805-gdiem2.gif (5804 bytes)

posted: 03.9.2005

Tôi Đọc Bài:

"Nhuệ Hồng nói với Nhất Hạnh"
Trên Tờ Diễn Đàn Giáo Dân, Số 43:

Trần Chung Ngọc

Khoảng giữa tháng 8, 2005, tôi có dịp ghé qua vùng “gió tanh mưa máu” ở Nam Cali.   Một người bạn có nhã ý tặng tôi tờ Diễn Đàn Giáo Dân, số 43, tháng 6, 2005, trong đó có bài “Nhuệ Hồng Nói Với Nhất Hạnh”, từ trang 71 đến trang 73.  Chỉ khi ngồi trên máy bay trở về Chicago tôi mới có thì giờ đọc đến bài này, và đây là lần đầu tiên tôi biết đến cái tên Nhuệ Hồng.  Bài này đã được Trần Văn Thông ở Saigon phê bình chi tiết trong bài “Nhân đọc "Nhuệ Hồng nói với Nhất Hạnh" trên Phù Sa” trên trang nhà Phù Sa, www.phusa.net, trong đó tác giả đã vạch trần những luận điệu bóp méo, xuyên tạc đầy ác ý của Luật sư Nhuệ Hồng - Nguyễn Hữu Thống để chụp mũ Thiền Sư Nhất Hạnh.   Tôi nghĩ tôi cũng nên góp thêm vài ý kiến về bài “Nhuệ Hồng Nói Với Nhất Hạnh” mà tôi đọc trong tờ Diễn Đàn Giáo Dân, số 43.

Diễn Đàn Giáo Dân cũng như Quê Mẹ NED của Võ Văn Ái đã chọn đăng bài của Nhuệ Hồng, tất nhiên là có dụng ý, ý gì chắc mọi người đều hiểu.  Chỉ tiếc rằng Diễn Đàn Giáo Dân đã không đọc kỹ bài của Nhuệ Hồng để thấy rằng bài này đã làm giảm giá trị của tờ báo khá nhiều, nếu tờ báo còn có một giá trị nào đó ngoài những điều mê tín và tinh thần nô lệ Vatican đầy dẫy trong đó.  Còn Quê Mẹ NED của Võ Văn Ái thì đăng bài này cũng không lấy gì làm lạ, bởi có cùng một trình độ hiểu biết như nhau và hợp chủ trương của Quê Mẹ NED, chủ trương của một tên đầu cơ chính trị có tầm vóc quốc tế làm tay sai ngoại bang, lãnh tiền của ngoại bang để đánh phá Việt Nam.  Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong bài của Nhuệ Hồng để xem “giá trị” của bài đó như thế nào.

Mở đầu, Nhuệ Hồng, trong Lời Dẫn, nhắc đến vài “văn hữu và chiến hữu thân thiết nhất” của ông ta là Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng và Vũ Khắc Khoan, có lẽ để tạo uy tín với độc giả.   Về Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng, tác giả viết: “Sau này, cũng như Nhất Hạnh, Tịnh Liên là Thiền sư  viết sách và thuyết giảng Kinh Phật.”  Chỉ có điều, Cụ Nghiêm Xuân Hồng chỉ là một cư sĩ Phật Giáo chứ không phải là một Thiền sư.  Từ Cư Sĩ đến Thiền Sư là một bước khá dài. Về trường hợp của Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng tôi có thể có vài ý kiến. Trong cuốn “Lịch Trình Diễn Tiến Của Phong Trào Quốc Gia Việt Nam”, Nguyệt San Ngày Về tái bản, Hướng Việt phát hành, tác giả Nghiêm Xuân Hồng viết, trang 246, về cuộc di cư của gần một triệu người từ Bắc vào Nam sau Hiệp định Genève, và đặt câu hỏi:  “Tại sao lại có một cuộc di cư lớn lao đến thế” và cho rằng “đại đa số trong làn sóng di cư là gồm những tầng lớp trí thức hoặc tiểu tư sản thành thị cùng những thành phần trung tiểu nông.  Trong những lớp người này, có một số khá đông những phần tử đã đi kháng chiến ...”  Viết như vậy vì tác giả không hề biết rằng trong số gần 1 triệu người di cư thì trên 700000 là giáo dân Công Giáo di cư vì lý do mê tín và cuồng tín tôn giáo.  Thật vậy, thứ nhất, Công giáo theo lệnh của Giáo Hoàng, không đội trời chung với CS, thì giáo dân, nhất là giáo dân Việt Nam, cũng phải vậy thôi. Và thứ nhì, Lansdale đã ra lệnh cho Chúa Giê-su và Đức Mẹ di cư vào Nam trước, cho nên giáo dân phải lũ lượt di cư theo sau.  Đây là sự kiện lịch sử, có phải như vậy không.  Linh mục Trần Tam Tĩnh đã chẳng than về sự mê tín của giáo dân trong những ốc đảo ngu dốt về vụ Lansdale trong cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm hay sao?  Hơn 700000 người Công Giáo này có thuộc tầng lớp trí thức và tiểu tư sản hay không?  Phần còn lại, đa số những người di cư thuộc quân đội quốc gia và một số người ở các thành thị thuộc vùng chiếm đóng của Pháp.  Số người đã đi kháng chiến mà di cư thật ra không đáng kể, rất có thể chỉ là một số cán bộ của ngoài Bắc được gửi vào miền Nam với một nhiệm vụ nào đó, không có một tài liệu nào nói là số người này “khá đông” cả.

