805-gdiem2.gif (5804 bytes)

posted: 05.9.2005

SUY NGHĨ VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ
TRONG LỊCH SỬ CỔ ĐẠI NƯỚC TA

Trần Xuân An

những bài nghiên cứu gửi đăng báo

16.6.2004

(HAI MƯƠI CHÍN THÁNG TƯ GIÁP THÂN
NĂM THỨ TƯ CÔNG NGUYÊN HOÀ BÌNH)
 
Xin tạ ơn ngọn bút,
biểu tượng của sự công chính và liêm khiết trí tuệ.
Xin yêu thương, trân trọng và bảo vệ
từng dòng chữ mồ hôi nước mắt
của chất xám và trái tim.

TXA.

LỜI THƯA ĐẦU SÁCH 

1

Lịch sử là quá khứ được ghi chép lại với tiêu chí trước tiên và cuối cùng là tính trung thực nghiêm ngặt với những chất liệu xác thực nhất. Sử học không phải là lĩnh vực sáng tác văn nghệ. Tuy nhiên, các nhà văn, nhà thơ cũng như các nhà sáng tạo nghệ thuật khác luôn có cảm hứng sáng tác về lịch sử, đã tạo nên nhiều tác phẩm về đề tài lịch sử. Nói như thế, không có gì mâu thuẫn. Diễn đạt cách khác: tính trung thực của các tác phẩm văn nghệ không thể sai lệch với tính trung thực của sử học, bởi lẽ, những chi tiết hư cấu ở tác phẩm văn nghệ thường được người đọc đề nghị, yêu cầu phải xuất phát từ sự nhận thức chính xác và thấu đáo lịch sử đồng thời cũng xuất phát từ trực giác nghệ sĩ (trực giác này cần được chứng minh bằng quá trình tổng hợp – phân tích – tổng hợp các cứ liệu sử, các khái quát sử học).

Mặt khác, một đặc tính của văn chương Việt Nam là gắn bó chặt chẽ, mật thiết với sử học. Văn sử bất phân là ưu điểm độc đáo nhưng cũng là một hạn chế nghiêm trọng. Hạn chế của tình trạng văn sử bất phân ở nếp tư duy, ở sách vở cổ đã tạo ra nhiều sai lầm, ngộ nhận đáng tiếc; tất nhiên cần phải khắc phục. Ưu điểm của văn sử bất phân là giúp mọi thế hệ người sáng tác, người đọc gắn bó máu thịt với lịch sử nước mình; tất nhiên cần được phát huy.

Vả lại, dù muốn dù không, dù được ghi chép hay chỉ còn trong kí ức riêng tư, mỗi người đều có tiểu sử, và ai cũng ít nhiều đều tự chiêm nghiệm tiểu sử mình. Mỗi dòng họ cũng có tộc sử, với mục đích yêu cầu như thế. Một dân tộc như dân tộc Việt Nam, với lịch sử bốn nghìn năm thăng trầm, cũng vậy, luôn cần được mỗi người Việt chiêm nghiệm. Đó là điều hết sức giản dị, giản dị đến tầm thường; tầm thường nhưng không nhắc đến, lại là thiếu sót.

Hiểu như vậy nên tôi học tập, nghiên cứu sử.

2

Đây lại là một mệnh đề không có gì lạ: “Lịch sử đang diễn ra”.

Đúng vậy, lịch sử là chuyện của nghìn năm trước, trăm năm trước, ít ra cũng của dăm ba năm về trước, nhưng âm hưởng của nó, một cách vừa hữu thức, vừa vô thức, hiện diện trong đời sống hiện tại, và dĩ nhiên, ngay cả trong tương lai. Âm hưởng, đó là một từ mơ hồ. Thực ra, đó là một số quy luật có tính lịch sử chẳng hạn như quy luật hình thành, phát triển dân tộc, đất nước; quy luật địa – chính trị ở khu vực Đông Nam Á, châu Á – Thái Bình Dương; quy luật tồn tại và phát triển trước các nguy cơ ngoại xâm; quy luật về ma lực quyền bính v.v… Thực ra, đó còn là những gì đã trở thành tâm thức sâu thẳm nhất, thuộc về phương diện tình cảm, tâm lí, bản lĩnh dân tộc, chẳng hạn như yêu quê hương, đất nước đến lạ lùng, nhẫn nại, kiên tâm đến kinh ngạc, quật khởi, anh hùng đến phi thường v.v…

“Lịch sử đang diễn ra” còn là một cách nói tu từ, nhất là ở từ lịch sử. Giây phút hiện tại này, sự việc ngay trước mắt này, mẩu tin nóng hổi trên nhật báo mới lên khuôn này… nếu hiểu một cách sâu xa (không có gì đã tồn tại mà sẽ mất đi, vì nó sẽ được tồn tại ở một dạng khác), thì tất cả đều là lịch sử. Có thể nói, đây là mạch nước ngầm lịch sử.

Nhưng lịch sử chúng ta đang nghiên cứu lại chỉ là những kí ức dân gian (thần thoại, truyền thuyết…), những di tích tín ngưỡng (đền, miếu, thần tích, thần phả…), những ghi chép quá sơ lược trong thư tịch cổ (của sử gia Trung Hoa, của sử gia nước ta…). Dẫu vậy, đây chính là dòng nước nổi lịch sử.

