905-gd.gif (2472 bytes)

posted: 20.9.2005

Lá Thư Không Niêm Kính Gửi Quí Vị Lãnh Đạo Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Hoa Kỳ Ngày …, Tháng 10 năm 2005

Đồng Kính Gửi Quí Ông:       

                                 - Chủ Tịch nhà nước Trần Đức Lương

                                 - Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An

                                 - Thủ Tướng Phan Văn Khải

                                 - Tổng Bí Thư Nông Đữc Mạnh

Thưa Quý Ông,

Được biết chính phủ Việt Nam và giáo triều Vatican đang có những cố gắng để tiến tới thiết lập bang giao, chúng tôi trân trọng gửi lên quý ông lãnh đạo chính quyền bức tâm thư này với lòng chân thành và thiết tha xin chính phủ Việt Nam cương quyết giữ vững lập trường KHÔNG đặt quan hệ ngọai giao với Tòa Thánh Vatican.

Dưới đây là những lý do LÝ DO:

Thứ nhất, Vatican vẫn còn theo chế độ giáo hoàng (papacy), một chế độ lỗi thời, cực kỳ phản động và hết sức phong kiến với tham vọng bá quyền đòi hòi tất cả các chính quyền trên thế giới phải tuân phục giáo hoàng cũng như Giáo Hội La Mã và dùng đủ mọi thủ đoạn cùng trăm phương ngàn kế  để đạt được tham vọng bất chính này. Sự kiện này đã được sách sử ghi rõ ràng như sau:

Khi đặt cái mũ ba tầng được đặt lên đầu vị tân giáo hoàng, vị hồng y điều khiển buổi lễ tấn phong đọc lời tuyên bố dưới đây:

Tiếp nhận cái vương miện ba tầng này có nghĩa là Ngài biết rằng Ngài là Cha của các vua chúa, là Chúa tể của thế giới và là người đại diện của Chúa Jesus Cứu Thế…” (Sách: Da-tô Niên Giám Quốc Gia)

 Sách Giáo Lý Vấn Đáp của Địa Phận New York viết:

“Giáo hoàng giữ vai trò đại diện của Chúa Jesus Ki-tô ở trên trái đất. Do cái thần quyền này, giáo hoàng có đầy đủ quyền lực tối cao về tín ngưỡng và đạo đức bao trùm lên tất cả các linh mục và tất cả tín đồ Da-tô. Ông thực sự là người đại diện của Chúa Ki-tô, là vị lãnh đạo của Giáo Hội, là cha, là thày của tất cả tín đồ Da-tô và là cha của tất cả mọi người. Ông là nhà lãnh đạo không lầm lẫn, là người có quyền đặt ra  các tín điều, có quyền triệu tập các hội đồng giáo sĩ và có quyền phán xét trong các hội đồng này; ông cũng là vị chúa tể của toàn cầu, là trọng tài trên thế giới, là vị phán quan tối cao ở cả thiên đường và ở nơi dương thế, ông có quyền phán xét tất cả mọi người và không ai có quyền phán xét ông. Ông chính là Chúa ở trên trái đất này.”

Trong sắc lệnh “The Reunion of Christendom”, Giáo Hoàng Leo XIII (1878-1903) tuyên bố rằng “giáo hoàng là Chúa Toàn Năng ở trên trái đất này.”

Như vậy, Giáo Hội La Mã tự cho rằng giáo hoàng là đại diện của Chúa Ki-tô, là chúa tể ở thế gian này, quyền hành của ông ta không phải chỉ giới hạn trong Giáo Hội La Mã mà còn bao   trùm lên trên tất cả các vua chúa, tổng thống, các nhà cầm quyền thế tục, và tất cả các dân tộc trong tất cả các quốc gia ở trên thế giới. Sự thật đã xẩy ra là các giáo hoàng đã hành xử quyền lực này ở trong các quốc gia mà quyền lực của Giáo Hội đủ mạnh. Các giáo hoàng đã từng rút phép thông công, truất phế các vua chúa và các thống đốc (phó vương) như trường hợp Nữ Hoàng Elizabeth I (1558-1603) của nước Anh và trường hợp Hoàng Đế Henry IV (1056-1106) của nước Đức, các giáo hoàng cũng đã từng mưu đồ xúi giục nhân dân nổi loạn chống lại các chính quyền không triệt để tuân hành lệnh truyền của Vatican  bằng cách tuyên bố rằng tín đồ Da-tô không có nghĩa vụ phải trung thành với các chính quyền này. Tuy nhiên, ở Hoa Kỳ,  các giáo hoàng không thể hành xử như vậy được vì rằng Giáo Hội không có quyền hành ở nước Mỹ và vì Hiến Pháp Hoa Kỳ được coi như là tấm khiên chống lại mọi sự can thiệp từ bên ngoài.