Tôi cũng nhớ trong một cuốn sách, cụ Hồng viết:  “Những khám phá mới của khoa học càng ngày càng chứng minh chân lý của lời Kinh xưa”.  Khoa học có thể chứng minh được chân lý của nhà Phật được chăng?  Cụ Hồng còn viết: “Chiều dài ba động (đây là khoảng cách truyền của một sóng trong 1 chu kỳ mà danh từ khoa học gọi là “độ dài sóng”) của âm thanh là 100m và tần số rung của âm thanh là 1 triệu lần (chu kỳ) trong một giây.”  Làm con tính nhỏ, nhân độ dài sóng với tần số ta sẽ được vận tốc truyền của sóng âm thanh, theo Cụ Hồng , là 100 triệu mét/ giây (nhanh bằng khoảng 1/3 vận tốc của ánh sáng).  Nhưng học sinh lớp 12, khi học hết phần Âm Học, đều biết rằng vận tốc của âm thanh trong không khí chỉ vào khoảng 330m/giây và tần số rung của âm thanh mà ta có thể nghe được chỉ trong khoảng từ 20 đến 20000 chu kỳ trong một giây [Nhà nào cũng có một bộ âm thanh nổi (Stereo) nên chẳng cần phải học cũng biết rằng tần số đáp ứng của các băng nhựa tốt để thu nhạc cũng chỉ trong khoảng này].  Cho nên, Nhuệ Hồng viết “Sau này, cũng như Nhất Hạnh, Tịnh Liên là Thiền sư viết sách và thuyết giảng Kinh Phật.” chẳng nói lên được điều gì, vì Nghiêm Xuân Hồng không phải là Thiền sư, không thể “cũng như Nhất Hạnh”,  và vấn đề không phải là “viết sách và thuyết giảng Kinh Phật” mà là viết sách như thế nào và thuyết giảng Kinh Phật ra sao chứ không phải là cứ viết sách và thuyết giảng Kinh Phật là có thể chiếm được một chỗ đứng trong Phật Giáo.

Tiếp theo trong đoạn đầu, Nhuệ Hồng nhét Chúa của ông ta vào chỗ không thể nhét một cách lạc lõng, lố bịch: “Là nho sĩ theo quan niệm thiên hạ đồng quy tôi cũng chủ trương tam giáo đồng tôn (Phật, Chúa và Khổng Mạnh).”  Tác giả đã vứt Lão Tử đi để nhét Chúa vào thay thế chỗ của Lão Tử trong quan niệm Tam Giáo Đồng Nguyên của Việt Nam, và gài chữ “tôn” [tôn sùng] vào để thay thế chữ “nguyên”.  Nếu tác giả viết rằng: “Tôi chủ trương cùng tôn sùng những nhân vật và thần vật như Phật, Chúa và Khổng Mạnh” thì chẳng có ai nói làm gì, vì đó là chủ trương cá nhân.   Nhưng đụng đến tôn giáo thì chúng ta cần phải biết rõ cốt tủy của mỗi tôn giáo như thế nào.  Và hiển nhiên là ông Nhuệ Hồng chẳng hiểu gì về Tam Giáo (Thích, Nho, Lão), và cũng chẳng hiểu gì về đạo Chúa và thực chất của Chúa ra sao, nên đã đi làm chuyện lố bịch là nhét Chúa vào trong Tam Giáo, cái chỗ không thể nhét.  Chứng minh?

