posted: 20.9.2005
Lá Thư Không Niêm Kính Gửi Quí Vị Lãnh Đạo Nước
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Hoa Kỳ Ngày …,
Tháng 10 năm 2005 Đồng Kính Gửi Quí Ông:
- Chủ Tịch nhà nước Trần Đức Lương
- Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An
- Thủ Tướng Phan Văn Khải
- Tổng Bí Thư Nông Đữc Mạnh Thưa Quý Ông, Được biết chính phủ Việt Nam và giáo triều
Vatican đang có những cố gắng để tiến tới thiết lập bang giao, chúng
tôi trân trọng gửi lên quý ông lãnh đạo chính quyền bức tâm thư này với
lòng chân thành và thiết tha xin chính phủ Việt Nam cương quyết giữ vững
lập trường KHÔNG đặt quan hệ ngọai giao với Tòa Thánh Vatican. Dưới đây là những lý do LÝ DO: Thứ nhất,
Vatican vẫn còn theo chế độ giáo hoàng (papacy), một chế độ lỗi thời,
cực kỳ phản động và hết sức phong kiến với tham vọng bá quyền đòi
hòi tất cả các chính quyền trên thế giới phải tuân phục giáo hoàng cũng
như Giáo Hội La Mã và dùng đủ mọi thủ đoạn cùng trăm phương ngàn kế để đạt được tham vọng bất chính
này. Sự kiện này đã được sách sử ghi rõ ràng như sau: “Khi đặt cái mũ
ba tầng được đặt lên đầu vị tân giáo hoàng, vị hồng y điều khiển
buổi lễ tấn phong đọc lời tuyên bố dưới đây: Tiếp nhận cái vương
miện ba tầng này có nghĩa là Ngài biết rằng Ngài là Cha của các vua
chúa, là Chúa tể của thế giới và là người đại diện của Chúa Jesus
Cứu Thế…” (Sách: Da-tô Niên Giám Quốc Gia) Sách Giáo Lý Vấn
Đáp của Địa Phận “Giáo hoàng giữ
vai trò đại diện của Chúa Jesus Ki-tô ở trên trái đất. Do cái thần quyền
này, giáo hoàng có đầy đủ quyền lực tối cao về tín ngưỡng và đạo
đức bao trùm lên tất cả các linh mục và tất cả tín đồ Da-tô. Ông thực
sự là người đại diện của Chúa Ki-tô, là vị lãnh đạo của Giáo Hội,
là cha, là thày của tất cả tín đồ Da-tô và là cha của tất cả mọi
người. Ông là nhà lãnh đạo không lầm lẫn, là người có quyền đặt
ra các tín điều, có quyền triệu tập
các hội đồng giáo sĩ và có quyền phán xét trong các hội đồng này;
ông cũng là vị chúa tể của toàn cầu, là trọng tài trên thế giới, là
vị phán quan tối cao ở cả thiên đường và ở nơi dương thế, ông có
quyền phán xét tất cả mọi người và không ai có quyền phán xét ông.
Ông chính là Chúa ở trên trái đất này.” Trong sắc lệnh
“The Như vậy, Giáo Hội
La Mã tự cho rằng giáo hoàng là đại diện của Chúa Ki-tô, là chúa tể
ở thế gian này, quyền hành của ông ta không phải chỉ giới hạn trong
Giáo Hội La Mã mà còn bao trùm
lên trên tất cả các vua chúa, tổng thống, các nhà cầm quyền thế tục,
và tất cả các dân tộc trong tất cả các quốc gia ở trên thế giới. Sự
thật đã xẩy ra là các giáo hoàng đã hành xử quyền lực này ở trong
các quốc gia mà quyền lực của Giáo Hội đủ mạnh. Các giáo hoàng đã từng
rút phép thông công, truất phế các vua chúa và các thống đốc (phó vương)
như trường hợp Nữ Hoàng Elizabeth I (1558-1603) của nước Anh và trường hợp
Hoàng Đế Henry IV (1056-1106) của nước
Đức, các giáo hoàng cũng đã từng mưu đồ xúi giục nhân dân nổi loạn
chống lại các chính quyền không triệt để tuân hành lệnh truyền của
Vatican bằng cách tuyên bố rằng tín
đồ Da-tô không có nghĩa vụ phải trung thành với các chính quyền này. Tuy nhiên, ở Hoa Kỳ, các giáo hoàng không thể hành xử như vậy
được vì rằng Giáo Hội không có quyền hành ở nước Mỹ và vì Hiến
Pháp Hoa Kỳ được coi như là tấm khiên chống lại mọi sự can thiệp từ
bên ngoài. Cho đến ngày nay,
giáo hoàng vẫn còn sử dụng danh nghĩa “nhân danh Chúa” để đòi hỏi
