posted: 03.9.2005
Source: đã đăng trên báo “Văn Hóa
Phật Giáo” Hegel [1] và Thiền Thái Kim Lan
26 „sinh viên Ðức“ (gọi
là sinh viên vì họ ghi tên tham dự khóa học), sau buổi giảng ở Ðại học,
tụ nhau tại nơi đây, ở „phòng Thiền“, học những giờ cuối. Gọi
là Phòng Thiền, vì tính giản đơn của nó, ngoài tượng Quan Âm nghìn tay
đêm ngày không ngừng đem đến cho căn phòng một ánh sáng lạ mà người
thường hay gọi đó là hào quang, chỉ có thiên nhiên kề bên vai, gần gũi
trước mắt, bốn mùa rộng lượng cảnh trời, chõ mũi ra cửa sổ là đã
nghe tươi mát hay nóng hổi lùa tới tấp vào mặt, hoa trái cây lá bao
quanh, nên lòng không chật…Nhưng căn phòng bỗng hẹp cho những dáng dấp
to lớn cồng kềnh, chân tay dài ngoẳng. Nhét họ được vào trong căn phòng
nhỏ này, kể ra là lạ. Ấy thế mà họ ngoan ngoãn ngồi, chăm chú, nghiêm
túc mà vẫn tươi vui, kiên nhẫn từ sáng đến chiều, không mệt mỏi. Sau chung trà nhỏ được chuyền
quanh trong vườn lúc mọi người lục tục tề tựu, lên bục thang nhỏ, ngồi
khoanh chân, có 15 phút ngồi quán hơi thở trước khi đi vào đề tài thảo
luận. Thầy trò quần thảo từ hai ngày liên tiếp về một đề tài cũng
khá gay cấn không thua chi truyện kiếm hiệp: „CHỦ THỂ TUYỆT ÐỐI theo
Hegel và TÍNH KHÔNG trong Thiền học“. Không những chỉ gay cấn mà còn mạo
hiểm: mạo hiểm như khi hai chân lắt lẻo trên ghềnh đá cheo leo bên bờ
vực thẳm. Và cũng táo bạo liều lĩnh, liều lĩnh như khi đem quả cân nặng
vạn cân sánh với một cọng tơ hồng! Và kỳ quái cũng chẳng khác chiêu
thức „đi bằng đầu“ của quái nhân Âu Dương Phong… Hegel với hơn năm trăm trang giấy
chi chít „Hiện tượng luận về tinh
thần“ ( Die Phänomenologie des Geistes) đem đi đọ với một công án chưa vừa
tròn một câu: „Vạn pháp thảy đều là Tâm“ của Fa Yen, hay „người không ngôi thứ“ của Lin Chi
(Lâm Tế) hay quá lắm là ba câu: „Khi chưa học Thiền thấy núi là núi,
sông là sông, cây là cây. Khi dấn thân vào học Thiền thấy núi không là
núi, sông không là sông, cây chẳng phải cây. Khi ngộ đạo Thiền rồi thì
lại thấy núi là núi, sông là sông, cây là cây…“. Kể cũng liều! Phải đọc, nói ra cho hết gần 600
trang phân tích „ý thức chủ thể tuyệt đối“ trùng trùng điệp điệp
lập luận đầy kiến thức công phu của Hegel, mới ngẩn người cười xòa
nhận ra rằng, đoạn đường mà „ý thức“ của chủ thể tuyệt đối
trải qua trong cuộc gặp gỡ hầu như là định mệnh với khách thể để
có thể đạt đến „tự ý thức“ về tính tuyệt đối của mình rút gọn trong công thức nỗi tiếng biện
chứng „đề - phản đề - hợp đề“ (Thesis – Antithesis – Synhesis) đã
nằm gọn lõn trong cái công án kia, giản đơn đến hết đơn giản: „núi
là núi…núi là không núi, núi lại là núi“. Nói cuộc gặp gỡ hầu như là định
mệnh bởi vì „chủ thể“ chỉ tự ý thức được mình là chủ thể
trong tương quan với khách thể, chủ thể cần khách thể - như cá cần bơi
lội tung tăng trong nước - để tự ý thức về vai trò chủ thể của
chính nó, nếu không chủ thể chỉ là ảo tượng bơ vơ hay một nỗi cô
đơn tự hủy. Nói
với Hegel, muốn biết ta là ai, phải va chạm với tha thể, tha nhân, chịu
vong thân hay trần thân trên cõi đi về tục lụy, trong thế giới hiện tượng,
chính sự va chạm này sẽ gây phản hồi cho tự ý thức, đem ý thức vong
thân trở về ngôi vị chủ thể nguyên ủy bao trùm nội dung đầy ắp vũ
trụ, nơi đó ý niệm tuyệt đối (absolut) khép trọn ý niệm toàn thể
(totalitaire)… B. Russel phê bình Hegel và cho rằng,
theo Hegel, muốn hiểu hết bất cứ một khái niệm nào, như khái niệm chủ
thể chẳng hạn, trước đó ta phải biết tường tận cả vũ trụ trong đó
khái niệm được thành hình, mà con người thì giới hạn, đến khi biết
hết cả vũ trụ thì con ngưòi có lẽ đã phôi pha trong vũ trụ rồi…Thật
sự đối với Hegel “tâm“ (mind, Geist) hay tinh thần chính là một quá