Phật, Khổng tử, Lão tử là những nhân vật lịch sử đã đưa ra những giáo lý nhân bản và nhân chủ, rất thực dụng cho con người.  Còn Giê-su thì có hai bộ mặt: bộ mặt thứ nhất là bộ mặt Thần Học về một Chúa Cứu Rỗi do Ki Tô Giáo, một tổ chức buôn thần bán thánh đưa ra để khuyến dụ con người vào vòng tin nhảm tin nhí vào một niềm tin không cần biết không cần hiểu, nói đúng hơn là niềm tin vào quyền năng “cứu rỗi” của một người Do Thái có một tiểu sử bất minh, một bộ mặt đã phá sản trong thời đại ngày nay, vì Linh Mục James Kavanaugh cũng như Giám Mục John Shelby Spong đã coi sự cứu rỗi như một huyền thoại và đòi phải dẹp bỏ vai trò cứu thế của Giê-su.  Còn bộ mặt thứ hai là bộ mặt lịch sử mà theo tuyệt đại đa số các học giả nghiên cứu Tân Ước trong vòng 200 năm nay thì: Giê-su trong Tân ước chẳng qua chỉ là một người thường sống với một ảo tưởng, tự khoác lên mình vai trò “Con Thiên Chúa” xuống trần để cứu vớt những người Do Thái, chỉ người Do Thái mà thôi,  và chỉ những người nào có lòng tin vào Thiên Chúa của Do Thái.    Russell Shorto đã nhận định trong cuốn Gospel Truth, trang 14:  các giới lãnh đạo trong Ki-tô Giáo đã được dạy và đã biết rõ điều này, nhưng vì những quyền lợi vật chất cũng như tinh thần trên đám tín đồ thấp kém, nên đã dấu kín những kết quả nghiên cứu về cuốn Kinh Thánh trước đám tín đồ, và: “Do đó những người còn sống trong bóng tối của sự ngu dốt [về chính tôn giáo của mình] là những tín đồ Ki-tô bình thường.” (So the only ones left in the dark (i.e., ignorance) are ordinary Christians).  Tác giả Nhuệ Hồng có thuộc đám tín đồ này không, tôi không biết rõ.  Nhưng qua lời viết bậy của ông ta ở trên thì chắc ông ta cũng không xa lạ với đám tín đồ này là bao.  Tại sao? 

Vì không có cách nào có thể nâng Chúa lên một vị thế ngang hàng với Phật, Khổng tử, và Lão Tử.  Bất cứ người nào đã đọc kỹ Tân Ước đều thấy rõ, đúng như nhận định của Giám Mục John Shelby Spong: “Có những đoạn trong 4 Phúc Âm mô tả Giê-su ở Nazareth như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả” [There are passages in the Gospels that portray Jesus of Nazareth as narrow-minded, vindictive, and even hypocritical]. Như vậy, làm sao có thể hạ thấp, xếp Phật, Khổng Mạnh ngang hàng với một người Do Thái có những tư cách thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả như trên và đã thốt lên những câu phản ánh một đầu óc bất bình thường và ác độc để đời như sau: Matthew 10: 34-46: “Đừng tưởng rằng Ta xuống trần để mang lại hòa bình trên trái đất.  Ta không xuống đây để mang lại hòa bình mà là gươm giáo.  Vì ta xuống đây để làm cho con chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng, và kẻ thù của con người ở ngay trong nhà hắn”; Luke 12:51-53: “Đừng tưởng Ta đến để đem hòa bình cho thế giới.   Không! Ta đến để chia loài người làm hai.  Từ đây, một nhà có 5 người sẽ chia rẽ chống đối nhau; hai chống ba, và ba chống hai.   Mâu thuẫn sẽ diễn ra giữa con trai và cha, con gái với mẹ, con dâu với mẹ chồng.” ; Luke 14: 26 : “Nếu kẻ nào đến với Ta mà không “căm ghét” cha mẹ, vợ con, anh chị em, và ngay cả đời sống của hắn, thì hắn không thể là môn đồ của Ta.” [Tiếng Anh trong King James Version viết là “hate”, nhưng theo Gene Kasmar  thì chữ “căm ghét” là dịch từ tiếng Hi Lạp “miseo” trong bản Kinh Thánh gốc bằng tiếng Hi Lạp, có nghĩa là ghét tởm và khinh khi (detest and despise)]; và Luke 19: 27: “Hãy mang những kẻ thù của Ta ra đây, những người không muốn Ta ngự trị trên họ, và giết chúng ngay trước mặt Ta.”