Hai khía cạnh trên đây (mạch nước ngầm lịch sửdòng nước nổi lịch sử) cũng là hai bình diện của tiến trình lịch sử.

Đặc biệt, khác với lịch sử trung đại, cận – hiện đại vốn có những tư liệu gốc xác thực, là trong thời kì đã quá xa xưa (lịch sử cổ đại), hai bình diện ấy không thể không có một phần lung linh, mơ hồ, thậm chí là lờ mờ của giả thuyết, ức đoán. Những giả thuyết, ức đoán này sẽ có giá trị cao nếu nó xuất phát từ thứ trực giác khoa học nói trên (trực giác từ quá trình tổng hợp – phân tích – tổng hợp).

Từ mệnh đề “lịch sử đang diễn ra”, phải chăng chúng ta cũng có thể suy luận thêm, ở bên ngoài nội hàm của mệnh đề ấy: chính hiện tại khiến chúng ta nhận thức lịch sử không hoàn toàn giống hệt như các thế hệ trước, ở các thời đại đã xa? Rõ ràng sử gia thời nhà Trần, như Lê Văn Hưu, suy nghĩ, nhận định khác với sử gia thời Hậu Lê trung hưng, như Ngô Sĩ Liên, và nói chung, Quốc sử viện triều Trần, Sử quán triều Hậu Lê suy nghĩ, nhận định có phần khác với Quốc sử quán triều Nguyễn, mặc dù lượng thông tin khách quan về cơ bản là y hệt nhau trong các bộ sử. Không còn nghi ngờ gì nữa, không khí mỗi thời đại, hiện thực của mỗi đương thời, đã chi phối ít nhiều đến nhận thức sử học, nhất là cảm quan lịch sử.

Tuy nhiên, chỉ với quan điểm lịch sử – cụ thể, mọi nhận định mới thật khoa học, công bằng.

Viết sử về những thời kì kháng chiến chống phong kiến Trung Hoa xâm lược, vẫn cứ phải nể nang Trung Hoa, chỉ dám gọi Trung Hoa là Phương Bắc! Cũng như về sau này, viết sử về thực dân Pháp, phát xít Nhật, đế quốc Mỹ xâm lược, cũng nể nang vì sợ thù oán và để hòng mong nhờ cậy, nương tựa! Viết sử về bộ phận “tả đạo” Thiên Chúa giáo cũng rụt rè, sợ nuôi thù chứa oán. Thành thử, sử cứ lép dần, lép dần, mất cả khí thế và mất cả tính chân thực, khoa học.

Dĩ nhiên chúng ta phải công minh nhưng đồng thời cũng phải tế nhị, khoan thứ. Nhưng không thể tế nhị, khoan thứ đến mức ta không có một bộ sử nào chân thực, khoa học và đầy khí thế chăng!

Và thực ra, những nhà văn viết về đề tài lịch sử, những nhà nghiên cứu sử học chân chính bao giờ cũng được các nhà trí thức, các phân số nhân dân chân chính ở các nước tôn trọng.

Xét ở mặt khác ở ngoại hàm mệnh đề trên, cũng đôi khi, chính hiện thực hiện tại lại có những yếu tố gợi ý khiến ta nhận thức lại quá khứ chính xác hơn, ở những khía cạnh, những điểm nào đó, mặc dù lượng thông tin khách quan trong sử sách cổ (*) vẫn vậy.

Vì vậy, tôi học tập, nghiên cứu lại lịch sử.

3

Có một điều nữa, điều này khiến sách sử được viết lại bởi các sử gia hẳn hoi, vẫn chứa đựng nhiều phân số sai lệch do tuỳ tiện, do cảm nhận riêng, tâm thế riêng. “Tam sao thất bổn” đã là một tệ nạn sử học, mặc dù người chép tay, khắc ván ngày xưa, người xếp chữ typo với các con chữ kẽm vừa qua, người thực hiện vi tính hiện thời có ý thức so sánh, đối chiếu, sửa lỗi in ấn là rất cẩn trọng. Tuy vậy, vẫn có người không phải hiểu lầm do lỗi in ấn, mà thực sự lợi dụng sự sai sót về lỗi in ấn để xuyên tạc! Những người ấy dám coi khinh cả nguyên tắc hiệu đính văn bản! Nhưng như thế vẫn còn chưa tệ hại bằng những sử gia nhớ lệch, do lỗi thuộc về trí nhớ (mặc dù họ có thể rất thành thật, không có ý xuyên tạc sử liệu), do thiếu ý thức về phương pháp, là không hề trích dẫn một tí nào tư liệu gốc mà họ sử dụng và cũng chẳng cước chú xuất xứ sử liệu bao giờ, thậm chí không có lấy một nửa trang ghi chú về tư liệu tham khảo!

Tệ nạn này đã từng biến tôi và nhiều người khác thành nạn nhân. Ta cứ dại dột tin vào những gì được các sử gia có tên tuổi viết, chẳng hề tra cứu lại, không ngờ họ viết sai, viết lệch vô số chi tiết, thậm chí cả những sự kiện lớn, những nhân vật lớn cũng sai lệch nốt!