tất cả các dân tộc trên thế giới phải
tuân phục ông ta. Nhiều khi sự tuân phục này diễn ra dưới một hình thức
đặc biệt hết sức đê tiện, ngay cả các hồng y là những chức sắc
cao cấp chỉ thua giáo hoàng có một bậc mà cũng phải quỳ gối phủ phục
gục mặt xuống trước chỗ ông ta ngồi để
hôn bàn chân của ông ta! Cho đến ngày nay, các giáo hoàng cũng
vẫn còn xưng là đại diện Thượng Đế và khăng khăng đòi mọi người
phải gọi ông ta là “Đức Thánh Cha”, chứ không đuợc gọi tên ông ta.” (“ When the triple crown is placed on the head of a new pope
at his “coronation” ceremony the ritual prescribes the following declaration by the
officiating cardinal: “Receive the tiara adorned with three crowns, and know what
thou art the Father of Pricnces and Kings, Ruler of the World, the Vicar of our Saviour
Jesus Christ….” (National Catholic Almanac). The New York Catechism says: “The pope takes the place of Jesus Christ on earth… By
divine right the pope has supreme and full power in faith and morals over each and every
pastor and his flock. He is the true Vicar of Christ, the head of the entire church, the
father and teacher of all Christians. He is the infallible ruler, the founder of dogmas,
the author of and the judge of councils; the universal
ruler, the arbiter of the world, the supreme judge of heaven and earth, the
judge of all, being judged by no one, God himself on earth.” And pope Leo XIII (1878-1903), in his encyclical, The Reunion
of Christendom (1885), declared that the pope holds “upon this earth the place of God
Almighty.” Thus the Roman Church holds that the pope, as the vicar of
Christ on earth, is the ruler of the world, supreme not only over the Roman Church itself
but over all kings, presidents, and civil rulers, indeed over all peoples and nations. The
fact is that on numerous occasions the popes have exercised that authority in countries
where the Roman Church was strong. They have excommunicated
and deposed kings and governors and, as in the cases of Queen Elizabeth I of
The pope thus demands a submission from his people, and indeed
from all people in so far as he is able to make effective, which is due only God.
Sometimes that submission takes a particularly servile form, with even the cardinals, the
next highest ranking officials in the Roman Church, prostrating themselves before him and
kissing his feet! The popes have gone so far in assuming the place of God that they even
insist on being call His name. E.g. “the Holy Father,”, His Holiness, etc…”) [1] Thứ hai,
do tham vọng bá quyền và bản chất cực kỳ phong kiến trên đây, trong gần
hai ngàn năm qua,Tòa Thánh Vatican đã liên tục gây cho nhân dân thế giới
và đặc biệt là dân tộc ta không biết bao nhiêu đau thương khốn khổ: 1.- Chính Toà Thánh Vatican đã chủ trương đánh chiếm
Việt Nam theo tinh thần Sắc Chỉ Romanus Pontifex được ban hành vào
ngày 8 tháng 1 năm 1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1452) và nhiều
sắc chỉ khác như Sắc Chỉ Inter caetera được ban hành vào năm
1456 trong thời Giáo Hoàng Callistus (1455-1458), sắc chỉ sắc chỉ
Aeterni Regis được ban hành vào năm 1482 trong thời Giáo Hoàng
Sixtus IV (1471-1484), Sắc Chỉ Inter caetera được ban hành vào ngày
3/5/1493, Sắc Chỉ Eximiae devotionis được ban hành vào ngày 3/5/1493
(cùng ngày với sắc chỉ trên) và Sắc Chỉ Dudum siquidem được ban hành
vào những ngày 23-26/5/1493. 2.-