Cũng vì vậy mà lịch sử đã chứng minh, đạo Chúa đi đến đâu là ở đó không ít thì nhiều đều xảy ra chia rẽ, thù hận giữa những người trong cùng gia đình, trong cộng đồng, trong quốc gia.  Lịch sử Việt Nam cũng không thiếu những trang sử đen tối như vậy.   Linh Mục Lương Kim Định đã chẳng thú nhận trong cuốn Cẩm Nang Triết Việt, trang 57, là: “..Sự truyền đạo Chúa vào Việt Nam đã đưa đến sự chia khối dân tộc đang thống nhất thành hai phe lương giáo làm cho sự liên lạc giữa đôi bên trở nên nhức nhối đầy e dè nghi kỵ..  Đấy là một tai nạn lịch sử mà thời gian tuy có giảm đi nhưng xem ra không sao xóa sạch được.”.  Do đó, ai muốn tin Chúa hay tôn sùng Chúa của họ là quyền của họ, nhưng đừng có giở thủ đoạn nhập nhằng đánh đồng vô lối và phi lý Chúa của họ với Phật, Khổng Mạnh.  Sự mê tín không thể đi đôi với Tuệ Giác.

Tiểu xảo của Nhuệ Hồng là viết lắt léo.  Chúng ta hãy đọc câu sau đây của ông ta:  Trong thời gian tiếp xúc tôi thấy Thầy hay lên tiếng phủ nhận chủ thuyết Cộng Sản, dầu rằng trong thập niên 60 Thầy theo phe phản chiến.”   Đọc câu trên, chúng ta cần hiểu rằng, tác giả ngụ ý phe phản chiến là phe Cộng Sản.  Nói rõ hơn, tác giả có ý chụp mũ Thầy Nhất Hạnh là Cộng Sản trong thập niên 60 và tác giả để lộ ý chống phản chiến. 

Nhưng kiến thức của Nhuệ Hồng thuộc loại vô kiến thức nên ông ta không biết rằng đài phát thanh Hà Nội khi đó lại coi Thầy Nhất Hạnh như là  “công cụ của Ngũ Giác Đài” (tool of the Pentagon), và cũng không biết những ai thuộc phe phản chiến? Chính Giáo Hoàng Paul VI là một “tên phản chiến” nặng ký nhất.  Ngài đã tuyên bố giữa hội trường Liên Hiệp Quốc: “Hãy ngưng ngay cuộc chiến (ở Việt Nam).  Đừng có chiến tranh nữa, không bao giờ có chiến tranh nữa” [Stop the war (in Vietnam).  No more war, never again war].  Và “tên phản chiến” nặng ký thứ hai là Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc U Thant, người đã tuyên bố:  “Cuộc chiến chênh lệch giữa kỹ thuật Hoa Kỳ và một nước nhỏ, kém mở mang (VN) là một trong những cuộc chiến “man rợ nhất” của lịch sử” [ This mismatch between the US and a small underdeveloped nation is one of the “most barbarous” wars in hisrory.]  Chưa kể 2700 mục sư Tin Lành, linh mục Công Giáo, giáo sĩ Do Thái,  đã ký tên dưới một bức thư gửi Tổng Thống Johnson, đăng trên tờ New York Time ngày 4/4/1965, kêu gọi “Nhân danh Thiên Chúa, hãy ngừng ngay chiến tranh” (In the name of God, STOP IT), 65 giáo sư đại học Saigon cũng lên tiếng đòi một cuộc dàn xếp hòa bình, Bertrand Russel, Jean Paul Sartre, hàng trăm giáo sư đại học trên khắp thế giới, hai anh em đều là linh mục Công Giáo Daniel và Philip Berrigan cùng hàng trăm ngàn sinh viên Mỹ ngày ngày xuống đường “phản chiến”.  Ông Nhuệ Hồng tính sao với số người này mà lại viết lên một câu ngớ ngẩn: “..dầu rằng trong thập niên 60 Thầy theo phe phản chiến.”  Theo phe phản chiến thì sao?  Ngày nay, cái mũ “phản chiến” đã trở thành lố bịch trước những sự thật lịch sử.  Phải chăng chỉ có những kẻ hiếu chiến, khát máu, mới lên án những người chủ trương hòa bình để tiết kiệm xương máu binh sĩ hai miền, và nhất là xương máu của những ngưởi dân Việt vô tội, chết oan trong cuộc chiến.

