905-gd.gif (2472 bytes)

posted: 12.9.2005

   Bài 6:

12. TÍN ĐỒ KITÔ NGƯỜI VIỆT VƯỢT CẢ
GIÁO HỘI VỀ CUNG CÁCH HÀNH XỬ NÀY

Vì theo đuổi chủ nghĩa bá quyền thống trị toàn cầu và nô lê hóa nhân loại theo đúng tinh thần thánh lệnh Romanus Pontifex ban hành vào ngày 8 tháng 1 năm 1454 (như đã trình bày đầy đủ ở Chương 4), Giáo Hội La Mã cần phải sử dụng những tay tổ điệp viên chuyên nghiệp mang danh nghĩa là các nhà truyền giáo đến các vùng mục tiêu bị chiếu cố để tìm cách  tiếp xúc và móc nối những phường hạ lưu đê tiện, những quân đầu trộm đuôi cướp, những hạng  người sinh vô gia cư tử vô địa táng, những tên tội đồ xã hội và những thành phần bất mãn với chính quyền đương thời  để mua chuộc và dụ khị họ vào đạo bằng những lời hứa hẹn bảo đảm với họ nếu vào đạo thì  họ sẽ được Giao Hội bảo vệ, nếu là tội đồ thì sẽ được bao che khỏi bị chính quyền tóm cổ,    cuộc đời của họ sẽ được cải thiện tốt đẹp hơn. Khi đã dụ khị được một số dân bản địa  theo đạo, bọn gián điệp giả danh giáo sĩ này liền  quy tụ họ  sống riêng một nơi gọi  xóm đạo hay làng đạo và tổ chức những thanh niên, tráng niên thành những đạo quân thứ 5 nằm tiềm phục chờ khi  Giáo Hội vận động được một cường quốc liên kết với Giáo Hội xuất quân tiến vào tấn công thì nổi lên tiếp ứng. Trong khi chờ đợi, những đạo quân thứ 5 này có nhiệm vụ đi  thâu thập các tin tức tình báo chiến lược cho chúng để chúng  gửi  về Tòa Thánh Vatican. Tòa thánh Vatican sẽ sử dụng những tin tức tình báo này làm "vốn liếng" cho người mang đi đến một đế quốc thực dân thân thiện với Giáo Hội uốn lưỡi Tô Tần thuyết phục chính quyền của đế quốc này liên kết với Giáo Hội và xuất quân đánh chiếm vùng mục tiêu làm thuộc địa để cùng thống trị và cùng chia nhau khai thác. Đây là trường hợp của Đông Dương, của Châu Mỹ La -tinh, của Phi Luật Tân, của Croatia, của   Rwanda, và nhiều nơi khác ở trên thế giới.

Sự kiện này vừa chứng tỏ những việc làm của Giáo Hội là bất chính, bất nhân, bất nghĩa, đại gian và đại ác vừa chứng tỏ rằng tín đồ Da-tô  bản địa tại các thuộc địa của bất kỳ đế quốc nào liên minh với Giáo Hội cũng đều là những phường vong bản phản quốc và những quân vô lại. Tín đồ đồ Da-tô người Việt cũng ở vào trường hợp này. Lịch sử đã khẳng định như vậy và ai cũng biết như vậy.

Vì bản chất cuồng tín và La Mã hơn cả La Mã, tín đồ Da-tô người Việt thường bị nhân dân ta lên án là những phường vong bản phản quốc,  mang tội "rước hai con voi  Vatican và  Pháp về giầy mả tổ Việt Nam". Tình trạng này khiến cho ho luôn luôn mang mặc  cảm tự ti là “Việt gian” hay con cháu của bọn Việt gian bán nước cho cả Vatican lẫn Pháp, và bị đồng bào ta khinh rẻ.. Tới khi được  các chính quyền đạo phiệt ở miền Nam trong những năm 1954-1975 tin cẩn, ưu đãi và coi họ như những thành phần nằm trong giai cấp thống trị,  thì cái mặc cảm tự ti trên đây của họ biến thành mặc cảm tự tôn. Cái tâm lý này đã khiến cho cái bản chất hợm hĩnh tự coi là “dân Chúa” được Giáo Hội nhồi sọ giờ đây bộc phát và thể hiện ra bằng thái độ và cung cách hành xử hết sức lố bịch, trịch thượng, thô bạo và sống sượng đối với những đồng bào ta vẫn còn sống theo nếp sống cổ truyền của dân tộc hay thuộc các tôn giáo khác. Hành xử quen như vậy, dân dân họ lầm tưởng rằng họ thực sự là những người “được Chúa chọn”, có trình độ thông minh hơn những người thuộc các tôn giáo khác, và cái gì thuộc về họ và Giáo Hội La Mã cũng đều là siêu việt. Suốt trong thời kỳ 1954-1975 ở miền Nam, ỷ vào thế quyền lực của hai chính quyền đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Da-tô Nguyễn Văn Thiệu,  họ luôn luôn hành xử theo cái tâm lý cao ngạo và hợm hĩnh này. Trong thời gian này, NẾU có người nào hài tội và lên án những tội ác của Giáo Hội La Mã đã chủ trương đánh chiếm Việt Nam và đã ba lần vận động chính quyền Pháp liên kết với Giáo Hội xuất quân đanh chiệm Việt Nam làm thuộc địa để cùng thống trị và cùng khai thác, THÌ  số phận người đó sẽ giống như số phận của các ông Trình Minh Thế,  Tạ Chí Diệp, Nguyễn Bảo Toàn, Phạm Xuân Gia, Hồ Hán Sơn, Vũ Tam Anh, và số phận của  300 ngàn nạn nhân bị sát hai ở các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Qui Nhơn và Khánh Hoà trong những năm 1954-1963. Vì mang sẵn cái cái tâm lý hợm hĩnh này lâu ngày như vậy, cho nên ở hải ngoại, khi nghe thấy Giáo Hội La Mã và tín đồ Da-tô bị lên án nặng nề như người viết đã trình bày ở trên,   họ cảm thấy mất mặt quá. Tất nhiên là họ không chịu thua, và  nhất định không chiu nhìn nhận những tộ ác trời không dung đất không tha của Giáo Hội La Mã, của các chế độ đạo phiệt tay sai của Giáo Hội đối với dân tộc Việt Nam ta.  Họ quyết tâm tìm cách gỡ thể diện!