Chính Toà Thánh Vatican đã ba lần cho người đến thủ đô Paris thuyết phục
chính quyền Pháp liên kết với Vatican và xuân quân đánh chiếm Việt Nam
làm thuộc địa để cùng thống trị, cùng khai thác, cùng áp bức và cùng
bóc lột nhân dân Việt Nam ta. A.- Lần thứ nhất, Vatican sai Linh-mục Alexandre de
Rhodes đến kinh thành B.- Lần thứ hai, Vatican chủ mưu trong việc đưa Giám-mục
Pigneau de Béhain (Bá Đa Lộc) dẫn Hoàng Tử Cảnh lúc đó mới có 5 tuổi
đi Paris vào năm 1787 để uốn lưỡi Tô
Tần thuyết phục chính quyền Pháp viện trợ quân sự cho Nguyễn Ánh đánh
bại nhà Tây Sơn với dã tâm NẾU thành công, Giáo hội sẽ lần lần lấn
chiếm tiếm đoạt quyền lực chính trị, rồi thiết lập chế độ đạo
phiệt Da-tô tại Việt Nam qua chính quyền của Nguyễn Ánh. Lần này, dù rằng
Pháp đã bằng lòng liên kết với Vatican và đã ký với Giám-mục Bá Đa Lộc
Thỏa Hiệp Versailles theo đó thì Pháp sẽ viện trợ quân sự cho Nguyễn
Anh để đánh bại nhà Tây Sơn. Nhưng ngay sau đó, chính quyền của Vua
Louis XVI bị Cách Mạng Pháp 1789 đạp đổ; tân chính quyền Cách Mạng hủy
bỏ mọi thỏa hiệp bất chính và bất công do chế độ cũ đã ký kết,
trong đó có Thỏa Hiệp Versailles. Tuy nhiên, không vì thế mà Vaticani bỏ cuộc,
trái lại, Giáo Hội và Giám-mục Pigneau de Béhaine vãn không nản chí, vẫn tiếp tục cố gắng
tìm cách thuyết phục những thế lực tư bản Da-tô viện trợ quân sự
cho Nguyễn Ánh như sách sử đã ghi nhận.
C.- Lần thứ ba, Vatican sai phái một tập đoàn hùng
hậu gồm các giáo sĩ như Linh-mục Huc, Linh-mục Legrand de Liraye, Giám-mục
Pellerin và Hồng Y Bonnechose chia phiên nhau vừa đều trình lên chính phủ
Pháp các bản văn trần thuyết nêu lên những lợi điểm nếu đánh chiếm
Việt Nam làm thuộc địa, vừa thậm thụt thuyết phục Hoàng Hậu Eugénie
để rỉ tai với Hoàng Đế Napoléon III, vừa trực tiếp thuyết phục Pháp
Hoàng Napoléon III, vừa công khai và chính thức trực tiếp thuyết phục triều
đình Pháp phải nên liên kết với Vatican xuất quân đánh chiếm Vỉệt
Nam làm thuộc địa để cùng thống trị, cùng khai thác và cùng hưởng lợi
nhuận. Lần này Tiếp theo đó: 3.- Chính A.- Thành lập nhừng màng lưới tình báo thâu thập
tin tức cung cấp cho các điệp viên của Vatican và Liên Quân Pháp – B.- Thiết lập các đạo quân thập tự bản địa sẵn
sàng nổi dậy tiếp ứng cho Liên Quân Pháp-Vatican trong các chiến dịch tấn
chiếm Việt C.- Cung ứng nhân sự cho liên quân Pháp-Vatican làm
các công việc thông ngôn, đưa đường dẫn lối, chỉ điểm trong các chiến
dịch truy càn lùng bắt các nhà ái quốc Việt D.- Cung ứng nhân sự trong bộ máy đàn áp nhân dân
ta. 3.- Trong thời Kháng Chiến 1945–1954, chính Toà
Thánh Vatican đã cấu kết với chính quyền thực dân Pháp De Gaulle đưa viên
cựu linh mục Thierry d'Argenlieu lên giữ chức Cao Ủy Đông Dương kể từ
ngày 17/8/1945. 4.- Trong thời gian nắm giữ chức vụ Cao Ủy Đông
Dương (17/8/1945 – 15/3/1947), chính viên cựu linh-mục này đã thi hành
chính sách "chia để trị" do Chủ đích của chính sách này là xé nước ta ra làm nhiểu nước nhỏ theo
biên giới đia lý: thành lập nước Cộng Hòa Nam Kỳ, theo biên giới sắc tộc: thành lập
các nước nước Tây Nguyên, nước Thái (Lao Kay và Sơn La), và theo biên
giới tôn giáo: tách rời giáo phận Phát Diệm và Bùi Chu thành hai giáo
khu tự trị để chuẩn bị biến hai giáo khu này thành hai tiểu quốc đạo
Kitô, giống như sau này Vatican cũng làm như vậy ở Đông Timor vào những năm
1999 -2001. 5.- Rồi cũng chính Kể từ đó, bộ máy tuyên truyền của Vatican tại
Việt Nam mở những chiến dịch tô hồng chuốt lục cho cái gọi là “chính nghĩa quốc gia” dưới quyền
