posted: 03.9.2005
Tôi
Đọc Bài:
Trần Chung Ngọc Khoảng giữa tháng 8, 2005, tôi có dịp
ghé qua vùng “gió tanh mưa máu” ở Nam Cali.
Một người bạn có nhã ý tặng tôi tờ Diễn Đàn Giáo Dân, số 43, tháng 6, 2005,
trong đó có bài “Nhuệ Hồng Nói Với Nhất
Hạnh”, từ trang 71 đến trang 73. Chỉ
khi ngồi trên máy bay trở về Diễn
Đàn Giáo Dân cũng như Quê Mẹ NED của
Võ Văn Ái đã chọn đăng bài của Nhuệ
Hồng, tất nhiên là có dụng ý, ý gì chắc mọi người đều hiểu. Chỉ tiếc rằng Diễn Đàn Giáo Dân đã không đọc kỹ bài
của Nhuệ Hồng để thấy rằng bài này đã làm giảm giá trị của tờ
báo khá nhiều, nếu tờ báo còn có một giá trị nào đó ngoài những điều
mê tín và tinh thần nô lệ Vatican đầy dẫy trong đó. Còn Quê Mẹ
NED của Võ Văn Ái thì đăng bài này cũng không lấy gì làm lạ, bởi
có cùng một trình độ hiểu biết như nhau và hợp chủ trương của Quê Mẹ NED, chủ trương của một tên đầu
cơ chính trị có tầm vóc quốc tế làm tay sai ngoại bang, lãnh tiền của
ngoại bang để đánh phá Việt Nam. Chúng
ta hãy đọc vài đoạn trong bài của Nhuệ Hồng để xem “giá trị” của
bài đó như thế nào. Mở đầu, Nhuệ Hồng, trong Lời Dẫn,
nhắc đến vài “văn hữu và chiến hữu
thân thiết nhất” của ông ta là Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng và Vũ Khắc
Khoan, có lẽ để tạo uy tín với độc giả.
Về Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng, tác giả viết: “Sau này, cũng
như Nhất Hạnh, Tịnh Liên là Thiền sư viết
sách và thuyết giảng Kinh Phật.” Chỉ
có điều, Cụ Nghiêm Xuân Hồng chỉ là một cư sĩ Phật Giáo chứ không
phải là một Thiền sư. Từ Cư Sĩ đến
Thiền Sư là một bước khá dài. Về trường hợp của Tịnh Liên Nghiêm
Xuân Hồng tôi có thể có vài ý kiến. Trong cuốn “Lịch Trình Diễn Tiến Của Phong Trào Quốc
Gia Việt Nam”, Nguyệt San Ngày Về tái bản, Hướng Việt phát hành,
tác giả Nghiêm Xuân Hồng viết, trang 246, về cuộc di cư của gần một
triệu người từ Bắc vào Nam sau Hiệp định Genève, và đặt câu hỏi: “Tại sao
lại có một cuộc di cư lớn lao đến thế” và cho rằng “đại đa số trong làn sóng di cư là gồm những
tầng lớp trí thức hoặc tiểu tư sản thành thị cùng những thành phần
trung tiểu nông. Trong những lớp người
này, có một số khá đông những phần tử đã đi kháng chiến ...” Viết như vậy vì tác giả không hề biết
rằng trong số gần 1 triệu người di cư thì trên 700000 là giáo dân Công
Giáo di cư vì lý do mê tín và cuồng tín tôn giáo. Thật vậy, thứ nhất, Công giáo theo lệnh
của Giáo Hoàng, không đội trời chung với CS, thì giáo dân, nhất là giáo
dân Việt Tôi cũng nhớ trong một cuốn sách, cụ
Hồng viết: “Những khám phá mới của khoa học càng
ngày càng chứng minh chân lý của lời Kinh xưa”. Khoa học có thể chứng minh được chân
lý của nhà Phật được chăng? Cụ Hồng
còn viết: “Chiều dài ba động (đây
là khoảng cách truyền của một sóng trong 1 chu kỳ mà danh từ khoa học gọi
là “độ dài sóng”) của âm thanh là 100m
và tần số rung của âm thanh là 1 triệu lần (chu kỳ) trong một giây.” Làm con tính nhỏ, nhân độ dài sóng với tần