Thử giở lại những cuốn sách lịch sử của các sử gia tên tuổi mà xem. Đó là tệ nạn có thật, nhưng thiết tưởng cũng không nên nhắc các tên tuổi ấy làm gì, sợ rằng mích lòng họ (trừ những trường hợp cực chẳng đã, đành phải nêu đích danh, cho dù danh của danh nhân).

Do đó, tôi phải học tập, nghiên cứu lại sử học. Trước hết là phải ghi nhớ điều rất giản dị đã trở thành tục ngữ: “nói có sách, mách có chứng”; sáchchứng đều phải được cân nhắc, khảo nghiệm cẩn thận, tốt nhất là các tư liệu gốc đã được giám định khoa học thực nghiệm (đặc biệt là các tư liệu gốc mới phát hiện hoặc mới công bố). Phải loại trừ tư liệu giả. Phải phân loại tư liệu: tư liệu gốc; tư liệu loại 1; tư liệu loại 2… Phải xử lí tư liệu của đối phương (Trung Hoa, Pháp, Nhật, Mỹ) bằng cách lật ngược, xoay ngược nhãn quan, lập trường. Không thể không trích dẫn tư liệu gốc để làm các luận cứ, luận chứng cho mỗi nhận định. Tôi phải dặn lòng mình như thế, quyết tâm như thế. Cũng vì vậy, nên khi viết cuốn sách mỏng này, tôi hết sức tập cho mình tính kiên nhẫn và cẩn trọng trong việc chép lại các tư liệu gốc để làm cơ sở cho mọi suy nghĩ của mình.

Về điểm này, tôi cũng xin tự phản biện rằng: Trích dẫn nguyên văn tư liệu gốc của đối phương (Trung Hoa, Pháp, Nhật, Mỹ trong các giai đoạn lịch sử cụ thể) và của những người Việt phản quốc hoặc người Việt ít nhiều khác quan điểm, nhất là khác chính kiến (khác nhận thức chính trị) là tiếp tay cho các lực lượng thù địch, đối lập ấy truyền bá các luận điệu bôi nhọ, xuyên tạc. Như thế chỉ bất lợi thêm cho dân tộc ta, trong đó có những nhân vật lịch sử yêu nước, anh hùng, chân chính và cao đẹp.

Tôi biết, có người nêu vấn đề như tôi đã tự phản biện một cách giản dị hơn: Trích dẫn nguyên văn tư liệu gốc dạng trái ngược 1800, người nghiên cứu tuy thành tâm với ý thức khoa học nhưng rõ là dại dột, thậm chí là ngu ngốc. Thông minh nhất là sử dụng loại sử liệu ấy (sau khi chỉnh lí đúng với quan điểm địch – ta), dưới hình thức lời dẫn gián tiếp, có chua xuất xứ sử liệu (**).Tuy nhiên, đó chỉ là một cách. Lời dẫn trực tiếp với các trích dẫn nguyên văn lại có giá trị thuyết phục cao hơn. Vì vậy, phải thật linh hoạt một cách trung thực, công bằng, khoa học.

Vả lại, trong việc khảo luận, phê bình sử học, cũng tương tự như trong công việc ấy ở lĩnh vực văn học, chúng ta luôn luôn phải đối mặt trực tiếp với tư liệu cần khảo chứng và phê phán. Và mọi việc đều có thể có hai khả năng: xấu – tốt; tác dụng – phản tác dụng. Nhận thức được khả năng thứ hai là khả năng xấu, phản tác dụng, “lợi bất cập hại” như vậy trong việc trích dẫn tư liệu gốc của các lực lượng đối phương và của những cá nhân, phe phái đối lập, mặc dù trích dẫn với mục đích đã xác định là để khảo chứng và phê phán, do đó, cho nên, tôi thấy cần phải phê phán thật triệt để, thật mạnh mẽ và quan trọng nhất là phê phán trúng tim đen, phê phán có hiệu quả, có sức thuyết phục, đồng thời phải luôn luôn tự nhắc nhở chính mình một nguyên tắc khá sơ đẳng là phê phán tư liệu gốc của đối phương, đối lập, kể cả những ai ít nhiều khác quan điểm, phải đi đôi với việc khẳng định bằng tư liệu gốc của ta, khẳng định một cách vững chắc, minh bạch, xác thực và quan trọng nhất là phải khẳng định một cách thực sự khoa học. Cũng không quên rằng, đối với sử cận – hiện đại, cũng nên xác định có những cá nhân, lực lượng người Việt Nam, cần phải tranh thủ, phải nhân hậu trong khi phê phán.