Tiểu xảo lắt léo của Nhuệ Hồng còn lộ rõ trong đoạn văn sau đây:

“Tôi đọc bản đề nghị của Thầy hơn 10 lần mới đặt bút viết những giòng này. Tôi có cảm tưởng đây không phải là bản đề nghị của Thầy mà là bản công bố lập trường của nhà nước.”

Trong bản văn, Thầy Nhất Hạnh đề nghị 6 điểm với “Người Cộng sản Việt Nam”, nhưng Nhuệ Hồng đã cố tình xuyên tạc “đề nghị” thànhlập trường của nhà nước.” và trắng trợn tự ý đổi “đề nghị Người Cộng sản Việt Nam...” của Thầy Nhất Hạnh, tự ý thêm vào hai chữ “chúng ta”  thành “Người Cộng sản Việt Nam [chúng ta]”  để lạc dẫn dư luận, và “chứng minh” đó là lập trường của nhà nước.  Thủ đoạn xuyên tạc hạ cấp này không qua được mắt ai trừ những kẻ thông manh hay bước trên đường đời bằng đức tin chứ không nhìn bằng mắt, và những kẻ đầu cơ chính trị như Võ Văn Ái et al... Về phương diện phê bình trí thức, không một người trí thức nào lại vô liêm sỉ đến độ tự ý thêm ý của mình vào văn bản gốc để mà diễn đạt theo ý mình.  Thủ đoạn phi trí thức này là thủ đoạn “dựng lên một người rơm để rồi tự tay mình quật nó ngã xuống.”

Tôi không muốn phê bình tiếp một người mang danh là một luật sư như Nhuệ Hồng-Nguyễn Hữu Thống, mà lại thiếu tư cách như trên, nhưng có một đoạn ông ta viết bậy về lịch sử tôi không thể bỏ qua.  Chúng ta hãy đọc Nhuệ Hồng viết đoạn sau đây:

“Kể từ sau Thế Chiến Thứ Hai, cũng như Anh Mỹ và Hà Lan, Đế Quốc Pháp bắt đầu tự giải thể. Năm 1946 Pháp trả độc lập cho Syrie và Liban. Và năm 1949 tại Điện Élysée Paris, Tổng Thống Pháp Vincent Aureol ký 3 hiệp định với các Quốc Vương Việt Nam, Ai Lao và Cao Miên để trả độc lập cho Việt Nam (8 tháng 3-1949), cho Ai Lao (20 tháng 7-1949), và cho Cao Miên (8 tháng 11-1949). Ngay từ 1947, Tổng thống Pháp đã yêu cầu Liên Hiệp Quốc đăng ký 3 nước Việt Miên Lào là những quốc gia độc lập.”

và đi đến kết luận: 

“Trên bình diện dân tộc đây là cuộc chiến tranh vô ích, vô lý và vô nghĩa. Và 3 triệu thanh niên nam nữ đã phải hy sinh thân sống, không phải để giành độc lập cho quốc gia, mà để cho Đảng Cộng sản cướp chính quyền. Như vậy theo tôi, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản không có công giành độc lập và thống nhất đất nước”

để bác công kháng chiến giành độc lập và thống nhất của người dân Việt Nam, cho rằng Việt Nam không cần phải kháng chiến, không cần phải hi sinh để giành độc lập và thống nhất đất nước, chỉ cần ngồi đấy mà chờ thì Pháp sẽ hai tay dâng nước Việt Nam lại cho người Việt Nam.

Chúng ta thấy rõ, không những Nhuệ Hồng dốt sử không kém Lữ Giang, mà còn trắng trợn phủ nhận công ơn hi sinh xương máu của người dân Việt Nam trong công cuộc giành lại nền độc lập và thống nhất cho nước nhà.