số ta sẽ được vận tốc truyền của sóng âm thanh, theo Cụ Hồng , là
100 triệu mét/ giây (nhanh bằng khoảng 1/3 vận tốc của ánh sáng). Nhưng học sinh lớp 12, khi học hết phần
Âm Học, đều biết rằng vận tốc của âm thanh trong không khí chỉ vào
khoảng 330m/giây và tần số rung của âm thanh mà ta có thể nghe được chỉ
trong khoảng từ 20 đến 20000 chu kỳ trong một giây [Nhà nào cũng có một
bộ âm thanh nổi (Stereo) nên chẳng cần phải học cũng biết rằng tần số
đáp ứng của các băng nhựa tốt để thu nhạc cũng chỉ trong khoảng này]. Cho nên, Nhuệ Hồng viết “Sau này, cũng như Nhất Hạnh, Tịnh Liên là
Thiền sư viết sách và thuyết giảng Kinh Phật.” chẳng nói lên được
điều gì, vì Nghiêm Xuân Hồng không phải là Thiền sư, không thể “cũng như Nhất Hạnh”, và vấn đề không phải là “viết sách và thuyết giảng Kinh Phật” mà
là viết sách như thế nào và thuyết giảng Kinh Phật ra sao chứ không phải
là cứ viết sách và thuyết giảng Kinh Phật
là có thể chiếm được một chỗ đứng trong Phật Giáo. Tiếp theo trong đoạn đầu, Nhuệ Hồng
nhét Chúa của ông ta vào chỗ không thể
nhét một cách lạc lõng, lố bịch: “Là
nho sĩ theo quan niệm thiên hạ đồng quy tôi cũng chủ trương tam giáo đồng tôn (Phật, Chúa và Khổng Mạnh).” Tác giả đã vứt Lão Tử đi để nhét
Chúa vào thay thế chỗ của Lão Tử trong quan niệm Tam Giáo Đồng Nguyên của
Việt Nam, và gài chữ “tôn” [tôn sùng] vào để thay thế chữ “nguyên”. Nếu tác giả viết rằng: “Tôi chủ trương cùng tôn sùng những nhân
vật và thần vật như Phật, Chúa và Khổng Mạnh” thì chẳng có ai
nói làm gì, vì đó là chủ trương cá nhân.
Nhưng đụng đến tôn giáo thì chúng ta cần phải biết rõ cốt
tủy của mỗi tôn giáo như thế nào. Và
hiển nhiên là ông Nhuệ Hồng chẳng hiểu gì về Tam Giáo (Thích, Nho,
Lão), và cũng chẳng hiểu gì về đạo Chúa và thực chất của Chúa ra
sao, nên đã đi làm chuyện lố bịch là nhét
Chúa vào trong Tam Giáo, cái chỗ không thể nhét. Chứng minh? Phật, Khổng tử, Lão tử là những
nhân vật lịch sử đã đưa ra những giáo lý nhân bản và nhân chủ, rất
thực dụng cho con người. Còn Giê-su
thì có hai bộ mặt: bộ mặt thứ nhất là bộ mặt Thần Học về một
Chúa Cứu Rỗi do Ki Tô Giáo, một tổ chức buôn thần bán thánh đưa ra để
khuyến dụ con người vào vòng tin nhảm tin nhí vào một niềm tin không cần
biết không cần hiểu, nói đúng hơn là niềm tin vào quyền năng “cứu rỗi”
của một người Do Thái có một tiểu sử bất minh, một bộ mặt đã phá
sản trong thời đại ngày nay, vì Linh Mục James Kavanaugh cũng như Giám Mục
John Shelby Spong đã coi sự cứu rỗi như một huyền thoại và đòi phải dẹp
bỏ vai trò cứu thế của Giê-su. Còn
bộ mặt thứ hai là bộ mặt lịch sử mà theo tuyệt đại đa số các học
giả nghiên cứu Tân Ước trong vòng 200 năm nay thì: Giê-su trong Tân ước chẳng qua chỉ là một
người thường sống với một ảo tưởng, tự khoác lên mình vai trò “Con
Thiên Chúa” xuống trần để cứu vớt những người Do Thái, chỉ người
Do Thái mà thôi, và chỉ những người
nào có lòng tin vào Thiên Chúa của Do Thái.
