805-gdiem2.gif (5804 bytes)

posted: 04.9.2005

lotus-in-fire  TẢN MẠN & TẢN MẠN:
  THIỀN SƯ NHẤT HẠNH
  CHIẾN TRANH – NHÂN QUYỀN - DÂN CHỦ
 
  PHẦN I.

 

Trần Chung Ngọc

Vài Lời Nói Đầu:

Trong Phật Giáo có Tứ Vô Lượng Tâm: Từ, Bi, Hỉ, Xả.  Từ là “Cho Vui”, Bi là “Cứu Khổ”.  Nhưng “Cho vui” và “Cứu Khổ” trong Phật Giáo không có nghĩa là áp dụng hạnh từ bi một cách bừa bãi, không có trí tuệ.  Người ta thường hiểu lầm hay cố ý cho rằng từ bi phải là “nếu bị tát má này thì đưa thêm má kia cho người ta tát” hay là phải “hiền như Bụt”.  Đây là sách lược Ki-tô Giáo đã áp dụng ở bên Thái Lan cũng như nhiều nơi khác ở Á Đông.  Họ cố tình tung ra những văn phẩm xuyên tạc, hạ thấp và mạ lỵ Phật Giáo.  Khi Phật Giáo có phản ứng thì họ bèn đi rêu rao là Phật Giáo quá khích, không thực hành đúng hạnh từ bi của Phật Giáo.  Vì thế, một số người trong Phật Giáo vô tình đã đâm đầu vào cái bẫy của họ, nên khi thấy ai đưa ra những sự thực về một tôn giáo nào khác, dù tất cả chỉ là sự thực, cũng bèn vội vàng lên án: đó không phải Phật Giáo, không áp dụng lời Phật dạy phải dùng ái ngữ, không phải là hạnh từ bi của Phật Giáo v..v... Một cái hiểu về Phật Giáo như vậy tôi cho là khá hạn hẹp, không nhìn thấy cốt tủy của Phật Giáo là ở cái tâm, ở tuệ giác, và thực tế là mọi sự trong xã hội đều có liên hệ và ảnh hưởng tới nhau. Ái ngữ dùng không đúng sự thực trở thành dối trá, mị dân.  Trong 14 điều Phật dạy, điều thứ 2 đã chẳng nói: “Ngu dốt lớn nhất của đời người là dối trá” hay sao?  Người Phật tử không thể chỉ thu hẹp trong phần tu hành của cá nhân mình mà còn phải có bổn phận đối với xã hội, đối với tương lai dân tộc, đất nước, những bổn phận này nhiều khi đòi hỏi phải có những hành động ra ngoài những vấn đề thuộc cá nhân.   Đây chính là chủ trương của Đại Thừa Phật Giáo, cũng là chủ trương của Bồ Tát Đạo.  Khi xưa, nếu đức Phật chỉ nghĩ đến giác ngộ cá nhân thì trong 45 năm trường, Người đã không đi khắp nơi để hiển dương giáo lý của Người, giải hoặc ngoại đạo ra khỏi mê lầm.

Còn nữa, trong 14 điều Phật dạy thì điều thứ 5 nói rằng: “Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh mất mình”, điều thứ 10: “Tài sản lớn nhất của đời người là sức khỏe, trí tuệ”, và điều thứ 13: “Khiếm khuyết lớn nhất của đời người là kém hiểu biết”.  Sở dĩ con người luôn luôn vấp phải sự sai lầm lớn nhất để tự đánh mất mình là vì kém hiểu biết, một khiếm khuyết lớn nhất của đời người.  Vì kém hiểu biết cho nên con người cứ tin bướng tin càn vào những điều “không thể tin được”, do đó trở thành nô lệ cho những thứ huyễn hoặc, không thực, nghĩa là tự xa lìa mình, tự đánh mất mình, tự làm khổ mình.  Cho nên, đưa ra những sự thực bất khả phủ bác về lịch sử, khoa học, tôn giáo v..v.. là giúp cho con người tăng thêm hiểu biết, phát triển trí tuệ để cho con người thoát khỏi sự mê lầm tự lìa xa chính mình, có thể tìm lại được chính mình, đó chính là áp dụng hạnh “cho vui” và “cứu khổ” trong Phật Giáo.  Trong lịch sử Phật Giáo chúng ta thấy không thiếu gì những hành động, lời nói v..v.. bề ngoài có vẻ như không có gì là từ bi nhưng lại phát xuất từ tâm từ bi.

