong đó có những tội đồ vốn là những
người có quyền thế trong chế độ đạo phiệt Ngô Đình Diệm.
Những người đó là Ngô Đình Cẩn, Phan Quang Đông, Đặng Sĩ, v.v.... 12.- Vấn đề tham nhũng có hệ thống trong cả hai
chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình
Diệm và quân phiệt Da-tô Nguyễn Văn Thiệu ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975. 13.- Vấn đề cưỡng bách những người thuộc các
tôn giáo khác phải theo đạo Da-tô khi họ muốn làm lễ thành hôn với con
em của tín đồ Gia-tô. 14.- Vấn đề loạn dâm của các ông tu sĩ Da-tô khởi đầu được phơi bày ra trước ánh
sáng công luận ở Boston (MA), Hoa Kỳ
vào đầu năm 2002 rồi bùng lên và lan rộng ra toàn quốc, đặc biệt là
Giáo Khu Boston đã bằng lòng bồi thường cho hơn 500 nạn nhân một số tiền là 85 triệu Mỹ Kim để
bịt miệng.[vii]. . 15.- Các vụ (1) mưu
đồ phá thối buổi ra mắt sách Đối Thọai Với Giáo Hòang John Paul II do nhóm Giáo Điểm tổ chức ở Wersminster, California vào ngày 19/8/1995, (2) mưu
đồ phá thối buổi hội thảo văn hóa của anh em văn nghệ sĩ người Việt
ở Bắc Mỹ do Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu và người viết tổ chức tại
Seattle, Washington vào ngày 20/12/1997, và (3) vụ tổ chữc biểu tình bao vây
Chùa Đức Viên ở San Jose trong nhiều ngày vào tháng 5 năm 1998 để khủng bố và nhục mạ Đại Lão Hòa Thượng
Thich Trí Dũng bằng những ngôn từ vô cùng hạ cấp với lý do cho rằng
Ngài là cán bộ Cộng Sản thì chính
quyền Việt Nam mới cấp thông hành cho Ngài sang thăm viếng Hoa Kỳ. Trong
khi đó, cũng vào thời điểm này, Tổng Giám Mục Phạm Minh Mẫn (bây giờ
đã được Tòa Thánh La Mã thăng lên tước
Hồng Y), Linh-mục Hồ Bắc Xái và nhiều linh mục khác cũng từ Việt Nam sang Hoa Kỳ thăm viếng thì giáo dân Gia-tô
ở Bắc Mỹ lại đón tiếp nồng hậu
và góp tiền hậu hĩ để ủng hộ họ đem
về Việt Nam. 16.- Việc Giáo Hội La Mã đã xin lỗi chính quyền
Trung Hoa vào năm 2000 về việc các nhà truyền Giáo của Giáo Hội quấy
phá xã hội Trung Hoa từ thời Hoàng Đế Khang Hi (1662-1722) cho
đến những năm đầu thế kỷ 20; ấy thế mà Giáo Hội vẫn chưa chịu nhận
lỗi và xin lỗi chính quyền và nhân dân Việt Nam về những rặng núi tội
ác mà Giáo Hội đã gieo rắc cho dân tộc
ta từ giữa thập niên 1780 cho đến ngày 30/4/1975 17.- Việc Giáo Hội và bọn tín đồ
cuồng nô vô tổ quốc người Việt Nam luôn luôn bô bô đòi dân chủ hóa
Việt Nam trong khi chính bản thân của
Giáo Hội tức là quốc gia Vatican từ
ngàn xưa vẫn theo chế độ "quân chủ tăng lữ chuyên chế phong
kiến. Đúng là "cái đà ở trước mắt của mình mà mình
không nhìn thấy, mà lại nhìn thấy một hạt bụi ở trong mắt người ta."
Thực ra, mục đích của việc ồn ào yêu sách "đòi dân chủ hóa cho Việt Nam" của họ là nếu
có diễn tiến dân chủ thì trong thời gian "quá độ", Giáo Hội
có thể nhẩy vào "thừa nước đục thả câu" giống như
Giáo Hội đã làm trong các hồi thế kỷ 17, 18 và 19. 18.-. Vấn để bản thân ông Ngô Đình
Diệm xuất thân từ một gia đình có tới ba đời nối tiếp nối nhau làm
Việt gian bán nước cho cả Vatican và Pháp và chính bản thân ông ta cũng là
tên đại Việt gian hết bán nước cho Vatican và Pháp, mưu toan bán nước
cho Nhật, sau đó lại bán nước cho
Hoa Kỳ rồi lại định giở trò tháu cáy Hoa Kỳ trong canh bạc bắt tay với
Ha Nội. 19.- Vấn đề về cái chết của tên
tội nhân thiên cổ Ngô Đình Diệm. Người viết chỉ kể ra có 19 vấn đề
trên đây. Nếu muốn nói cho cùng thì
nhiều lắm! . Quý vị thử nêu ra một hay vài ba đề tài trên đây để thảo
luận với những tín đồ Da-tô (còn trung thành với Giáo Hội La Mã hay thuộc
loại ngoan đạo) có khả năng viết lách (đã từng có những ấn phẩm hay đã tốt nghiệp đại học ở Việt Nam
trước năm 1975) để cho họ tranh luận rồi
quý vị vừa lắng tai nghe vừa nhìn thẳng vào mặt và mắt họ để theo
dõi xem tâm tư và miệng lưỡi của họ.