lãnh đạo tối cao của Quốc Trưởng Bảo Đại và được những "những người quốc gia yêu nước chân
chính" mang quốc tịch Vatican và mang quốc tịch Pháp khét tiếng
như các nhân vật Nguyễn Văn Xuân, Trần
Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, Phan Văn Giáo, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Thục,
Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi, v.v… triệt để ủng hộ và tích cực tham
gia. Cũng từ đó, tất cả những người Việt làm tay sai bán nước cho
Vatican, cho Pháp và cho Hoa Kỳ đều được mang nhãn hiệu là "những người quốc gia yêu nước chân
chính" và nhẩy lên bàn độc vừa làm đầy tớ cho Pháp, vừa
bán nước cho đế quốc Vatican, vừa bán nước cho Mỹ để được phép
múa may quay cuồng trên sân khấu chính trị ở trong các vùng bị tạm chiếm
cho đến tháng 7 năm 1954 và tiếp tục diễn tấn tuồng này ở miền Nam Việt
Nam cho đến ngày 30/4/1975. 6.- Từ năm 1950, chiến trường Đông Dương càng
ngày càng trở nên khốc liệt, Liên Quân Pháp – Vatican dần dần rơi vào
thế bị động, không chống đỡ nổi những đợt tấn công phá tan hệ thống
đồn bót phòng thủ vùng đồng bằng sông Hồng do Đại Tướng Jean de
Lattre de Tassigny dựng nên. Thấy rằng trong tình huống này, sớm muộn gì
thì Pháp cũng rơi vào tình trạng “ốc
không mang nổi mình ốc”, tháng 8/1950, một mặt, Vatican ra lệnh cho
chính quyền bù nhìn Bảo Đại ban hành dụ số 10 vào ngày 6/8/1950 với chủ
tâm tẩu tán khối bất động sản khổng lồ do các giáo sĩ người Âu đứng
tên bằng cách sang tên cho các tu sĩ Da-tô người Việt đứng tên để phòng
hờ NẾU quân đội Pháp bị đại bại và phải rút lui khỏi Việt Nam, và
NẾU chính quyền kháng chiến ra lệnh quốc hữu hoá tất cả tài sản của
người ngoại quốc, THÌ khối bất động sản đó (của Giáo Hội La Mã)
trên pháp lý không còn là của người ngoại quốc nữa, và sẽ không bị
chi phối bởi luật quốc hữu hóa những khối bất động sản do người
ngoại quốc đứng tên làm chủ. Khối tài sản khổng lồ này là một phần
trong những khối tài sản mà Vatican đã dựa vào chính quyền bảo hộ
Pháp Vatican để cướp đọat của nhân dân ta từ năm 1862 bằng trăm
phương ngàn kế và đã được Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi lại rõ ràng nơi
các trang 48-49 trong cuốn Thập Gia Và Lưỡi
Gươm (Paris, Sudestasie, 1978). Mặt khác,
Vatican cho người dẫn ông Ngô Đình Diệm, một tín đồ Da-tô cuông tín, sang Mỹ trao cho Hồng Y Francis Spellman lo việc
vận động chính quyền Hoa Kỳ đưa ông này về Việt Nam cầm quyền làm
tay sai cho Vatican. 7.- Tháng 7/1954, Liên Quân Pháp-Vatican bị thảm bại
tại Điển Biên Phủ. Pháp mới nghiêm
chỉnh thương thuyết với phái đoàn của chính phủ Kháng Chiến Việt Nam
ở Hội Nghị Genève 1954, phải công nhận nền độc lập của Việt Nam để
được an toàn cuốn gói ra đi, và chuyển nhượng cho Hoa Kỳ tùy nghi sử dụng nhóm Việt
gian mang quốc tịch Vatican đã từng kề vai sát với Pháp và Vatican trong suốt
thời kỳ 1858 đến 1954. Vì đã chuẩn bị từ mấy năm trước, cho nên ngay
khi Hội Nghị Genève 1954 sắp kết thúc, thì Ngô Đình Diệm cũng được
Hoa Kỳ và Vatican đưa về Việt Nam cầm quyền với chủ tâm là vi phạm Hiệp
Định Genève 1954, không cho tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước,
hầu có thể duy trì Việt Nam mãi mãi ở trong tình trạng bị chia đôi để
Vatican có thể củng cố quyền lực ở miền Nam. 8.- Sau ngày 30/4/1975, Hoa Kỳ cuốn gói ra đi khỏi Việt
Nam, đứa con đẻ của Giải Pháp Bảo Đại là chính quyền Miên Nam được