trình tự nhiên (Naturprozeß), tư duy (Denken, Thingking, Penser) và tồn tại (hữu
thể: Sein, être, Being)) chỉ là một: đó là cuộc sống sôi động tuôn
trào trong vòng luân hồi…bao gồm cả vũ trụ, con người, cỏ cây, súc vật,
định chế, luật lệ, nghệ thuật, tôn giáo, triết học, tất tần tật
đều là dấu vết mà Tinh thần đã đi qua…
Nói với Thiền, phải lặn suối
trèo non, vượt rừng vượt biến, sông sâu mấy cũng lội, vạn đèo mấy
cũng qua, để thực chứng rằng núi ấy sông ấy cây ấy vừa có đó vừa
không có đó, và trở lại nhìn „NHƯ NÚI – NHƯ SÔNG – NHƯ CÂY“ trong
bản thể CHÂN NHƯ hồn nhiên, trong tự tính của „không phân ngôi thứ chủ
khách“, trong ý nghĩa „phải nhìn núi NHƯ thể núi đang nhìn chính ta“, mọi đối đãi
chủ khách từ đó không còn. Trong tính nhất thể của „núi và
ta nhìn nhau không biết chán“ (Lý Bạch, Kính Ðình San) VÔ THƯỜNG là
KHÔNG mà TUYỆT ÐỐI cũng là KHÔNG. Chính sự thực chứng, thấu triệt vạn
vật là vô thường, cái tôi là vô ngã, cho thấy giới hạn của tương
quan vô thường vô ngã, mở ngõ cho sự lưu thông đi vào niết bàn hay tuyệt
đối. Thiền dừng lại nơi cánh cửa „mở
ngõ“ ấy, không khép kín và dặn đừng khép kín, nên dừng lại nơi TÍNH
KHÔNG như khả thể hội nhập thể tính đồng nhất (unite) giữa vô thường
và tuyệt đối, như một khả năng TỰ DO sáng tạo tính nhất thể „núi
nhìn ta, ta nhìn núi“ nơi một chân trời đã gột rửa hết những đám
mây vô minh chấp trước vào một cái ngã ảo tưởng…nơi chân trời tuôn
trào sáng tạo của „vô danh thiên điạ chi thủy“… Hegel thì không! Hegel khép cánh cửa
hiện tượng luận, khép tròn biện chứng thành một hệ thống khoa học khởi
từ một chủ thể tuyệt đối rỗng không đã được đổ đầy nội dung
khách thể, một chủ thể tuyệt đối với tính khách quan phổ quát làm nền
tảng cho khoa học. Hegel chìm đắm trong tuyệt đối của duy tâm. Có phải
Hegel là một Huệ Khả chưa giác ngộ? Có một chiều mưa nào cuối thế kỷ
thứ sáu, Huệ Khả đội nón vào núi, quì cả tuần lễ, chặt luôn cả
cánh tay trước cửa hang xin Bồ Ðề
Ðạt Ma „an cái tâm“ cho mình. Vị Tổ bảo: „hãy đưa tâm ra đây để
ta an cho!“ như tuồng „tâm“ là một món đồ trong túi móc ra lúc nào cũng
được. Chính trong giờ phút ấy Huệ Khải hoát nhiên ngộ được „hư tâm“
của mình hay thấy được chính giới hạn của những gì là duy tâm! Huệ
Khả còn… trong lúc Hegel đã bị vượt...nhiều giai đoạn… Nhưng Hegel có thể trở về để gặp
Thiền nơi một chung trà nhỏ…ngụm nước trà có thể làm vỡ tan chủ thể
tuyệt đối như „mộng huyển bào ảnh“ vào buổi sáng hôm sau, khi mọi
người đã rời phòng Thiền hôm trước, để lại căn phòng trống trơn, gối
thiền bỏ ngõ…chẳng còn bóng người nào làm nên chủ thể ngồi nơi đây.
Giữa tràn đầy chật ních như nêm và trống không không một bóng người, hiện diện vẫn còn nóng hổi hơi thở vào
thở ra…. Có một vẻ đẹp nào đó nơi sự
thiếu vắng rỗng không này vừa chớm nở như một đóa hoa vàng thoát ra từ
nụ cười mĩm của pho tượng, chủ thể duy nhất đang tự xóa mình trong
im lặng của cả gian phòng…Nắng chảy dài trên sàn gỗ như một giải sông
lụa uốn mình lơ lững… Chưa bao giờ cái gối thiền vắng
người bỗng sống động như một chiếc thuyền đang trôi sang bờ bên kia…[2]
[1]
G. Wilhelm Friedrich Hegel (1770 – 1831): một trong những triết gia Ðức nỗi
tiếng nhất trên thế giới. Với Hegel, triết học duy tâm Ðức đạt đến
cao điểm: Hegel đã tìm cách chứng minh toàn diện hữu thể (thể tính,
etre, Sein)) là tâm thức (Geistsein)) và là sản phẩm tác tạo của tâm thức,
chứng minh của ông đa dạng với một kiến thức phổ quát khác thường về
thiên nhiên và lịch sử, với sự thấu triệ siêu hình sâu xa và với
tính rốt ráo triệt để trong lý luận.
[2] theo kinh bát nhã ba la mật đa: |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com