Có người bạn đã nhắc nhở tôi rằng, đi vào lĩnh vực sử học cần phải thật “lạnh lùng”, cần bỏ hẳn những tính từ, trạng từ biểu cảm. Tôi biết, ngày xưa, các sử gia viết sử theo tinh thần Kinh Xuân thu của Khổng Tử, với mục đích dùng sử học để nêu gương tốt và để răn điều ác, bên cạnh mục đích chính của sử là kí sự chân thực, cho nên ngôn từ thể hiện sắc thái biểu cảm rất rõ. Viết sử theo tinh thần Kinh Xuân thu, không thể vì mục đích này mà quẳng bỏ mục đích kia một cách sai lầm. Theo đó, có hai cách, thái độ bình phẩm thể hiện nhuần nhị trong khi kí sự (thuật sự); hoặc thuật sự “lạnh lùng” nhưng bên dưới phải có mục lời bàn của sử gia. Và cho dù không hoàn toàn viết sử theo tinh thần Kinh Xuân thu, mà theo cách hiện đại, cũng phải bảo đảm hai yêu cầu đó (chân, thiện), ngoài yếu tố cần thiết khác là phải trong sáng, chính xác về ngôn từ (mĩ). Mặt khác, tôi nghĩ, cổ sử của nước ta khá sơ lược; vả lại, không thể không đánh giá (bình phẩm) theo quan điểm lịch sử – cụ thể, vì ngôn từ sử cổ có nhiều chỗ thể hiện quan điểm phong kiến trong thời đại phong kiến nhưng cũng phải trích dẫn nguyên văn; thêm vào đó, ở lĩnh vực sử học, không thể có một mảy may tình tiết hư cấu về sự kiện, về nhân vật, nên không thể như trong lĩnh vực tiểu thuyết, nhà văn hoàn toàn có quyền hư cấu sự việc, tình tiết để sự việc, tình tiết ở dạng mộc nhất tự nó thể hiện thái độ, bình phẩm của chính nhà văn.

Và điều cuối cùng về khía cạnh này là, dẫu sao đi nữa, cũng phải trung thực, tôn trọng tối đa sự thật lịch sử; không thể bóp méo sự thật lịch sử theo tâm thế cá nhân, theo ý đồ chủ quan, hoặc theo phương châm chính trị “cứu cánh biện minh cho phương tiện” (“vấn mục đích, bất vấn thủ đoạn” (***)) với ý thức rõ rệt ở một số người – những người đã dùng sử học như một thủ đoạn đấu tranh chính trị, tuyên truyền chính trị (sử học dạng machiavelisme!).

Học tập, nghiên cứu sử, luận bàn về sử, tôi không thể không băn khoăn như thế.

4

Xin thưa thêm một điều khác nữa. Đây có vẻ là một khía cạnh như thể là tâm sự hơn là học thuật.

Hầu như không ai trong thế hệ tôi không thuộc lòng một vài khúc ca từ của nhạc sĩ thiên tài Trịnh Công Sơn, trong tập Ca khúc da vàng của anh. Đó là những gì thao thức, trăn trở quằn quại nhất, da diết nhất của một thời đã được Trịnh Công Sơn viết thành nhạc. Những bản nhạc ấy là của cả một thế hệ và của riêng Trịnh Công Sơn. Thế hệ sai hay Trịnh Công Sơn sai ở những câu hát này, trong bài Gia tài của Mẹ:

Một nghìn năm nô lệ giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ: giặc Tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngày
Gia tài của Mẹ để lại cho con,
     gia tài của Mẹ: một nước Việt buồn…
(…) Dạy cho con tiếng nói thật thà
Mẹ mong con chớ quên màu da (…)
Nước Việt xưa
(…) Mẹ trông con mau bước về nhà
Mẹ mong con, lũ con đường xa,
     ôi lũ con cùng Cha: Quên hận thù
(…) Gia tài của Mẹ: một bọn lai căng
Gia tài của Mẹ: một lũ bội tình (…)

Một nghìn năm nước ta bị đô hộ bởi giặc Tàu, có gì sai đâu! Cũng như vậy, chẳng có gì sai nghiêm trọng ở câu ca từ, vốn không ai đòi hỏi sự minh xác về từ ngữ, về số lượng: Một trăm năm dân tộc ta bị gánh ách nô lệ của giặc Tây. Sai gì đâu khi Trịnh Công Sơn phê phán bọn tô trắng da, nhuộm vàng tóc, mất gốc, lai căn cả về tư tưởng, tâm hồn, đến mức phản bội dân tộc. Cái sai là ở một vài khía cạnh trong những câu còn lại. Hai mươi năm nội chiến từng ngày là quá sai rồi, về nhận thức lịch sử. Đứng ở thời điểm sáng tác 1967, 1968 (có thể sớm hơn vài năm), Trịnh Công Sơn tính toán thời đoạn anh gọi là nội chiến, kể từ năm nào? 1945? Và nhìn chung, anh còn sai nghiêm trọng ở tâm tình nữa.