Hoa Kỳ nuôi dưỡng từ tháng 7/1954 cũng rã đám tan hàng và bọn đầu nậu
của các chình quyền tay sai này cũng cuốn gói trốn ra ngọai quốc sống lưu
vong giống như Lê Chiêu Thống và bọn tòng vong chạy trốn sang Trung Hoa hồi
đầu năm 1789. Tuy nhiên, kể từ đó cho đến
nay, Vatican vẫn còn tiếc rẻ, không chịu buông tha Việt Thủ đọan gian manh qủy quyệt này của “Xuyên suốt chiều
dài lịch sử, Giáo Hội La Mã đã tìm cách chiếm đọat quyền lực của
nhà nước, nhưng chẳng bao giờ Giáo Hội sẵn sàng từ bỏ quyền lực của
Giáo Hội để nhường cho nhà nước. Giáo Hội luôn luôn chống lại việc
đóng thuế cho nhà nước, ngay cả tiền thuế đánh vào các tài sản thuần
túy dùng vào việc kinh doanh thương mại do chính Giáo Hội làm chủ và
chinh Giáo Hội quản lý. Việc Giáo Hội vẫn liên tục can thiệp vào các
công việc chính tri ngay cả đến việc bảo
trợ cho các đảng phái chính trị của Giáo Hội khi mà thế lực của
Giáo Hội đủ mạnh. Thường thường các đảng phái chính trị này có
danh xưng là đảng “Dân Chủ Thiên Chúa Giáo” hay một danh xưng khác tương
tự. Giáo Hội đã làm như vậy ở các nước Ý, Pháp, Đức, Hòa Lan, Bỉ,
v.v… Nhiệm vụ chính của các chính đảng này là chống đối nhà nước.
Chắc chắn là Giáo Hội cũng có kế hoạch làm như vậy ở Hoa Kỳ khi mà
thế lực của Giáo Hội đủ mạnh ở quốc gia này.” (“Throughout history the Roman Church has sought to gain power from the state, but
has never willingly relinquished power to the state. It has always resented paying taxes
to the state, even on purely commercial properties that are owned and operated by it, and
it has resented any law requiring priests to pay
income taxes. The continual meddling on the Roman Church in politics, even to the extent
of sponsoring Roman Catholic political parties where it is strong enough to do so (usually
known as the “Christian Democratic” party, or similar name, as in Italy, France,
Germany, Holland, Belgium, etc.), has caused much resentment. That, no doubt, is also its
plan for the Ghê gớm hơn nữa, Bà Jeanne d'Arc là một nữ anh hùng của dân tộc
Pháp. Vào những năm cuối thập niên 1430, chính quyền Anh liên kết với
Giáo Hội La Mã đem quân xâm lăng nước Pháp. Bà Jeane d'Arc chiêu mộ được
một số quân lính kháng chiến chống lại liên quân Anh-Vatican. Sau một thời
gian chiến đấu anh dũng, bà bị quân Anh bắt được. Người Anh đã tính
thả bà ra, nhưng Giáo Hội La Mã lại khăng khăng làm áp lực đòi phải
đưa bà ra tòa án dị giáo, vu oan cho
Bà là "con mụ phù thủy"
và "tà giáo", rồi trói
vào một cái cọc thiêu sống bà cho tới chết vào năm 1431. Nhận xét về
biệt tài vu oan giá họa của Giáo Hội La Mã trong vụ này, học giả Phan
Đình Diệm viết: “Trong 7 chương tội
mà Giáo Hội Công Giáo Roma La-tinh cáo thú, có nhiều tội danh phải kể là
“vượt tội” mang cấp số cộng hay cấp số nhân. Ví dụ: Giáo Hội phạm
tội A, muốn giấu kỹ và bưng bít tội A, Giáo Hội nhắm mắt phạm thêm
tội B để bảo vệ tính bí nhiệm của tội A. Giáo Hội bị cuốn hút
vào quy luật giây chuyền của những con bài dominos, Giáo Hội sẽ phạm
thêm tội C để bảo vệ (che giấu)) tội A và tộc B…. Thử tưởng tượng
từ ngày Giám-mục Pierre Cauchon (đồng âm với con heo) thiêu sống Bà Thánh
Jeanne d’ Arc, cho đến ngày Bà được phong thánh là hơn 400 năm, các tòa
giảng của Giáo Hội trên khắp cõi Âu Châu phải ăn gian nói dối và vu
oan giá họa cho Bà bao nhiều lần? Giết bà cũng một tay Giáo Hội, phong
thánh cho Bà cũng một tay Giáo Hội, nhưng có mấy ai được may mắn như Bà.
