posted: 12.9.2005
VỀ
BÀI THƠ “MỜI TRẦU" CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG
Trần Mạnh Hảo Trên báo GĐ&XH số 100,
trong bài “ Những phát hiện của Trần Mạnh Hảo chỉ đáng tầm dọn vườn”
GS. Nguyễn Đăng Mạnh bảo chúng tôi là “con khỉ” mượn “oai hùm”. Trong báo GĐ&XH số 107, ngày 6-9-2003 ,
TS. Đỗ Ngọc Thống học trò của GS. Mạnh, bắt chước GS, lại gọi chúng
tôi là “con gà” trong bài “Có con gà cứ tưởng tiếng gáy của mình
làm trời sáng”. Trên báo “Ngày Nay”, số 17, ngày 5-9-2003, ông Văn Giá
gọi chúng tôi là diều, là quạ...Cứ đà này, cuộc tranh luận giữa
chúng tôi và các GS có thể còn biến Trần Mạnh Hảo thành những con bò
con trâu, thậm chí chó, mèo, dê, ngựa, rắn, thỏ, ngan, ngỗng... không chừng.
Thảo nào, trên báo “Văn Nghệ Trẻ”số 23, ngày 7-6-2003, ông Đỗ Ngọc
Thống với tư duy coi người khác là “con gà” con qué, đã ví văn Nguyễn
Tuân là loại văn cao sang với món thịt chó ! Chính vì để giúp ông GS. Mạnh
và ông TS.Thống khỏi phải tranh luận với “con khỉ”, “con gà”,
chúng tôi gửi đăng báo bài phê bình cách bình văn còn nhiều sai sót của
hai ông GS. Mạnh và ông TS.Thống, mong hai vị trao đổi lại; một là để
thay đổi không khí, hai là để chứng minh rằng chân lý bao giờ cũng cụ
thể; xin mời hai ông trở lại với học thuật, thay vì cứ phải mắng người
khác là khỉ, là gà, làm độc giả nghĩ không hay về giới cầm bút chúng
ta. Đây là tập văn mẫu dùng
cho học sinh trung học : "217 ĐỀ VÀ BÀI VĂN " của 4 đồng tác giả
do GS. Nguyễn Đăng Mạnh ( chủ biên), TS. Đỗ Ngọc Thống, TS. Hà Bình Trị,
Chu Văn Sơn, dày 627 trang, do NXB Đại học quốc gia Hà Nội tái bản với số
lượng lớn năm 2000, là một cuốn sách còn quá nhiều vấn đề phải bàn
lại. Ngay việc tung ra hàng trăm bài văn mẫu cho học sinh, liệu có khiến
triệt tiêu hết khả năng sáng tạo độc lập của các em khi tiếp nhận
thẩm mỹ văn chương hay không, cũng là điều cần phải làm cho rõ. Trong
phạm vi bài viết này, chúng tôi muốn trao đổi với GS. Nguyễn Đăng Mạnh
cùng các tác giả tập văn mẫu về bài :" Phân tích bài thơ mời trầu
của Hồ Xuân Hương" từ trang 53 đến trang 59 ( sách đã dẫn). MỜI TRẦU Quả cau nho nhỏ miếng trầu
hôi Này của Xuân Hương mới quệt
rồi Có phải duyên nhau thì thắm
lại Đừng xanh như lá bạc như
vôi. Trước khi phân tích bài thơ,
tác giả bài văn mẫu mở bài quá dài, với một số khái quát về thơ Hồ
Xuân Hương chưa chuẩn xác. Khi tác giả nói Hồ Xuân Hương tuyên chiến với
thói trọng nam khinh nữ của xã hội phong kiến thì đúng. Nhưng khi tác giả
