posted: 20.9.2005
Ngọc Thiên Hoa HOÀNG
CẦM -- MỘT CÕI ĐI VỀ -- PHÙ DU (đọc: “Gã phù du Kinh Bắc…”) Đọc
''Hoàng Cầm - gã phù du Kinh Bắc-'' của Chu Văn Sơn, người viết như có
chút ''hoài niệm'' về một kiếp người, một ''kiếp phù sinh tử táng mấy
lâm hồi'' của Nguyễn công Trứ. Ngẫm nghĩ, ngậm ngùi và ...không cưỡng
được, viết . Thời
phổ thông , bọn tôi nào có học về Hoàng Cầm và chả biết cái quái gì
về Hoàng Cầm mà biết nghĩa đắng hay ngọt ( ngoài cái việc tra tự điển
thuốc Đông-Y : Hoàng Cầm là vị thuốc đắng có tên Radixscutellariae, chỉ
dùng rễ, có tính hàn vị đắng với công dụng trừ nhiệt, thanh hỏa ) mà chỉ thuộc lòng ... ''Hòn Đất'' của
Anh Đức mà thôi. ( Có khi nhầm thượng tướng Hoàng Cầm họ Đỗ nữa
cũng nên!). Thời
đại ném số phận con người vào từng lô cốt. Tự sống. Tự diệt. Và
sự can thiệp muộn màng nhưng rất sáng suốt của thời gian đã phá tan những
lô cốt. Tôn ngộ Không chui ra từ Ngũ hành sơn sau 500 năm bị nhốt cũng có
khác gì!. Vị thuốc đắng thành vị...thi sĩ Hoàng Cầm chịu đắng cay
như cái tên và tự ''thanh nhiệt'' cho mình trong suốt cuộc đời chẳng bao
giờ ngưng giông bão. Lê Thái, Lê kỳ Anh, Bằng Phi hay Hoàng Cầm với những
tháng ngày thăng ít, trầm nhiều đã ''thai nghén'' tận ba mươi năm mới
sinh ra một ...Hoàng Cầm Phù Du mà Chu văn Sơn làm ...bà mụ trong ''Hoàng Cầm-gã
phù du Kinh Bắc''. Truyện thơ ''Men đá vàng''
của Hoàng Cầm qua Hình ảnh Phong Kiều
“lặn lội tìm chồng, ngày đêm trông đợi, rồi tuyệt vọng mà hóa đá”
na ná sự tích ''Hòn vọng phu'' và như ''nàng Phương Hoa (Truyện nôm khuyết
danh) cải tên Cảnh Yên đi thi cầu đổ đạt để minh oan cho chồng. Nó lại
giống rặt nàng Hoa mộc Lan trong ''Hoa mộc Lan'' Trung Quốc. Còn nữa, Phong
Kiều đó không phải là dư ảnh Kiều nguyệt Nga trong ''Lục vân Tiên'' của
Nguyễn đình Chiểu lặn lội tìm kiếm Lục vân Tiên hoặc phảng phất
nhân vật ''Em''! trong ''Xống chụ xôn xao'' -truyện thơ dân gian của dân tộc
Thái - bị bán như món hàng - rồi cũng đoàn tụ với người yêu sao?. Một
khái quát về truyện thơ Hoàng Cầm nói riêng ( trong truyện thơ Việt l. THI NHÂN VỚI NHỮNG
HÓA THÂN THỨ HAI : 1.
''Hoàng Cầm - Gã Phù Du Kinh Bắc -''của Từ
''Men đá vàng'' (1973) lùi mốc ''Về Kinh Bắc'' (1959) là 16 năm nhưng ngược
lại, thời gian ra đời lần thứ hai những tác phẩm của Hoàng Cầm thì
truyện thơ ''Men đá vàng'' lại ''đẻ'' trước ( 1989) tập thơ gồm 48 bài
''Về Kinh Bắc'' (1994) là 5 năm. Ngần ấy thời gian đủ để Hoàng Cầm thật
sự trở thành ''Gã phù du Kinh Bắc'' qua Tác
giả đã ''du hành'' cùng kiếp phù du để kết
luận : ''Đó là thiên mệnh của hồn thơ Hoàng Cầm''. Ta cũng bất ngờ gặp
lại ''Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu'' của Nguyễn Du khi nói về hai
chữ ''số kiếp''. Chân
dung ''Tự họa'' của Hoàng Cầm chính là ''Gã Phù Du'' mà tên, theo người
viết, lẽ ra phải được viết hoa vì ''Phù Du'' này có ''khai sinh'' đàng
hoàng chớ không là loài phù du chung chung. Hoàng Cầm đã tự vẽ :
Ta con phù du ao trời chật chội
đứng cánh bèo đo gió lặng tìm sao. Trong
nhạc có ''Kiếp ve sầu'', có ''Đời phù du'' thì sao trong thơ không thể
không có bóng dáng ''con phù du'' giữa ''ao trời chật chội''?. Nhưng ví von
như thế cũng nên biết ''phù du'' là ...con cái nhà ai ? là con chi chi ? là
cái giống gì ?. Khái
niệm ''Phù du'' chỉ là một loại côn trùng nhỏ bé, có màu xanh lợt lạt
như đọt chuối non. Chúng chuyên lao mình vào vật gì phát sáng nên thường
làm mồi cho ngọn lửa thiêu mà ta gọi nôm na là ...tự sát tập thể .
''Kiếp phù du'' ra đời từ con ''thiêu thân'' đó. Nhận
xét về gã Phù Du, tác giả ''Gã phù du Kinh Bắc'' đã viết : ''Cái gã ấy
đã khiến ta rơi vào bao nhiêu là ngộ nhận... Mà nghĩ cho cùng, loài người,
kiếp người chẳng phải đều mang chung một bản mệnh Phù du sao ?'' Sự
thông cảm cho gã Phù Du si tình kia chính vì ''Bởi trong mỗi chúng ta đều
có gã Phù Du''. Xét về phương diện nhân vật thì tính cách gã Phù Du :
''Lầm lỡ, hối hận'' cũng đều có thể xảy
ra trong mỗi chúng ta là đúng. Xét về sự ''hy sinh'' thì mỗi con người đều
có sự lựa chọn hy sinh khác loài phù du nhưng giống ở gã Phù Du trong
''Men đá vàng'' là ...những giọt nước mắt hối hận, ăn năn. Khi tác giả ''Gã
phù du Kinh Bắc'' khẳng định con người cũng mang kiếp phù du'' thì ta cũng
nghe tiếng thở dài cho ''kiếp phù sinh sớm còn, tối mất''!. Nó như một
triết lý sống của con người. Và không phải ngẫu nhiên mà những thi nhân, văn hữu khi gặp ''sự cố''
đều phản kháng lại theo bản năng : Tự chọn cho mình vài hóa thân để
ẩn mình qua bốn mùa mưa nắng hoặc để ''hóa giải lời nguyền''. 2.
Những hóa thân của thi nhân : Trong
''Giao khúc tháng sáu '', Du tử Lê đã tự ví mình là một kẻ ''gan lỳ''
mà khiêm tốn :
Tôi từ đó nhỏ nhoi như châu chấu
Như cào cào vỗ cánh chả bay xa.