Ở đây, tôi chỉ xin thưa, Trịnh Công Sơn tủi hờn, u uất, buồn thảm đến tự ti dân tộc. Nhạc sĩ thiên tài chỉ thấy khía cạnh tủi hận, không thấy khía cạnh quật khởi, hào hùng, bi tráng. Nếu phân tích thêm, xin thưa, tuy nhận thức không đúng về bản chất hận thù cũng như tính chất cuộc chiến tranh nửa cuối thế kỉ XX (1945 ? – 1954 ? – 1968? – 1975) (****), Trịnh Công Sơn vẫn nhân danh tình đồng bào, dân tộc, cùng chung cội rễ để xoá bỏ hận thù một cách nhân bản và dân bản. Dĩ nhiên tư tưởng, thái độ và tâm trạng Trịnh Công Sơn không dừng lại ở đó (*****). Tôi vẫn thường hát vài câu ca từ của anh trong những năm sau ngày thống nhất Đất nước (1975):

Xanh lá xanh thêm cây
Xanh nên đời trẻ lại
Một mùa xuân thống nhất
Xanh nước non hôm nay
Xanh biếc con sông Hương
Mừng vui má (?) (******) sông Hồng
Về Cửu Long ca hát
Xanh lá cây một vùng…

Sở dĩ tôi nhắc lại những câu hát ấy là để tránh những ngộ nhận với sự nhận thức khiếm khuyết về Trịnh Công Sơn, khi không thể không ngẫm nghĩ lại Gia tài của Mẹ. Vấn đề ở đây là Gia tài của Mẹ của một thời…

Vì thế, tôi đọc lại lịch sử và nghiên cứu lại sử học. Những gì tôi viết có liên quan trực tiếp đến sử là từ khúc ca từ này. Nội dung cuốn sách này chỉ là một trong ba thời kì lịch sử được đề cập đến ở khúc ca từ ấy: Một nghìn năm nô lệ giặc Tàu.

Điều chúng ta khát vọng nhất, phải chăng là nước ta sẽ có những bộ sử vừa xác thực, khoa học và vừa thể hiện tinh thần quật cường, anh hùng của dân tộc Việt Nam chúng ta. Chỉ với điều kiện được sống trong thời đại độc lập, tự do thực sự, các sử gia mới có thể bình tĩnh, tự tin viết sử một cách chân thực, khoa học, không bị sự chi phối, sức ép nào từ các nước, các lực lượng đối phương trong lịch sử. Trong khi chờ đợi, tôi phải học sử và viết lại những cảm nghĩ của mình về sử với niềm mong mỏi một sự chia sẻ.

TP. HCM., 11 giờ 18 phút ngày 22. 07. HB4
(06. 06 G. thân HB4).

TXA.

Cước chú của bài Lời thưa đầu sách:

(*) Đại Việt sử kí toàn thư (gọi tắt là Toàn thư), bản in nội các quan bản (1697); Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884) (gọi tắt là Cương mục), tiền biên & chính biên; Đại Nam thực lục, tiền biên & chính biên (chính biên gồm các kỉ I – VI) (trước 1879 & 1894; riêng mỗi một kỉ VI [cuối năm 1885 – 1888] thuộc chính biên, viết theo quan điểm ngụy triều Đồng Khánh, 1909).

(**) Thông thường, sách báo tham khảo thể hiện lập trường, quan điểm tương đồng với phần lớn các tác giả biên soạn sách mới (những người sử dụng chúng để tham khảo). Tuy nhiên, cũng có loại sách báo trái nghịch. Cho nên, không ai ngạc nhiên khi tìm đọc các tư liệu tham khảo thuộc loại do đối phương, đối lập viết, sẽ thấy hoặc toàn bộ hoặc một khía cạnh nào đó về lập trường – quan điểm đánh giá là ngược hẳn 1800. Xin đơn cử một cuốn sử, trong đó, Trưng Trắc – Trưng Nhị, Triệu Thị Trinh, Lí Bôn, Khúc Thừa Dụ, Ngô Quyền… đều bị đánh giá là những kẻ phản nghịch hoặc tiếm thiết. Xin xem: Lê Tắc, An Nam chí lược (thuộc Tứ khố toàn thư, Trung Hoa), bản dịch của Uỷ ban Phiên dịch sử liệu Viện Đại học Huế (GS. Trần Kinh Hoà cố vấn), Viện Đại học Huế xb., 1961; Nxb. Thuận Hoá, TT. Văn hoá – Ngôn ngữ Đông Tây tái bản, 2002.

(***) Phan Bội Châu, Tự Phán, tác giả tự dịch ra tiếng Việt (chữ Nôm, 1929), Huỳnh Thúc Kháng đề tựa (1946), Nxb. Văn hoá – Thông tin tái bản, 2000, tr. 12, 17, 18.

(****) Xin xem thêm: Trần Xuân An, Mùa hè bên sông, tiểu thuyết, bản đã sửa chữa, bổ sung lần thứ ba, in vi tính ngày 19. 12. 2003 (trọn vẹn gồm 745 trang [kể cả phần chú thích, phụ lục] và phần ngoài sách gồm 15 trang [một bài thơ viết về Quang Trung cùng các chú thích sử học], cỡ sách 13 cm x 19 cm). Website Giao Điểm:

http://www.giaodiem.com       

http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/605_index.htm

(*****) Xem thêm: Hoàng Phủ Ngọc Tường, Như con sông từ nguồn ra biển (truyện kí, 1971), trong Tuyển tập HPNT., tập 2, Nxb. Trẻ, 2002, tr. 9 – 38; Trịnh Công Sơn, Thư gửi Ngô Kha, tạp chí Đứng Dậy, số tháng 12. 1974, báo Thơ (phụ san của tuần báo Văn Nghệ HNV. VN.), số 12 (06.2004); Trịnh Công Sơn, Hạnh phúc (tuỳ bút), tuần báo Văn nghệ Giải phóng, số (?), 1975.