Trong Tứ Vô Lượng Tâm, có vẻ như hạnh “xả” là một hạnh khó khăn nhất đối với những người hành đạo cũng như không hành đạo. Tất cả cũng chỉ vì mê chấp.  Dĩ vãng đã qua, nhưng con người thường cứ hay bám vào dĩ vãng.  Theo tôi, sống với dĩ vãng, dù là dĩ vãng của sự vinh quang hay dĩ vãng của hận thù, chẳng qua cũng chỉ là tự mình làm khổ mình mà thôi.   Khổ một nỗi, có vẻ như con người lại cứ thích tự mình làm khổ mình, không quên được sự vinh quang của dĩ vãng, phần lớn là do thời thế tạo nên chứ chẳng phải do tài cán gì, hay không dứt bỏ được hận thù của dĩ vãng, thường chỉ là hận thù một chiều.  Không những thế, ta còn nuôi dưỡng hận thù, lao đầu vào nghiệp vụ đi buôn hận thù, và truyền lại hận thù cho thế hệ sau.  Thật là tội nghiệp cho đám trẻ nếu các bậc cha mẹ truyền lại mối hận thù của đời mình cho đời con. 

Tôi là một Phật tử đã quy y Tam Bảo từ trên 40 năm trước.  Vì vậy tôi không thể không quan tâm đến Phật Giáo Việt Nam.  Phật Giáo Việt Nam là một thành phần trong xã hội, cùng với dân tộc như bóng với hình, cho nên cũng phải cùng bước những bước thăng trầm của đất nước.   Tôi mơ ước một thời đại Lý Trần: “Thiên hạ Lý Trần bán vi Sư”, thời đại của Tam Giáo (Thích, Nho, Lão) đồng nguyên, thời đại thuần từ nhất của đất nước, thời đại chống xâm lăng oanh liệt nhất của Việt Nam, thời đại mà các Cao Tăng tham gia Chánh Sự nhưng không tham gia Chánh Quyền, làm nhiệm vụ cố vấn cho chính quyền trong việc nước.  Xong việc nước, coi chức tước, ngai vàng như đôi dép rách.  Chuyến về quê hương hoằng Pháp của Thiền Sư Nhất Hạnh gần đây ít ra cũng có vài sắc thái của thời đại Lý Trần.

Tôi cũng là một sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trước đây, tuy thời gian phục vụ chỉ ngắn ngủi có trên 8 năm.  Vì thuộc lớp sĩ quan trừ bị, và vì đời quân ngũ không hợp với tính tình, nên tôi đã xin giải ngũ sau Hiệp Định Genève, vào năm 1956, rồi lại bị gọi tái ngũ năm 1962, rồi cũng lại xin được giải ngũ năm 1966, đi về nhà gõ đầu trẻ.  Cuộc đời trải qua 2 lần di cư: từ Bắc vào Nam năm 1954, từ Nam sang Mỹ năm 1975.  Tôi hoàn toàn không hối tiếc những quyết định trên mà cho tới ngày nay tôi vẫn cho đó là những quyết định đúng.  Di cư sang Mỹ đến nay đã được trên 30 năm.   Ngày nay, trước sự tràn ngập những bài viết phản ánh tâm cảnh Quốc-Cộng còn sót lại từ 30 năm trước, tôi muốn quên đi cuộc chiến đã qua mà không quên được, một cuộc chiến mà tôi đã có mặt trong Quân Đội VNCH hơn 8 năm trời.