... Tôi như rêu xanh ôm đá tảng
Khinh loài người nên chọn kiếp vô tri. Trong
''Mảnh trăng thề tri kỷ đã cùng soi'' Vntvnd ( chẳng rõ cao nhân này qúy
danh là gì ) cũng chọn hóa thân cho mình kiếp sống giang hồ ung dung tự tại
:
Đêm mơ thấy mình thành chim bói cá
Dạo kiếm ăn khắp kênh rạch, ao tù. Và
dễ thương sao chú dế trong ''Dế mèn phiêu lưu ký'' của Tô Hoài -hóa
thân của nhà văn -đã muốn sống cuộc sống ''vô tư'' thoải mái của loài vật . Đây,
kiếp thân ''hạn mã'' trong ''Cổ tích'' của Duyên Anh hiên ngang mà buồn thảm,
thất bại mà can trường :
Ngựa về vết chém ngang lưng
Ủ ê chiến tích, rưng rưng chiến bào . Trong
''Đêm nghe tiếng cá quẫy'', Trần mạnh Hảo cũng chọn mình một hóa thân
của một ''độc cô cầu bại'':
Đáy sông trăng rụng hay sông chật
Quẫy nát đêm rồi cá ngóng ai ? Trong
''Nhớ rừng'', Thế Lữ đã ''gầm
thét'' qua hóa thân ...chúa sơn lâm ''hổ cáp'' trong củi sắt nhớ về một
thời oai hùng, kiêu hãnh đã qua :
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi. Trong
''Đan áo cho chồng'', T.T.Kh giả nào đó đã coi mình như kiếp ''chim trong lồng''
khát khao bầu trời tự do tung cánh :
Như con chim nhốt trong lòng
Tháng ngày mong đợi ánh hồng năm nao. Trong
''Con gián và mặt trời'', Nghiêm xuân Cường xem mình như ...con gián hiên ngang đi về phía mặt trời :
Những con gián giật nẩy mình ngoài nắng
Từng bước lùi chập choạng thấy mà thương. Riêng
Hoàng Cầm, hắn mắc tội gì mà phải chọn kiếp hoá thân phù du để hóa
giải lời nguyền ném xuống ? Tiền kiếp của tác giả ''Lá diêu bông''
là con bê vàng, chào mào, chim cu, cào cào ngay cả con phù du cũng chưa giải
nổi lời nguyền ba mươi năm cầm cố. Tác giả ''Gã phù du Kinh Bắc'' đã
dừng lại chỗ ''lời nguyền''. Ta nghĩ nó giống như lời nguyền mà bà
phù thủy khốn kiếp đã trù'' nàng công chúa ngủ trong lâu đài ''trong cổ
tích. Nhưng khi người ta lâm vào thế ''bí'' khó lý giải, khó mở miệng,
khó sống còn thì đành tìm vào cổ tích, mượn chiếc đũa thần của bà
tiên, mượn nụ hôn của vị hoàng tử để ''hoá giải lời nguyền''.
Riêng Hoàng Cầm, bản mệnh đã là một vị ''thuốc đắng dã tật ''thì
may mắn nào bằng'' lấy độc trị độc ''tuyệt chiêu'' ấy . Ngay
cả Thâm Tâm, chàng nghệ sĩ này có hóa thân cao cấp hơn, ai nguyền rủa mà
cũng vội tìm hoá thân ''là chiếc lá
bay, là hạt bụi, là hơi rượu say ''trôi tan mất hút, không mang thân dế
mèn mà cũng phiêu lưu, chẳng là bói cá lặn lội kiếm ăn, đâu cần làm
võ sĩ bọ ngựa giơ càng, cong que đánh đấm cũng chả là con cá quẫy nát
càn khôn để con người oán than, đất trời trừng phạt. Và,
trôi theo ''Gã phù du Kinh Bắc'', ta cũng muốn hoá thân vào thế giới vô
tri, vô hồn : Rong rêu lỳ lợm, đá tảng hiên ngang, là cỏ khí phách
...Trong dòng hoá thân này, ta chợt nhớ ra có một gã cũng ''sắc như cỏ,
mềm như cỏ'' nhưng biết cảm nhận : ''cỏ sắc mà ấm quá phải không em
?''. Gã ''cỏ sắc'' xứ Rùa ( Qui Nhơn ) ấy hiện là ngựa đua xứ ''Lo'' (
Quảng Đời
phù du. Kiếp phù du. Một gã Phù Du Hoàng Cầm cũng nằm trong chữ nghĩa ''tằn
tiện'' cũng ''phù du'' nốt . 3. Hoá thân của Tiêu
mục của gã họ Chu kia cũng ''cụt ngủn, cụt ngơ'' như ''thân cau cụt vẫy
đuôi mèo'', như ''trăng lên chém đầu gió'' của Hoàng Cầm, vậy mà gã
dám cho rằng ''Hoàng Cầm'' chính là ''gã tằn tiện từ ngữ ''. Một bài
nghiên cứu của gã họ Trở
lại câu chữ mà tác giả ''Gã phù du Kinh Bắc'' đã chọn. Đập vào mắt
người đọc như cận cảnh đoạn phim là từ : ''Liếm'' trong ''tự liếm
lành vết nội thương''. Ta trở ngược lại tập thơ ''Về Kinh Bắc'' đã
được những gã trọng tài ''yêu thời cuộc'' hơn ''yêu nghề'' thổi còi ''thưởng '' ...thẻ
đỏ suốt ba mươi lăm năm mà cùng Chu văn Sơn xem xét vết thương cho gã
Hoàng Cầm dù hắn chẳng mượn .
a. Về Kinh Bắc : Nơi lặng lẽ đi -về nhức nhối : ''Về
Kinh Bắc'' của Hoàng Cầm được giới phê bình, nghiên cứu đánh giá :
"đó là tập thơ quan trọng trong sự nghiệp sáng tạo của Hoàng Cầm''.
Lưu khánh Thơ đã nhận xét về Hoàng Cầm : ''Là con đẻ của vùng quê
Kinh Bắc đồng thời ông cũng là một trong những nhà thơ tiêu biểu của
đất Kinh Bắc. Ở những bài thành công, thơ Hoàng Cầm thường đi vào
cõi tiềm thức, vô thức. Nó diễn tả bằng ngôn ngữ thơ mông lung, khác
lạ và giàu tính biểu cảm.'' Vì
sao Hoàng Cầm lại chọn Kinh Bắc để ''Đi -Về'' trong yêu thương, trong lặng
lẽ của cõi ''vô thức ''?. Kinh Bắc
là quê hương của tác giả ''Bên kia sông Đuống'' lệch nghiêng với những
niềm riêng một đời khó giải. Vũ quần Phương viết : ''Kinh Bắc, cái
nôi xưa của khu văn hoá sông Hồng với núi Thiên Thai, chùa Bút Tháp, chợ
Hồ, chợ Sủi, Đông Tĩnh, Huê Cầu, tranh Đông Hồ in trên giấy điệp...
Một hoài niệm đau buồn '. Bây giờ, ta có thể hình dung ra vì sao Hoàng Cầm
viết ''Tiếng hát quan họ'' Bắc Ninh quê nhà năm 1956 rành rọt đến thế
và thơ Hoàng Cầm đậm đà lễ hội Kinh Bắc như Hội Liêm mà tầm vóc của
nó đã được đưa vào di sản văn hoá Việt Tác giả ''Gã phù
du Kinh Bắc'' cho rằng gã Phù Du về Kinh Bắc vì muốn chữa lành chứng ''nội
thương'' mà ''chính vết thương cần cứu chữa ấy đã mách bảo ông về
rịt lại bằng nước nguồn quê mẹ''. Hình ảnh con phù du ''đo gió, tìm
sao, đạp lùi tinh tú'' oai dũng mất tăm, mất tích để thành con phù du
Hoàng Cầm đầy thương tích như vết chém ngang thân ngựa Duyên Anh. ''Vết nội thương'' ấy, Vậy, ta cũng nên
bổ sung thêm vào đây vết thương lòng : Một cho người tào khang cũng là
ân nhân. Một cho vụ tai nạn văn đàn. Nếu độc giả nào chưa từng đọc
lịch sử văn học Việt Nam thì qua bài ''Gã phu du Kinh Bắc'' sẽ hiểu phần
nào về vụ ''Nhân văn -Giai phẩm'', còn người từng hiểu biết văn học
sẽ dừng lại ở ''Nhân văn -Giai phẩm'', ''Xuân thu nhã tập'', ''thơ Trường
loạn'' ... suy ngẫm vì những cái tên bất hủ đó đã tạo ra ''hội chứng
xét lại'' gây chứng ''nội thương'' trầm trọng cho văn nghệ sĩ giai đoạn
giữa thế kỷ 20. Vậy mà con Phù Du kia cũng không chịu lao vào lửa. Xem
ra, nó ương ngạnh và thèm sống biết chừng nào !. Kiếp
thiêu thân mà chẳng chịu để thân thiêu. Hèn chi tác giả ''Gã phù du Kinh
Bắc'' không bỏ lỡ cơ hội ''tóm'' lấy nó đặt vào mục ''Một liêu trai
trầm cảm''. Đứng trên phương diện
này, gã ''tằn tiện từ ngữ'' cho rằng gã Phù Du đã trúng ''hai vết thương
tâm. Một vết thương tình ái, một vết thương tình đời ''với'' cái
tôi trúng thương -Người tình hờ hững và thế giới là một Kinh Bắc chấn
thương''. Ngữ nghĩa rõ ràng như thế ai nói làm gì, tự nhiên gã Tấm kia
chọn ra từ ''liếm'' trong ''liếm lành vết nội thương'' nghe ra ...bất ổn.