Russell Shorto đã nhận định trong cuốn Gospel Truth, trang 14: các giới lãnh đạo trong Ki-tô Giáo đã
được dạy và đã biết rõ điều này, nhưng vì những quyền lợi vật chất
cũng như tinh thần trên đám tín đồ thấp kém, nên đã dấu kín những kết
quả nghiên cứu về cuốn Kinh Thánh trước đám tín đồ, và: “Do đó những người còn sống trong bóng tối
của sự ngu dốt [về chính tôn giáo của mình] là những tín đồ Ki-tô bình thường.” (So
the only ones left in the dark (i.e., ignorance) are ordinary Christians). Tác giả Nhuệ Hồng có thuộc đám tín đồ
này không, tôi không biết rõ. Nhưng
qua lời viết bậy của ông ta ở trên thì chắc ông ta cũng không xa lạ với
đám tín đồ này là bao. Tại sao? Vì không có cách nào có thể nâng
Chúa lên một vị thế ngang hàng với Phật, Khổng tử, và Lão Tử. Bất cứ người nào đã đọc kỹ Tân Ước
đều thấy rõ, đúng như nhận định của Giám Mục John Shelby Spong: “Có những
đoạn trong 4 Phúc Âm mô tả Giê-su ở Nazareth như là một con người thiển
cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả” [There are passages
in the Gospels that portray Jesus of Nazareth as narrow-minded, vindictive, and even
hypocritical]. Như vậy, làm sao có thể hạ thấp, xếp Phật, Khổng Mạnh
ngang hàng với một người Do Thái có những tư cách thiển cận,
đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả như trên và đã thốt
lên những câu phản ánh một đầu óc bất bình thường và ác độc để
đời như sau: Matthew 10: 34-46: “Đừng tưởng
rằng Ta xuống trần để mang lại hòa bình trên trái đất. Ta không xuống đây để mang lại hòa bình
mà là gươm giáo. Vì ta xuống đây để
làm cho con chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ
chồng, và kẻ thù của con người ở ngay trong nhà hắn”; Luke
12:51-53: “Đừng
tưởng Ta đến để đem hòa bình cho thế giới.
Không! Ta đến để chia loài người làm hai. Từ đây, một nhà có 5 người sẽ chia rẽ
chống đối nhau; hai chống ba, và ba chống hai.
Mâu thuẫn sẽ diễn ra giữa con trai và cha, con gái với mẹ,
con dâu với mẹ chồng.” ; Luke 14: 26 : “Nếu kẻ
nào đến với Ta mà không “căm ghét” cha mẹ, vợ con, anh chị em, và
ngay cả đời sống của hắn, thì hắn không thể là môn đồ của Ta.”
[Tiếng Anh trong King James Version viết là “hate”, nhưng theo Gene Kasmar thì chữ “căm ghét” là dịch từ tiếng
Hi Lạp “miseo” trong bản Kinh Thánh gốc bằng tiếng Hi Lạp, có nghĩa là
ghét tởm và khinh khi (detest and despise)]; và Luke 19: 27: “Hãy mang những
kẻ thù của Ta ra đây, những người không muốn Ta ngự trị trên họ, và
giết chúng ngay trước mặt Ta.” Cũng vì vậy mà lịch sử đã chứng
minh, đạo Chúa đi đến đâu là ở đó không ít thì nhiều đều xảy ra
chia rẽ, thù hận giữa những người trong cùng gia đình, trong cộng đồng,
trong quốc gia. Lịch sử Việt Tiểu xảo của Nhuệ Hồng là viết lắt
léo. Chúng ta hãy đọc câu sau đây của
ông ta: “Trong thời gian tiếp
xúc tôi thấy Thầy hay lên tiếng phủ nhận chủ thuyết Cộng Sản, dầu rằng
trong thập niên 60 Thầy theo phe phản chiến.”
Đọc câu trên, chúng ta cần hiểu rằng, tác giả ngụ ý phe phản
chiến là phe Cộng Sản. Nói rõ hơn, tác
giả có ý chụp mũ Thầy Nhất Hạnh là Cộng Sản trong thập niên 60 và
tác giả để lộ ý chống phản chiến. Nhưng kiến thức của Nhuệ Hồng thuộc
loại vô kiến thức nên ông ta không biết rằng đài phát thanh Hà Nội khi
đó lại coi Thầy Nhất Hạnh như là “công cụ của Ngũ Giác Đài” (tool of
the Pentagon), và cũng không biết những ai thuộc phe phản chiến? Chính Giáo
Hoàng Paul VI là một “tên phản chiến” nặng ký nhất. Ngài đã tuyên bố giữa hội trường Liên
Hiệp Quốc: “Hãy ngưng ngay cuộc chiến
(ở Việt Tiểu xảo lắt léo của Nhuệ Hồng
còn lộ rõ trong đoạn văn sau đây: “Tôi
đọc bản đề nghị của Thầy hơn
10 lần mới đặt bút viết những giòng này. Tôi có cảm tưởng đây
không phải là bản đề nghị của Thầy mà là bản công bố lập trường
của nhà nước.” Trong bản văn, Thầy Nhất Hạnh đề nghị 6 điểm với “Người Cộng sản Việt Nam”, nhưng
Nhuệ Hồng đã cố tình xuyên tạc “đề nghị” thành “lập
trường của nhà nước.” và trắng trợn tự ý đổi “đề nghị Người Cộng sản Việt Nam...”