(******) “Má sông Hồng”: bà má Nam bộ tập kết ra Bắc (sông Hồng là biểu tượng về Bắc bộ). Chi tiết này, cần tra cứu lại.

Chương I

THỜI LẬP QUỐC
VÀ NHÀ NƯỚC ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ SƠ KHAI
Kim qua ảnh lí đan tâm khổ
ĐỒNG CỔ thanh trung bạch phát sinh
Dĩ hạnh quy lai thân kiện tại
Mộng hồn do giác chướng hồn sinh
(bóng loè gươm sắt lòng thêm đắng
rộn  tiếng TRỐNG ĐỒNG, tóc đốm hoa
được sống trở về mùng vẫn khoẻ
còn ghê khí độc, giấc Nam Kha)
(thơ sứ thần Trung Hoa Trần Cương Trung,
thời Nguyên – Mông về sau)
[Trong Lê Quý Đôn toàn tập, tập 11,
Kiến văn tiểu lục, NXB. Khoa học xã hội, 1977,
tr. 171 – 172)
 
GIAI ĐOẠN HUYỀN SỬ
TRONG ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TOÀN THƯ (1697)
VÀ KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC (1884)

1

Huyền sử và quan niệm về việc viết lịch sử

Các nhân vật và sự kiện lịch sử một khi được ghi nhận như những con người trần phàm với những sự việc cũng trần phàm nhưng rất đáng kể, cần ghi lại trong kí ức dân tộc, trong sách sử, khi ấy, sử kí đã thật sự bước hẳn sang giai đoạn phi huyền sử. Tuy nhiên, trước khi xuất hiện các sử gia tỉnh táo, sáng suốt như vậy với các ghi chép, các bộ sử, lịch sử những dân tộc, đất nước hình thành tự lâu đời, cách đây khoảng bốn ngàn (4.000) năm như Việt Nam ta, không thể khác được, cũng phải trải qua một giai đoạn huyền sử khá dài.

Huyền sử là sự thật lịch sử xen lẫn với nhiều yếu tố thần thoại, truyền thuyết khá mơ hồ, phi thực, huyễn hoặc và cũng rất bay bổng. Điều này cũng tương ứng với giai đoạn loài người nói chung đang sống và tư duy, cảm xúc theo khả năng nhận thức, lí giải mọi sự một cách hư hư thực thực, chưa phân biệt rạch ròi thần thánh, ma quỷ với con người trần tục.

Ngoài những di tích tín ngưỡng về các nhân vật lịch sử cổ sơ, trên mặt đất chưa hề được những nhát thuổng, chiếc bay của giới khảo cổ học hiện đại chạm đến, giai đoạn huyền sử hàng ngàn năm chỉ còn lại các di tích tín ngưỡng, những thần thoại, nhất là những truyền thuyết lịch sử, ca dao lịch sử được nhân dân truyền khẩu.

Tình trạng giai đoạn huyền sử như thế, nên các sử gia đời Trần như Lê Văn Hưu (1230 – 1322) không thể xem di tích tín ngưỡng – lịch sử, truyền thuyết lịch sử, ca dao lịch sử đích thực là sử. Đã đành như vậy. Nhưng xem đó là tài liệu lịch sử để tham cứu, đãi lọc, hầu như Lê Văn Hưu cũng từ chối. “Nhâm thân, [Thiệu Long] năm thứ 15 (1272), (Tống Hàm Thuần năm thứ 8, Nguyên Chí Nguyên năm thứ 9). Mùa xuân, tháng giêng, Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử viện giám tu Lê Văn Hưu vâng sắc soạn xong Đại Việt sử kí từ Triệu Vũ đế đến Lý Chiêu Hoàng, gồm 30 quyển” (1). Rõ ràng Lê Văn Hưu và Quốc sử viện chỉ biên soạn về giai đoạn phi huyền sử, từ Triệu Đà (ở ngôi: 207 – 136 tr. c. ng.) đến Chiêu Hoàng, nữ hoàng duy nhất và cuối cùng của triều Lý (1225). Giai đoạn huyền sử từ Lạc Long quân đến An Dương vương không được Đại Việt sử kí (1272) đề cập đến.

Huyền sử chỉ được ghi chép vào chính sử bởi Ngô Sĩ Liên (không rõ năm sinh và năm mất), một sử gia lớn, từng tham gia khởi nghĩa Lam Sơn (1418 – 1427), đỗ tiến sĩ thời Lê Thái Tông (1434 – 1442), được Lê Thánh Tông (1460 – 1497) trao trọng trách biên soạn Đại Việt sử kí toàn thư (bản 1479) (2).

Về sau, cho đến thời Nguyễn, bộ sử lớn thứ hai trong ba bộ sử lớn của nước ta, sau bộ Toàn thư (1697) và trước bộ Đại Nam thực lục (kể cả các kỉ thuộc nửa sau thế kỉ XIX (*)), là Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884) (3). Cương mục, các sử gia Quốc sử quán (từ 1856 đến 1884) cũng ghi chép, khảo cứu lại giai đoạn huyền sử này. Tất nhiên, Quốc sử quán triều Nguyễn còn duy lí hơn cả Sử quán nhà Hậu Lê, nên gạt bỏ một phần các truyền thuyết lịch sử đã được Ngô Sĩ Liên ghi chép, bình luận.