Biết rằng ''cu Tấm'' Chu văn Sơn cố lựa từ nhưng thử nghĩ dùng ''tự
vá lành'' hoặc ''chữa lành'' vết thương '' thay vì ''vết nội thương'' (
Nội thương thì làm gì thấy vết ) nghe ''êm ả'' hơn . Bởi thế, không gọi
gã là ''kẻ tằn tiện'' từ ngữ thì còn gọi ai vào . Người viết nghĩ rằng
: Gã Phù Du kia ''lỳ đòn'' như thế thì nên để cho gã bỏ mặc ''vết thương
lòng'' cho thời gian chạy chữa để quên ''Cái đau băm nát lời thơ máu
trào'' ( Tinh anh thể phách -Hoàng Cầm ). Đó cũng là một cách ''hờn lẫy''
tình đời một thời rẻ rúng kẻ tài hoa. ''Về Kinh Bắc'' để trị vết thương ung mủ
. ''Về Kinh Bắc'' để nghe lại lời ru quan họ ngọt hờn . ''Về Kinh Bắc''
để được thấy lại hội Liêm tưng bừng cay đắng . ''Về kinh Bắc'' để
nhìn dòng sông có chuồn chuồn khiêng nắng oan khốc sang sông . ''Về Kinh Bắc''
để gió rót lời cùng mẹ quê hương thầm thì ''lầm rầm'' trong ''Luân hồi'':
Con đấy ư -con đã về Kinh Bắc
Những cỏ Bồng Thi với dế đầu si
Những lá Diêu Bông với đôi xe hồng
Luân lựu thụ thai qua chín đời đằng đẵng . Kinh
Bắc ngày đi là những đêm ''Tam cúc'' . Kinh Bắc ngày về là những ''Lá
diêu bông''. Kinh Bắc ''đi -về'' mang uẩn khúc nào nguôi . Một tiếng lòng
của gã Phù Du nghe sao thê thiết quá !.
b. Tiếng lòng của ''Gã phù du Kinh Bắc'' : Thơ
là chỗ cất giữ hồn người . Thơ Hoàng Cầm tất nhiên mang ''bí mật'' hồn
Hoàng Cầm . Tác giả không bộc bạch nhưng hoá thân đã tự giải trình . Người đọc được quyền
chọn cách hiểu. Có ai biết hết lý lịch chữ ''Tình'' trích ngang của
Hoàng Cầm đã làm con tim Hoàng Cầm đau thương nhưng khiến cu Cầm kia ''cắn nhọn móng tay'' trở thành thi sĩ
Hoàng Cầm ''vùng chặt xích bẻ gông . Phá cửa. Cướp ngựa hình tham tri .
Phóng lên ải Bắc tưởng ngon lắm nhưng lại phải ...''né mũi kiếm vô
hình xốc tới'' và ''tình nhỏ làm sao quên'' đã bật ra lời thơ máu trào
''Về Kinh Bắc ''. Thâm Tâm ngoài đời thật sự có ''yêu sâu, đau nặng''
chỉ một người con gái tên Kh. Hoàng Cầm ...đào hoa hơn nên có vô số
cái tên ''Chị Vinh, Nghĩa, Bắc, Phương Tuyết, Tuyết Khanh, Minh Xuân, Hồng
Yến''. Trong những giai nhân này, ai là người ''hoá đá'' vì ''gã Phù
Du''?. Hoàng Cầm có lẽ đã ghi dấu cuộc tình thời niên thiếu của mình
vào ''Lá diêu Bông'', vào ''Cây Tam Cúc'' . Tác giả ''Gã phù du Kinh Bắc'' tằn
tiện từ ngữ Chu văn Sơn đã nhanh tay, lẹ mắt ''dòm ngó'' vào mối tình
''nhí'' từ thưở mười hai này , còn coi nó như ''trái tim non ôm những mối
tình quá cỡ''. Bi kịch rồi còn gì !. Nhưng
gã tằn tiện từ ngữ đã không chịu buông từ ''thông cảm'' cho lý lẽ của
Tình Yêu . Gã cũng làm như quên khuấy đi câu bất hủ biện minh cho tình
yêu: ''Tình yêu không có biên giới'' thì làm gì có tuổi tác, giai cấp ở
trong. ''Vết thương'' của Hoàng Cầm là sự đổ vỡ ''mối tình non nớt'' theo gã tằn tiện và hắn cho
vào nó thêm những hình ảnh thê thiết : ''Như cây lúa nghẹn dòng, cây chuối
nghẹn buồng''. Ví von hay đến buốt người vì dòng nghẹn này sẽ trào ra
những giọt nước mắt nghẹn ngào !. Sau
ba mươi năm bị cầm cố ( tên Cầm xui sẻo thật ), con phù du được thả
ra, lảo đảo, chới với trước khi bay lên . Nó rùng mình biến thành chim
cu ''về gù rặng tre'' ...gáy bù những ba mươi năm treo bút. Ta hãy nghe
...ông ngoại Hoàng Cầm 83 tuổi tâm sự : ''Điều đó chứng tỏ rằng từ
sau khi đổi mới, có lẽ sức viết mình bị dồn nén lại trong ba mươi
năm, cho nên đến lúc này nó lại bật ra, giống như cái lò xo, nó bật
lên thì tất nhiên nó bật mạnh''. ( Hoàng Cầm -Thụy Khê thực hiện trên
đài RFI 2004). Thế nhưng , tiếng con chim cu gáy giữa trời tự do sao vẫn
''nghẹn'' giữa quê nhà ? Theo Chu văn
Sơn là vì ''vết thương lòng'' mà người viết thêm vào vì luyến tiếc ba
mươi năm xuân hoài , xuân phí ( Ba mươi năm này là từ 1958-1988, tác giả
bị ''treo bút'' . Ta cần phân biệt với ba mươi lăm năm là từ 1959-1994,
''Về Kinh Bắc'' mới được phép in) . Tác giả ''gã phù du ...'' phát hiện
ra ''Về Kinh Bắc'' toàn những tiếng nghẹn : ''Không phải ngẫu nhiên, rải
rác dọc đường về Kinh Bắc lại nhiều nấc nghẹn đến thế''. Thật
ra, ''Về Kinh Bắc'' còn ''nghẹn'' đến ba mươi lăm năm sau ( 1959-1994) thì
cả dòng tộc ''Hoàng gia'' văn học Việt Nam mới chịu nhìn nhận ''đứa
con qúy tộc ngoài giá thú'' này . ''Thế đấy, vết thương tâm trong gã
phù du ngây dại kia không chịu lành sẹo . Cứ rỉ máu suốt đời thi
sĩ." Lê anh Dũng trong bài ''Cảm thơ Hoàng Cầm'' nên đã ''rỉ máu''
cùng tác giả :
Máu rỉ
đọng từng vũng bên sông !