Cho đến ngày nay, giáo hoàng vẫn còn sử dụng danh nghĩa “nhân danh Chúa” để đòi hỏi tất cả các dân tộc trên thế giới phải tuân phục ông ta. Nhiều khi sự tuân phục này diễn ra dưới một hình thức đặc biệt hết sức đê tiện, ngay cả các hồng y là những chức sắc cao cấp chỉ thua giáo hoàng có một bậc mà cũng phải quỳ gối phủ phục gục mặt xuống trước chỗ ông ta ngồi để   hôn bàn chân của ông ta! Cho đến ngày nay, các giáo hoàng cũng vẫn còn xưng là đại diện Thượng Đế và khăng khăng đòi mọi người phải gọi ông ta là “Đức Thánh Cha”, chứ không đuợc gọi tên ông ta.”  

(“ When the triple crown is placed on the head of a new pope at his “coronation” ceremony the ritual prescribes the following declaration by the officiating cardinal:

“Receive the tiara adorned with three crowns, and know what thou art the Father of Pricnces and Kings, Ruler of the World, the Vicar of our Saviour Jesus Christ….” (National Catholic Almanac).

The New York Catechism says:

“The pope takes the place of Jesus Christ on earth… By divine right the pope has supreme and full power in faith and morals over each and every pastor and his flock. He is the true Vicar of Christ, the head of the entire church, the father and teacher of all Christians. He is the infallible ruler, the founder of dogmas, the author of and the judge of councils; the universal   ruler, the arbiter of the world, the supreme judge of heaven and earth, the judge of all, being judged by no one, God himself on earth.”

And pope Leo XIII (1878-1903), in his encyclical, The Reunion of Christendom (1885), declared that the pope holds “upon this earth the place of God Almighty.”  

Thus the Roman Church holds that the pope, as the vicar of Christ on earth, is the ruler of the world, supreme not only over the Roman Church itself but over all kings, presidents, and civil rulers, indeed over all peoples and nations. The fact is that on numerous occasions the popes have exercised that authority in countries where the Roman Church was strong. They have excommunicated   and deposed kings and governors and, as in the cases of Queen Elizabeth I of England, and Emperor Henry IV of Germany, they have attempted to arouse rebellions by releasing subjects from any alliegiances to their rulers. They have been prevented from exercising such authority in the United States because they do not control here and because our Constitution serves as a shield against such outside interference.

The pope thus demands a submission from his people, and indeed from all people in so far as he is able to make effective, which is due only God. Sometimes that submission takes a particularly servile form, with even the cardinals, the next highest ranking officials in the Roman Church, prostrating themselves before him and kissing his feet! The popes have gone so far in assuming the place of God that they even insist on being call His name. E.g. “the Holy Father,”, His Holiness, etc…”) [1] 

Thứ hai, do tham vọng bá quyền và bản chất cực kỳ phong kiến trên đây, trong gần hai ngàn năm qua,Tòa Thánh Vatican đã liên tục gây cho nhân dân thế giới và đặc biệt là dân tộc ta không biết bao nhiêu đau thương khốn khổ:

1.- Chính Toà Thánh Vatican đã chủ trương đánh chiếm Việt Nam theo tinh thần Sắc Chỉ Romanus Pontifex được ban hành vào ngày 8 tháng 1 năm 1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1452) và nhiều sắc chỉ khác như Sắc Chỉ Inter caetera được ban hành vào năm 1456 trong thời Giáo Hoàng Callistus (1455-1458), sắc chỉ sắc chỉ Aeterni Regis được ban hành vào năm 1482 trong thời Giáo Hoàng Sixtus IV (1471-1484), Sắc Chỉ Inter caetera được ban hành vào ngày 3/5/1493, Sắc Chỉ Eximiae devotionis được ban hành vào ngày 3/5/1493 (cùng ngày với sắc chỉ trên) và Sắc Chỉ Dudum siquidem được ban hành vào những ngày 23-26/5/1493.