của Thầy Nhất Hạnh, tự ý thêm vào hai chữ “chúng ta” thành “Người
Cộng sản Việt Nam [chúng ta]” để
lạc dẫn dư luận, và “chứng minh” đó là lập trường của nhà nước. Thủ đoạn xuyên tạc hạ cấp này
không qua được mắt ai trừ những kẻ thông manh hay bước trên đường đời
bằng đức tin chứ không nhìn bằng mắt, và những kẻ đầu cơ chính trị
như Võ Văn Ái et al... Về phương diện phê bình trí thức, không một người
trí thức nào lại vô liêm sỉ đến độ tự ý thêm ý của mình vào văn
bản gốc để mà diễn đạt theo ý mình. Thủ
đoạn phi trí thức này là thủ đoạn “dựng lên một người rơm để rồi
tự tay mình quật nó ngã xuống.” Tôi không muốn phê bình tiếp một người
mang danh là một luật sư như Nhuệ Hồng-Nguyễn Hữu Thống, mà lại thiếu
tư cách như trên, nhưng có một đoạn ông ta viết bậy về lịch sử tôi
không thể bỏ qua. Chúng ta hãy đọc
Nhuệ Hồng viết đoạn sau đây: “Kể từ sau Thế Chiến Thứ Hai, cũng
như Anh Mỹ và Hà Lan, Đế Quốc Pháp bắt đầu tự giải thể. Năm 1946 Pháp
trả độc lập cho Syrie và Liban. Và năm 1949 tại Điện Élysée Paris, Tổng
Thống Pháp Vincent Aureol ký 3 hiệp định với các Quốc Vương Việt Nam, Ai
Lao và Cao Miên để trả độc lập cho Việt Nam (8 tháng 3-1949), cho Ai Lao
(20 tháng 7-1949), và cho Cao Miên (8 tháng 11-1949). Ngay từ 1947, Tổng thống
Pháp đã yêu cầu Liên Hiệp Quốc đăng ký 3 nước Việt Miên Lào là những
quốc gia độc lập.” và đi đến kết luận: “Trên bình diện dân tộc đây là cuộc
chiến tranh vô ích, vô lý và vô nghĩa. Và 3 triệu thanh niên nam nữ đã phải
hy sinh thân sống, không phải để giành độc lập cho quốc gia, mà để
cho Đảng Cộng sản cướp chính quyền. Như vậy theo tôi, Hồ Chí Minh và
Đảng Cộng sản không có công giành độc lập và thống nhất đất nước” để bác công kháng chiến giành độc
lập và thống nhất của người dân Việt Chúng ta thấy rõ, không những Nhuệ Hồng
dốt sử không kém Lữ Giang, mà còn trắng trợn phủ nhận công ơn hi sinh
xương máu của người dân Việt Thật vậy, vài câu hỏi được đặt
ra: Thứ nhất,
Nhuệ Hồng viết: “năm 1949 tại Điện Élysée Paris, Tổng Thống
Pháp Vincent Aureol ký 3 hiệp định với các Quốc Vương Việt Nam, Ai Lao và
Cao Miên để trả độc lập cho Việt Thứ nhì, Trả độc lập cho Việt Thứ ba, cuộc kháng chiến chống Pháp
trở lại Việt Nam toan tính tái lập chế độ thuộc địa ở Việt Nam là
của toàn dân, từ Nam ra Bắc, hay của chính phủ bù nhìn Bảo Đại, hay của
những khu “tự trị” (sic) như Bùi Chu, Phát Diệm, theo lệnh của Tòa
Thánh chống kháng chiến, vì theo một sắc lệnh của Giáo Hoàng
Pie XII ban hành ngày 1 tháng 7 năm 1949, tuyên bố "tuyệt thông" bất
