posted: 14.9.2005
SEN VẪN
NỞ TRÊN BÙN Trần Niệm Từ Nhân thấy trên website Giao-Điểm tháng
8 và 9-2005, nhiều cao nhân chư tử đã đá động đến một bài viết của
một bồi bút Vatican của Nguyễn Hữu Thống với cái tựa đề xấc láo
“Nhuệ Hồng nói với Nhất Hạnh”, nghe nói đã xuất hiện trên Tờ
Diễn Đàn Giáo Dân, Số 43 từ mạn miệt
vườn. Ta
cứ thử đặt một cái tựa khác như “Niệm Từ nói với Bê-nê-đít-to”
thì bạn sẽ cảm thấy như thế nào? Văn tức là người; mà người ở đây
vốn đã mất linh hồn cho quỉ từ lâu, lại tự cho mình là trí thức với
danh xưng là Luật sư, thì đành phải tạm liệt vào hạng “côn đồ trí
thức” mà thôi. Hình như những điều cơ bản cha ông đã dạy làm người
như “Tiên học lễ, hậu học văn” đã bị liệt vào tội tổ tông và bị
tẩy rữa đi mất rồi. Cho
nên tôi chẳng hề bận tâm xem Nhuệ Hồng nói với Thiền Sư Nhất Hạnh
những gì khi chỉ mới đọc qua tựa đề? Tôi đóan nội dung chắc cũng
thuộc lọai “tố cộng hàm hồ” của đám cán bộ Cần Lao Công Giáo rơi
rớt lại. Thú
thật đã từ lâu, có thể khỏang 10 năm trở lại tôi không hề tìm đọc
các báo Việt ngữ ở hải ngọai, bởi xưa kia sau khi xem qua dăm ba bài
trên các tờ lá cải với những luận thuyết một chiều của các tên tuổi
nổi danh ở các xóm đạo người đọc đã muốn ... đau bụng rồi; xong lại
tự trách mình đã phí phạm thời giờ quí báu để mua lấy nỗi phiền muộn...
trong lòng. Vì thế mà từ đó tôi hạ quyết tâm không bao giờ cầm đến
một tờ báo Việt ngữ nào ở hải ngọai. Nhờ thế mà từ đó tôi ít bị
bực bội trong khi làm việc, tâm hồn trở nên thanh thản hơn. Từ
xưa kẻ sĩ thường trọng kinh, thư, nay là sách vở báo chí, vì là nơi để
moi người trao đổi và học hỏi tri thức cao thượng của nhau hòng trau dồi
tinh thần và nhân cách. Bạn cũng đồng ý với tôi rằng khi ta đọc được
một bài viết đặc sắc, có ý tưởng hay đẹp làm cho ta vui đến mấy ngày,
miệng mĩm cười tương đắc với tâm tư tác giả. Ngược lại khi đọc
những bài viết hạ cấp, với ý tưởng đốn mạt, lòng ta trở nên não nề
chán ngán. Ai
cũng nhìn thấy rõ rằng sách vở báo chí Việt in ấn, cũng như văn nghệ,
video, phát thanh, truyền hình; nói chung là ngành truyền thông của các cộng
đồng Việt ở hải ngọai đều bị bọn mafia Ki-tô nhanh tay thao túng và
khống chế với nguồn kinh tài dư dật để cốt phục vụ cho những âm mưu
đen tối chiến lược đường dài của Vatican; cho nên thị trường chữ
nghĩa mới sản xuất được một đám ăn hại (đúng ra phải nói là ăn không
ngồi rồi), thuộc lọai trí thức vô lại chuyên đại ngôn bừa bãi (họ
cứ nghĩ là còn đang sống đọc tôn và độc tài ở Saigòn vào những năm
‘60s để tiếp tục tung hê Ngô chí sĩ?) theo kiểu bắt Tổ quốc phải
ăn năn; “thà mất nước chứ không mất chúa – Amen!!”; phịa Tam giáo
đồng ... tôn (sao lại không ... liên tôn nhỉ?); gàn bõ mẹ lại còn ưa phán
và ziết...sử (chứ không phải xử, là nghề cũ của chàng.) ... Đúng là
lũ Hải ngọai An nam Dị nhân. Cái liêm sĩ tối thiểu của bọn họ đã đội
nón ra đi từ lâu kể từ ngày bị nhiểm Ki-tô-độc-hòan tán làm não bộ
đã bị hõng rồi chăng? Cổ
nhân có câu “Kẻ sĩ một ngày không đọc
sách, soi gương thấy mặt mũi khó coi”; mà nay gặp phải cái chợ cá
báo chí vùng “thủ đô tị nạn” nam Cali thì chắc ngài thà đành để mặt
mũi khó coi còn tốt hơn. Ngòai ra, tôi tránh đọc chỉ vì sợ ô nhiểm. Ô
nhiểm môi trường còn có hy vọng cải tạo được, chứ riêng cái ô nhiểm