     2.- Chính Toà Thánh Vatican đã ba lần cho người đến thủ đô Paris thuyết phục chính quyền Pháp liên kết với Vatican và xuân quân đánh chiếm Việt Nam làm thuộc địa để cùng thống trị, cùng khai thác, cùng áp bức và cùng bóc lột nhân dân Việt Nam ta.

A.- Lần thứ nhất, Vatican sai Linh-mục Alexandre de Rhodes đến kinh thành Paris vào ngày 11/9/1652 để thuyết phục triều đình Pháp trong thời Vua Louis XIV liên kết với Vatican và xuất quân đánh chiếm Việt Nam. Lần này, việc thuyết phục không thành công vì nước Pháp lúc bấy giờ đang ở trong tình trạng khủng hoảng tài chánh do các cuộc chiến với các nước Âu Châu khác để tranh giành địa vị ưu thắng tại lục địa Âu Châu và do việc xây cất điện Versailles gây nên.

B.- Lần thứ hai, Vatican chủ mưu trong việc đưa Giám-mục Pigneau de Béhain (Bá Đa Lộc) dẫn Hoàng Tử Cảnh lúc đó mới có 5 tuổi đi  Paris vào năm 1787 để uốn lưỡi Tô Tần thuyết phục chính quyền Pháp viện trợ quân sự cho Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây Sơn với dã tâm NẾU thành công, Giáo hội sẽ lần lần lấn chiếm tiếm đoạt quyền lực chính trị, rồi thiết lập chế độ đạo phiệt Da-tô tại Việt Nam qua chính quyền của Nguyễn Ánh. Lần này, dù rằng Pháp đã bằng lòng liên kết với Vatican và đã ký với Giám-mục Bá Đa Lộc Thỏa Hiệp Versailles theo đó thì Pháp sẽ viện trợ quân sự cho Nguyễn Anh để đánh bại nhà Tây Sơn. Nhưng ngay sau đó, chính quyền của Vua Louis XVI bị Cách Mạng Pháp 1789 đạp đổ; tân chính quyền Cách Mạng hủy bỏ mọi thỏa hiệp bất chính và bất công do chế độ cũ đã ký kết, trong đó có Thỏa Hiệp Versailles. Tuy nhiên, không vì thế mà Vaticani bỏ cuộc, trái lại, Giáo Hội và Giám-mục Pigneau de Béhaine vãn  không nản chí, vẫn tiếp tục cố gắng tìm cách thuyết phục những thế lực tư bản Da-tô viện trợ quân sự cho Nguyễn Ánh như sách sử đã ghi nhận.     

C.- Lần thứ ba, Vatican sai phái một tập đoàn hùng hậu gồm các giáo sĩ như Linh-mục Huc, Linh-mục Legrand de Liraye, Giám-mục Pellerin và Hồng Y Bonnechose chia phiên nhau vừa đều trình lên chính phủ Pháp các bản văn trần thuyết nêu lên những lợi điểm nếu đánh chiếm Việt Nam làm thuộc địa, vừa thậm thụt thuyết phục Hoàng Hậu Eugénie để rỉ tai với Hoàng Đế Napoléon III, vừa trực tiếp thuyết phục Pháp Hoàng Napoléon III, vừa công khai và chính thức trực tiếp thuyết phục triều đình Pháp phải nên liên kết với Vatican xuất quân đánh chiếm Vỉệt Nam làm thuộc địa để cùng thống trị, cùng khai thác và cùng hưởng lợi nhuận. Lần này Vatican đã thành công như ý muốn.

Tiếp theo đó:

3.- Chính Vatican đã huấn luyện tín đồ Da-tô người Việt để:

A.- Thành lập nhừng màng lưới tình báo thâu thập tin tức cung cấp cho các điệp viên của Vatican và Liên Quân Pháp – Vatican.

B.- Thiết lập các đạo quân thập tự bản địa sẵn sàng nổi dậy tiếp ứng cho Liên Quân Pháp-Vatican trong các chiến dịch tấn chiếm Việt Nam và trong các cuộc hành quân tiêu diệt các lực lương nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta.

C.- Cung ứng nhân sự cho liên quân Pháp-Vatican làm các công việc thông ngôn, đưa đường dẫn lối, chỉ điểm trong các chiến dịch truy càn lùng bắt các nhà ái quốc Việt Nam.