Họ đã gỡ thể diện cho Giáo Hội như thế nào?

Tội nghiệp cho họ! Vì cái sở học của họ được tiếp nhận qua chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ như đã trình bày ở trên, họ không biệt gì về lĩch sử thế giới với những bước tiến của loài người mà nhân dân Âu Châu đã phải trải quả cả một ngàn năm kéo lê kiếp sống đọa đãy dưới ách thống trị bạo tàn của  Giáo Hội La Mã cấu kết và các cường quyền chuyên chính. Họ không biết gì về những bước đường tranh đấu của loài người với hàng trăm trịệu sinh linh ngã xuống mới  thoát ra khỏi cái thòng lọng Da-tô (the Catholic loop). Họ không biết gì về lịch sử Giáo Hội La Mã với những rặng núi tội ác chống lại nhân loại trùng trùng như hàng  chục rặng núi Hy Mã Lạp Sơn. Cũng vì ảnh hưởng bới chính sách ngu dân và nhồi sọ của Giáo Hội, họ không có đủ khả năng đưa ra những bài viết hay ấn phẩm với những luận cứ có những lý lẽ thuận tai và những trích dẫn trong các sách sử đã và đang được sử dụng tại các trường trung học, đại học và thư viện ở các nước dân chủ tự do. Họ cũng không có khả năng phân biệt được sự khác nhau giữa những ý kiến và sự kiện lịch sử. Vì thế cho  nên trong những ấn phẩm của họ thường chứa đựng những ý kiến chủ quan của họ, hoặc là họ viện dẫn  những câu nói trong “thánh Kinh”, “giáo luật”, “quyết định”, “lời dạy” và đem những truyền thống của Giáo Hội để biện minh cho luận cứ của họ. Thật là khôi hài!  Sử dụng những thứ này tức là dùng những nguyên nhân gây ra tội ác là những chuyện “hoang đường”, “lừa bịp”, “phỉnh gạt”, “võ đoán”, “chuyên chế” và “phong kiến”  đã có trước của chính họ hay thế lực của họ để biện minh cho những hậu quả là những việc làm sai trái và tội ác của họ hay thế lực của họ xẩy ra về sau. Rõ ràng là cãi bựa, cãi cối, cãi hày.nếu không phải là không có đủ khả năng lý trí để phân biệt sự khác nhau giữa cái thuận lý và cái nghịch lý.

Có khi họ hội ý với nhau, đem những kinh nghiệm  về kỹ thuật tuyên truyền bịp bợm mà họ đã học được của Giáo Hội, theo gương Giáo Hội đã làm, bằng mọi giá, họ phải cãi cho thắng bằng cách "đổi trắng thay đen, có nói  thành không, không nói thành có", với những luận điệu  "cãi cố cãi chay, cãi cuội và mập mờ đánh lận con đen" để chay tội cho Giáo Hội, chạy tội cho chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm, chạy tội cho ông cha và  cho chính bản thân của họ.

Dưới đây là một vài đoạn văn trong những luận điệu “cãi cỗi, cãi chày, cãi cuội” ” của Đức Ông Nguyễn Đức Tiến để chạy tội cho Giáo Hội La Mã về việc “liên kết với đế quốc Pháp đến đánh chiếm Việt Nam.” Mấy đoạn văn này được Giáo-sư Trần Chung Ngọc trình bày và đã được đăng trong báo Giáo Điểm số 32 tháng 3 năm 1999. Xin mời quý vị theo dõi câu chuyện và “luận điệu cãi bựa” của ông tu sĩ Da-tô này:

"LTS.- Ngày Thứ Bảy 30-3-1999, Giao Điểm có liên lạc điện thoại với Giáo Sư Trần Chung Ngọc để thăm hỏi sức khỏe, nhân tiện xin phỏng vấn GS một số vấn đề thời sự. Sau đây là nội dung cuộc điện đàm giữa Giao Điểm và GS Trần Chung Ngọc...

GĐ: Trong bài phỏng vấn của báo Người Việt, Đức Ông Nguyễn Đức Tiến có những nhận định về vấn đề này khác với những nhận định của GS, không biết GS đã đọc bài phỏng vấn đó chưa?

TCN: Tôi có đọc rồi, các bạn bè của tôi ở bên Cali thường hay gửi cho tôi những bài báo thiếu trình độ, nhưng tôi cũng chẳng lấy đó làm phiền. Thế GĐ muốn Đức Ông Nguyễn Đức Tiến trả lời ra sao? Một Đức Ông trong hệ thống tổ chức quyền lực Gia Tô thì chỉ có thể trả lời như thế. Bài Phỏng Vấn của báo Người Việt (NV) rõ ràng là một hoạt cảnh dàn dựng vì mở đầu, phóng viên báo NV đã cho rằng hai bức thư ngỏ gửi Giáo Hoàng nằm trong chiến dịch gây chia rẽ tôn giáo của CS rồi. Vậy phỏng vấn làm chi cho mất công, đó chỉ là một trò hề chụp mũ dựa theo chính cái tiền đề của mình đặt ra. Đọc kỹ hai bức thư ngỏ đó, chúng ta thấy nội dung phản ảnh lòng yêu nước của một số người khá hiểu biết về lịch sử Công Giáo cũng như vai trò của tôn giáo này trong lịch sử Việt Nam cận đại. Chỗ nào gây chia rẽ tôn giáo, ông chỉ cho tôi coi? Điều này thật quá rõ ràng. Đức Ông Nguyễn Đức Tiến đã đưa ra một số điểm để phản bác, nhưng phân tích kỹ, những điểm này không có thuyết phục.