Khi dó, quý vị sẽ nhìn thấy cái bản chất "bịa đặt, ăn không nói có, bốc lửa bỏ bàn tay, quanh co, quay quắt, lắt
léo, lươn lẹo, lật lọng, lộn xòng, nhận vơ, mập mời đánh lận con
đen, cầm nhầm quyền lực" của
họ hiện ra rõ ràng. 14.- KẾT LUẬN
Những sắc lệnh của Giáo Hội được ban hành
trong thế kỷ 15 và những hành động của Giáo Hội trong gần hai ngàn năm
qua như đã trình bày rõ ràng trong các Chương 4, 5, 6, 6, 8, 9 và 10 cho chúng
ta thấy rằng Giáo Hội La Mã có dã tâm thống trị toàn cầu và nô lệ
hóa nhân loại về cả thể xác và linh hồn. Qua chính sách ngu
dân và giáo dục nhồi sọ, chúng ta thấy
Giáo Hội đã biến tín đồ thành những người bị điều kiện hóa, chỉ
biết tuyệt đối vâng lời và triệt để tuân hành những lệnh truyền
các đấng bề trên (các vị chức sắc trong Giáo Hội) để chứng tỏ
"lòng tuyệt đối trung thành của đối
với Tòa Thánh Vatican.” Tình trạng này đã khiến cho họ thành
những người "bất bình thường"
gần như mất hết nhân tính bẩm sinh, coi thường tình yêu lứa đôi trai
gái, coi thường tình yêu vợ chồng và tình yêu gia đình, và biến thành hạng người vong bản, phản quê hương
phản dân tộc, nếu có hòan cảnh hay cơ hội, họ sẵn sàng hủy diệt tất
cả những gì thuộc về các tôn giáo và văn hóa khác. Vì cái bản chất này: NẾU nắm được chính quyền,
họ sẽ chính thức làm lễ hiến dâng đất nước cho Giáo Hội La Mã. NẾU có quyền
lực trong tay, họ sẽ tàn sát những
thành phần bất khuất hay chống đối những việc làm bất chính của họ
và thẳng tay phá nát cả hạnh phúc gia đình của nạn nhân, không cần biết
đến nhân quyền hay luật pháp quốc gia. Những việc làm của chính quyền
đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm và tất cả sự kiện được trình bày
trong sách Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt
Nam Cộng Hòa Foundation ( NẾU được vũ trang thành những đạo quân thập tự,
khi hành quân tấn công vào các làng lương, họ trở thành những người
say máu lao vào làm những công việc đốt nhà, đốt chùa, phá đình, phá
miếu, tàn phá mùa màng, giết người cướp của, hãm hiếp đàn bà con
gái và làm những việc hết sức dã man như
đã trình bày ở trong sách Nói Chuyện
Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa
Foundation. Hơn bất kỳ dân tộc nào khác, dân tộc Việt Nam đã kinh qua những hành động dã man như vậy của các đạo quân thập tự người Việt trong thời kỳ 1858-1896 (Liên Quân Pháp - Vatican đánh chiếm và bình định nước ta), trong thời Kháng Chiến 1945-1954, ở miền Nam Việt Nam trong thời kỳ chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm (1954-1963) và chế độ quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu). [i] Nguyễn Mạnh Quang, Thực Chất Của Giáo Hội La Mã - Quyển Một (Tacoma, WA: TXB, 1999), tr 184-188 [ii] Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr 129-130 [iii] Trần Chung Ngọc, Công Giáo Chính Sử (Garden Grove, CA: Giao Điem, 1999), tr. 203 [iv] Charlie Nguyễn, Sđ d., tr. 169, [v] Trần Chung Ngọc. “Tản Mạn Về Ngày Lễ Tạ Ơn.” www.giaodiem.com tháng 11 năm 2001. [vi] Hoàng Trọng Miên, Đệ Nhất Phu Nhân - Tập I (Los Alamitos, CA: Việt Nam, 1989), tr 79-80. |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com