Màu da, chủ nghĩa đời khô khốc... Với Chu văn
Sơn vết thương thứ nhất của con phù du là vết thương ''tình non'' mà người
viết đã bổ sung vào một vết thương ''tình nợ''. Vết thương thứ hai là
''cú Nhân văn -Giai phẩm'' ( tình đời và tình người ) không thêm bớt gì
nữa cả vì tất cả sự việc trái
ngang, oan khúc đã được Hoàng Cầm đưa vào sáng tác ( thơ, truyện, kịch)
dù trực tiếp hay gián tiếp cũng đã phát ra đầy đủ một tiếng lòng
trong ''Vô đề'' -Bài thơ mới nhất của Hoàng Cầm -:
Người với người cắn nhau đau tội nghiệp
Tình với tình biền biệt những lìa xa . Kết
thúc những mối tình nghiệt ngã chỉ còn là hư không là ảo mộng là phù
du trong ''Hai ngã'' :
Anh đi về phía
không em
...
Anh đi sắp đến vô cùng.
c. Ai là tội nhân thiên cổ : Thời
đại, con người và tác phẩm không thể tách rời. Cho nên, khi Chu văn Sơn
viết ''Hoàng Cầm -gã phù du Kinh Bắc'' thì thời đại của Chu dẫu có ''mở
cửa'' thật nhưng cách nhìn nhận sự việc hay đánh giá kết luận một vấn
đề, một thi phẩm, một tác phẩm, một con người đều phải nằm trên một
trục sẵn có . Có nhìn nhận gì, thấy rõ điều gì người ta cũng ''né'',
cũng ''tránh''. Ví dụ, nói Hoàng Cầm -gã phù du -bị nội thương vì ''cú Nhân văn -Giai phẩm'' nhưng lại
''né'' đi kẻ gây tiền án . Ghép tội ai đây ngoài việc chỉ đích danh những
''thiên lôi'' : Nguyễn đình Thi, Mạnh phú Tư, Xuân Diệu hay cao hơn là Tố
Hữu hoặc với hơn 800 vương tước từ các vương triều : Mỹ thuật, nhạc
sĩ, nhà văn ( vào ngày 3/7/1958 biểu quyết kỷ luật cho bằng được những
kẻ đòi quyền tự do trên văn đàn )? . ''Cha chung con không biết'' thì ''lắm
sãi lại đóng bớt cửa chùa'' cũng chả ai hay . Người viết bài
này chắc chắn rằng : Trong đội ngũ giảng dạy văn học mọi cấp, không
ít những người chưa hiểu nổi cái gì là ''Cú Nhân văn -Giai phẩm'', thậm
chí họ còn viết ''Nhân văn giai phẩm'' là một ngữ, thế thôi. Đấy mới
chính là ''vết thương tri thức'' . Vết thương này không giới hạn ba mươi
năm như Hoàng Cầm mà còn từ thế hệ này sang thế hệ khác vì họ đã
không được hiểu đầy đủ và hiểu đúng . Tuy chả mang thân phù du như
Hoàng Cầm mà Đỗ mạnh Tuấn, Quốc Việt, Hoàng giang Hoa, Trần mạnh Hảo,
Thụy Khê ...cùng nhau lao vào đám lửa chưa bao giờ tắt nổi : ''Nhân văn
-Giai phẩm'' để cứu người hay thiêu người còn ''hãy đợi đấy''. Sau
vết thương lòng làm cho : ''Máu ...trộn vào nhau, rỉ đến đâu bầm hoen
đến đấy'', gã phù du Hoàng Cầm trở thành ... ''gã phù thủy u uất '',
theo tác giả họ Chu lẫn vào một thế giới khác : Thế giới Kinh Bắc với
''Ngũ hành : Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ '' , với ''Ngụ vị thi '', ''Tứ tượng
thi '' - đã chấn thương chìm vào ''cõi ảo sinh '' để cho quên những tội
nhân thiên cổ.
d. Tiếng cười bật ra không cưỡng được : ''Cõi
ảo sinh'' là cõi mà tác giả họ Chu đã để
gã Phù Du ''gọi hồn về quá khứ thăng đồng'' với những khói
hương nghi nhút trang nghiêm thế mà người viết
bài này đã không nín được phải ...bật cười thành tiếng
''ha hả'' thật đến ... ''mất nết''. Bởi vì gã tằn tiện từ ngữ nhu
mì kia đưa vào đoạn cái từ ''lầm rầm'' : ''Khắp tập thơ, cứ nghe thấy
lầm rầm đến là nhiều tiếng
khấn khứa nguyện thầm ...''. Có thể nói, gã tằn tiện từ ngữ Sự
so sánh về cõi ''siêu sinh'' giữa Hoàng Cầm và Hàn mặc Tử được tác giả đặt ra : ''cùng giống và cùng khác'' vì :
''Thơ Hàn mặc Tử là thơ cầu nguyện (khá gần với tín ngưỡng Kitô
giáo ), còn thơ Hoàng Cầm là thơ khấn nguyện ( rất gần với tín ngưỡng
dân gian và Phật giáo ) ? Có nhẽ thế, mà không phải ai cũng chịu nổi cái
âm khí nặng nề e chừng ngột thở ở đấy chăng ?". Đúng hơn, người
đọc có thể cảm nhận thơ Hoàng Cầm đi mây về gió nhưng ít ...rờn rợn
như thơ Hàn. Hàn mặc Tử theo đạo Kitô, sống hết kiếp bất hạnh ở
Quy Hoà -thánh đường của kẻ phế nhân - nên có tiếng Kinh cầu. Kinh Bắc
là quê hương của Hoàng Cầm, của Phật giáo Việt Nam nên gã Phù Du kia
có ''lầm rầm'' khấn vái thì cũng theo nghi thức, theo truyền thống quê hương
mà thôi. Khắp tập thơ ''Về Kinh Bắc'',
ngoài từ ''lầm rầm'' khấn nguyện, ta lại nghe thêm tiếng ''rền rĩ'' mà
tác giả ''gã phù du Kinh Bắc'' dùng cho Hoàng Cầm trong nội dung ''về'' và
''đi'' để lý giải cho thế giới phù du của Hoàng Cầm xem ra khá sâu sắc. Mỗi tác giả nghĩ, tìm
tòi, viết về ''Về Kinh Bắc'', về Hoàng Cầm như Vũ quần Phương, Nguyễn
sĩ Đại, Lê mỹ Ý, Trần công Nhung, Nguyên Vũ ...đều có những điểm
khai thác nổi bật riêng và họ đã thành công. Ví dụ như Thụy Khê, ''Về
Kinh Bắc'' qua cách nhìn của chị là ''sa mạc'' : ''Sa mạc Hoàng Cầm'':
''Thơ hoàng Cầm trải dài trong sa mạc trần gian, lấy hồi khứ làm điểm
tựa. Lấy về làm khởi bút của bi kịch. Về trong không gian. Về trong thời
gian. Về lại đất xưa quê cũ. Về viếng dĩ vãng, về hỏi tuổi thơ, về
lại cuộc tình, về thăm lịch sử, về với những thời đã mất : Về
Kinh Bắc.'':
Cuối lạy mẹ con trở về Kinh Bắc
... Đê mười tám khúc Văn
Giang
Chuông Bách Môn đổ xô gò má
Mây thành thổi lửa
Nẻo Đông Triều khép mở gió kỳ lân
Chớp rạch dáng tiên vén xiêm xõa ngủ
Thoắt chìm
Gấu đẩy
đá Thiên Thai ... (Thoạt
nghe giọng thơ ngắt ngúc, người đọc khó mà ''cảm'' nhận đến chín
mùi giọng thơ gã Phù Du. Hình như gã Hoàng Cầm này chả lựa chọn từ ngữ
chi ráo, nghĩ sao viết vậy mới ảo tưởng có ai đó đọc thơ cho mình
chép. Ui da. Câu chữ khó hiểu muôn trùng. Hình ảnh, hình tượng dùng búa
xua. Nếu có thời gian, người viết nghĩ toàn bộ câu chữ Hoàng Cầm cần
...xem lại. Có ép tới, ép lui thay tên đổi họ gì thì nghệ thuật thơ của