GĐ: Lời phê bình "thiếu trình độ" của GS khá nặng đấy. GS có thể biện minh cho lời phê bình đó không và những điểm nào cần phân tích, GS có thể nói rõ hơn cho độc gia Giao Điểm biết.

TCN:  "Thiếu trình độ" là nhận xét của tôi, còn ai muốn cho đó là có trình độ thì xin cứ tùy tiện. Phân tích những điểm này hơi dài, sợ tốn tiền điện thoại của Giao Điểm.

GĐ: Không sao đâu, GS cứ cho biết ý kiến.

TCN: Vậy thì được. Điểm thứ nhất, Đức Ông Nguyễn Đức Tiến cho rằng đạo Công Giáo đã được truyền bá vào Việt Nam từ năm 1533, trong khi người Pháp đánh chiếm Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1862, nghĩa là cách nhau gần ba thế kỷ, vậy bảo là đạo Công Giáo đưa Pháp vào đô hộ Việt Nam  là hoàn toàn sai lịch sử. Đây có phải là lý luận của một người có trình độ hay không? Chúng ta hãy bỏ qua về sự sai lầm về năm Pháp bắt đầu đánh vào Đà Nẵng là năm 1858, chứ không phải là năm 1862, nhưng luận điểm rõ ràng phản ảnh trình độ hiểu biết và lý luận của một Đức Ông. Thời điểm đạo Gia Tô La Mã bắt đầu truyền bá vào Việt Nam và sự kiện các Thừa Sai GiaTô xâm nhập Việt Nam, làm gián điệp sửa soạn và vận động cho việc Pháp đánh chiếm Việt Nam, với sự hỗ trợ đáng kể của những tín đồ bản địa v.v… hoàn toàn có liên hệ   với nhau. Thời điểm đạo Gia Tô bắt đầu truyền vào Việt Nam không loại bỏ những hoạt động thực dân của những thừa sai Gia Tô sau đó để tiến tới viêc Pháp đánh chiếm Việt Nam trong thế kỷ 19. …  Mặt khác, Đức Ông Nguyễn Đức Tiến cũng mù mịt về chính lịch sử của Gia Tô La Mã (Công Giáo), không biết đến những sắc lệnh thực dân, đi xâm chiếm đất đai toàn cầu để cưỡng bách mọi người phải theo đạo, của Giáo Hoàng Martin V (1449) (Đúng ra là Giáo Hoàng Eugene V (1447-1455 NMQ) và Giáo Hoàng  Alexandre VI (1493), vì các Giáo Hoàng trên quan niệm rằng trái đất là do Chúa tạo ra. Cho nên tất cả đều là của Chúa, chỉ có con cái Chúa mới có quyền sở hữu đất đai, của cải thế gian, do đó, con cái Chúa có quyền đi ăn cướp và chiếm hữu của cải đất đai của những người ngoại đạo hay của những "dân tộc mọi rợ" không biết đến Chúa. Lịch sử Công Gíao toàn cầu đã viết như vậy. Ông biết không? Tài sản của Giáo Hội trong thời Trung Cổ phần lớn là do ăn cướp được trong các cuộc Thánh Chiến và do tịch thu tài sản của những người ngoại đạo hay "lạc đạo" bị kết tội là "dị giáo" trong những Tòa  Hình Án xử Dị Giáo, v.v…

Điểm thứ nhì, Đức Ông Nguyễn Đức Tiến viện dẫn vài đoạn trong cuốn "Gương Sử Nam" xuất bản năm 1910, không nói rõ tác giả là ai, cho rằng Pháp chỉ cầu lấy sự thông thương, nhưng vua quan Việt Nam không hiểu tình thế ngoại quốc, không nên trách tại ai, vì Pháp không chiếm nước mình thì nước khác cũng chiếm mà thôi. Đây là một kiểu lý luận sặc mùi thực dân và tay sai mà chúng ta thường thấy trong những sách xuất bản trong thời đô hộ Pháp. Sau khi chế độ Pháp cáo chung ở Việt Nam, nhiều sử gia Việt Nam và ngoại quốc đã phủ bác hoàn toàn luận điệu trên, dựa trên những tài liệu chính xác mới được phanh phui ra. Những tác phẩm nghiên cứu của Cao Huy Thuần, Nguyễn Xuân Thọ, Linh-mục Trần Tam Tỉnh, giáo sư Đại Học Mark McLeod, Patrick J.N. Tuck, v.v…  đã nêu rõ sự liên hệ giữa Công Giáo và chính sách thực dân Pháp. Có vẻ như Đức Ông (Nguyễn Đức Tiến) có dị ứng với những tác phẩm nghiên cứu mới này, cho nên chỉ có thể viện dẫn một cuốn sách xuất bản từ năm 1910 trong thời Pháp đô hộ và viết theo luận điệu của các thừa sai ngoại quốc và con chiên bản địa.

Điểm thứ ba, Đức Ông Nguyễn Đức Tiến trích dẫn cũng một đoạn trong cuốn Gương Sử Nam, rằng năm 1876, trong kỳ thi cống sĩ, vua Tự Đức có ra một câu văn sách hỏi rằng: "Nước Nhật Bản theo học các nước Thái Tây mà nên được phú cường, thế thì nước ta có nên bắt chước không?" Các cống sĩ tâu rằng: "Nước Nhật Bản thuở trước vẫn là theo sự văn minh của Tàu, mà bây giờ thay đổi thói cũ theo các nước Thái Tây. Dẫu là có nên nước phú cường, về sau cũng hóa ra mọi rợ". Dựa vào câu trên, Đức Ông Nguyễn Đức Tiến lên án triều Tự Đức là phạm một lỗi to: "Đã hiểu tình thế ngoại quốc mà không theo".