Sau cùng, tôi đang sống trong một quốc gia có chế độ gọi là Dân Chủ, tương đối tôn trọng tự do, nhân quyền của người dân...Mỹ, và chỉ người dân Mỹ mà thôi, và biết rằng Dân Chủ Hóa Toàn Cầu là sách lược của ông Bush nói riêng, của Mỹ nói chung, để đối phó với những nguy cơ bị khủng bố và lẽ dĩ nhiên, để xuất cảng trên toàn thế giới, nhất là vào những nước nhỏ, yếu, quan niệm về dân chủ, tự do và nhân quyền của Mỹ, bất kể đến những sự khác biệt về văn hóa, truyền thống dân tộc, và quan niệm về dân chủ, tự do, và nhân quyền của các nước này như thế nào.  Mỹ cho rằng quan niệm về dân chủ, tự do, và nhân quyền của Mỹ là khuôn vàng thước ngọc mà cả thế giới phải theo, và Mỹ là cái đầu tầu kéo cả thế giới theo sau, hay là một thị trấn trên đồi cao (a city on the hill) mà cả thế giới phải ngước mắt lên ngưỡng vọng.  Với tâm cảnh trịch thượng vô lối như vậy, không lạ gì cả thế giới thích đô-la Mỹ nhưng lại rất ghét chính sách đối ngoại của Mỹ.  Lẽ dĩ nhiên, đại đa số dân chúng không biết đến bộ mặt thực về dân chủ của Mỹ.  Trong phần I, tôi không muốn bàn về vấn đề này. Tôi đề nghị quý độc giả hãy kiếm đọc hai cuốn sách sau đây: 1) Cuốn “The Future of Freedom: Illiberal Democracy at Home and Abroad” của Fareed Zakaria, Ký giả nổi tiếng của tờ Newsweek, xuất bản năm 2003; và 2) Cuốn “Democracy Matters” của Cornel West, Giáo sư về Tôn Giáo Học tại đại học Princeton, đã từng là Giáo sư ở Yale, Harvard, và đại học Paris, xuất bản năm 2004.  Trong Phần III của loạt bài này, tôi sẽ có dịp nhắc đến hai cuốn sách rất có giá trị khảo cứu này.

Biết được chữ xả nhưng không hành được xả.  Vì vậy tôi muốn làm một công việc “lội ngược dòng” trong cộng đồng hải ngoại, chẳng giống ai, như một con cá muốn “vượt vũ môn”.  Có ý định là đủ, còn có vượt được hay không, không phải là điều đáng quan tâm.   Tôi biết tôi đang tự làm khổ tôi, nhưng cái khổ này không đặt căn bản trên sự hận thù, vì tôi hiểu một niệm hận thù có thể thiêu đốt cả một rừng công đức, mà là cái khổ của một người đa đoan, chưa xả được cái dòng máu Việt Nam còn luôn luôn chạy trong huyết mạch, nên cứ tự mình làm khổ mình, lăn lưng ra làm những công việc không nên làm, viết ra những điều không nên viết, đụng chạm những thứ không đáng đụng chạm..  Vậy trong bài này, tôi xin lội ngược dòng, viết lên ít điều tản mạn xung quanh mấy vấn đề thời sự trong cộng đồng hải ngoại: BIẾN CỐ THIỀN SƯ NHẤT HẠNH VỀ VIỆT NAM HOẰNG PHÁP; CUỘC CHIẾN HƠN 30 MĂM TRƯỚC Ở VIỆT NAM; và VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN, TỰ DO, DÂN CHỦ.

PHẦN I:

Tản Mạn Xung Quanh Biến Cố
Thiền Sư Nhất Hạnh Về Việt Nam Hoằng Pháp:

Trước hết, tôi cần minh xác một điều.  Tôi không phải là đệ tử của Thầy Nhất Hạnh, và tôi cũng không phải là một “fan” của Thầy để có thể coi Thầy như một Thần Tượng.  Do đó, bài viết này thuần túy theo quan điểm và suy tư cá nhân.

Chuyến về Việt Nam của Thầy Nhất Hạnh cùng phái đoàn Tăng thân Làng Mai và một số Phật tử, tổng cộng khoảng 200 người, có thể coi là một biến cố quan trọng trong lịch sử Việt Nam.    nhiều dấu hiệu để cho những người Việt Nam yêu nước hi vọng về tương lai của đất nước: kinh tế phát triển, văn hóa đạo đức truyền thống của dân tộc được hồi phục và gìn giữ, gây hòa hợp trong đại khối Phật Giáo, thanh tịnh hóa đường lối tu tập, chuyển đổi não trạng của chính quyền, giảm bớt tham nhũng, cải tiến giáo dục, giảm bớt những tệ đoan xã hội v..v...   Lẽ dĩ nhiên, Phật Giáo không nằm ngoài xã hội và phải có trách nhiệm góp phần hiện thực những khao khát chung của người dân Việt như trên. Chuyến về của Thầy Nhất Hạnh hi vọng đã góp được phần không nhỏ trong những chiều hướng xây dựng trên, tôi thành thực hi vọng như vậy.