bài văn mẫu viết như thế này về thơ Hồ Xuân Hương thì chưa đúng,
không đúng :"...Hồ Xuân Hương tuyên chiến với một thứ khuôn phép,
chuẩn mực của xã hội đẳng cấp phong kiến đã trở thành trái tự
nhiên, phi đạo lý, bằng những vần thơ ngang ngược, oái oăm, bằng cái
tôi ngông nghênh kiêu ngạo của mình :" Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ
- Lại đây cho chị dạy làm thơ "; "Ghé mắt trông sang thấy bảng
treo - Kìa đền thái thú đứng cheo leo - Ví đây đổi phận làm trai được
- Thì sự anh hùng há bấy nhiêu "( chữ nghiêng đậm trong bài do TMH nhấn
mạnh )...Mấy câu thơ trích dẫn trên không dính dáng gì đến kết luận của
tác giả . Hai câu đầu là bài thơ nữ sĩ diễu đám học trò nhỏ học
hành không ra sao, lại hay ghẹo gái; tuy là diễu nhưng vẫn thông cảm, ưu
ái. Bốn câu thơ sau là bài thơ chê bai, thậm chí chửi xéo Sầm Nghi Đống,
thái thú của quân xâm lược nhà Thanh là quân hèn nhát. Tác giả khái
quát thơ Hồ Xuân Hương là "ngang ngược, oái oăm, ngông nghênh kiêu ngạo
" là áp đặt, là chưa hiểu thơ bà. Ngay khi dẫn câu thơ trong bài
"Dỗ người đàn bà khóc chồng " :" Nín đi kẻo thẹn với non
sông", tác giả bài văn mẫu tỏ ra không hiểu chính bài thơ và câu thơ
này bằng một lời bình lạc lõng :"...Thậm chí thách thức với cả vũ
trụ càn khôn". Do chưa nắm được bản chất
nghệ thuật thơ Hồ Xuân Hương như những đánh giá vừa dẫn, tác giả lại
đưa ra những kết luận vừa suy diễn, vừa theo kiểu phê bình xã hội học
dung tục, nâng tiếng thơ trào lộng trữ tình bi hài của cá nhân bà thành
phong trào quần chúng và những ấm ức cần giải toả của lịch sử dân
tộc, của xã hội theo quan niệm vô thức xã hội của Carl Jung, bằng những
lời đao to búa lớn như sau :" Tuy nhiên, nếu Hồ Xuân Hương là tiếng
nói đanh thép, dõng dạc của phong trào quần chúng hùng mạnh, quyết liệt
nhất thì đồng thời cũng là sự thể hiện nỗi ấm ức, bực bội không
giải toả được của lịch sử một dân tộc tuy khủng hoảng sâu sắc nhưng
chưa tìm ra lối thoát ". Viết như thế, hoá ra Hồ Xuân Hương bỗng trở
thành biểu tượng giải phóng xã hội và dân tộc, thành nhà cải cách của
quần chúng (!) Phần mở bài đã được tác
giả viết quá dài, quá linh tinh, gần một nửa bài viết, toàn đưa ra những
kết luận không đúng về thơ Hồ Xuân Hương. Khi vào thân bài, tác giả lại
lạc đề gần hết một trang, đưa ra nhiều nhận định không đúng khác ,
ví như kết luận rất sai về Thơ Đuờng như sau :" Thơ Đường thường
thiên về tính trừu tượng khái quát, ít khi miêu tả chi tiết cụ thể.