Rõ ràng là đoạn văn trên ngụy tạo lịch sử nhưng không được thông minh cho lắm. Thật vậy, Thời Minh Trị Duy Tân ở bên Nhật bắt đầu từ năm 1868, khi đó Nhật mới bắt đầu gửi người đi sang Âu Mỹ học hỏi những kỹ thuật mới, cách tổ chức chính quyền, v.v  Trong thập niên 1870, Nhật chưa thể gọi là một nước phú cường mà phải đợi tới cuối thập niên 1880 , đầu thập niên 1890, sự phú cường của Nhật mới ló dạng. Làm sao mà năm 1876, vua Tự Đức lại có thể ra một câu hỏi văn sách về nền phú cường của Nhật Bản khi nền phú cường này chưa hề có? Chúng ta nên để ý, trong một bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ cũng đã viết về "kết quả canh tân" của Nhật khi Nhật mới bắt đầu canh tân, chưa biết kết quả ra sao.  Mặt khác, cuộc thi cống sĩ là thi viết hay thi vấn đáp mà các cống sĩ đều tâu rằng… Như vậy là tất cả các cống sĩ đều có cùng một câu trả lời. Vậy thì thi cái nỗi gì?  Nếu là thi viết thì các cống sĩ chép lại bài của nhau hay sao mà có cùng một câu trả lời như nhau. Vua quan triều Nguyễn đần đến độ không nhận ra điều này hay sao? Kết luận: Tác giả cuốn "Gương Sử Nam" đầu óc kém cỏi, không biết đến tình trạng thực sự của Nhật Bản vào năm 1876, ngụy tạo lịch sử một cách thiếu thông minh, và người trích dẫn những tài liệu ngụy tạo này cũng chẳng hơn gì tác giả cuốn Gương Sử Nam. "[i]

Trên đây    nói về những tín hữu Da-tô  thuộc lọai đạo gốc. Còn những người tân tòng thì sao? Vấn đề này sẽ được trình bày đầy đủ ở một phần khác. Ở đây, chúng tôi chỉ xin tóm lược như thế này:

Hơn ai hết, những tín hữu Da-tô tân tòng đều là những người sống theo triết lý “ăn theo thuở, ở theo thời” hay theo quy luật sinh tồn để tồn tại và cũng là để thỏa mãn những tham vọng hay ước muốn của họ, dù là mõi người có hòan cảnh khác nhau. Chính vì theo quy luật sinh tồn, cho nên, dù muốn dù không, họ cũng phải "lướt theo chiều gió" và thấu triệt  cái nguyên tắc "ở bầu thì tròn, ở ống thì dài."

Cũng vì  thế mà  dù cho là trong thâm tâm họ rẩt ghê tởm cái thói quen "bịa đặt", "vu khống", "ăn không nói có", "quanh co, quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, lật lọng và bịp bợm", lôn sòng, nhận vơ và cầm nhầm quyền lực, đội trên đạp dưới, vào luồn ra cúi   trong xã hội Da-tô, nhưng:

1.- Vì  muốn  cho hạnh phúc gia đình không bị phá vỡ (bị cưỡng bách theo đạo vì hôn nhân),

2.- Vì muốn được dễ dàng leo lên bước thang danh vọng (như Lâm Lễ  Trinh, Lâm Văn Phát, Hùynh Hữu Nghĩa, Nguyễn Văn Thiệu, Đặng Văn Quang, v.v.. ),

3.- Vì muốn được giúp đỡ  chút đỉnh vật chất trong cảnh khốn cùng (theo đạo lấy gạo mà ăn),

4.- Vì muốn được an toàn về chính trị, khỏi bị cảnh sát, công an mật vụ quấy nhiễu và gán cho   tội có liên hệ với  Cộng Sản  như đồng bào ở Liên Khu V trong những năm 1955-1963  [ii] ,

5.- Vì muốn được Chúa   hay Đức Mẹ  cứu cho thóat hiểm khi vượt biển hay trong lúc hiểm nghèo (theo đạo vì ngu dốt),

6.- Vì muốn cho công việc làm ăn được dễ dàng lôi cuốn khách hàng tín đồ Da-tô người Việt (như trường hợp ông bác sĩ Ng X Th. ở một thành phố lớn đứng hàng thứ nhì tại miền Tây tiểu bang Washington),

7.- Vì muốn theo thời thượng hay theo thế lực mạnh (xu thời),

họ cũng phải đóng kịch hành xử giống như là những tín đồ Da-tô “ngoan đạo” thực sự  với những ngôn tù và hành động để cho những người đồng đạo và linh mục quản nhiệm địa phương tin rằng họ là một thứ con chiên ngoan đạo thư thiệt.

Nếu không, Giáo Hội sẽ nghiền nát những điều ước muốn của họ như Giáo Hội đã làm từ ngàn xưa cho đến ngày nay. Hành xử như vậy lâu ngày, thét rồi,  những thói quen trong nếp sống Da-tô trở thành bản chất, giống y như những tín đồ đạo gốc.

Tất cả những thói quen "bịa đặt, ăn không nói có, đổi trắng thay đen, quanh co, quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, lật lọng", lộn sòng, nhận vơ, cầm nhầm quyền lực"  này đã được Giáo Hội La Mã du  nhập vào Việt Nam như là một tín lý đi kèm theo với "những lời Giáo Hội dạy" mà tất cả tín đồ Da-tô ngoan đạo đều phải tuyệt đối vâng lời. Đây là một thứ "tin mừng" để truyền dạy cho tín đồ bản đia và được coi như là một phần của "Hồng Ân Thiên Chúa" mà chỉ có những người "tin Chúa" tự nhận mình là "con cái của Chúa" hay "dân Chúa" mới được  tiếp nhận "ân sủng" quái đản  này đến mức tuyệt hảo của nó.

Vì là những con cừu (chiên) ngoan đạo được tiếp nhận ẩn sủng của Chúa (đúng ra là của Giáo Hội) cho nên họ (tín đồ Da-tô người Việt) rất bén nhậy lãnh hội được những đặc tính này từ thế kỷ thứ 16 cho đến ngày nay, và bây giờ những đặc tính này đã trở thành bản chất trong con người của họ.