D.- Cung ứng nhân sự trong bộ máy đàn áp nhân dân ta.

3.- Trong thời Kháng Chiến 1945–1954, chính Toà Thánh Vatican đã cấu kết với chính quyền thực dân Pháp De Gaulle đưa viên cựu linh mục Thierry d'Argenlieu lên giữ chức Cao Ủy Đông Dương kể từ ngày 17/8/1945.

4.- Trong thời gian nắm giữ chức vụ Cao Ủy Đông Dương (17/8/1945 – 15/3/1947), chính viên cựu linh-mục này đã thi hành chính sách "chia để trị"  do Vatican chủ trương.

Chủ đích của chính sách này là xé nước ta ra làm nhiểu nước nhỏ theo biên giới đia lý: thành lập nước Cộng Hòa Nam Kỳ,  theo biên giới sắc tộc: thành lập các nước nước Tây Nguyên, nước Thái (Lao Kay và Sơn La), và theo biên giới tôn giáo: tách rời giáo phận Phát Diệm và Bùi Chu thành hai giáo khu tự trị để chuẩn bị biến hai giáo khu này thành hai tiểu quốc đạo Kitô, giống như sau này Vatican cũng làm như vậy ở Đông Timor vào những năm 1999 -2001.

5.- Rồi cũng chính Vatican đưa ra Giải Pháp Bảo Đại (the Bảo Đại Solution) dùng người Việt đánh người Việt, dùng tín đồ Da-tô cai trị đại khối nhân dân thuộc các tôn giáo khác. Cái bào thai Giải Pháp Bảo Đại này được hình thành vào tháng 1/1947, cho tới ngày 5/6/1947 thì khai hoa nở nhụy thành “chính quyền quốc gia" với tên “playboy” Bảo Đại được đưa lên làm quốc trưởng và  chính phủ Cộng Hoà Nam Kỳ” của tên Viêt gian Nguyễn văn Xuân được mạ kền và đánh bóng bằng danh xưng mới là "chính phủ quốc gia" Việt Nam. Đồng thời, lá cờ vàng ba sọc đỏ được sử dụng làm biểu tượng tranh đấu cho chính quyền  bù nhìn này, và  danh xưng "chính quyền quốc gia" được dùng làm bức bình phong che đậy cho cái bản chất   phản quốc làm tay sai  cho Liên Minh Pháp–Vatican của bọn Việt gian mang quốc tịch Vatican và quốc tịch Pháp.

Kể từ đó, bộ máy tuyên truyền của Vatican tại Việt Nam mở những chiến dịch tô hồng chuốt lục cho cái gọi là “chính nghĩa quốc gia” dưới quyền lãnh đạo tối cao của Quốc Trưởng Bảo Đại và được những "những người quốc gia yêu nước chân chính" mang quốc tịch Vatican và mang quốc tịch Pháp khét tiếng như các nhân vật  Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, Phan Văn Giáo, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Thục, Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi, v.v… triệt để ủng hộ và tích cực tham gia. Cũng từ đó, tất cả những người Việt làm tay sai bán nước cho Vatican, cho Pháp và cho Hoa Kỳ đều được mang nhãn hiệu là "những người quốc gia yêu nước chân chính" và nhẩy lên bàn độc vừa làm đầy tớ cho Pháp, vừa bán nước cho đế quốc Vatican, vừa bán nước cho Mỹ để được phép múa may quay cuồng trên sân khấu chính trị ở trong các vùng bị tạm chiếm cho đến tháng 7 năm 1954 và tiếp tục diễn tấn tuồng này ở miền Nam Việt Nam cho đến ngày 30/4/1975.