Tuy nhiên, cũng có vài tiếng nói chống đối cất lên một cách lạc lõng, hoặc do cảm tính cá nhân, hoặc bắt nguồn từ vũng bùn chính trị thời thượng, hoặc với ảo tưởng là ánh sáng lập lòe của vài con đom đóm có thể làm lu mờ được ánh sáng vằng vặc của vầng trăng rằm mùa thu.  Một con đom đóm nhỏ, tự cho mình là sáng, như Võ Văn Ái, rút cuộc cũng chỉ là một con đom đóm lập lòe vài ánh sáng lưu manh chính trị, điển hình của một tay sai lãnh tiền của NED đã đưa ra những thông tin bịa đặt về Thiền Sư Nhất Hạnh và mục đích chuyến về quê hương hoằng Pháp của Thiền Sư.  Lưu manh chính trị vị chưa biết Thiền Sư Nhất Hạnh về Việt Nam có những hoạt động gì, sẽ giảng thuyết những gì, có lợi hay có hại cho Phật Giáo đồ Việt Nam nói riêng, cho đất nước Việt Nam nói chung, đã vội lên tiếng xuyên tạc, chụp mũ một cách quá hạ đẳng chuyến đi của Thiền Sư Nhất Hạnh và Tăng Thân Làng Mai, chưa kể là còn bịa đặt viết láo về dòng tu Tiếp Hiện do Thầy Nhất Hạnh chủ trương.

Thật ra thì, nếu chúng ta hiểu ít nhiều về lý tưởng Phật Giáo, tinh thần Phật Giáo, và lịch sử Phật Giáo ở Việt Nam thì chúng ta có thể nhìn thấy nhiều dấu hiệu tích cực trong chuyến về Việt Nam của Thầy Nhất Hạnh cùng phái đoàn Tăng thân Làng Mai, và mọi tiếng nói chống đối lạc lõng cũng như mọi chuyện thị phi xung quanh chuyến về này sẽ không còn chỗ đứng. Người ta thường nói: Đức Phật là một bậc lương y, tùy bệnh mà cho thuốc, do đó Phật Giáo có 84000 Pháp môn để đưa con người đến giác ngộ, hiển nhiên là không thể có một Pháp môn nào trong  Phật Giáo được coi là duy nhất.  Ai cũng biết Đạo Phật là đạo của trí tuệ, của minh sát, của thực chứng chứ không phải là đạo thuộc loại tin bướng tin càn, tin một cách phi lý trí, phản khoa học, tin mà không hiểu mình tin cái gì.  Nhưng chúng sinh thì vô lượng, và căn trí thì bất đồng, trí tuệ mỗi người mỗi khác, cho nên cái hiểu về Phật Giáo cũng tùy theo trình độ hiểu biết, tùy theo căn trí của mỗi người.  Vì vậy, một trong những sai lầm nghiêm trọng của một số nhỏ “Phật tử” phê phán tiêu cực về chuyến về Việt Nam của Thiền Sư Nhất Hạnh có vẻ như bắt nguồn từ một tâm cảnh chính trị thời thượng và một kiến thức rất giới hạn về Phật Giáo, phản ánh một căn trí và một trình độ hiểu biết không lấy gì làm cao cho lắm.  

Phật Giáo có ba Tạng Kinh, Luật, Luận.  Tư tưởng, triết lý trong đó thật là bao la, tôi tin rằng khó có ai có thể nắm vững được toàn bộ khoan nói đến việc hội nhập và hành trì.  Ý thức được điều này, cho nên sau đây trước hết tôi xin trình bày một vài điểm trong cái hiểu rất giới hạn của tôi về Phật Giáo, rồi sau đó, dựa vào cái hiểu này, tôi mới bày tỏ những cảm nghĩ, suy tư của tôi về chuyến về Việt Nam của Thiền Sư Nhất Hạnh và Tăng Thân, Cư Sĩ Làng Mai.  Tôi xin nói rõ  là cái hiểu giới hạn của tôi về Phật Giáo là cái hiểu về Tinh Thần Duy Ma Cật,

Có một điều tôi cần phải nói trước: đó là trong thế giới đa tôn giáo ngày nay, một cái hiểu về Phật Giáo không không đủ, mà để đánh giá đúng Phật Giáo chúng ta không ít thì nhiều cũng cần hiểu thêm về một số tôn giáo lớn khác như Ấn Độ Giáo, Ki-tô Giáo, Hồi Giáo.  Cho nên, trong bài này, nếu tôi có nhắc đến một vài sự kiện trong tôn giáo khác thì mục đích cũng chỉ là trình bày sự khác biệt của Phật Giáo mà thôi, chứ không có nghĩa là Phật Giáo hay hơn hay đúng hơn các tôn giáo khác. Nhận định và phán xét xin để cho độc giả.