Người Việt Nam ta có câu nói "ăn cắp quen tay, ngủ ngày quen mắt" và "giang sơn dễ đổi, bản chất khó chừa" . Vốn dĩ đã mang sẵn cái bản chất quái đản này từ thế kỷ 16, lại mang mặc cảm là  Việt gian do việc cấu kết với quân cướp ngọai xâm phản lại quê hương và dân tộc trong suốt thời kỳ liên minh Pháp - Vatican đánh chiếm và thống trị Việt Nam từ  năm 1858 cho đến cho đến ngày nay, cho nên cái bản chất này đã trở thành những tư tưởng nằm tiềm phục sẵn trong trí óc những tín đồ Da-tô người Việt. Theo quy luật "tư tưởng biến thành hành động", những khi phải tranh luận để chạy tội hay đánh bóng cho Giáo Hội La Mã và các chế độ đạo phiệt Da-tô tay sai của Giáo Hội, cái bản chất "bịa đặt, ăn không nói có, quanh có, quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, lật lọng, nhận vơ, lộn sòng và cầm nhầm quyền lực " trong con người họ bùng ra thành hành động. Do đó, chúng ta mới không ngạc nhiên khi thấy họ luôn luôn sử dụng  sách lược hành động này để chạy tôi và đánh bóng Giáo Hội La Mã hay chế độ đạo phiệt Gia-tô  Ngô Đình Diệm   và cá nhân ông ta với dã tâm là gỡ gạc thể diện cho cái đạo ăn cướp của họ, cho chế độ và con người   mà họ tôn thờ, và cũng là cho chính bản thân họ.

13.-  BÀN TAY KHÔNG CHE NỔI MẶT TRỜI

Khốn nỗi, "vải thưa không che nổi mắt thánh"!. Dù cho có "bịa đặt" bao nhiêu chuyện tốt đẹp đi nữa, dù cho  đã  triệt để áp dụng "sách lược vu khồng,  ăn không nói có, quay quắt, lắt léo, lươn lẹo và lật lọng" tài giỏi đến đâu đi nữa thì  Giáo Hội và tín đồ Da-tô người Việt cũng vẫn không thể biến tên tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm thành "một nhà ái quốc": hay "chí sĩ yêu nước". Lý do rất dễ hiểu: Cái tiểu sử và lý lịch của ông Ngô Đình Diệm vẫn nằm chềnh ềnh trong các sách sử được lưu trũ trong các thư viện ở trong nước cũng như ở các nước dân chủ trên thế giới. Những tài liệu này chứng minh cho mọi người thấy rằng  "ông ta xuất thân từ một gia đình có tới ba đời nối tiếp nhau làm Việt gian và chính bản thân ông ta cũng là Việt gian với những thành tích vừa bán nước cho Vatican, vừa bán nước cho Pháp, rồi lại mưu đồ bán nước  cho Nhật (không thành), sau đó lại được Tòa Thánh Vatican đưa sang Hoa Kỳ vận động chính quyền Hoa Kỳ để cầu xin  Hoa Kỳ đưa về Việt Nam cầm quyến làm tay sai bán nước cho cả Hoa Kỳ và Vatican." Độc giả có thể kỉểm chứng sự kiện  này qua những bài viết hay ấn phẩm dưới đây:

1.- Loạt bài viết có tựa đề là "Nhân Vật Chống Cộng Số 5: Ngô Đình Diệm (1901-1963) của tác giả Phạm Tưởng, đăng trên tờ Người Dân số 156 tháng 8/2003 (trang 31-35), số 157 tháng 9/2003 (tr 19-23) và tháng số 158 tháng10/2003 (trang 26-31). 

2.- Mục nói về tiểu sử của ông Ngô Đình Diệm của tác Giả Vũ Ngự Chiêu trong cuốn Việt Nam Niên Biểu Nhân Vật Chí (Houston, Texas: Văn Hóa, 1997) tr 261-315

3.- Bài viết có tựa đề là "Xin Bạn Đồng Nghiệp Thận Trọng Ngòi Bút của tác giả An Khê Nguyễn Bính Thinh, đăng trong tờ Văn Nghệ Tiền Phong số 441 cà 442 (Khoảng tháng 6 hay tháng 7 năm 1994), được cụ Lê Hữu Dản cho đăng lại trong cuốn Tài Liệu Soi Sáng Sự Thật 1996 Tập Hai (Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1996), tr 325-334.

4.- Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của cụ Đỗ Mậu (Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1994), tr.  87- 94

5.- Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1963 của Nguyễn Mạnh Quang (Houston, TX: Văn Hóa, 2000), tr 211-235

6.- Sách Vietnam: A Dragon Embattled của sử gia Joseph Buttinger (New York: Frederick A. Praeger, 1967), pp .846-851.

7.- Sách Vietnam A History của ký gỉa Stanley Karnow (New York: The Viking Press, 1983), p 217

8.- Sách Fire In The Lake của Francces Fitzgerald (New York: Vintages Books, 1972), pp 103-111

9.- Bài viết "Bài Học Chiến Tranh Việt Nam Nhìn Từ Hậu Trường Chính Trị Hoa Kỳ của tác giả Lương Minh Sơn [đăng trong tờ Người Việt số ra ngày Thứ Bẩy 9 tháng 11 năm 1996, trang B1 và đăng lại trong cuốn  Sự Thật, Đặc San Xuân Đinh Sửu 1997 của tác giả Lê Hữu Dản (Fremont, CA: TXN, 1997), tr 20-33]