6.- Từ năm 1950, chiến trường Đông Dương càng ngày càng trở nên khốc liệt, Liên Quân Pháp – Vatican dần dần rơi vào thế bị động, không chống đỡ nổi những đợt tấn công phá tan hệ thống đồn bót phòng thủ vùng đồng bằng sông Hồng do Đại Tướng Jean de Lattre de Tassigny dựng nên. Thấy rằng trong tình huống này, sớm muộn gì thì Pháp cũng rơi vào tình trạng “ốc không mang nổi mình ốc”, tháng 8/1950, một mặt, Vatican ra lệnh cho chính quyền bù nhìn Bảo Đại ban hành dụ số 10 vào ngày 6/8/1950 với chủ tâm tẩu tán khối bất động sản khổng lồ do các giáo sĩ người Âu đứng tên bằng cách sang tên cho các tu sĩ Da-tô người Việt đứng tên để phòng hờ NẾU quân đội Pháp bị đại bại và phải rút lui khỏi Việt Nam, và NẾU chính quyền kháng chiến ra lệnh quốc hữu hoá tất cả tài sản của người ngoại quốc, THÌ khối bất động sản đó (của Giáo Hội La Mã) trên pháp lý không còn là của người ngoại quốc nữa, và sẽ không bị chi phối bởi luật quốc hữu hóa những khối bất động sản do người ngoại quốc đứng tên làm chủ. Khối tài sản khổng lồ này là một phần trong những khối tài sản mà Vatican đã dựa vào chính quyền bảo hộ Pháp Vatican để cướp đọat của nhân dân ta từ năm 1862 bằng trăm phương ngàn kế và đã được Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi lại rõ ràng nơi các trang 48-49 trong cuốn Thập Gia Và Lưỡi Gươm (Paris, Sudestasie, 1978).

     Mặt khác, Vatican cho người dẫn ông Ngô Đình Diệm, một tín đồ Da-tô cuông tín,  sang Mỹ trao cho Hồng Y Francis Spellman lo việc vận động chính quyền Hoa Kỳ đưa ông này về Việt Nam cầm quyền làm tay sai cho Vatican.

7.- Tháng 7/1954, Liên Quân Pháp-Vatican bị thảm bại tại Điển Biên Phủ.  Pháp mới nghiêm chỉnh thương thuyết với phái đoàn của chính phủ Kháng Chiến Việt Nam ở Hội Nghị Genève 1954, phải công nhận nền độc lập của Việt Nam để được an toàn cuốn gói ra đi, và chuyển nhượng  cho Hoa Kỳ tùy nghi sử dụng nhóm Việt gian mang quốc tịch Vatican đã từng kề vai sát với Pháp và Vatican trong suốt thời kỳ 1858 đến 1954.

Vì đã chuẩn bị từ mấy năm trước, cho nên ngay khi Hội Nghị Genève 1954 sắp kết thúc, thì Ngô Đình Diệm cũng được Hoa Kỳ và Vatican đưa về Việt Nam cầm quyền với chủ tâm là vi phạm Hiệp Định Genève 1954, không cho tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước, hầu có thể duy trì Việt Nam mãi mãi ở trong tình trạng bị chia đôi để Vatican có thể củng cố quyền lực ở miền Nam.

8.- Sau ngày 30/4/1975, Hoa Kỳ cuốn gói ra đi khỏi Việt Nam, đứa con đẻ của Giải Pháp Bảo Đại là chính quyền Miên Nam được Hoa Kỳ nuôi dưỡng từ tháng 7/1954 cũng rã đám tan hàng và bọn đầu nậu của các chình quyền tay sai này cũng cuốn gói trốn ra ngọai quốc sống lưu vong giống như Lê Chiêu Thống và bọn tòng vong chạy trốn sang Trung Hoa hồi đầu năm 1789.

Tuy nhiên, kể từ đó cho đến nay, Vatican vẫn còn tiếc rẻ, không chịu buông tha Việt Nam. Cũng vì thế mà Vatican đã liên tục vận dụng khối tín đồ người Việt, đặc biệt là những tín đồ Da-tô người Việt ở hải ngoại làm đủ mọi trò chống phá Việt Nam với dã tâm tạo cơ hội thuận lợi để vận động ngọai cường dùng sức ép  can thiệp vào nội tình Việt Nam như Vatican đã làm trong thế kỷ 19. Nếu kế hoạch này thành công, Vatican sẽ dùng bọn “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” hay “nhất Chúa, nhì cha, thứ ba Ngô Tổng Thống” để thành lập một chính đảng có danh xưng là “Đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo” và một hai chính đảng ngoại vi khác trong cái chiêu bài gọi là “dân chủ đa nguyên”. Bước kế tiếp, Vatican sẽ  dần dần lấn chiếm tiếm đoạt quyền lực ở Việt Nam theo kế sách cổ truyền mà Vatican đã sử dụng từ thế kỷ thứ 4 cho đến ngày nay (Xin xem Phần I ở sau).