Trước hết là một câu nói của Đức Phật về thế nào là đạo Phật: “Như nước biển chỉ có một vị , vị mặn của muối, đạo của Ta cũng chỉ có một vị, vị giải thoát.”  Nhưng sự so sánh trên không dừng ở đó, vì nhìn vào lịch sử truyền đạo của Phật Giáo chúng ta còn thấy một điểm khác: Cũng như biển cả, đến bờ biển nước nào thì biển uốn theo hình bờ biển của nước đó nhưng vẫn không mất đi đặc tính của biển, Phật Giáo đi vào nước nào cũng tùy duyên, tùy cảnh, tùy dân tộc tính, tùy thời đại, tùy bối cảnh xã hội chính trị v..v.. để truyền bá tư tưởng Phật Giáo nhưng vẫn giữ nguyên hương vị giải thoát của mình. Cũng vì vậy chúng ta thấy có những tông phái Phật Giáo khác nhau, và các Phật Giáo địa phương cũng có phần khác nhau, nhưng cốt tủy Phật Giáo thì không thay đổi.  Thuật ngữ Phật Giáo mô tả phương pháp truyền đạo này là Khế Lý, Khế Cơ, Tùy Duyên Bất Biến.  Phương pháp này được các trưởng tử Như Lai áp dụng triệt để và thường được biết dưới tên: “phương tiện quyền xảo.”  Do đó, những hành động cứng rắn trong lập trường cá nhân bất kể đến bối cảnh lịch sử chính trị của xã hội là những hành động mà tôi cho là thiếu trí tuệ, mà trí tuệ chính là điều kiện cần và đủ để có thể xứng đáng là một trưởng tử Như Lai.  Xin đừng hiểu lầm, “phương tiện quyền xảo” không có nghĩa là theo “cơ hội chủ nghĩa” hoặc “gió chiều nào theo chiều ấy” để mà thủ lợi, mà là khai thác cơ hội và nương theo chiều gió để có thể thuận lợi  mang vị giải thoát đến cho mọi chúng sinh cùng chuyển hóa chúng sinh.  Tôi xin nói thêm chút ít về “phương tiện quyền xảo”.

Phương tiện quyền xảo đã được áp dụng ngay từ thời Đức Phật còn tại thế. Một câu chuyện rất quen thuộc trong Phật Giáo có thể dùng để minh họa điều này.  Đó là câu chuyện về người phụ nữ  Kisa Gotami: 

“Nàng Gotami có một đứa con trai nhỏ mà nàng rất yêu quí.  Chẳng may đứa con đó lại chết.  Rất đau khổ, Gotami bèn bồng đứa con nhỏ đi từng nhà một cầu xin xem có thuốc nào làm cho đứa bé sống lại không.  Người ta đều cho là bà ta điên.  Có một người thương hại bảo bà ta là hãy mang đứa con đến Đức Phật, xin Người cứu giúp.  Kisa Gotami bèn bồng con đến Đức Phật.  Đức Phật hứa sẽ làm cho con bà Kisa Gotami sống lại nhưng cần phải có một nắm hạt cải, nhưng những hạt cải này phải từ một ngôi nhà mà trong đó chưa có người nào chết.  Kisa Gotami đi từng nhà hỏi xin hạt cải, nhà nào cũng sẵn sàng cho, nhưng khi hỏi trong nhà đã có người nào chết chưa, thì câu trả lời bao giờ cũng là “đã có”.  Cuối cùng, Kisa Gotami giác ngộ được một điều: cái chết là số phận chung cùng của con người, không ai có thể tránh được.  Bà Gotami bèn hỏa táng đứa con và trở về xin làm đệ tử Phật.”