Phải chăng sự duy lí ấy là rất đáng tiếc? Phải chăng thần thoại, truyền thuyết, ca dao lịch sử không phải không xứng đáng là tài liệu lịch sử?

2

Sự bàn luận về việc chép sử giữa các sử gia và giữa sử gia với nhà vua qua từng thời kì, từ các triều Trần, Lê đến Nguyễn

Đại Việt sử kí toàn thư được khắc in, ban hành trong cả nước, vào tháng trọng đông (tháng 11) năm Đinh sửu (1697), niên hiệu Chính Hoà thứ 18, đời vua Lê Gia Tông, đời chúa Trịnh Tạc, với tên gọi trong Cương mụcQuốc sử thực lục (4). Đó là bộ sử được biên soạn nối tiếp bởi các sử quan thuộc Quốc sử viện triều Trần, Sử quán triều Lê cùng các sử gia chủ biên: Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh, Lê Tung (viết tổng luận), Phạm Công Trứ, Lê Hy. Trong đó, Ngô Sĩ Liên là người trực tiếp biên soạn quyển I của ngoại kỉ, viết về kỉ Hồng Bàng thị (2878 – 256 tr. c. ng.) và kỉ Nhà Thục (257 – 208 tr. c. ng.). Và chính ông là người duy nhất được đề tên ngay trên quyển I này: “Triều Liệt đại phu, Quốc tử giám tư nghiệp, kiêm sử quan tu soạn, thần Ngô Sĩ Liên biên”, xem như quyển I đó là công trình riêng của ông. GS. Phan Huy Lê cũng đã lưu ý về điều đó (5).

Trong bản Phàm lệ về việc biên soạn sách ĐVSKTT. (1479), Ngô Sĩ Liên trình bày gián tiếp và trực tiếp quan điểm của ông về giai đoạn huyền sử, trước hết là để “nối đại thống của Hùng vương” (6):

“- Kinh Dương vương là vua bắt đầu được phong của nước Đại Việt, cùng với Đế Nghi [Trung Hoa – TXA. chua thêm (ct.)] đồng thời, cho nên chép năm đầu ngang với năm đầu của Đế Nghi.

- Những việc chép trong ngoại kỉ là gốc ở dã sử, những việc quá quái đản thì bỏ đi không chép. Từ Hùng vương trở về trước, không có niên biểu, thứ tự các đời vua truyền nhau không thể biết được, có thuyết nói là 18 đời, sợ chưa chắc đã đúng” (6).

Nhưng Lê Tung vẫn là người được dịp bàn sâu viết rộng hơn cả, bởi ông được phép viết bài “Việt giám thông khảo tổng luận” vào năm Giáp tuất (1514), niên hiệu Hồng Thuận thứ 6, với số lượng trang chữ đáng kể. Chả là Lê Tương Dực muốn được đọc bài rút gọn, chỉ gom nhặt điều cốt yếu, có lời bình, khi Vũ Quỳnh làm xong Đại Việt thông giám thông khảo, nên Lê Tung được dịp phát huy trí tuệ của mình (7). Về sau, bài tổng luận được các sử gia kế tục đánh giá tốt, và giữ lại, trang trọng đặt ở vị trí cuối của phần đầu sách.

Qua bài tổng luận, Lê Tung viết về giai đoạn huyền sử như sau:

“Kể từ khi Kinh Dương vương, họ Hồng Bàng nối dòng dõi Thần Nông, lấy con gái vua Động Đình, sáng rõ đạo vợ chồng, theo đúng nguồn phong hoá, vua thì lấy đức mà cảm hoá dân, giũ áo khoanh tay (8). Dân thì cày ruộng, đào giếng, ra ngoài thì làm lụng, trở về thì nghỉ ngơi, chẳng phải là phong tục thái bình cổ của Viêm Đế ư?

Lạc Long quân nối đời Hồng Bàng, lấy con gái họ Âu Lạc [Âu Việt? – ct.] mà có điềm lành sinh trăm con trai, tổ của người Bách Việt thực bắt đầu từ đấy, hưởng nước trải nhiều năm, rất là lâu dài, đã giàu thọ lại nhiều con trai, từ xưa đến nay chưa từng có.

Hùng vương nối nghiệp của Lạc Long, chăm ban đức huệ vỗ yên dân, chuyên nghề làm ruộng, chăn tằm, không lo can qua chinh chiến, con cháu nối đời đều gọi là Hùng vương, phúc 18 đời, trải hơn hai nghìn năm, buộc nút thắt dây mà làm chính sự, dân không gian dối, có thể thấy được phong tục thuần hậu quê mùa vậy. Đến vua sau đức kém, lười chính sự, bỏ sửa sang vũ bị, ham mê tửu sắc làm vui, binh nước Thục vừa đến thì quốc thống bèn mất.

An Dương vương, phía tây thì dời sang Ba Thục, phía nam thì diệt vua Hùng Vương, đóng đô ở Loa Thành, giữ nước Âu Lạc, nhờ được nỏ móng rùa, đánh lui quân nhà Tần, quen mui đánh thắng, yên vui sinh kiêu, quân Triệu đến đánh mà cõi bờ không giữ được” (9).