Thật vậy, vài câu hỏi được đặt ra: 

Thứ nhất,   Nhuệ Hồng viết:  “năm 1949 tại Điện Élysée Paris, Tổng Thống Pháp Vincent Aureol ký 3 hiệp định với các Quốc Vương Việt Nam, Ai Lao và Cao Miên để trả độc lập cho Việt Nam....”.  Nhưng Quốc Vương Việt Nam khi đó là ai? có phải là Quốc Vương của toàn cõi Việt Nam hay không? Việt Nam nào nhận Quốc Vương đó là Quốc Vương?  Năm 1945, Bảo Đại đã thoái vị với câu “Trẫm thà làm dân của một nước tự do còn hơn làm Vua của một nước nô lệ.”  Vậy năm 1949, Quốc Vương Việt Nam từ đâu mà ra?  Do Pháp dựng lên hay là do toàn dân tôn lên và tung hô “Vạn Tuế, Vạn Tuế, Vạn Vạn Tuế”? 

Thứ nhì, Trả độc lập cho Việt Nam?  Hay lắm!  Nhưng 1949, Pháp có bao nhiêu quân ở Việt Nam và đang làm gì với 85% quân phí do Mỹ viện trợ?  Quốc Vương Việt Nam đối phó ra sao với số quân của Pháp này trong một nước độc lập, hay nhất cử nhất động đều phải được Pháp chấp thuận?  Vậy độc lập ở cái chỗ nào? Vả chăng, một Quốc Vương bù nhìn trong những vùng Pháp chiếm đóng, chỉ tập xung quanh một số thành thị, có đủ tư cách và chính danh, nhân danh toàn dân Việt Nam để ký hiệp định, bất cứ hiệp định nào với Pháp hay không?  

Thứ ba, cuộc kháng chiến chống Pháp trở lại Việt Nam toan tính tái lập chế độ thuộc địa ở Việt Nam là của toàn dân, từ Nam ra Bắc, hay của chính phủ bù nhìn Bảo Đại, hay của những khu “tự trị” (sic) như Bùi Chu, Phát Diệm, theo lệnh của Tòa Thánh chống kháng chiến, vì theo một sắc lệnh của Giáo Hoàng Pie XII ban hành ngày 1 tháng 7 năm 1949, tuyên bố "tuyệt thông" bất cứ người nào cộng tác với Cộng sản, tuyên truyền cho CS, đọc sách báo CS v...v.. nên giáo hội Công Giáo Việt Nam, một lần nữa, lại hợp tác với quân đội Pháp, được Pháp trang bị vũ khí để chống lại công cuộc kháng chiến để bảo vệ nền độc lập mới thu hồi của dân tộc Việt Nam?

Chuyện Pháp muốn lập lại nền đô hộ ở Việt Nam với những âm mưu phân chia Việt Nam thành những vùng tự trị như “Nam Kỳ tự trị”, “Hoàng Triều cương thổ”, “Tây Nguyên tự trị” và những ốc đảo Công Giáo tự trị như Bùi Chu, Phát Diệm  v..v.. trong khi ngày 2/9/1945, tại công trường Ba Đình, bản Hiến Pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập đã được tuyên bố, trong đó Điều 3, Chương I, đã khẳng định: “Đất nước Việt Nam là một khối Trung-Nam-Bắc thống nhất không thể phân chia.”  Mưu đồ tái lập nền đô hộ Đông Dương của Pháp đã được Trưởng phái đoàn quân sự Pháp là Sainteny: “..quả quyết rằng không lúc nào chính phủ lâm thời Paris có ý định rời bỏ quyền lợi của nước Pháp ở Đông Dương”  (Sainteny, Histoire d’une paix manquée, Paris 1953, page 55).  Quyền lợi của nước Pháp ở Đông Dương là gì?