cứ người nào cộng tác với Cộng sản, tuyên truyền cho CS, đọc sách
báo CS v...v.. nên giáo hội Công Giáo Việt Nam, một lần nữa, lại hợp
tác với quân đội Pháp, được Pháp trang bị vũ khí để chống lại công
cuộc kháng chiến để bảo vệ nền độc lập mới thu hồi của dân tộc
Việt Nam? Chuyện Pháp muốn lập lại nền đô
hộ ở Việt Nam với những âm mưu phân chia Việt Nam thành những vùng tự
trị như “Nam Kỳ tự trị”, “Hoàng Triều cương thổ”, “Tây Nguyên
tự trị” và những ốc đảo Công Giáo tự trị như Bùi Chu, Phát Diệm v..v.. trong khi ngày 2/9/1945, tại công trường
Ba Đình, bản Hiến Pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập đã được
tuyên bố, trong đó Điều 3, Chương I, đã khẳng định: “Đất nước Việt Nam là một khối
Trung-Nam-Bắc thống nhất không thể phân chia.” Mưu đồ tái lập nền đô hộ Đông Dương
của Pháp đã được Trưởng phái đoàn quân sự Pháp là Sainteny: “..quả quyết rằng không lúc nào chính phủ
lâm thời Từ những sự kiện lịch sử trên,
chúng ta có thể tin được chăng, theo như Nhuệ Hồng viết, là cứ ngồi
đó chờ thì Pháp sẽ hai tay dâng trả độc lập cho Việt Nam? Chúng ta có thể không đồng ý với một số
chính sách của Việt Minh, nhưng chúng ta không thể phủ nhận là Việt Minh
đã vận động được quần chúng, từ Nam ra Bắc, trong công cuộc kháng
chiến chống Pháp để đi đến thành công, tuy chưa hoàn toàn vì những lý
do bất khả kháng, với cuộc chiến kết thúc vào năm 1954, đất nước tạm
thời phân chia làm hai vùng rút quân của hai phe: Pháp và Việt Minh [quân lực Việt Nam quốc
gia nằm dưới cái dù của Pháp] theo Hiệp Định Genève, chờ ngày thống
nhất đất nước qua cuộc Tổng Tuyển Cử vào năm 1956. Cũng như trong bao
cuộc kháng chiến chống xâm lăng trước đây trong lịch sử Việt Nam,
công kháng chiến là công của toàn dân, vì tinh thần quốc gia và yêu nước
của người Việt Nam rất mạnh, không chấp nhận sự thống trị của ngoại
bang về quân sự cũng như về tâm linh. Mỹ thua ở Việt Trong bài của Nhuệ Hồng còn nhiều
điểm viết nhảm nhí về Phật Giáo, cho nên ngoài Trần Văn Thông ở trong
nước còn có những người ở ngoại quốc như Thanh Hai, Bùi Hữu Tường,
Trần Hoài Nam đã lên tiếng vạch trần trình độ hiểu biết thấp kém của
tác giả về Phật Giáo, ở đây tôi không cần phê bình thêm về vấn đề
này nữa. Tác giả Nhuệ Hồng cũng không
hiểu rõ chủ trương tách biệt Tôn Giáo và Nhà Nước của Mỹ, nên viết
rằng “Nhà Nước không có quyền can thiệp
vào tôn giáo, ngược lại tôn giáo lại có quyền và có nghĩa vụ can thiệp
vào các hoạt động và chính sách của nhà nước.” Như vậy là tôn giáo đứng trên chính quyền
như Công Giáo trong thời Trung Cổ ở Âu Châu?