tinh thần bởi những ý tưởng xấu xa độc ác của bọn con buôn chính trị
thì thậm chí nguy. Ngày
nay với internet, TV và báo chí đã trở nên ít quan trọng bởi mỗi ngày trước
khi “sáng vác ôtô đi tối vác về”, tôi chỉ cần browse một thóang
trên các mạng tin tức lớn là nắm bắt được mọi chuyện xảy ra trên
thế giới một cách nhanh chóng và cập hóa nữa. Khi
đặt tựa đề “Nhuệ Hồng nói với Nhất Hạnh” ý hẳn Nguyễn Hữu Thống
tự ví mình ngang hàng trang lứa với Thiền Sư Nhất Hạnh, cũng như đánh
đồng với cụ Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng? Thật là trò buồn cười, chồn
cáo lại đòi sánh với phượng hòang. Bài
viết này không muốn đi vào chỗ tranh biện, bởi tranh biện với những đầu
óc khô cứng thì phỏng có ích gì. Tôi chỉ muốn trình với quí độc giả
một khám phá bất ngờ nhân tình cờ tôi nhận được từ Ấn Độ một
cuốn sách “Walking With The Buddha – Buddhist Pilgrimages in India” biên tập bằng
Anh ngữ bởi Swati Mitra, in trên giấy láng dày 200 trang do nhà Eicher Goodearth
Limited ấn hành lần thứ hai, năm 2004 với sự bảo trợ của Bộ Du Lịch
Chính phủ Ấn. Hinh
1 Tập
sách là cuốn cẩm nang cho du khách Phật tử khắp thế giới muốn đi hành
hương đất Phật quanh thung lũng sông Hằng và bắc Ấn, với nhiều hình
ảnh các thánh tích quí giá và bài mô tả lịch sử kèm theo. Điều đặc
biệt là tuy Ấn giáo chiếm đa số ở Ấn nhưng văn phong trình bày thực
là trang trọng, tôn kính và chân thành về cuộc đời của đức Phật làm
xúc động người đọc. Điều làm cho người đọc nhất là Phật tử Việt
ngạc nhiên thích thú là ở cuối sách có 4 trang (từ 154 đến 157) dành cho
danh nhân đương đại tựa là “Contemporary Buddhist Masters” chỉ liệt kê
hai nhân vật với bài nói về mỗi vị 2 trang, mở đầu với Thiền sư Nhất
Hạnh và tiếp là Đức Đạt Lai Lạt Ma. (Xin xem phóng ảnh đính kèm). Hinh
2 Tôi
xin chuyển ra Việt ngữ phần nói về Thiền Sư Nhất Hạnh để quí độc
giả lãm tường, và thấy rằng nhiều văn nô muốn lôi kéo Thiền sư Thích
Nhất Hạnh xuống vũng bùn mà họ đang tắm gội vẫy vùng trong đó, nhưng
đóa sen tinh khiết vẫn là đóa sen nở ra một cách kỳ diệu lên trên vũng
ao bùn ấy. Tôi cũng xin thưa trước là tôi không phải là thành viên của
Làng Mai, và chưa hề được hân hạnh diện kiến với Thiền Sư, để tránh
tiếng quảng cáo không công. Hinh
3 THÍCH
NHẤT HẠNH (SINH NĂM 1926) Một
sự phối hợp hiếm có vừa là nhà huyền học, nhà thơ, nhà uyên bác và
nhà họat động xã hội, Thiền Sư Việt Nam Thích Nhất Hạnh là một trong
những Thiền Sư Phật giáo được yêu chuộng nhất trên thế giới hiện
nay. Ngài
được sinh ra vào năm 1926 ở Trung phần Việt Nam, và bắt đầu tu hành dưới
sự dẫn dắt của HT. Thich Chan That (sic) trong một thiền viện Phật giáo. Khi
còn là chú tiểu Thích Nhất Hạnh quan tâm đến việc là môn văn hiện đại
không được phép giảng dạy trong tu viện. Lời thỉnh cầu của vị sư trẻ
để được học các tác phẩm văn chương hầu về sau phục vụ nhân sinh
tốt hơn đã bị từ khước. Thích Nhất Hạnh và năm vị tăng khác quyết
định rời bõ tu viện dù đã bị đe rằng sẽ không có một tu viện nào
khác thu nhận họ. Không ngại ngùng, Thích
Nhất Hạnh, hay Thầy (tiếng Việt tôn kính) như ngài hằng được gọi một
cách thương mến, tìm được một ngôi chùa hoang và tự mình nghiên cứu
kinh Phật. Khi
ngài được 20 tuổi, Thầy cho phát hành cuốn “Đạo Phật cho ngày nay” (Buddhism for today).