Thủ đọan gian manh qủy quyệt này của Vatican đã được sử gia Loraine Boettner trình bày rõ ràng trong cuốn Roman Catholicism với nguyên văn như sau:

Xuyên suốt chiều dài lịch sử, Giáo Hội La Mã đã tìm cách chiếm đọat quyền lực của nhà nước, nhưng  chẳng bao giờ  Giáo Hội sẵn sàng từ bỏ quyền lực của Giáo Hội để nhường cho nhà nước. Giáo Hội luôn luôn chống lại việc đóng thuế cho nhà nước, ngay cả tiền thuế đánh vào các tài sản thuần túy dùng vào việc kinh doanh thương mại do chính Giáo Hội làm chủ và chinh Giáo Hội quản lý. Việc Giáo Hội vẫn liên tục can thiệp vào các công việc chính tri ngay cả đến việc  bảo trợ cho các đảng phái chính trị của Giáo Hội khi mà thế lực của Giáo Hội đủ mạnh. Thường thường các đảng phái chính trị này có danh xưng là đảng “Dân Chủ Thiên Chúa Giáo” hay một danh xưng khác tương tự. Giáo Hội đã làm như vậy ở các nước Ý, Pháp, Đức, Hòa Lan, Bỉ, v.v… Nhiệm vụ chính của các chính đảng này là chống đối nhà nước. Chắc chắn là Giáo Hội cũng có kế hoạch làm như vậy ở Hoa Kỳ khi mà thế lực của Giáo Hội đủ mạnh ở quốc gia này.”  (“Throughout history the Roman  Church has sought to gain power from the state, but has never willingly relinquished power to the state. It has always resented paying taxes to the state, even on purely commercial properties that are owned and operated by it, and it has resented any law requiring priests to  pay income taxes. The continual meddling on the Roman Church in politics, even to the extent of sponsoring Roman Catholic political parties where it is strong enough to do so (usually known as the “Christian Democratic” party, or similar name, as in Italy, France, Germany, Holland, Belgium, etc.), has caused much resentment. That, no doubt, is also its plan for the United States if and when it becomes strong enough. …” [2]

Ghê gớm hơn nữa, Vatican còn có biệt tài siêu việt về  lươn lẹo, lật lọng, đổi trắng thay đen và ăn không nói có. Chuyện Giáo Hội xử lý bà Jeanne d'Arc là một trường hợp đỉển hình trong khu rừng thành tích ghê tởm này của Giáo Hội.

Bà Jeanne d'Arc là một nữ anh hùng của dân tộc Pháp. Vào những năm cuối thập niên 1430, chính quyền Anh liên kết với Giáo Hội La Mã đem quân xâm lăng nước Pháp. Bà Jeane d'Arc chiêu mộ được một số quân lính kháng chiến chống lại liên quân Anh-Vatican. Sau một thời gian chiến đấu anh dũng, bà bị quân Anh bắt được. Người Anh đã tính thả bà ra, nhưng Giáo Hội La Mã lại khăng khăng làm áp lực đòi phải đưa bà ra tòa án dị giáo, vu oan  cho Bà là "con mụ phù thủy" và "tà giáo", rồi trói vào một cái cọc thiêu sống bà cho tới chết vào năm 1431. Nhận xét về biệt tài vu oan giá họa của Giáo Hội La Mã trong vụ này, học giả Phan Đình Diệm viết:

Trong 7 chương tội mà Giáo Hội Công Giáo Roma La-tinh cáo thú, có nhiều tội danh phải kể là “vượt tội” mang cấp số cộng hay cấp số nhân. Ví dụ: Giáo Hội phạm tội A, muốn giấu kỹ và bưng bít tội A, Giáo Hội nhắm mắt phạm thêm tội B để bảo vệ tính bí nhiệm của tội A. Giáo Hội bị cuốn hút vào quy luật giây chuyền của những con bài dominos, Giáo Hội sẽ phạm thêm tội C để bảo vệ (che giấu)) tội A và tộc B…. Thử tưởng tượng từ ngày Giám-mục Pierre Cauchon (đồng âm với con heo) thiêu sống Bà Thánh Jeanne d’ Arc, cho đến ngày Bà được phong thánh là hơn 400 năm, các tòa giảng của Giáo Hội trên khắp cõi Âu Châu phải ăn gian nói dối và vu oan giá họa cho Bà bao nhiều lần? Giết bà cũng một tay Giáo Hội, phong thánh cho Bà cũng một tay Giáo Hội, nhưng có mấy ai được may mắn như Bà. Hầu hết các trọng tội mà Giáo hội phạm tại các “Tòa  Điều Tra Dị Giáo” là tội đẻ ra tội theo cấp số cộng và cấp số nhân.”  [3] 