gã phù du! Kinh Bắc cũng chỉ ngắn gọn
ở : Cấu trúc tự do. Hình ảnh nhân hoá. Ngữ nghĩa hoán dụ. Hình thức
ngụ ngôn. Câu chữ ngang ngược. Một ngày nào đó, nếu ta có duyên với
''ông ngoại'' Hoàng Cầm, ta sẽ quay lại đào sâu thêm ở lĩnh vực nghệ
thuật như thế của ông .) Trở
lại ''sa mạc Hoàng Cầm -về Kinh Bắc -'', Thụy Khê đã nhìn ra bước ''về''
của gã Phù Du nhưng chưa thấy bước ''đi''. Với Chu văn Sơn , ''Về Kinh Bắc''
qua lăng kính phù du của anh ( Sau vết thương lòng từ gia đình, anh đã kịp
nhận ra : Đời phù du ) , từ ''về'' cũng chính là từ ''đi'' theo hai nghĩa
: âm chìm, dương nổi. Cuộc đời có sinh tất có diệt, có vui ắt có buồn,
có hạnh phúc sao không có khổ đau, có chìm có nổi sao không có về mà chảng
có đi?. Tới đây, ta đụng vào ngưỡng cửa Phật giáo ''có có không
không'' thiệt đúng là thế giới của Kinh Bắc ngày xưa ấy mà gã Phù Du
Hoàng Cầm buột lòng phải câm nín mà sống :
Về Kinh Bắc phải đâu con nghẹn khóc
Con không cười
Con thoảng nhớ thoảng quên
... Về
Kinh Bắc phải đâu con hé miệng
... Về
Kinh Bắc phải đâu con nhắm mắt
... Về
Kinh Bắc tìm chơi đàn kiến lửa
... Trăng
lên chém đầu ngọn gió
Cành si bưng chậu máu chát chao... Dư
âm Kinh Bắc trong thơ Hoàng Cầm được tác giả ''Gã phù du Kinh Bắc'' gom
lại là : ''Hai thế giới Kinh Bắc trộn vào nhau bởi những cơn đau : Kinh
Bắc thực tại thì như sau cơn bão, bầm giập, rách tướp; Kinh Bắc huyền
sử với những lễ hội đình đám huy hoàng thì như đã tiêu hoá từ lâu,
những oan hồn, âm binh đã đi cả rồi, đã vào cõi ảo sinh . Tất cả hiện
ra như một Thiên Thai bị đánh úp, một Kinh Bắc bị chấn thương . Một
Kinh Bắc quằn quại qua nghìn độ lửa trong men đá vàng.” Cõi ''Liêu trai trầm cảm'' chính là thế
giới tranh Đông Hồ, thế giới Kinh Bắc chấn thương'' . Chữ nghĩa văn
hoa của ll.
NHÀ ẢO THUẬT "GÃ PHÙ DU KINH BẮC'' :
1. Tác giả ''Hoàng Cầm -gã phù du Kinh Bắc'' : Quái kiệt câu chữ
''siêu, thực'' và ''kết tinh'' của ''chiêu thức Nghi trang -Phục binh'' : Đọc
đến mục thứ tư ( Thi pháp ''thực'' gợi thế giới ''siêu'') của Chu văn
Sơn, người viết đã gặp sự ''phiền phức'' của phần ''Thi pháp-Bút
pháp văn học'' mà các bậc tiền bối đã sắp khuôn khổ câu chữ đâu
vào đấy cả rồi . Phiền phức này đã qua những cuộc ''thử bút'' không
kém phần hấp dẫn như những pha chưởng kiếm hiệp Kim Dung . Nếu Hoài Trân,
Phan huy Dung cho rằng : ''Dòng chảy của thơ Hoàng Cầm trước hết là dòng
chảy lãng mạn... Thơ Hoàng Cầm cũng thấp thoáng nét tượng trưng, thậm
chí siêu thực ...'' thì lập tức ''đụng đài'' Trần mạnh Hảo. Chàng dũng
sĩ thành Nam gạt phăng : ''Về Kinh Bắc chẳng dính dáng gì đến tượng
trưng và siêu thực cả vì tượng trưng và siêu thực là những trào lưu
sinh ra để phủ nhận chủ nghĩa lãng mạn ...'' Thế
là ''chưởng'' qua , ''chưởng'' lại chỉ tội nghiệp độc giả xem ...mờ
mắt chớ mấy cha ''vương tôn công tử hoàng gia'' có bao giờ ghé mắt coi
cho biết ''chúng nó viết, chúng nó ''chưởng'' nhau vì chuyện gì thế nhỉ
?. Chốn
vương triều đã quen với những văn bản ''hồn Trương Ba , da hàng thịt''
bao đời nay. Thế giới ''siêu'' hay ''thực'' có nhằm nhò gì đến họ.
Nhưng những nhà nghiên cứu nào dễ dàng bỏ cuộc. Cuộc chiến chưa phân
thắng bại vẫn còn tiếp diễn rôm rã như thời ''Nghệ thuật vị nghệ
thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh ?'' mà nhóm Hải Triều ''long tranh, hổ
đấu'' cùng nhóm Hoài Thanh, Phan Khôi giữa thế kỷ 20. Một luận điểm, một
câu chữ nào ! muốn bất hủ cũng qua đấu tranh một mất một còn mới
thành chân lý. Những người lính ''tiên phong'' trên mặt trận không tốn
đạn chì nhưng tốn giấy trắng đen, hao mực xanh đỏ và tiêu hao chất
xám hoang phí như thế cũng đáng cho ta phục lăn, phục lốc, dở khóc dở
cười vì ''ngao chẳng thua cò và cò chả ngán ngao !'' và chẳng biết ai là
kẻ ''ngư ông đắc lợi'' !. Người
viết chọn hai ý tổng hợp dung hoà từ
ý của các ''vương tước'' trên : ''Dòng chảy thơ Hoàng Cầm là dòng chảy
lãng mạn mà ''Về Kinh Bắc'' chẳng hề dính dánh gì đến tượng trưng và
siêu thực cả ''. Hiểu nguyên văn như vậy, không thêm thắt gì nữa kẻo
La Martine, Afred de Musset ( trường lãng mạn Pháp ) và Verlaine, Baudelaire (tượng
trưng , siêu thực Pháp) cười rằng : ''Dốt ngoại ngữ còn hay nói chữ''.
Tôi cho rằng cứ ''tắm ao ta'' với quan niệm ''bắt cá ao nhà dễ hơn trộm
tôm hàng xóm'' để tìm ra thi pháp một tác giả. Tác giả ''gã phù du Kinh
Bắc'' đã mang gươm đội mão ''một mình, một ngựa” tiến về con đường
''siêu'' gợi ''thực'' như thế nào ? Hú vía, lần
này gã tằn tiện từ ngữ đã không xoáy vào ''siêu'' (thị ), ''thực'' (
phẩm ) mà đi vào làm phép thống kê 48 bài thơ trong ''Về Kinh Bắc'' để
tìm ra thi pháp Hoàng Cầm : Tước bỏ những từ quan hệ ( tức liên hệ từ
''Như'') . Ví dụ : ''Ta con bê vàng lạc ráng chiều xanh đi mãi tìm sim chẳng
chín , Ta con chào mào khát nước về vườn xưa hạt nhãn đã đâm mầm ,
Ta con chim cu về gù rặng tre đưa nắng ấu thơ về sân đất trống , Ta
con phù du ao trời chật chội đứng cánh bèo, đo gió lặng tìm sao ...''. Ta
thấy lại chữ nghĩa của ''cu Tấm'' nhặt thóc : ''Người khác có thể chỉ
tước bớt. Hoàng Cầm thì quá tay hơn, đã vặt trụi hết tiệt những chữ
''như'' ấy. Thế là hợp cách, hợp vía. Lại ra hẳn một nét thi pháp, một
độc chiêu. Lạ.''. Tác giả gọi ''quan hệ đồng nhất'' giữa ''vật'' và
''ảnh'' đồng thể hoàn toàn dẫn đến một chiêu mà tác giả cho là ''đặc
sắc''. Đó là chiêu pháp : ''Nghi trang -Phục binh'' nghe lạ hoắc, lạ hơ.