Đọc câu chuyện này, chúng ta thấy rằng Đức Phật quả là bậc đại trí.  Người không  nói với Kisa Gotami là : “Ta không làm cho người chết sống lại được”, tuy đây là sự thật, vì như vậy là gây nên một mối thất vọng lớn cho bà Kisa Gotami, làm cho bà ta mất đi sự hi vọng và tin tưởng là Đức Phật sẽ cứu sống được con bà.   Qua một lời hứa mà Đức Phật biết rằng bà Kisa Gotami không thể nào kiếm được những hạt cải theo điều kiện của Đức Phật, Đức Phật đã giúp cho bà Kisa Gotami nhận thức ra được một chân lý của cuộc đời và do đó bớt đi sự đau khổ vì mất đứa con.  Đọc Kinh Thánh của Ki-tô Giáo, chúng ta thấy chuyện Chúa Giê-su trổ tài làm phép lạ cứu Lazarus đã chết sống lại.  Kinh Thánh không nói rõ là phép lạ của Giê-su có hiệu lực trong bao lâu, nghĩa là Lazarus sống lại được bao lâu, và rồi có lại chết lại hay không.  Và chính Giê-su, chết sau khi bị đóng đinh, hay chết ở miền Nam nước Pháp theo như vài giả thuyết, cũng đâu có sống lại.   Trong Kinh Thánh của Ki-tô Giáo cũng còn có chuyện Chúa Giê-su làm cho người mù sáng mắt, một chuyện làm vô ích vì Kinh Thánh dạy, 2 Corinthians 5:7: “Vì chúng ta bước đi bởi đức tin, chớ chẳng phải thấy bằng mắt”   (For we walk by faith, not by sight). Kinh Thánh viết vậy nhưng lại không cung cấp (supply) những cái gậy dò đường cho những tín đồ bước đi bởi đức tin, nên tuyệt đại đa số tín đồ mò mẫm chán rồi rút cuộc rơi xuống vực thẳm của tâm linh, trừ một số đã cưỡng lại lời của Chúa trong Kinh Thánh, mở mắt ra để đi trên đường đời, trong số hàng triệu người như vậy có Charlie Nguyễn.

Phương tiện quyền xảo không chỉ áp dụng cho cá nhân như trong trường hợp của bà Kisa Gotami mà chúng ta còn thấy được áp dụng cho cả những nền văn hóa khác nhau.  Chúng ta biết rằng, ngay từ thời Đức Phật tại thế, Người đã từng khuyến khích các đệ tử rao giảng Phật Pháp bằng tiếng địa phương, trong nền văn hóa của địa phương, cho bất cứ người nào muốn chấp nhận Phật Pháp.  Và rồi, đối với giới trí thức Ấn Độ, Phật Pháp được rao giảng bằng tiếng Sanskrit, sang đến Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam v..v.. Phật Pháp đều được rao giảng bằng tiếng địa phương.

Có thể nói, Thiền Sư Nhất Hạnh đã áp dụng “phương tiện quyền xảo” một cách rất ư là .. “quyền xảo” trong chuyến về quê hoằng dương Đạo Pháp.  Người đã nương theo tình trạng xã hội và chính trị ở trong nước để tạo cơ hội về nước giảng Pháp, nói lên những thông điệp xây dựng đất nước, những điều rất cần thiết ngày nay.  Chúng ta chỉ cần nhìn vào Những Đề Tài Thuyết Giảng, Lá Thư Chúc Tết, Sáu Điểm Đề Nghị của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh Về Sự Cởi Mở của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Bảy Điểm Về Chính Sách của Nhà Nước Việt Nam Đối Với Phật Giáo thì chúng ta có thể thấy ngay Thiền Sư Nhất Hạnh đã áp dụng “phương tiện quyền xảo” trong Phật Giáo như thế nào.  Lá Thư Chúc Tết của Thiền Sư Nhất Hạnh đã được Hoàng Nguyên Nhuận phân tích chính xác và sắc bén trong bài HẠNH NGUYỆN CỦA MỘT NHÀ SƯ trên trang nhà Chuyển Luân, www.chuyenluan.com, Sáu Điểm Đề Nghị của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh Về Sự Cởi Mở Của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã được Trần Văn Thông ở trong nước phân tích và giảng giải trong bài “Nhân đọc "Nhuệ Hồng nói với Nhất Hạnh" trên Phù Sa” trên trang nhà Phù Sa, www.phusa.net, để vạch trần những luận điệu bóp méo, xuyên tạc của Luật sư Nhuệ Hồng - Nguyễn Hữu Thống chụp mũ Thiền Sư Nhất Hạnh. Xin quý độc giả hãy tìm đọc hai bản phân tích vô cùng giá trị này.

Để cho vấn đề được rõ ràng, tưởng chúng ta cũng nên nhắc lại là Thiền Sư Nhất Hạnh đã thuyết giảng những gì ở Việt Nam ngoài những khóa Thầy trực tiếp hướng dẫn Phật tử, Tăng cũng như Tục, tu tập?  Sau đây là những chủ đề thuyết giảng:

-    Cuộc phối hợp tuyệt hảo của tuệ giác đạo Bụt và thờ cúng tổ tiên tại Việt Nam.