Hầu hết các trọng tội mà Giáo hội phạm tại các “Tòa Điều Tra Dị Giáo” là tội đẻ ra tội
theo cấp số cộng và cấp số nhân.” [3] Còn một vấn đề nữa cần phải nêu lên đây. Đó
là vấn đề Vatican vẫn chưa chính thức
xin lỗi Việt Thứ ba, yếu
tố này có thể coi như là cực kỳ quan trọng. Đó là một khi đã thiết
lập bang giao với Vatican rồi, thì Toà Thánh La Mã sẽ có tòa đại sứ ở
Hà Nội và vị đại sứ của Vatican sẽ
ngự trị ở trong tòa đại sứ này. Mối nguy hiểm là khi đó Toà Thánh La
Mã sẽ tìm đủ mọi cách để thuyết
phục các vị đại sứ của các quốc gia khác ở Hà Nội đề cử viên đại
sứ của Vatican làm trưởng đoàn đại sứ các nước ngoài ở Việt Nam. Sự
kiện này được sác Roman Catholicism nói rõ như sau: “Vị đại sứ của
Vatican tại quốc gia sở tại sẽ tìm cách vận động được chỉ định làm
trưởng đoàn ngoại giao, như vậy ông ta sẽ ở cấp bậc cao hơn các vị
đại sử của các nước khác tại đây.” (“In each counrty to which a papal ambassador is sent Như vậy, NẾU thiết lập quan hệ ngọai giao với Hơn nữa, ngoài những nguy hại như đã trình bày
ở trên, việc thiết lập quan hệ ngọai giao với Vatican sẽ hoàn toàn
không có lợi gì cho Việt Nam về các phương diện chính trị, văn hóa,
kinh tế và thương mại: Về phương chính trị, Giáo Hội La Mã không những
đã không có tiếng nói trong tổ chức Liên Hiệp Quốc mà còn để lại
ấn tượng vô cùng kinh tởm đối với nhân dân thế giơi. NẾU thiết lập
bang giáo với Về phương diện văn hóa, nền văn hóa Vatican hay văn
hóa Da-tô là một nền văn hóa vong bản, phản dân tộc, chỉ đào tạo
nên những hạng người “Thà mất nước,
chứ không thà mất chúa”, “Tuyệt đối
tin tưởng vào Tòa Thánh Vatican” và
“triệt để tuân hành lệnh truyền của
các đấng bề trên” trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã.