Ta có thể hiểu nôm na như kiểu đánh ''Hư trận'' mà các nhà chiến gia thời
xưa hay sử dụng kế ''Nghi binh'' . Ví dụ như trận chiến Bạch Đằng
giang thời Ngô Quyền và Trần hưng Đạo đã sai lính vót cọc nhọn cắm
xuống lòng sông dụ binh Hoằng Tháo và Ô mã Nhi vào ''đánh úp''. Kiểu ''Dương
đông, kích tây'' cũng na ná như thế làm kẻ địch chẳng biết đương mô
mà lần !. Hà ! câu chữ của ! gã tằn tiện nghe ''kiêu kỳ'' quá thể nhưng
cũng chỉ là một kiểu : Hình tượng hóa ngôn ngữ, sử dụng hình ảnh
ẩn dụ với nghĩa thật tả cảnh, nghĩa chìm ...''xỉa'' vào tim kẻ có tim
khô. ( Với kẻ không tim thì ngón ''xỉa'' này như chỉ xỉa vào nước đá
). Hãy
xem khi Hoàng Cầm viết những câu đầy ẩn dụ và nhân hoá cay đắng :
Đã ủ men xanh giấm lá chìm
Bỗng chồi gai sắc nhọn xuyên tim thì
gặp ngay : ''Bộ xương cá bống là dao nhọn. Đâm nát hồn ta lũ Lý
Thông'' của Duyên Anh. Tư tưởng lớn gặp nhau không nói gì, đây tư tưởng
''sụn bà chè'' vì thời cuộc mà cũng kiếm đàng gặp nhau. Có lẽ quả đất
tròn nên văn thơ cũng khó mà méo. Người có tâm hồn nguội lạnh cỡ nào
mà không nhận ra từ ngữ chua chanh, chát khế ''gai sắc nhọn'', ''đâm nát
hồn tim'' kia đã ''rủa xả'' vào những nguyên nhân gây cảnh ''phế nhân''
không do trời tạo!. Kênh chữ mà tác giả ''gã phù du Kinh Bắc'' cho rằng
: ''Rất ghê, rất sái, rất gở'' như :
Cây ổi giơ xương chống đỡ
mùa
đông sụp về đánh úp.
... Gió mất chuồi xuân đay nghiến lũy tre gầy.
Giếng ngọc ễng ương quát đêm tiền sử
... Chim vàng phải tên bụng giận
mình bay quá cao
...Trăng lên chém đầu ngọn gió
cành si bưng chậu máu chát chao. thật
ra chỉ là ngụ ngôn La fôngten thêm
chút nhân hóa Việt
Cúi lạy mẹ con trở về Kinh Bắc
Chiều xưa giẻ quạt voi lồng thì
cũng có những câu gợi hình khá kỳ cục như vô lý mà rất dễ thương
trong ''Về Kinh Bắc'' :
Thân cau cụt vẫy đuôi mèo trắng mốc
Chuồn chuồn khiêng nắng sang sông Không
hiểu sao, tôi lại thích lạ thích lùng cái câu quái gỡ này như trò chơi
kéo mo cau ở vùng quê lắm cây nhiều cội. Ta có thể hình dung dòng sông
Đuống ( cho như vậy ) nghiêng mình nhìn theo con chuồn chuồn ỳ à, ỳ ạch
khiêng nắng qua thân mình mà không khỏi cười thầm : Khá nghịch ngợm đấy!.
Chao ! Công việc nhẹ nhàng như gió thổi...
sợi tóc mà nghĩa trên câu chữ lại quá nặng nề đặt trên thân con vật nhỏ bé với công
việc quá sức tải của mình. Câu chữ vô tình gợi ta liên tưởng về những
câu tục ngữ ca dao quen thuộc : ''Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì
nắng, bay vừa thì râm". Con chuồn chuồn của gã phù du ở dạng nào ?
Râm buồn, mưa ướt, chỉ có nắng mới ấm lòng. Vậy là con chuồn chuồn
này cũng ao ước được vượt lên cao. Động từ ''khiêng'' nặng nề lại
đi với danh từ ''nắng'' nhẹ tênh thật nghịch lý ( không cân đo đong đếm
cũng chẳng nắm bắt gì được cả ). Thành thử, câu thơ ngụ ngôn kia cũng
chỉ là hình thức ''nổi ( ai cũng thấy ) để cõng nội dung ''chìm'' ( ít
ai nghĩ ) bay qua dòng sông cuộc đời cay đắng dẫn đến một ''kết tinh''
tình ý được ''nghi trang'' bằng con bài ''phục binh'' mà gã tằn tiện họ
Chu như cố tình để riêng một cõi . 2.
Tác giả ''Gã phù du Kinh Bắc'' với ''Một kết tinh'' từ ''Cây tam cúc'': Sau
''Kinh Bắc bị chấn thương'', đây là những trang phân tích có những đoạn rất ''chín'' của Chu văn Sơn. Ở mục ''Một
liêu trai trầm cảm'', gã tằn tiện này có nhắc đến một trong hai ''vết nội thương'' của gã phù du Kinh Bắc là mảnh
''tình nhí'' qua ''Lá diêu bông''. Trong mục này, gã hóa thân ''cu Tấm'' kia
đã dành riêng phần đất cho mảnh tình nhí này qua ''Cây Tam Cúc''. Nếu người
chị trong thơ Nguyễn Bính là chị Trúc thì gã phù du Hoàng Cầm có chị
Vinh trong ''Lá diêu bông''!. Vậy người mà cu Cầm một ''Chị'', hai ''Chị''
xưng ''Em'' là chị nào ?. Không ai biết thì người chị ấy chỉ là người chị của thi ca mà
thôi. Tôi
thật sự chẳng biết gì về cây Tam
Cúc ''mép cong cong'' của ''cu Cầm'' (Mới hơn mười đã bày đặt yêu iếc,
không gọi …cu Cầm hổng lẽ gọi ...cụ Cầm ?). Theo tôi, đây là một
trong những bài thơ có câu chữ hai nghĩa của Hoàng Cầm hay đến độ
...chẳng hiểu gì cả. Toàn bài thơ chả có vần điệu dù chỉ để gọi
là. Nó như bài văn đồng dao. Nó cũng xem xem như ''Đánh cờ'' của Hồ
xuân Hương nhưng ''thanh'' hoàn toàn không ý ''tục !''. Nó như con cờ cứ dập
dập, giật giật theo tay người chơi bạc. Đọc mà ...tức điên. Sự tinh con mắt, sắc
nét nhận diện của gã tằn tiện đã nhìn ra ba ý nghĩa qua canh bạc đỏ
đen này : ''Canh bạc trẻ con. Cuộc tình thơ trẻ. Canh-bạc-đời'' được
''tải'' qua hai mạch thơ : ''Mạch việc và mạch tình'' được hiểu như
canh bạc thật đi với canh bạc đời và canh bạc tình em bày tỏ. Tác giả
phân tích thật nhập tâm từ chỗ làm nổi bật ''tình em'' trước sự đui
điếc ( có thể giả vờ mù chột ) của ''người chị'' :
Chị gọi đôi
cây!