Một cách khác để kiểm chứng.-  Truyền thống "ăn không nói có, bịa đặt, quanh co,  quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, lật lọng... " này đã trở thành bản chất và đã thấm nhập vào  các nhiễm thể của từng tế bào trong não bộ và xương tủy trong cơ thể của tất cả mọi người trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã và tín đồ Da-tô "ngoan đạo". Cái bản chất này của họ sẽ lộ nguyên hình vào những khi  hoặc là họ đưa ra những yêu sách đòi tự do tôn giáo, tự do truyền đạo, dân chủ hóa chính quyền Việt Nam hiện nay, hoặc là họ đưa ra những luận điệu để   bênh vực, bào chữa, chạy tội cho Giáo  Hội La Mã  hay chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm. Muốn cho cái bản chất ghê tởm này của họ hiện ra, chúng ta chỉ cần nêu lên bất kỳ một trong những đề tài dưới đây để cho họ trả lời hay tranh luận, khi đó, chúng ta  sẽ thấy cái bản chất ghê tởm này hiện lên trên lên nét mặt, trong cặp mắt hay trong cung cách ăn nói và ngôn ngữ mà họ sử dụng. Dưới đây là những đề tài nên được nêu ra:

1- Việc Giáo Hội phát động các cuộc Chiến Thập Tự (Crusades) trong thời Trung Cổ khởi đầu vào năm 1095 trong thời Giáo Hòang Urban II (1088-1099) kéo dài gần hai thế kỷ, sát hại cả mấy chục triệu sinh linh ở Trung Đông và ở miền Nam nước Pháp. Theo Giáo-sư Trần Chung Ngọc, con số nạn nhân bị tàn sát là 20 triệu, không kể các nạn nhân bị thương và tài sản bị tàn phá.[iii] .  

2- Việc thiết lập các Tòa Án Dị Giáo (Inquisitions) vào năm 1184 trong thời Giáo Hoàng Lucius III (1161-1185) để truy lùng, tra tấn, bắt giam và xử thiêu những thành phần bị tình nghi không tuyệt đối tin tưởng vào những tín lý thần học Ki-tô,  khủng bố và sát hại những người có tác phẩm hay phát minh khoa học không phù hợp với tín lý thần học Ki-tô và những người thuộc các tín ngưỡng khác sống dưới ách thống trị của Giáo Hội hay các chính quyền đạo phiệt  Da-tô tay sai của Giáo Hội ở Âu Châu, ở các thuộc địa của hai đế quốc Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha tại Châu Mỹ La Tinh, tại Phi Luật Tân và tại Phi Châu.Ở Pháp, các toà án quái đản này ngưng hoạt động từ khi Cách Mạng Pháp 1789 bùng nổ, nhưng vẫn còn tác oai tác quái ở Tây Ban Nha và ở các thuộc địa của đế quốc này cho đến năm 1821. Theo sách Smokescrens, trong thời gian này, riêng tại Tây Ban Nha  và tại các thuộc địa của Tây Ban Nha, con số nạn nhân lên đến 68 triệu (như đã nói ở trên),, chưa ở  các nước khác ở lục địa Âu Châu và các thuộc địa của Đế Quốc Bồ Đào Nha ở Bat Tây (Nam Mỹ), ở Phi Câu và các nơi khác..

3.- Việc Giáo Hội ban hành các (nhiều)  thánh lệnh trong thế kỷ 15, trao đặc quyền cho tín đồ Da-tô lãnh Dạo các cường quốc Âu Châu đem quân lính đi chinh phục các quốc gia ở ngòai lục địa Âu Châu làm thưôc địa, chiếm đọat đất đai, ăn cướp tài nguyên và cưỡng bách các dân tộc nạn nhân phải theo đạo và làm nô lệ cho Giáo Hội. Theo ông Charlie Nguyễn, vì ảnh hưởng của các thánh lện trên đây của Giáo Hội, con số nạn nhân người Phi Châu bị bắt đi đem đến Mỹ Châu làm nô lệ cho Giáo Hội và cho tín đồ Da-tô người da trắng là 60 triệu, chưa kể những người bị chết trên đường di chuyền trên các hải lộ từ Phi Châu đến Mỹ Châu[iv],  và theo Giáo-sư Trần Chung Ngọc, con sô người da đỏ ở Bắc Mỹ bị hủy diệt là 14 triệu 750 người.[v]

4.- Việc Giáo Hội  cấu kết với các đế quốc thực dân xâm lược Âu Châu đến Việt Nam, Trung Hoa và nhiều quốc gia khác ở Á Châu  rồi dựa vào các thế lực này để đòi được tự do truyền đạo, trong khi tại Âu Châu, Giáo Hội không những không chấp nhận cho các tôn giáo khác được tồn tại, mà con  truy lùng, bắt giam, tra tấn và xử tử các thành phần không phải là tín đồ  của Giáo Hội. Theo các tài liệu cón số người Việt Nam chết trong các hai cuộc chiến từ năm 1945-1954 và 1954-1975 vào khoảng trên 5 triệu, chưa kể con số những người bị thương tật trong  hai cuộc chiến này, chưa kể con số những người trong các lực lượng nghĩa quan kháng chiến của nhân dân ta bị liên quân Pháp Vatican và lính đạo Việt Nam sát hại trong suốt thời kỳ từ năm 1862 cho đến đầu thập niên 1930, chưa kể hai triệu người Việt Nam chết thảm thương trong nạn đói vào mùa Xuân năm Ât Dậu 1954 do chính quyền bảo hộ Pháp-Vatican chủ trương gây nên:. Chủ trương dã man này được ông Hoàng Trọng Miên ghi nhận như sau:

Giữa thời kỳ ấy, để phòng dân miền Bắc nổi loạn, Pháp tung đám tay sai đi khắp nơi vơ vét hhết thóc gạo tải về tập trung ở các kho dự trũ riêng, lấy cớ là để tiếp tế cho quân đội Nhật Bản. Hết ép buộc mua rẻ của dân que, Pháp lại vãi tiền ra mua thóc, ngô bằng một giá cao để thu cho kỳ sạch ngũ cốc hiếm hoi của miền Bắc, gạo Nam Kỳ thì không được đưa ra Bắc, lấy cớ là phi cơ Đồng Minh ngày đêm không ngưng bắn phá tầu bè, ghe thuyền, còn đường xe lửa  xuyên Đông Dương thì Pháp dành cho Nhật chuyên chở quân sự.