Còn một vấn đề nữa cần phải nêu lên đây. Đó là vấn đề  Vatican vẫn chưa chính thức xin lỗi Việt Nam để nhận lãnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cả về tinh thần lẫn vật chất cho đất nước và nhân dân ta từ giữa thế kỷ 19 cho đến ngày 30/4/1975. Trong khi đó thì Vatican đã chính thức xin lỗi Trung Hoa dù rằng tội ác của Giáo Hội chống phá Trung Hoa nếu đem so với những rặng núi tội ác của Giáo Hội chống lại Việt Nam từ cuối thế kỳ 18 (khi Giám-mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) vận động chính quyền Pháp viện trợ quân sự và tìm quân viện giúp cho Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây Sơn) cho đến ngày 30/4/1975 thì chẳng khác nào như đem một mô đất so với rặng núi Hoàng Liên Sơn.

Thứ ba, yếu tố này có thể coi như là cực kỳ quan trọng. Đó là một khi đã thiết lập bang giao với Vatican rồi, thì Toà Thánh La Mã sẽ có tòa đại sứ ở Hà Nội và  vị đại sứ của Vatican sẽ ngự trị ở trong tòa đại sứ này. Mối nguy hiểm là khi đó Toà Thánh La Mã  sẽ tìm đủ mọi cách để thuyết phục các vị đại sứ của các quốc gia khác ở Hà Nội đề cử viên đại sứ của Vatican làm trưởng đoàn đại sứ các nước ngoài ở Việt Nam. Sự kiện này được sác Roman Catholicism nói rõ như sau:

Vị đại sứ của Vatican tại quốc gia sở tại sẽ tìm cách vận động được chỉ định làm trưởng đoàn ngoại giao, như vậy ông ta sẽ ở cấp bậc cao hơn các vị đại sử của các nước khác tại đây.” (“In each counrty  to which a papal ambassador is sent Rome seeks to have her ambassador desingated as the dean of the diplomatic corps, thus giving him rank above the other ambassadors.” [4]

Như vậy, NẾU thiết lập quan hệ ngọai giao với Vatican, THÌ sẽ nguy hại vô cùng.

Hơn nữa, ngoài những nguy hại như đã trình bày ở trên, việc thiết lập quan hệ ngọai giao với Vatican sẽ hoàn toàn không có lợi gì cho Việt Nam về các phương diện chính trị, văn hóa, kinh tế và thương mại:

Về phương chính trị, Giáo Hội La Mã không những đã không có tiếng nói trong tổ chức Liên Hiệp Quốc mà còn để lại ấn tượng vô cùng kinh tởm đối với nhân dân thế giơi. NẾU thiết lập bang giáo với Vatican, THÌ Việt Nam sẽ mất thiện cảm với hàng trăm quốc gia đã từng là nạn nhân của Giáo Hội La Mã.

Về phương diện văn hóa, nền văn hóa Vatican hay văn hóa Da-tô là một nền văn hóa vong bản, phản dân tộc, chỉ đào tạo nên những hạng người “Thà mất nước, chứ không thà mất chúa”, “Tuyệt đối tin tưởng vào Tòa Thánh Vatican  và “triệt để tuân hành lệnh truyền của các đấng bề trên” trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã. NẾU thiết lập bang giao với Vatican, THÌ vô hình chung, chính quyền Việt Nam sẽ tạo cơ hội dễ dàng giúp cho cái tư tưởng vong bản phản quê hương của những người con chiên ngoan đạo người Việt của Giáo Hội biến thành những hành động như họ đã từng làm từ cuối thế kỷ 18 cho đến ngày nay.

Về phương diện kinh tế và thương mại, Vatican không có một khả năng nào trong lãnh vực này để   cho Việt Nam trao đổi cả. Trong trường hợp NẾU Vatican có viện trợ tài chánh cho Việt Nam để thực hiện một dự án nào đó, THÌ đây chỉ là một miếng mồi “thả con cá xằn xặt bắt con cá rô” mà thôi. 