Trầu cay má đỏ
Kết xe hồng đưa Chị đến quê Em
Nghé cây bài tìm hơi tóc ấm
Em đừng lớn nữa Chị đừng đi Thằng
Em này quả ''nhí'' nên ... ngu hết ý. Chị gọi ''đôi cây'' là ''cây đôi''
đó thằng nhỏ. Miếng trầu gợi nhân duyên của Hồ xuân Hương sao thằng
Em dốt qúa không chịu ''quệt'' để ''kết xe hồng đưa Chị đến quê
Em''. Mày ''ngốc quá thì Chị ''lên xe bông về nhà chồng''. Thằng ''Em''
mê Chị trối chết nhưng chỉ biết ''Nghé cây bài tìm hơi tóc ấm'' thể
hiện như một em bé thèm hơi ấm mẹ đến chán. Sự ngu ngơ của nó quá
rõ hơn khi nghĩ rằng Chị đi vì nó đã lớn nên nó van nài : Em không lớn
nữa Chị đừng bỏ đi. Trời ơi ! Người Chị này mong mày ''nhớn'' cho
mau mà hiểu câu Chị ''gọi đôi'' nhưng mày cứ hết lần ngu này tới lần
dốt khác. Xuân thì năm tháng tàn phai. Lấy chồng kẻo uổng hình hài mẹ
cho. Chờ hết nổi, chị đi lấy chồng. Chu văn Sơn nặng về canh bạc tình đời
: Tình chị ''đui điếc'' đẫn đến sự thất bại của Em ở ''cầu duyên''
và Em ngã sấp vào ''bi kịch'' ( tức là quyền uy của bọn tướng điều
sĩ đỏ). ''Em đứng nhìn theo Em gọi đôi''. Thật buồn đến ngẩn ngơ. Tác
giả viết : ''Rốt cuộc, tiếng gọi của Em chỉ là những tiếng chới với
rơi hút vào hư không, tan loãng vào vô định ...Chị ngoái lại phía sau, chả
có lần nào Chị nghe thấy trong gió, dù mờ nhạt, mơ hồ, cái tiếng gọi
đôi của đứa Em này !''. ''Tình già'' của
Phan Khôi cũng không có mà ''tình nhí'' của cu Cầm cũng hoá gió mà bay. Gã
Phù Du Hoàng Cầm đã tạo ra thêm một thứ tình phù du cay đắng quá .
''Quái kiệt'' của Hoàng Cầm mà Chu văn Sơn phát hiện chính là nghệ thuật
tạo sắc ''hồng'' lãng mạn (một tình yêu vô tư , một tình yêu không có
vàng bảo đảm )và ''vàng'' ( cao sang quyền quý tột đỉnh) trên sự tương đồng có sẵn của màu ''đen''
và màu ''đỏ'' đời thường. Tác giả đã làm người đọc hài lòng với
kết thúc : ''Cây Tam Cúc xứng đáng là cái giá đã trả được cho khối tình
nghẹn của gã phù du Kinh Bắc Hoàng Cầm.'' Thế
nhưng, tôi vẫn thấy thiếu thiếu của
Chị gọi đôi cây !
Trầu cay má đỏ ... Em đứng nhìn theo Em gọi đôi . Chị tỏ lòng cùng Em ở câu đầu. Khi Em hiểu
ra ''đôi cây'' của Chị và lời biết ''tỏ lòng'' bật ra ''Em gọi đôi''
thì đã quá muộn màng. Mối tình này đã đi vào kết thúc không có hậu không giốnh như trong ''Men đá vàng'' và
nó cũng chẳng còn ''nhí'' nữa. Em đã van Chị ''đừng đi'' khi Em không muốn
lớn nhưng nay Em ''quên ''lời khẩn cầu'', Em hiểu ra từ ''đôi'' nghĩa là
Em đã lớn thì Chị đi là hợp lẽ. Chị
không quay đầu lại là phải. Trong canh bạc đời, đi có thể quay lại nhưng
trong canh bạc tình, đã đi là không bao giờ ngoái đầu nhìn lại. Chiếc
võng mây trôi kia có làm bằng vàng
ròng 9999 hay làm bằng mây trời đan kết cuối cùng cũng ...trôi tan. Tình
phù du hơn bảy mươi năm trước. Đời phù du hơn bảy mươi năm sau. ''Ông
ngoại'' Hoàng Cầm đã tâm sự : ''Trong một vài năm nay, thơ tôi nó buồn
một cách ...như vũ trụ này sắp tan đi đâu đấy ...những cái như là
tình yêu, thương nhớ ...". Tôi
thích câu nhận xét của Đỗ lai Thúy về Kinh Bắc : ''Về Kinh Bắc là vũ
hội hóa trang'' nhưng ...xanh mặt khi Đỗ lai Thúy viết về mối tình thơ dại
xiết đổi thương tâm của cậu bé mười hai, mười ba tuổi chỉ là :
''Ham muốn tình dục với một người lớn tuổi hơn muốn cưới để thỏa
mãn ham muốn này trong sự hợp thức hoá.'' ''Cây
Tam Cúc'' mỉm cười. Thế gian có mấy người biết nỗi lòng người trong
cuộc nên tình yêu - tờ giấy trắng - đã nhúng phải mực chàm vấy bẩn
vô lý. Hoàng Cầm đã không nổi giận sao ta lại giận nổi, Đổ lai Thúy
?. Cách mình hiểu một tác phẩm, một tác giả như thế nào thì làm người đọc hiểu về mình cũng như
thế ấy. Chu
văn Sơn viết : ''Bản lĩnh già dặn của một thi sĩ là biết tiết chế (ức
chế ?) tình cảm của mình ''nhưng Hoàng Cầm chẳng cần cái bản lĩnh già
dặn ấy vì anh đã bật ra ''99 tình khúc'' với ''cái đau băm nát lời thơ
máu trào'' :
Anh đi về phía không em
Anh đi sắp đến vô cùng . Gã
Phù Du ''cúi lạy mẹ con trở về Kinh Bắc'' và cúi lạy mẹ khi ''Máu đổ.
Mây đùn. Gió lộng. Sớm mai đi'', ''xé trang luận ngữ, lau gươm lên đường''. Con
đường gã Phù Du đi lần này chắc chắn sẽ không bao giờ trở lại. Nhưng
cái câu của tác giả ''Gã phù du Kinh Bắc'' : ''Thi ca muôn đời vẫn tiềm
ẩn một nội lực vô song'' thu hết phần ''thể phách tinh anh'' của con người
khi con người phải trả về cát bụi''. Một cõi đi-về vĩnh cửu. “Đi''
hay''về'' đã thành một nghĩa ''tan vào cõi phù du'' khi nó là động từ đồng
nghĩa, khác âm.