-    Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam

-    Tuổi Trẻ - Tình Yêu - Lý Tưởng

-    Vai trò của Phật giáo trong xã hội đương đại

-    'Tương lai của đạo Bụt ở Âu, Úc và Mỹ Châu

-    Thiết lập lại truyền thông giữa hai thế hệ, nối kết hai nền văn hóa và dựng lại tình thâm trong gia đình

-    Truyền thống Thiền tập của Phật Giáo Việt Nam

-    Những phép thực tập hữu hiệu để điều phục cơn giận và tái lập truyền thông

-    Ðón chào Ðức Từ Thị Di Lặc, đức Phật của thương yêu, đức Phật của thế kỷ chúng ta

-    Tương lai và sự phát triển của Phật giáo tại Tây phương

-    Tuệ giác Phật Giáo trong Truyện Kiều và sự áp dụng vào đời sống hằng ngày

-    Bản chất của Tình Yêu

-    Văn hóa Việt Nam có thể đóng góp những gì cho sự an vui và hòa bình của thế giới hiện tại ?

-    Vai trò của các Tôn Giáo trong việc giúp lành mạnh hóa xã hội

-    Truyền thống Thiền tập của Phật Giáo Việt Nam

-    Truyện Kiều dưới cái nhìn thiền quán

-    Tương lai văn hóa Việt Nam

-    Thương yêu theo phương pháp Bụt dạy

-   Tây phương đang tiếp nhận đạo Bụt như thế nào ?

Chúng ta thấy, tất cả các bài thuyết giảng về những chủ đề trên đều đã được ghi âm lại, và nội dung là những suy tư về làm sao để lành mạnh hóa xã hội, xây dựng dân tộc và Đạo Pháp, cùng quảng bá cho đại chúng những nét đẹp trong truyền thống và văn hóa Việt Nam?  Vậy những người chống đối chuyến về của Thiền sư Nhất Hạnh chống đối cái gì?  Phải chăng họ không muốn cho Thiền sư thuyết giảng những đề tài thuần túy có tính cách xây dựng và gìn giữ nền văn hóa truyền thống của Dân Tộc như trên, mà chỉ tập trung chuyến về vào những hoạt động chống dân tộc sau chiêu bài chống Cộng, cùng tranh đấu cho tự do tôn giáo để cho Tinh Lành lập nước Dega trên Tây Nguyên?  Và cho rằng những đề tài thuyết giảng như trên là để tuyên truyền cho Cộng sản, hay để gỡ rối cho Cộng Sản trước hành động trịch thượng vô giá trị của Mỹ: xếp VN vào một trong những nước đáng quan tâm, đúng là chỉ phản ánh những đầu óc chứa toàn bùn. Mỹ cho là đáng quan tâm, nhưng Việt Nam, cũng như Trung Quốc, có quan tâm đến cái đáng quan tâm của Mỹ hay không lại là chuyện khác.  Sách lược đối ngoại dùng cây gậy và củ cà-rốt của Mỹ đã mất đi hiệu lực từ lâu, xét đến chính sách lưỡng chuẩn (double standard) hay tam chuẩn, tứ chuẩn v..v.. của Mỹ về vấn đề nhân quyền, dân chủ v.. v.. trên thế giới.  Mỹ đã làm gì trước biến cố Thiên An Môn?  Cũng rất đáng quan tâm đấy, nhưng rồi quan tâm bằng cách tặng Trung Quốc qui chế Tối Huệ Quốc. Còn Việt Nam?  Cũng rất đáng quan tâm, nhưng rồi quan tâm bằng cách mời Thủ Tướng Phan Văn Khải đến Tòa Bạch Ốc, và ông Bush hứa hẹn sẽ đến thăm Việt Nam trong năm 2006.  Cho nên, mọi chống đối chuyến về của Thiền Sư Nhất Hạnh thực chất là vô giá trị, chẳng qua chỉ nằm trong những thủ đoạn nhơ bẩn của những vũng bùn chính trị, những tay sai lãnh tiền của ngoại bang như Võ Văn Ái, và những kẻ cuồng tín hay hẹp hòi tôn giáo, không nhìn ra thực chất chính trị thế giới.