Lúa thừa ở miền Nam, chứa đầy kho Pháp đem đfốt thay than củi cơ các nhà máy điện. Dân quê ở Bắc khởi sự chế đói từ cuối năm 1944. Mùa lúa tháng nmười bị thất bát. Người có tiền ở thôn quê cũng đành nhịn ăn vì thóc gạo dã bị láy di sạch. Tại thành phố mỗi khẩu phần người Việt đều phải ăn gạo “bông” (phiếu) ở trong tay chính quyền Pháp phân phát rất hạn chế…”[vi]

5.- Vai trò  và hành động của Giáo Hội La Mã và tín đồ Da-tô người Việt trong suốt thời kỳ  Liên Minh  Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp -Vatican  đánh chiếm và thống trị Việt Nam từ năm 1858 cho đến 1945.

6.- Vai trò  và hành động của Giáo Hội La Mã và một số khá nhiều tín đồ Da-tô người Việt  trong những năm kháng 1945-1954 chiến của dân tộc  Việt Nam

7.- Vai trò  và hành động của Giáo Hội La Mã và  một số  khá nhiều tín đồ Da-tô người Việt trong hai chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975.

8.- Khối lượng tài sản khổng lồ của Giáo Hội La Mã tại Việt Nam mà Giáo Hội đã dựa vào chính quyền bảo hộ  Pháp – Vatican ăn cướp của dân tộc Việt Nam trong những năm từ 1862 cho đến năm 1939. Khối tài sản này đã được Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi rõ ràng nơi các trang 48-49 trong cuốn Thập Giá Và Lưỡi Gươm (Paris: Sudestasie, 1978) và  nơi tiểu mục “Câu Chuyện Thứ Chín” trong Thư Ngỏ  đề ngày 15/3/1995 gửi Giáo Hoàng John Paul II của tác giả Vũ Trọng Minh in trong cuốn Đối Thoại với Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ II (Garden Grove, CA: Giáo Điểm, 1995) nơi các trang 227-248.,

9.-  Vai trò của Giáo Hội La Mã trong việc đưa ông Ngô Đình Diệm sang Mỹ, giao cho Hồng Y Francis Spellman lo việc vận động với những nhân vật quyền thế trên sân khấu chính trị Hoa Kỳ để đưa ông Diệm về Việt Nam cầm quyền.

10.-Vấn đề kỳ thị và đàn áp Phật Giáo của chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm (1954-1963).

11.- Những tội ác của anh em ông Ngô Đình Diệm và đảng Cần Lao Công Giáo với những bản án đã được Tòa Án  của chính quyền miền Nam trong thời Thủ Tướng Nguyễn Khánh tuyên xử, trong đó có những tội đồ vốn là những người có  quyền thế  trong chế độ đạo phiệt Ngô Đình Diệm. Những người đó là Ngô Đình Cẩn, Phan Quang Đông, Đặng Sĩ, v.v....

12.- Vấn đề tham nhũng có hệ thống trong cả hai chế độ đạo phiệt Da-tô  Ngô Đình Diệm và quân phiệt Da-tô Nguyễn Văn Thiệu ở miền Nam  Việt Nam trong những năm 1954-1975.

13.- Vấn đề cưỡng bách những người thuộc các tôn giáo khác phải theo đạo Da-tô khi họ muốn làm lễ thành hôn với con em  của tín đồ Gia-tô.

14.- Vấn đề loạn dâm của các ông tu sĩ Da-tô  khởi đầu được phơi bày ra trước ánh sáng công luận ở  Boston (MA), Hoa Kỳ vào đầu năm 2002 rồi bùng lên và lan rộng ra toàn quốc, đặc biệt là Giáo Khu Boston đã bằng lòng bồi thường cho hơn 500 nạn  nhân một số tiền là 85 triệu Mỹ Kim để bịt miệng.[vii].  .

15.- Các vụ (1)  mưu đồ phá thối buổi ra mắt sách Đối Thọai Với Giáo Hòang John Paul II  do nhóm Giáo Điểm tổ chức ở  Wersminster, California vào ngày 19/8/1995, (2) mưu đồ phá thối buổi hội thảo văn hóa của anh em văn nghệ sĩ người Việt ở Bắc Mỹ do Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu và người viết tổ chức tại Seattle, Washington vào ngày 20/12/1997, và (3) vụ tổ chữc biểu tình bao vây Chùa Đức Viên ở San Jose trong nhiều ngày vào tháng 5 năm 1998 để  khủng bố và nhục mạ Đại Lão Hòa Thượng Thich Trí Dũng bằng những ngôn từ vô cùng hạ cấp với lý do cho rằng Ngài là  cán bộ Cộng Sản thì chính quyền Việt Nam mới cấp thông hành cho Ngài sang thăm viếng Hoa Kỳ. Trong khi đó, cũng vào thời điểm này, Tổng Giám Mục Phạm Minh Mẫn (bây giờ đã được Tòa Thánh La Mã thăng lên  tước Hồng Y), Linh-mục Hồ Bắc Xái và nhiều linh mục khác cũng từ Việt Nam  sang Hoa Kỳ thăm viếng thì giáo dân Gia-tô ở Bắc Mỹ  lại đón tiếp nồng hậu và góp tiền hậu hĩ để ủng hộ họ  đem về Việt Nam. 

16.- Việc Giáo Hội La Mã đã xin lỗi chính quyền Trung Hoa vào năm 2000 về việc các nhà truyền Giáo của Giáo Hội quấy phá xã hội  Trung Hoa  từ thời Hoàng Đế Khang Hi (1662-1722) cho đến những năm đầu thế kỷ 20; ấy thế mà Giáo Hội vẫn chưa chịu nhận lỗi và xin lỗi chính quyền và nhân dân Việt Nam về những rặng núi tội ác mà Giáo Hội đã  gieo rắc cho dân tộc ta từ giữa thập niên 1780 cho đến ngày 30/4/1975

17.- Việc Giáo Hội và bọn tín đồ cuồng nô vô tổ quốc người Việt Nam luôn luôn bô bô đòi dân chủ hóa Việt Nam  trong khi chính bản thân của Giáo Hội tức là quốc gia Vatican  từ ngàn xưa vẫn theo chế độ "quân chủ tăng lữ  chuyên chế  phong kiến.

