posted: 12.9.2005
Trần Thanh-Lưu “Muốn giữ vững nền độc lập của
quốc gia và để tránh khỏi một cuộc nội chiến khác, giới sĩ phu Việt
phải có nhiệm vụ tiên phong trong việc cứu thóat dân tộc ra khỏi sự
nô lệ của đạo Ki-tô, một chủ thuyết thực dân tây phương trá hình
tôn giáo. Muốn làm được việc ấy trước hết phải kiên quyết vạch trần
những điều lừa bịp và mê hoặc của cuốn thánh kinh, và tố cáo mưu
toan của hệ thống giáo quyền kiểu phong kiến luôn tìm mọi cách chiêu mộ
con dân bản địa làm tay sai cho ngoại bang.” Hải Thượng Sĩ
Phu CÂU CHUYỆN (TẬO THIÊN LẬP ĐỊA)
THEO NHÀ JHWHIST: Sáng Thế Ký: Chương Hai 4.
Đây là các thế hệ của trời và đất khi chúng được dựng nên vào
ngày mà Đức Thượng Đế tạo thiên lập địa. Rõ ràng đây không phải là một sự
ám chỉ đến câu chuyện Sáng Thế của đám tăng lữ, bởi nhà Jhwhist đã
viết ra điều này hằng mấy trăm năm trước bọn giáo sĩ. Nó có thể là
một câu đính kèm của người biên tập hay phần liên quan đến tác phẩm
của nhà Jhwhist. Ở đây Chúa trở thành Đức Thượng Đế (Lord God = law
God), một danh từ chẳng hề được dùng bởi tăng lữ trong chương thứ nhất. 5.
Và mỗi cây trong cánh đồng trước khi nó ở trong đất và mỗi
nhánh cỏ trong cánh đồng trước khi nó mọc ra, bởi Đức Thượng
Đế đã không tạo ra mưa rơi trên đất và không có ngừoi xuất hiện để
trồng trọt. Đây mới chính là chân nghĩa của
chương thứ nhất của Sự Tạo Dựng – nguyên mẫu và tiền vật thể
(archetypal and prephysical). Nhà Jhwhist nhất thiết đã viết như thế trong câu
chuyện nhưng bọn giáo sĩ lại che dấu nó khi viết lại. Có thể nào
Jhwhist lại viết “không có ngừoi xuất hiện
để trồng trọt”nếu ông ta đã viết chương thứ nhất (như chúng ta
đã biết theo Bible)? Khó lắm thay, bởi trong chương ấy, con người đã
được tạo ra. Vì nhà Jhwhist chẳng hề biết đến chương thứ nhất (của
cuốn Bible), nên ông ta đã viết tuần tự theo ý ông. Trong đó chưa hề có
con người vật thể, và ngay cả một quả đất vật thể. Những việc này
chỉ được bắt đầu đề cập đến ở câu 8, như thế thì câu 6 và 7
có thể đặt nhầm chỗ hoặc muốn nói đến Con người tiền vật thể. 6.
Có một làn sương
bay lên từ quả đất, và làm ướt khắp mặt đất. 7.
Và Đức Thượng Đế dùng đất tạo nên người nam, và hà sinh khí vào lỗ
mũi của hắn, và người nam trở nên một sinh linh. (Nên viết hoa là NGƯỜI,
chứ không phải người.) [GCCND: Anh
ngữ chữ “man” được dùng rất rộng
nghĩa. Theo Bible thì người nam (man) được
Chúa tạo ra đầu tiên, mà ý của Lloyd Graham thì nói đến con người nói
chung.] Con người vật thể đã không tạo
ra được trước quả đất vật thể, câu 8. “Lỗ mũi” ở đây chỉ thuần
là biểu tượng, và “hà hơi” cũng thế. “Sinh linh” không phải là
tâm linh con người mà đơn thuần là mạng sống. Đây là chỗ sai của người
dịch. Chữ Do-thái vốn là nephish, và dưới luật của Moises thì việc bồi thường
“một mạng cho một mạng” (nephish for
nephish) chứ không phải một linh hồn
cho một linh hồn, được áp dụng cho một con bò hay con cừu bị giết hay
bị trộm. Không một người Ki-tô thuần tín nào lại cho rằng một con cừu
hay con bò lại có linh hồn. Câu chuyện con người được tạo
ra từ đất vốn cóp nhặt từ bản thiên hùng ca Gilgamesh của người Aruru
rữa tay; Bà
nặn một mãnh đất sét rồi nhổ bọt lên; Bà
tạo ra một vị anh hùng là Eaboni, Cao
quý với
sức mạnh của Ninih. Rõ ràng là chẳng phải là một người
đạo đức gì cả, và chuyện của người Do-thái cỗ cũng thế. 8.
Và Đức Thượng Đế dựng nên một mãnh vườn ở phía đông trong đất Eden, và ngài
đã đặt người nam vào đấy. Ồ không, Đức Thượng Đế đã
không đặt người nam vào trong khu vườn; ngài đã thả hắn vào trong một
không gian địa ngục, một thế giới ban sơ cuồng bạo mà từ đấy hắn
đã phải cố gắng tranh thủ để làm chủ. Nếu khu vườn này không phải
là quả đất mà chỉ là một phần gọi là Lưỡng Hà ( 9.