Từ những sự kiện lịch sử trên, chúng ta có thể tin được chăng, theo như Nhuệ Hồng viết, là cứ ngồi đó chờ thì Pháp sẽ hai tay dâng trả độc lập cho Việt Nam?  Chúng ta có thể không đồng ý với một số chính sách của Việt Minh, nhưng chúng ta không thể phủ nhận là Việt Minh đã vận động được quần chúng, từ Nam ra Bắc, trong công cuộc kháng chiến chống Pháp để đi đến thành công, tuy chưa hoàn toàn vì những lý do bất khả kháng, với cuộc chiến kết thúc vào năm 1954, đất nước tạm thời phân chia làm hai vùng rút quân của hai phe: Pháp và Việt Minh [quân lực Việt Nam quốc gia nằm dưới cái dù của Pháp] theo Hiệp Định Genève, chờ ngày thống nhất đất nước qua cuộc Tổng Tuyển Cử vào năm 1956. Cũng như trong bao cuộc kháng chiến chống xâm lăng trước đây trong lịch sử Việt Nam, công kháng chiến là công của toàn dân, vì tinh thần quốc gia và yêu nước của người Việt Nam rất mạnh, không chấp nhận sự thống trị của ngoại bang về quân sự cũng như về tâm linh. Mỹ thua ở Việt Nam vì cho rằng ưu thế quân sự có thể giải quyết tất cả, không buồn nghiên cứu lịch sử Việt Nam nên không biết đến tinh thần quốc gia của người Việt Nam.

Trong bài của Nhuệ Hồng còn nhiều điểm viết nhảm nhí về Phật Giáo, cho nên ngoài Trần Văn Thông ở trong nước còn có những người ở ngoại quốc như Thanh Hai, Bùi Hữu Tường, Trần Hoài Nam đã lên tiếng vạch trần trình độ hiểu biết thấp kém của tác giả về Phật Giáo, ở đây tôi không cần phê bình thêm về vấn đề này nữa.  Tác giả Nhuệ Hồng cũng không hiểu rõ chủ trương tách biệt Tôn Giáo và Nhà Nước của Mỹ, nên viết rằng “Nhà Nước không có quyền can thiệp vào tôn giáo, ngược lại tôn giáo lại có quyền và có nghĩa vụ can thiệp vào các hoạt động và chính sách của nhà nước.”  Như vậy là tôn giáo đứng trên chính quyền như Công Giáo trong thời Trung Cổ ở Âu Châu?   Chủ trương tách biệt Tôn Giáo và Nhà Nước của Mỹ không phải là Nhà Nước không được can thiệp vào Tôn Giáo.  Những vụ như Jim Jones và David Koresh và nhiều vụ khác ở Mỹ đã chứng minh như vậy. Các nhà lập quốc Hoa Kỳ, rút kinh nghiệm từ Âu Châu, đã nhận rõ hiểm họa của tôn giáo, tôn giáo ở đây nên hiểu là Công Giáo cách đây vài thế kỷ, một khi tôn giáo nắm quyền thế trị như ở Âu Châu, do quyền lực tự tạo từ mê tín và cuồng tín, Công Giáo đã gây nên những cuộc bạo hành đối với các tôn giáo khác như lịch sử Âu Châu đã chứng tỏ, cho nên đã đưa vào hiến pháp quan niệm tách biệt tôn giáo và Nhà Nước để bảo vệ người dân không bị những quan điểm tôn giáo khác áp đặt [Công giáo nắm quyền thì sẽ tìm đủ mọi cách để cưỡng bức người dân cải đạo như lịch sử thế giới đã chứng minh], và được quyền tự do tin vào bất cứ tôn giáo nào thích hợp với mình hay không tin vào tôn giáo nào.  Và như vậy, Quốc Hội sẽ không được làm luật thiên vị đặc biệt đối với bất cứ tôn giáo nào, hoặc thiết lập bất cứ một định chế tôn giáo nào. Cũng vì vậy mà mọi mưu toan của Ki Tô Giáo nói chung, muốn áp đặt niềm tin về “Sáng Tạo” hay “Thiết Kế Thông Minh” trong Ki Tô Giáo vào nền giáo dục Hoa Kỳ, và ngay cả với ảnh hưởng của một tín đồ Ki-Tô sùng tín như Tổng Thống Bush, cũng đều thất bại và không có tác dụng gì trên chính quyền, trừ vài trường hợp lẻ tẻ không đáng kể ở một số địa phương.