Chủ trương tách biệt Tôn Giáo và Nhà Nước của Mỹ không phải
là Nhà Nước không được can thiệp vào Tôn Giáo. Những vụ như Jim Jones và David Koresh và
nhiều vụ khác ở Mỹ đã chứng minh như vậy. Các nhà lập quốc Hoa Kỳ,
rút kinh nghiệm từ Âu Châu, đã nhận rõ hiểm họa của tôn giáo, tôn
giáo ở đây nên hiểu là Công Giáo cách đây vài thế kỷ, một khi tôn
giáo nắm quyền thế trị như ở Âu Châu, do quyền lực tự tạo từ mê
tín và cuồng tín, Công Giáo đã gây nên những cuộc bạo hành đối với
các tôn giáo khác như lịch sử Âu Châu đã chứng tỏ, cho nên đã đưa vào
hiến pháp quan niệm tách biệt tôn giáo và Nhà Nước để bảo vệ người
dân không bị những quan điểm tôn giáo khác áp đặt [Công giáo nắm quyền
thì sẽ tìm đủ mọi cách để cưỡng bức người dân cải đạo như lịch
sử thế giới đã chứng minh], và được quyền tự do tin vào bất cứ
tôn giáo nào thích hợp với mình hay không tin vào tôn giáo nào. Và như vậy, Quốc Hội sẽ không được làm
luật thiên vị đặc biệt đối với bất cứ tôn giáo nào, hoặc thiết lập
bất cứ một định chế tôn giáo nào. Cũng vì vậy mà mọi mưu toan của
Ki Tô Giáo nói chung, muốn áp đặt niềm tin về “Sáng Tạo” hay “Thiết
Kế Thông Minh” trong Ki Tô Giáo vào nền giáo dục Hoa Kỳ, và ngay cả với
ảnh hưởng của một tín đồ Ki-Tô sùng tín như Tổng Thống Bush, cũng đều
thất bại và không có tác dụng gì trên chính quyền, trừ vài trường hợp
lẻ tẻ không đáng kể ở một số địa phương. Trên thực tế, vì tôn giáo chỉ là một
tổ chức của những người cùng chung một tín ngưỡng trong một quốc
gia, trong khi chính quyền đại diện cho toàn dân và làm việc cho toàn thể
quốc gia, cho nên vì quyền lợi quốc gia, chính quyền vẫn có quyền can
thiệp vào tôn giáo nếu tôn giáo đó không tuân theo luật pháp quốc gia,
hay vi phạm những luật dân sự. Tự
do tôn giáo có nghĩa là tự do theo bất cứ một tôn giáo nào mình muốn,
và theo những lễ tiết trong tôn giáo đó, nhưng tuyệt đối không có nghĩa
là tự do muốn làm gì thì làm, vi phạm luật pháp quốc gia, bất chấp
chính quyền. Tinh Lành ở Tây Nguyên mưu đồ lập nước Đê-ga tự trị,
tách ra khỏi quốc gia Việt Nam, là một hành động làm loạn, vi phạm chủ
quyền Việt Nam, không phải là Tự Do Tôn Giáo.
Chính quyền Việt Phê bình và bày tỏ những ý kiến
riêng là quyền của mọi người. Tuy
nhiên, khi viết về lịch sử hay tôn giáo thì chúng ta nên cẩn thận,
không thể viết bừa bãi và phải hội đủ vài đòi hỏi căn bản. Thứ nhất, các sự kiện lịch sử không
có tính cách phe phái, chúng ta có thể có những nhận định khác nhau về
một sự kiện nào đó, nhưng không thể xuyên tạc lịch sử một cách vô
căn cứ, sai với những sự thực lịch sử.
Về tôn giáo, chúng ta không bao giờ được lấy quan niệm hay
đức tin trong tôn giáo của chúng ta để mà bác bỏ hay phê bình tiêu cực
về một tôn giáo khác. Muốn viết về
tôn giáo khác chúng ta phải dựa trên những niềm tin, kinh điển, giáo lý
v..v.. trong chính tôn giáo đó. Nhuệ Hồng
đã không hội đủ những điều kiện căn bản này cho nên đã viết bừa
bãi về lịch sử cũng như về tôn giáo. Tôi
thiết tưởng, trong thời đại ngày nay, về phương diện trí thức, chúng
ta không có quyền dùng thủ đoạn xuyên tạc để hạ thấp hay chụp mũ bất
cứ người nào mà không có những bằng chứng xác thực để chứng minh. Những ý kiến bắt nguồn từ cảm tính
cá nhân bất kể đến sự thực, hay từ những vũng bùn chính trị thời
thượng, thực chất đã không còn một giá trị nào trong giới truyền
thông ngày nay. Nhuệ Hồng đã phạm phải
một lỗi lầm nghiêm trọng về vấn đề phê bình trí thức là đã cố ý
xuyên tạc, bịa đặt, dựng đứng sự việc để diễn giải theo lập trường
chính chị của mình. Tệ hơn cả là
Nhuệ Hồng không đủ kiến thức về những điều mình viết ra, cho nên những
điều ông ta viết không có một giá trị trí thức nào. Tôi hi vọng trong tương lai, những người
tự coi mình là trí thức như Nhuệ Hồng, có thể viết cẩn thận hơn, và
nhất là phải tìm hiểu vấn đề cho đúng trước khi viết. |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com