Ngài được tiếng là một tư tưởng gia uyên thâm và tiến bộ. Từ năm
1961-63, Thích Nhất Hạnh theo học môn tôn giáo đối chiếu (comparative
religion) tại các đại học Princeton và Columbia ở Hoa Kỳ, và sau được bổ
nhiệm giảng sư cho hàng tốt nghiệp môn Phật học tại trường đại học
Columbia. Những
cao tăng trước kia khước từ thỉnh cầu của ngài về sửa đổi các môn
học, nay lại mời ngài hiện đại hóa đề cương giãng khóa. Vì thế
ngài trở về Việt Đáng
tiếc là họat động hòa giải của Thích Nhất Hạnh dẫn đến việc ngài
phải sống lưu vong bởi cả các chính phủ Cộng Sản và chống Cộng.
Không được phép trở lại Việt Nam, ngài thiết lập một cộng đồng ở
Pháp gọi là Sweet Potatoes. Sau vài năm cộng đồng Sweet Potatoes dời đến một
trung tâm ẩn cư mới gọi là Làng Hồng ( Phong
trào Phật Giáo dấn thân của Thích Nhất Hạnh kết hợp giữa lối tu tập
thiền quán cổ truyền với họat động hòa bình xã hội. Đó là Phật
Giáo trong đời sống hằng ngày, ngay giữa xã hội, chứ không phải chỉ
ở nơi ẩn cư. Ý tưởng là phải tìm được mọi cách để phát biểu và
hành động hữu hiệu. Giáo huấn tỉnh thức (mindfulness teachings) của ngài
bao gồm các dạng hiện đại như điện thọai, thiền hành và thiền quán
khi lái xe. Qua lối thực hành thiền quán trong mỗi ngày sống và biểu hiện
lòng từ bi đối với chúng sanh, thì gia đình, xã hội sẽ được lợi
ích. Giáo
huấn của Thích Nhất Hạnh dựa trên quán niệm hơi thở và tỉnh thức với
giây phút hiện tiền, giây phút duy nhất mình đang sống và niềm vui có thể
đạt được. Điều này giúp ta khám phá ra rằng : Không có con đường dẫn đến hạnh phúc mà
hạnh phúc là con đường. Thay vì cứ mãi thừơng trú trong những gì
sai quấy, ngài khuyến khích chúng ta nên thiền quán đến cái gì tươi tỉnh,
lành mạnh và kỳ diệu trong giây phút hiện tiền. “Hành động an lạc là
học hỏi để phát triển được khả năng vui hưởng cái an lạc đang có,
như hít thở và vui hưởng không khí trong lành. Nếu bạn vui hưởng không
khí trong lành thì bạn sẽ biết quí nó và bạn sẽ làm mọi cách để phòng
nó khỏi bị ô nhiểm.” Hô
hấp là cái neo nối tinh thần và thể chất trong giây phút hiện tiền và
mở ra những cánh cửa của khôn ngoan và tự do. Nó giúp cho sự thể nghiệm
trực tiếp với sự không phân biệt về chủ thể và khách thể, về
duyên khởi, về vô thường, từ bi sâu xa và cái chết. Thích
Nhất Hạnh đã giải thích lối tu tập của ngài qua nhiều tác phẩm ngài
đã viết như: Trọng tâm của lời Phật
dạy (The Heart of the Buddha’s Teaching), Sống An lạc (Being Peace), Phép lạ của
Tỉnh Thức (The Miracle of Mindfulness), Sống Phật, sống Chúa (Living Buddha
Living Christ), và An lạc trong từng bước chân (Peace in Every Step). Trần
Niệm Từ |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com