Đài quốc tế BBC có phỏng vấn Thạc Sĩ Nguyễn Bá Chung, chuyên gia nghiên cứu văn hóa Việt Nam, ở Boston, về chuyến đi của Thiền Sư Nhất Hạnh.  Theo Thạc sĩ Nguyễn Bá Chung thì chuyến về Việt Nam của Thiền Sư Nhất Hạnh là một “duyên, hạnh nguyện tốt đẹp không những riêng cho Thầy Nhất Hạnh mà còn cho cả người dân trong nước cũng như ở hải ngoại.”  Thạc sĩ Chung cũng nhận định là ngày nay Nhà Nước Việt Nam đã nhận thức được là một mình Nhà Nước không thể quán xuyến nổi vấn đề nâng cao văn hóa, đạo đức xã hội, mà cần đến sự tiếp tay của Phật Giáo, và một khuôn mặt chói sáng về trí tuệ và đạo đức trong Phật Giáo ngày nay là Thiền Sư Nhất Hạnh.  Đây là một tầm nhìn về tương lai xa của Nhà Nước cũng như của Thiền Sư Nhất Hạnh trong chiều hướng giáo dục người dân để người dân có được sự tự hào của nền văn hóa Việt Nam, tự mình có được hạnh phúc và do đó đưa đến hạnh phúc chung của xã hội. 

Theo tôi, điều trên không có nghĩa là quý vị Tăng Ni trong nước không đóng góp được gì cho Phật Giáo và Dân Tộc về mặt văn hóa và đạo đức xã hội mà chỉ có Thiền Sư Nhất Hạnh mới làm được điều này.  Trái lại, quý vị Tăng Ni trong nước, trong mấy chục năm nay, đã đóng góp rất nhiều cho Phật Giáo và Dân Tộc.  Nhưng có thêm một tiếng nói, một phương pháp tu tập, của một nhà Sư Phật Giáo có uy tín trên thế giới như Thiền Sư Nhất Hạnh đâu có phải là chuyện thừa?  Khi xưa, có những Cao Tăng đã gửi đệ tử của mình đi học thêm từ các vị Cao Tăng nổi tiếng khác, dù khác Tông Phái.  Tinh thần Phật Giáo là như vậy, cốt tủy là tinh tấn mở mang trí tuệ, không câu nệ, phân biệt Tông Phái hay Thầy nọ Thầy kia.

Do đó, chúng ta có thể nói rằng, chuyến về quê hoằng Pháp của Thiền Sư Nhất Hạnh đã được thực hiện trong tinh thần Duy Ma.  Phẩm Phương Tiện trong Kinh Duy Ma Cật đã viết rõ là người tu theo Phật Giáo có thể “vào việc trị chánh để cứu giúp tất cả”, hoặc “nếu ở nơi đại thần, dùng chánh Pháp để dạy dỗ”. Huống chi Thiền Sư Nhất Hạnh chưa hề tham gia việc trị chánh, chưa hề ở nơi đại thần, mà theo tôi, chỉ ở vị thế của một cố vấn tương đương với vai trò của một Quốc Sư trong thời đại Lý Trần, đem những hiểu biết của mình về Đạo về Đời để giúp ích dân tộc. Đây chính là vị thế cần thiết của quý vị Cao Tăng Phật Giáo ở bên nhà cũng như ở Hải Ngoại ngày nay.  Phật Giáo đâu có câu nệ hình thức, phương tiện giúp ích chúng sinh.  Phật Giáo phải có bổn phận giúp chính quyền trên con đường xây dựng, lành mạnh hóa xã hội, phát triển đất nước.  Quy kết là Sư này hay Sư nọ, theo Cộng Sản, hay chống Cộng Sản, hoặc Phật Giáo này là Quốc Doanh, Phật Giáo kia là Chính Thống, hoặc lên án Sư này làm Dân Biểu cho Nhà Nước CS, hay Sư kia nằm trong Mặt Trận Tổ Quốc v..v.., chẳng qua chỉ là những quy kết một cách hời hợt, nhìn những sự việc qua những lăng kính giới hạn của xu hướng chính trị thời thượng và cảm tính cá nhân, mà không thấy đuợc cái sinh khí trong phương tiện quyền xảo trong Phật Giáo.. Mong rằng cái sinh khí Phật Giáo do Thầy Nhất Hạnh truyền về Việt Nam trong chuyến hoằng Pháp vừa qua sẽ được nuôi dưỡng và phát triển ngày càng tốt đẹp ở trong nước, điều mà người dân trong nước ngày nay rất cần đến để xây dựng xã hội, khôi phục những truyền thống lành mạnh tốt đẹp của Việt Nam, và lẽ dĩ nhiên, để đưa những người đã từng tự mình đánh mất mình, đã từng chạy theo những quyến rũ của vật chất, danh tướng v..v.. do đó xa lìa đạo đức Phật Giáo, hồi tâm chuyển ý quay đầu trở về với Chánh Pháp..   Mong vậy thay.

 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com