NẾU thiết lập bang giao với Vatican, THÌ vô hình chung, chính quyền Việt
Nam sẽ tạo cơ hội dễ dàng giúp cho cái tư tưởng vong bản phản quê hương
của những người con chiên ngoan đạo người Việt của Giáo Hội biến
thành những hành động như họ đã từng làm từ cuối thế kỷ 18 cho đến
ngày nay. Về phương diện kinh tế và thương mại, Vatican không
có một khả năng nào trong lãnh vực này để
cho Việt Trong khi loài người đã tiến đến trình độ văn
minh với những tiến bộ về khoa học và kỹ thuật được thể hiện ra bằng
những thành quả phi thường trong các
lãnh vực chính trị, khoa học, kỹ thuật, tôn trọng nhân quyền và tự do
tín ngưỡng, THÌ Vatican vẫn còn theo đuổi chủ trương “tôn giáo chỉ đạo chính quyền”, vẫn
duy trì thể chế tăng lữ quân chủ chuyến chế trung ương tập quyền toàn
trị, một chế độ chính trị cực kỳ lạc hậu với những thủ đoạn vô
cùng quỷ quyệt trong dã tâm dùng những tín lý Kitô hết sức hoang đường
đề mê hoặc và lừa bịp người đời, lợi dụng tình yêu lứa đôi đi
đến hôn nhân và dùng bạo lực nhà nước để cưỡng bách nhân
dân dưới quyền phải theo đạo, dùng chính sách ngu dân và nhồi sọ để
kìm hãm nhân dân dưới quyền mãi mãi ở trong tình trạng ngu dốt theo đúng
kế sách “dân ngu dễ trị và dễ lừa
gạt”. Nhờ vào những thủ đoạn và hành động gian manh cà dã man
này, Vatican mới có thể tiếp tục theo đuổi cái nghề buôn bán tín lý
hoang theo kiểu “cưới vợ cho Hà Bá” với những trò ảo thuật “bí tích”,
“phép lạ”, “phép mầu” và mới có thể tồn tại cho đến ngày nay. Với những việc làm tội ác trời không dung đất
không tha trong gần hai ngàn năm qua, Giáo Hội La Mã mà cơ quan đầu não là
Tòa Thánh Vatican đã trở thành tập đoàn tội nhân thiên cổ trong lịch sử
nhân loại với thành tích vi phạm nhân quyền cao nhất trong lịch sử thế
giới. Những hành động can thiệp vào nội tình Việt Nam
từ cuối thế kỷ 18 với những việc làm vận động đế quốc Pháp cùng
siêu cường Hoa Kỳ liên minh với Vatican để cùng can thiệp vào nội tình
Việt Nam và việc vận dụng tín đồ Da-tô người Việt thành những người
phản quốc chống lại đất nươc chúng ta trong mấy thế kỷ vừa qua là
những kinh nghiệm xương máu cho chúng ta thấy rằng thiết lập bang giao với
Vatican là một việc làm vô cùng nguy hiểm cho tổ quốc Việt Nam. Ôn cố tri tân. Vì thực trạng này, chúng tôi trân
trọng gửi lên chính quyền Việt Nam tập tài liệu gồm hai phần : Một phần
nói về những kinh nghiệm đau thương xương máu, mồ hôi và nước mắt
của dân tộc Việt Nam ta đối với Giáo Hội La Mã, và một phần nói
về những cuộc tranh đấu gian khổ của các quốc gia như Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Mễ Tấy Cơ, Cuba,
v.v… để thoát khỏi cái thòng lọng Da-tô, và những
nỗ lực của các quốc gia như Nhật, Trung Hoa, Hoa Kỳ và nhiều quốc gia
khác để khỏi vướng vào cái bả cứu
rỗi của Toà Thánh Vatican. Những tài liệu này do chúng tôi biên
sọan với hy vọng quý vị có thẩm quyền tham khảo và kiểm chứng rồi
theo đó có thể rút ra những bài học thực tiễn đóng góp vào nguyện vọng
chung của toàn dân, làm cơ sở cho quyết định CÓ NÊN thiết lập bang giao
với Vatican hay không, và Có NÊN cho phép Giáo Hoàng Benedict XVI đến thăm Việt Nam hay không ? Trân trọng, Nguyễn Mạnh Quang (Một Việt kiều tại Hoa Kỳ) --Chú thích các dẫn chứng trong thư: [1] Loraine Boettner, Roman Catholicism (Phillipspburg, New Jersey: The Presbyterian and Reformed Publishing Company, 1962), pp 127-128. [2]
Loraine Boettner, Ibid., p.15. [3]
Phan Đình Diệm,”Mea Culpa – Giáo Hội
Công Giáo Roma La-tinh Cáo Thú Tội Lỗi Ngàn Năm” www.kitohoc.com/Bai/Net066.html Ngày
4/5/2000. [4] Loarine
Boettner, Ibid., p. 130. |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com