3. Gót chân Asin và chút cảm nghĩ : Thần
thoại HyLạp có Asin mình đồng da sắc, nói như các nhân vật kiếm hiệp
của Kim Dung : Dù luyện công đến mức ''thượng thừa'' vẫn có ''huyệt hở''
mà người ta gọi là ''yếu điểm''. Asin mới sinh được mẹ là nữ thần
tắm trong lò lửa nhưng cuối cùng chàng ta đã bị kẻ thù đâm vào gót
chân -chỗ mà nữ thần mẹ đã quên không tắm bằng lửa. Đọc
những sáng tác, công trình nghiên cứu của Chu văn Sơn ( Linh Thi ) về các
tác phẩm, tác giả : Ba đỉnh cao Thơ mới, Tinh hoa Thơ mới -thẩm bình và
suy nghĩ-, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn mặc Tử, Nguyễn Duy, Xuân Quỳnh,
Nguyễn đình Thi, Thanh Thảo... và những bài viết cho sách giáo khoa phổ
thông trung học, có thể nói bài biết về ''Hoàng Cầm -gã phù du Kinh Bắc''
là bài viết đi vào tôi nhẹ nhàng mà sâu lắng hơn. Anh đã dùng nhiều từ
ngữ với hoá thân nàng Tấm chọn lọc và sử dụng kỹ càng. Nhiều từ
ngữ đã như chìa khóa mở tiếng cười vô tư, thông cảm, bằng lòng mà
người viết đã dẫn trong bài. Nhưng cũng vì quá chú trọng câu chữ mới
nên bài viết của anh đã có những... vết xước. Tác giả ''Hoàng Cầm -gã phù du
Kinh Bắc'' cũng đã có ''gót chân asin'' khi sử dụng những từ ngữ gây
''xốc thuốc'' cho người đọc. Bên cạnh những từ hợp ngữ cảnh như :
''lầm rầm'' , ''rền rĩ'' đi kèm tiếng kinh cầu, lời khẩn nguyện hay ''vặt
trụi hết tiệt'' đi kèm câu loại bỏ từ so sánh ''như'' rất hay còn rất
nhiều trong văn bản. ( Ví dụ như : ''Khóc như tự vấn tự đay, tự hành
tự huỷ''. ''Chữ đau, chữ đắng, chữ xót cài cắm đó đây bỗng chồi
gai sắc nhọn xuyên tim, thậm chí như cật nứa, như thuỷ tinh, như mũi tên
bất chợp chồi lên bắn chết chiều mai ráng đỏ vậy ...''). Nhưng ''con sâu
làm rầu nồi canh'' vì bên cạnh những câu chữ như ''một kết tinh'' của
sự miệt mài cày xới duyên dáng mượt
mà tự nhiên trau chuốt, anh hay để lại những ''vết lông ngỗng'' thể hiện
rõ qua bài viết lần này như ngữ : ''Liếm lành vết nội thương'' nghe ''nhột nhạt'' với câu dễ gây ngộ
nhận sai lạc như : ''Nhiều con thú cùng bị săn đuổi thời ấy đã chọn
những nẻo về khác nhau.'' ( Nó cũng giống như ''Thi pháp thơ điên
''khác'' Thơ điên'' mà anh dùng trong ''Ba đỉnh cao Thơ mới'' trong mục Hàn
mặc Tử). Lần này, nếu người đọc, đọc không kỹ sẽ cho anh dám đánh
đồng người và thú vật. Những từ chưa rõ nghĩa khác như ''nguyên uỷ''
(là ''nguyên thủy''?), ''tiết chế'' (hay ''ức chế''?) hay ''lẩn mẩm lượm
bỏ'' ( Tôi nghĩ chắc là ''tẩn mẩn và lẩn thẩn'' ) hoặc ''nhóng nhánh
chất kim sa'' ( có phải là ''lónh lánh'' quen thuộc ? ), ''bài cao thủ'' (
tay cao thủ mới đúng ) ... chưa rõ nghĩa và những khi đi tìm câu chữ mới,
nội dung mới anh dẫn dắt người đọc vào muôn trùng ... Và
cái làm tôi ''tiếc vô hạn'' là khi anh ...hạ bút
về mối tình thơ nhất, nhỏ nhất, hồn nhiên nhất, đáng hâm
mộ nhất trong ''Cây Tam Cúc'', ''Lá diêu bông''. Anh thản nhiên cho nhân vật
"Em'' yêu ''Chị'' là : ''Thứ tình ngây ngô mà chứa chan nhục cảm là
đã ''lệch chuẩn''rồi ''. Lời đánh giá này vô tình đưa anh gặp Đỗ
lai Thuý, người đã mang ''nhục cảm tình dục'' vào thơ Hoàng Cầm rõ nhất
ở ''Cây Tam Cúc'' và ''Lá diêu bông''. Tôi chỉ nghĩ đơn giản : Mối tình
trong hai bài thơ năm đó hoàn toàn trong trắng và quá đổi thơ ngây không
vướng víu một chút nào tới ''nhục dục'' hay ''tình dục” gì. Lời nhận
xét chủ quan này có lẽ cũng vì người viết đã có một thời như thế .
''Không ở trong chăn sao biết chăn có rận''. Đời không lận đận làm sao
biết người hận đời. Không yêu thời tuổi thơ làm sao biết tình yêu
kia chỉ là ''bài thơ'' của tuổi nhỏ ?. Một tác giả nào đó trong
''Hoàng Cầm và những chiếc lá diêu bông'' cũng đã thấy : ''Thơ Hoàng Cầm
mượt mà như một làn điệu dân ca, lại có tha thiết quyến rũ bồng bềnh
và cũng lắm lúc hồn nhiên ...khó cắt nghĩa rõ ràng của một tâm thức
luôn hướng về những gì tưởng ...ngây
thơ lắm ...như mộng ảo''. Thơ tình
yêu của Hoàng Cầm lãng mạn thật nhưng không giống như thơ Xuân Diệu,
Chế lan Viên, Vũ hoàng Chương... hay thì có hay nhưng ít nhiều mang nét ''trần
trụi''. Thơ tình yêu của Hoàng Cầm nói chung và trong ''Cây Tam cúc'', ''Lá
diêu bông'' nói riêng rất hồn nhiên và ngây thơ không thể phủ nhận bằng
cách nghĩ đầy ''nhục cảm''. Nhưng quyền hiểu biết về một tác phẩm
là quyền tự do còn lại của con người.
Giá trị thật sự khi đánh giá một bài viết, một tác phẩm, một
công trình ...là phải nhìn bao quát trên tổng thể .''Hoàng cầm -gã phù du
Kinh Bắc'' của Chu văn Sơn có giá trị
văn học nhất định là đã mang lại cho văn học thêm một tác giả đã từng
bị lịch sử văn học bỏ quên với những nội dung đáng được có của
Hoàng Cầm : Kiếp phù du giữa cõi đi-về của cuộc đời với một ''Kinh
Bắc'' trước và sau cơn chấn thương cùng những canh bạc tình, đời nằm
trong những câu chữ được núp bóng khéo léo. Anh đã dám nêu ra được
''Vết thương lòng'' của Hoàng Cầm chính là bị ''cú Nhân văn -Giai phẩm''
mà ít có tác giả nào can đảm đề cập đến. Những ''vết xước văn học''
hầu như ai cũng có nhưng nếu có thể nhìn nhận để bài viết sau tránh lập
lại thì người yêu thương và có trách nhiệm với văn học không bao giờ
cảm thấy phật lòng!. Hoa hồng cái nào cũng đẹp, cũng thơm nên không sao
tránh khỏi sâu bọ chọn để ''tạm trú''. Cứ nghĩ sâu bọ cũng khoái
cái đẹp mà vững vàng ngọn bút tỉa lá hư chớ không ''vạch lá tìm
sâu'' làm đau lòng kẻ chăm chút. Tôi
nghĩ : Phê bình văn học là góp ý câu chữ, đồng cảm khổ bút, trân trọng
công trình. Không có công trình nghiên cứu nào
vô giá trị cả. Lá xanh. Lá vàng rồi lá rụng. Mầm tơ lá khác cũng chồi
lên. Phê bình văn học không cần lớp võ ''sang trọng, lịch sự, lịch
lãm'' cũng không ''hạ thấp mình hay nâng bỗng mình'' gì cả. Phê bình văn
học là cái cân nhưng quan toà có như Bao Công - Bao thanh Thiên -hay không ?.
Không ai tự nhận mình xấu thì cuộc đời làm gì có bi kịch !. Những người
viết không tự nhận mình dở, mình sai nên văn học mới có chuyện ''bút
chiến'' từ trong nước ra tới nước ngoài. Thôi thì, tránh mưa cần mặc
áo mưa, tránh nắng chịu khó bung dù. Kiếp ''phù du'' ai cũng có ''phước
phần'' đó sao !. Với những người làm công việc nghiên cứu văn học, lịch sử nhân loại sẽ vô cùng ''biết |