Trong khi loài người đã tiến đến trình độ văn minh với những tiến bộ về khoa học và kỹ thuật được thể hiện ra bằng những thành quả  phi thường trong các lãnh vực chính trị, khoa học, kỹ thuật, tôn trọng nhân quyền và tự do tín ngưỡng, THÌ Vatican vẫn còn theo đuổi chủ trương “tôn giáo chỉ đạo chính quyền”, vẫn duy trì thể chế tăng lữ quân chủ chuyến chế trung ương tập quyền toàn trị, một chế độ chính trị cực kỳ lạc hậu với những thủ đoạn vô cùng quỷ quyệt trong dã tâm dùng những tín lý Kitô hết sức hoang đường đề mê hoặc và lừa bịp người đời, lợi dụng tình yêu lứa đôi đi đến hôn nhân  và dùng  bạo lực nhà nước để cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải theo đạo, dùng chính sách ngu dân và nhồi sọ để kìm hãm nhân dân dưới quyền mãi mãi ở trong tình trạng ngu dốt theo đúng kế sách “dân ngu dễ trị và dễ lừa gạt”. Nhờ vào những thủ đoạn và hành động gian manh cà dã man này, Vatican mới có thể tiếp tục theo đuổi cái nghề buôn bán tín lý hoang theo kiểu “cưới vợ cho Hà Bá  với những trò ảo thuật “bí tích”, “phép lạ”, “phép mầu” và mới có thể tồn tại cho đến ngày nay.

Với những việc làm tội ác trời không dung đất không tha trong gần hai ngàn năm qua, Giáo Hội La Mã mà cơ quan đầu não là Tòa Thánh Vatican đã trở thành tập đoàn tội nhân thiên cổ trong lịch sử nhân loại với thành tích vi phạm nhân quyền cao nhất trong lịch sử thế giới.

Những hành động can thiệp vào nội tình Việt Nam từ cuối thế kỷ 18 với những việc làm vận động đế quốc Pháp cùng siêu cường Hoa Kỳ liên minh với Vatican để cùng can thiệp vào nội tình Việt Nam và việc vận dụng tín đồ Da-tô người Việt thành những người phản quốc chống lại đất nươc chúng ta trong mấy thế kỷ vừa qua là những kinh nghiệm xương máu cho chúng ta thấy rằng thiết lập bang giao với Vatican là một việc làm vô cùng nguy hiểm cho tổ quốc Việt Nam.

Ôn cố tri tân. Vì thực trạng này, chúng tôi trân trọng gửi lên chính quyền Việt Nam tập tài liệu gồm hai phần : Một phần nói về những kinh nghiệm đau thương xương máu, mồ hôi và nước mắt của dân tộc Việt Nam ta đối với Giáo Hội La Mã, và một phần nói về những cuộc tranh đấu gian khổ của các quốc gia như Anh,  Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Mễ Tấy Cơ, Cuba, v.v… để thoát khỏi cái thòng lọng Da-tô, và những nỗ lực của các quốc gia như Nhật, Trung Hoa, Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác để khỏi vướng vào cái bả cứu rỗi của Toà Thánh Vatican. Những tài liệu này do chúng tôi biên sọan với hy vọng quý vị có thẩm quyền tham khảo và kiểm chứng rồi theo đó có thể rút ra những bài học thực tiễn đóng góp vào nguyện vọng chung của toàn dân, làm cơ sở cho quyết định CÓ NÊN thiết lập bang giao với Vatican hay không, và Có NÊN cho phép Giáo Hoàng Benedict XVI  đến thăm Việt Nam hay không ?

    Trân trọng,

    Nguyễn Mạnh Quang

    (Một Việt kiều tại Hoa Kỳ)

--Chú thích các dẫn chứng trong thư:


[1] Loraine Boettner, Roman Catholicism (Phillipspburg, New Jersey: The Presbyterian and Reformed Publishing Company, 1962), pp 127-128.

[2] Loraine Boettner, Ibid., p.15.

[3] Phan Đình Diệm,”Mea Culpa – Giáo Hội Công Giáo Roma La-tinh Cáo Thú Tội Lỗi Ngàn Nămwww.kitohoc.com/Bai/Net066.html Ngày 4/5/2000.

[4] Loarine Boettner, Ibid., p. 130.

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com