Trên thực tế, vì tôn giáo chỉ là một tổ chức của những người cùng chung một tín ngưỡng trong một quốc gia, trong khi chính quyền đại diện cho toàn dân và làm việc cho toàn thể quốc gia, cho nên vì quyền lợi quốc gia, chính quyền vẫn có quyền can thiệp vào tôn giáo nếu tôn giáo đó không tuân theo luật pháp quốc gia, hay vi phạm những luật dân sự.  Tự do tôn giáo có nghĩa là tự do theo bất cứ một tôn giáo nào mình muốn, và theo những lễ tiết trong tôn giáo đó, nhưng tuyệt đối không có nghĩa là tự do muốn làm gì thì làm, vi phạm luật pháp quốc gia, bất chấp chính quyền. Tinh Lành ở Tây Nguyên mưu đồ lập nước Đê-ga tự trị, tách ra khỏi quốc gia Việt Nam, là một hành động làm loạn, vi phạm chủ quyền Việt Nam, không phải là Tự Do Tôn Giáo.   Chính quyền Việt Nam có đầy đủ thẩm quyền để can thiệp vào những hành động làm loạn hay dựa thế ngoại bang để gây xáo trộn trong quốc gia, nấp sau chiêu bài nhân quyền hay tự do tôn giáo.  Một thí dụ điển hình về quyền can thiệp của Nhà Nước Mỹ là đặt ra ngoài vòng pháp luật chủ trương đa thê của phái Mormon, cũng như giáo lý không được phép truyền máu của phái Jehovah Witness.  Vi phạm những điều này sẽ bị chính quyền truy tố ra trước Pháp Luật. Chúng ta cũng đã biết Giáo hội Công giáo đã phải bỏ ra gần 2 tỷ đô-la để bồi thường cho các nạn nhân tình dục của các linh mục loạn dâm trong khi Tòa Thánh vẫn cho rằng đó là những chuyện nội bộ của Công Giáo phải do Công Giáo xử lý.  Chính quyền Mỹ không chấp nhận chính sách bao che của Vatican vì vụ Linh mục loạn dâm nổ ở Boston đã chứng tỏ chủ trương của Tòa Thánh là bao che và dung dưỡng các Linh mục phạm tội trong Giáo Hội.  Do đó một số Linh mục đã vào tù ngồi và Giáo hội phải bỏ ra những số tiền khổng lồ để bồi thường cho các nạn nhân của Giáo hội.   Nói tóm lại, tôn giáo được tự do hoạt động miễn là phải nằm trong những luật quy định bởi chính quyền, chứ không có nghĩa là tự do muốn làm gì thì làm.

Phê bình và bày tỏ những ý kiến riêng là quyền của mọi người.  Tuy nhiên, khi viết về lịch sử hay tôn giáo thì chúng ta nên cẩn thận, không thể viết bừa bãi và phải hội đủ vài đòi hỏi căn bản.  Thứ nhất, các sự kiện lịch sử không có tính cách phe phái, chúng ta có thể có những nhận định khác nhau về một sự kiện nào đó, nhưng không thể xuyên tạc lịch sử một cách vô căn cứ, sai với những sự thực lịch sử.   Về tôn giáo, chúng ta không bao giờ được lấy quan niệm hay đức tin trong tôn giáo của chúng ta để mà bác bỏ hay phê bình tiêu cực về một tôn giáo khác.  Muốn viết về tôn giáo khác chúng ta phải dựa trên những niềm tin, kinh điển, giáo lý v..v.. trong chính tôn giáo đó.  Nhuệ Hồng đã không hội đủ những điều kiện căn bản này cho nên đã viết bừa bãi về lịch sử cũng như về tôn giáo.  Tôi thiết tưởng, trong thời đại ngày nay, về phương diện trí thức, chúng ta không có quyền dùng thủ đoạn xuyên tạc để hạ thấp hay chụp mũ bất cứ người nào mà không có những bằng chứng xác thực để chứng minh.  Những ý kiến bắt nguồn từ cảm tính cá nhân bất kể đến sự thực, hay từ những vũng bùn chính trị thời thượng, thực chất đã không còn một giá trị nào trong giới truyền thông ngày nay.  Nhuệ Hồng đã phạm phải một lỗi lầm nghiêm trọng về vấn đề phê bình trí thức là đã cố ý xuyên tạc, bịa đặt, dựng đứng sự việc để diễn giải theo lập trường chính chị của mình.  Tệ hơn cả là Nhuệ Hồng không đủ kiến thức về những điều mình viết ra, cho nên những điều ông ta viết không có một giá trị trí thức nào.  Tôi hi vọng trong tương lai, những người tự coi mình là trí thức như Nhuệ Hồng, có thể viết cẩn thận hơn, và nhất là phải tìm hiểu vấn đề cho đúng trước khi viết.

 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com