Do đó Thơ Đường cũng ít dùng đến những màu sắc cụ thể đập mạnh
vào cảm giác người đọc. Thơ Đường thiên về trí tuệ nên thường chỉ
gợi liên tưởng chứ ít miêu tả trực tiếp". Chỉ cần đọc ba bài
thơ thu của Nguyễn Khuyến, cũng đủ thấy kết luận trên về Thơ Đường
của tác giả bài văn mẫu này là một kết luận không đúng. Khi tác giả viết như dưới
đây thì có vẻ như đã thẩm được bài thơ "Mời trầu " :"
Cho nên đọc kỹ, lắng kỹ từng câu thơ Mời trầu mà xem, có phải đằng
sau cái đanh đá, đáo để, vẫn còn một tấm lòng khát khao tha thiết và
một giọng khiêm tốn nhún nhường ( Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi -
Này của Xuân Hương mới quệt rồi ) và không phải không có một cái gì
như xót xa cay đắng mà nhà thơ không hoàn toàn che dấu nổi ( Có phải
duyên nhau thì thắm lại - Đừng xanh như lá bạc như vôi).. Bài thơ "Mời trầu"
khá dễ hiểu, tình cảm và ý tưởng của nữ sĩ hầu như đã là một vỉa
quặng lộ thiên. Chúng tôi rất ngạc nhiên khi tác giả bài văn mẫu này tỏ
ra không muốn hiểu bài thơ, lại đưa ra những lời phân tích áp đặt,
sai lạc tinh thần bài thơ đến cỡ thế này là cùng :"...Mời trầu người
ta, lẽ ra thì phải mềm mỏng, dịu dàng và phải bẽn lẽn một chút,
Xuân Hương không thế, cái tôi dõng dạc xưng tên :" Này của Xuân Hương
mới quệt rồi..."..."...Vậy mà nhà thơ nữ của chúng ta dõng dạc
:" Này của Xuân Hương". Rõ ràng là một sự thách thức táo bạo
trước dư luận xã hội. Đã thế lại còn đóng dấu ấn cá nhân vào miếng
trầu đưa cho người một cách rất ít mềm mỏng :" Này của Xuân Hương
mới quệt rồi". Quệt cũng như têm thôi (têm
trầu), nhưng quệt tỏ ra suồng sã hơn, bướng bỉnh và ngang
ngược hơn, không muốn khiêm tốn một chút nào. "Có phải duyên nhau
thì thắm lại". Nhau tuy có giọng thân mật đấy nhưng hoàn toàn bình
đẳng. Đến câu tiếp theo không còn là giọng mời chào nữa, mà là một
lời mắng hẳn hoi. Mời ăn trầu mà cứ như mắng người ta, dù là mắng
yêu đi nữa, thì cũng chỉ có Xuân Hương thôi :" "đừng xanh như lá
bạc như vôi !" Tác giả bài văn mẫu sợ
người đọc chưa tiếp nhận được "phát kiến" mới của mình
trong việc giải mã câu cuối bài thơ, bèn tuyên bố một lần nữa, như muốn
khép lại bài phân tích thơ một cách hùng hồn rằng :" "Đừng
xanh như lá bạc như vôi " . Đúng thế, mời mà như mắng người ta
". Viết như thế, tác giả bài luận văn trên quả là không hiểu bài
thơ "Mời trầu", một bài thơ trữ tình dịu dàng và tình cảm nhất
của Hồ Xuân Hương. Từ "Mời trầu", tác giả bài văn mẫu đã
chuyển hệ cho Hồ Xuân Hương sang kênh "mắng trầu", có thể biến
nữ sĩ trở thành hình ảnh của kẻ vô duyên, bỗ bã, nhố nhăng ? Bình thơ
như trên, phải chăng là mẫu mực của nghệ thuật giảng văn trong nhà trường
trung học ?
Chúng tôi xin mượn lời của GSTS Trần Đình Sử in
trên trang 8, cột 1, dòng thứ 18 đến dòng thứ 22 viết trong bài “Chúng
ta đang tụt hậu” trên tờ “An Ninh thế giới cuối tháng 8-2003” nói về
cách làm văn phản văn như kiểu GS. Mạnh, TS. Thống và 2 đồng tác giả
khác bình bài thơ “Mời trầu” trên, như sau :” Tôi nói không thể chấp
nhận chương trình làm văn như thế. Bởi vì việc làm văn như thế khác
nào bắt các em quay mặt vào văn học, quay lưng lại với đời sống...”.,. |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com