Và Đức Thượng Đế lấy làm hài lòng khi cho mỗi cây mọc lên từ lòng
đất và tạo ra lương thực; cái cây của sự sống cũng mọc lên giữa
khu vườn, và cây của sự hiểu biết về thiện và ác. Vì chưa có “cây của sự sống”,
cũng chẳng có “thiện và ác”, điều này vốn là biểu tượng. Thế thì
tại sao ta không thể thấy tòan câu chuyện, hay đúng hơn cả cuốn sách,
là biểu tượng. “Cây của sự sống” chính là sự sống, hay rõ hơn là
Nguyên Lý của Sự Sống (the Life Priciple), tăng trưởng dần trong thực thể
của hành tinh. Gọi nó là cái cây đối với dân Hebrews chẳng có ý gì lạ;
vì mỗi dân tộc cỗ đều có “cây của sự sống” riêng. Với người
Hy-lạp thì là cây Gogard với con rắn Ladon; với dân Bắc Âu (Norse) là cây
tần bì Yggdrasil có con rắn Nidhogg quấn ở gốc. Theo Hesiod thì thần Zeus
đã tạo ra ba giống người, mà chủng tộc sau cùng là từ cây tần bì. Người
theo Ấn giáo hình dung sự tạo thiên lập địa như một cái cây, gọi là
Ashvatta mà rễ cắm vào Uyên Nguyên và cành cây (bảy tầng) lại treo rũ xuống
đất. Qua từ Ashvatta chúng ta thấy các dân tộc khác đã đặt tên cây tần
bì là ash, được xem là thiêng liêng. Với
người Tây tạng (Tibetans) thì “cây của sự sống”là Zampun, và với người
Ba tư (Persians) thì gọi là Homa. Người Druids (cổ dân ở xứ Anh) đã vinh
danh cây sồi (oak tree) như là biểu tượng của “cây của sự sống trần
thế”. Ngay cả người Hoa cũng có “cây của sự hiểu biết”
Sung-Minh-Shu (Thông Minh Thụ ?). Còn việc đạo đức thiện và ác thì chỉ
thuần dính líu đến nhân lọai và luôn biến thái, nó không thể là thiện
và ác của một cái cây thứ hai. Ngược lại, nó là thiện và ác ngàn xưa
của thần thọai và cổ kinh – tinh thần và vật chất. Mà với phần thứ
hai (vật chất) con người vốn có tâm linh, đã được răn đe không nên
dính dự vào, mà xem ra lời răn đe này cũng chỉ là xão ngữ bởi vì sự
hiện hữu vật chất và những gì nó hàm chứa đều là mục tiêu và chủ
ý của sự Tạo thiên lập địa. Vậy làm sao nó có thể là tội lỗi và
bất tuân? qua Liễm hóa chăng, hay qua Tiến hóa. “Cây của sự sống” và
“cây của sự hiểu biết” là những tương đồng trong kinh điển nói về
di truyền và biến thái của chúng ta. Vậy là trong ấy đã chứa nguồn gốc
của những ý nghĩ sai lầm hiện tại của chúng ta về chính chúng ta. Con
Người này với chữ N viết hoa là đối tượng của biết bao nhiêu nhà vũ
trụ học cỗ. Chính vì nghĩ đến hắn mà họ đã dùng những từ bất tử,
tái sinh vv… Khi con người với chữ n nhỏ đánh mất tất cả những tri
thức mà con Người với chữ N viết hoa, hắn lại gán cho hắn những từ
trên, và vì thế con người n nhỏ bé cố trở nên bất tử và tái sinh, vv… 10.
Và một giòng sông chảy ra từ Đây là “giòng sông của sự sống”,
nguồn năng lượng sáng tạo, với thủy dịch của Aquarius. Trước tiên nó
tuôn ra từ Ba Ngôi để trở thành bốn biển của Địa Kỳ thứ Tư
(Quaternary – khoảng 2 triệu năm trước). Từ Eden, nó chảy vào Khu Vườn,
quả đất, rồi chia làm bốn phần, bốn nguyên tố vật chất của vầng
quang hành tinh, kể cả tạo vật. Những thứ này là năng lượng trọng yếu
của bốn giới thể. Và sau đây là ý nghĩa của chúng: 11.
Tên của nguồn thứ nhất là Pison; bao gồm vùng Havilah, nơi có vàng. Xem ra đã hơi vội khi đề cập đến
vàng theo ý kinh tế. Ở đây nó chỉ là biểu tượng cho giới khóang thể.
Pison có nghĩa là vô số – nguyên tử hay nguyên tố khóang chất. 12.
Và vàng ở đấy thật tốt; còn có cả trầm hương và mã não. (Bedolach
and shoham stone). Chúng ta gọi qủa đất là hòn đá
vũ trụ (cosmic lithos). Ẩn nghĩa thì hòn đá vũ trụ và đá mã não (shoham stone) là một. 13.
Và tên của con sông thứ hai là Gihon; nó bao gồm hết vùng đất Gihon có nghĩa là “tuôn tràn” –
sinh lực tuôn tràn từ đất, giới khí thể và thực vật. Bảo giòng sông
này chảy từ Lưỡng Hà (Á châu) vào 14.
Và tên của con sông thứ ba là Hiddekel; đổ thẳng về hướng đông của Hiddekel có nghĩa là chuyển động nhanh, nói đến giới động
vật với tính tự do và di động của nó. Trong truyện tích Bà La Môn thì bốn
con sông nguyên sơ tuôn tràn ra từ ngọn núi vàng Tu-di (Meru), là quả đất,
trú xứ của thần Phạm Thiên (Brahma). Tương tự như thế, theo phái Sineru của Phật giáo Tây tạng thì có bốn
giòng sông thiêng bắt nguồn từ Tawrusita, trú xứ của thần Sikia, thần của
sự sống. Ngọn Thiên Sơn (Tien-Chang hay Tian-Shan) nằm giữa Trung Quốc và
Tiên Ti (Tartars) được tưới bởi bốn nguồn suối quanh năm của Ty-chin
(hay bất tử). Trần Thanh-Lưu (còn tiếp) |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com