Đúng là "cái đà ở trước mắt của mình mà mình không nhìn thấy, mà lại nhìn thấy một hạt bụi ở trong mắt người ta." Thực ra, mục đích của việc ồn ào yêu sách "đòi dân chủ hóa cho Việt Nam" của  họ là  nếu có diễn tiến dân chủ thì trong thời gian "quá độ", Giáo Hội có thể nhẩy vào  "thừa nước đục thả câu" giống như Giáo Hội đã làm trong các hồi thế kỷ 17, 18 và 19.

18.-. Vấn để bản thân ông Ngô Đình Diệm xuất thân từ một gia đình có tới ba đời nối tiếp nối nhau làm Việt gian bán nước cho cả Vatican và Pháp và chính bản thân ông ta cũng là tên đại Việt gian hết bán nước cho Vatican và Pháp, mưu toan bán nước cho Nhật,  sau đó lại bán nước cho Hoa Kỳ rồi lại định giở trò tháu cáy Hoa Kỳ trong canh bạc bắt tay với Ha Nội.

19.- Vấn đề về cái chết của tên tội nhân thiên cổ Ngô Đình Diệm.

Người viết chỉ kể ra có 19 vấn đề trên đây. Nếu muốn nói  cho cùng thì nhiều lắm! . Quý vị thử nêu ra một hay vài ba đề tài trên đây để thảo luận với những tín đồ Da-tô (còn trung thành với Giáo Hội La Mã hay thuộc loại ngoan đạo) có khả năng viết lách (đã từng có những ấn phẩm  hay đã tốt nghiệp đại học ở Việt Nam trước năm 1975) để cho họ tranh luận  rồi quý vị  vừa lắng tai nghe vừa  nhìn thẳng vào mặt và mắt họ để theo dõi  xem tâm tư và miệng lưỡi của họ. Khi dó, quý vị sẽ nhìn thấy cái bản chất "bịa đặt, ăn không nói có,  bốc lửa bỏ bàn tay, quanh co, quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, lật lọng, lộn xòng, nhận vơ, mập mời đánh lận con đen, cầm nhầm quyền lực"  của họ hiện ra rõ ràng.

14.- KẾT LUẬN

Những sắc lệnh của Giáo Hội được ban hành trong thế kỷ 15 và những hành động của Giáo Hội trong gần hai ngàn năm qua như đã trình bày rõ ràng trong các Chương 4, 5, 6, 6, 8, 9 và 10 cho chúng ta thấy rằng Giáo Hội La Mã có dã tâm thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân loại về cả thể xác và linh hồn.

Qua chính sách  ngu dân và giáo dục  nhồi sọ, chúng ta thấy Giáo Hội đã biến tín đồ thành những người bị điều kiện hóa, chỉ biết tuyệt đối vâng lời và triệt để tuân hành những lệnh truyền các đấng bề trên (các vị chức sắc trong Giáo Hội) để chứng tỏ "lòng tuyệt đối trung thành của đối với Tòa Thánh Vatican.” Tình trạng này đã khiến cho  họ  thành những người "bất bình thường" gần như mất hết nhân tính bẩm sinh, coi thường tình yêu lứa đôi trai gái, coi thường tình yêu vợ chồng và tình yêu gia đình, và biến  thành hạng người vong bản, phản quê hương phản dân tộc, nếu có hòan cảnh hay cơ hội, họ sẵn sàng hủy diệt tất cả những gì thuộc về các tôn giáo và văn hóa khác. Vì cái bản chất  này:

NẾU nắm được chính quyền, họ sẽ chính thức làm lễ hiến dâng đất nước cho Giáo Hội La Mã.

NẾU có  quyền lực trong tay, họ sẽ tàn sát  những thành phần bất khuất hay chống đối những việc làm bất chính của họ và thẳng tay phá nát cả hạnh phúc gia đình của nạn nhân, không cần biết đến nhân quyền hay luật pháp quốc gia. Những việc làm của chính quyền đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm và tất cả sự kiện được trình bày trong sách Nói Chuyện Với  Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation (Houston, TX:  Đa Nguyên, 2004) là bằng chứng nói lên sự  thật này.

NẾU được vũ trang thành những đạo quân thập tự, khi hành quân tấn công vào các làng lương, họ trở thành những người say máu lao vào làm những công việc đốt nhà, đốt chùa, phá đình, phá miếu, tàn phá mùa màng, giết người cướp của, hãm hiếp đàn bà con gái và làm những việc hết sức dã man  như đã trình bày ở  trong sách Nói Chuyện Với  Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation.

Hơn bất kỳ dân tộc nào khác, dân tộc Việt Nam đã kinh qua những hành động dã man như vậy của các đạo quân thập tự người Việt trong  thời kỳ 1858-1896 (Liên Quân Pháp - Vatican đánh chiếm và bình định nước ta), trong thời Kháng Chiến 1945-1954, ở miền Nam Việt Nam trong thời kỳ   chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm (1954-1963) và chế độ quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu).


[i] Nguyễn Mạnh Quang, Thực Chất Của Giáo Hội La Mã - Quyển Một (Tacoma, WA: TXB, 1999), tr 184-188

[ii]  Trần Tam Tỉnh, Sđd.,  tr 129-130

[iii] Trần Chung Ngọc, Công Giáo Chính Sử  (Garden Grove, CA: Giao Điem, 1999), tr. 203

[iv] Charlie Nguyễn, Sđ d., tr. 169,

[v] Trần Chung Ngọc. “Tản Mạn Về Ngày Lễ Tạ Ơn.” www.giaodiem.com tháng 11 năm 2001.

[vi] Hoàng Trọng Miên, Đệ Nhất Phu Nhân - Tập I  (Los Alamitos, CA: Việt Nam, 1989), tr 79-80. 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com