Đến triều Nguyễn, ngày 15 tháng 12 năm thứ 8 (22. 01. 1856), khi ban dụ chỉ về việc khởi công biên soạn lịch sử dân tộc, Tự Đức cũng đã đề cập đến “nước Việt ta từ thời Hồng Bàng” (10), không thể không biên soạn về giai đoạn huyền sử, từ Hồng Bàng đến An Dương vương. Tuy vậy, cũng có sự tranh luận với những ý kiến khác nhau. Trong đó, có ý kiến mặc dù đơn độc như của Đặng Quốc Lang nhưng cũng được bảo lưu và tấu nghị lên nhà vua.

Tổng tài, phó tổng tài Phan Thanh Giản, Phạm Xuân Quế cùng các toản tu trong Việt sử cục đã tham khảo các bộ chính sử của Trung Hoa biên chép về giai đoạn huyền sử của họ và nhận thấy, họ gạt bỏ Bàn Cổ, Tam Hoàng, chỉ chép bắt đầu từ Phục Hi hoặc muộn hơn, từ đời Đường Nghiêu. Tấu nghị viết: “Nay tra cứu Sử cũ của nước ta chép về thời Hồng Bàng thị, có danh hiệu Kinh Dương vương, Lạc Long quân, nhưng lúc ấy là thời đại thượng cổ, hãy còn hỗn độn lờ mờ, tác giả chỉ dựa vào chỗ bâng quơ mà biên soạn ra, rồi e rằng không có gì là căn cứ để cho người ta tin, lại phụ hoạ theo truyện Liễu Nghị đời Đường của nhà tiểu thuyết để làm chứng cứ” (11). Việt sử cục triều Nguyễn chỉ căn cứ vào những tư liệu khả tín. Tấu nghị viết tiếp: “Xét về thời Hùng vương lập quốc, đặt tên nước là Văn Lang, kinh đô đóng ở Phong Châu, chia nước ra 15 bộ, từ đấy mà đi, trong nước mới dần có chế độ, cha truyền con nối trải 18 đời, kể hai ngàn năm có lẻ. Trong các đời ấy có một vài dấu vết chép trong sử Trung quốc […]. Những việc kể trên còn có chứng cứ để tin. Như thế thì sử nước ta chép từ đời Hùng vương […]. Vậy nghĩ định bộ Việt sử này, về việc gây dựng quốc thống, nên bắt đầu từ đời Hùng vương. Còn những việc về Kinh Dương và Lạc Long thì sẽ theo sự truyền văn chua phụ ở dưới, như thế có thể hợp với cái nghĩa “dĩ nghi truyền nghi” (11). Và, ý kiến về một kỉ khác: “An Dương vương là người nước ngoài…” (11)!

Ý kiến đơn độc của Đặng Quốc Lang cũng được bản tấu nghị ghi rõ: “Trong bọn chúng tôi duy có Đặng Quốc Lang trộm nghĩ rằng niên kỉ Hồng Bàng thị, từ Kinh Dương vương, Lạc Long quân, Hùng vương, dầu rằng thế đại cách nay đã quá xa, không có văn tự lưu truyền lại, những việc chép phần nhiều hoang đường quái dị, nhưng bấy giờ đã đặt kinh đô, đã dựng nước, trải qua năm tháng khá dài lâu, các ông vua ấy đều là vua mở đầu của nước ta. Năm Hồng Đức thứ 10, sử thần triều Lê là Ngô Sĩ Liên biên tập Đại Việt sử kí. Lúc ấy Thánh Tông Thuần hoàng đế là một ông vua yêu chuộng văn học, hạ chiếu cho tìm sách dã sử và truyện kí xưa nay lưu trữ ở các nhà tư, để việc tham khảo được đầy đủ. Bộ sách ấy Ngô Sĩ Liên dứt khoát chép từ đời Hồng Bàng, nhận định Kinh Dương vương là vua mở đầu quốc thống. Bấy giờ bọn bầy tôi vào hạng nho học rất nhiều, mà không có một người nào chê là không hợp lẽ. Vả lại, bộ sách soạn xong đã hơn ba trăm năm nay, trải qua đời Hồng Thuận và Cảnh Trị, lại hai lần kén chọn bọn nho thần biên soạn, khảo cứu, đính chính, trong khoảng các năm ấy không thiếu gì những bậc học rộng thấy xa, mà cũng không thay đổi gì khác cả. Thế thì bộ sử do Sĩ Liên biên soạn trước đây, tưởng cũng không phải soạn ra bằng cách hão huyền không thực. Nay nếu bộ Việt sử này chỉ bắt đầu chép từ đời Hùng vương, còn những việc về đời Kinh Dương và Lạc Long chỉ chua ở cuối phần chép đời Hùng vương, e rằng không thể nào làm cho đầy đủ thế thứ và sáng tỏ gốc nguồn được” (12).

Bản tấu nghị kết thúc: “Về niên kỉ Hồng Bàng thị, nên chép bắt đầu từ đời vua Kinh Dương và Lạc Long, cần định xem việc gì hợp với lẽ phải thì chép, rồi sẽ chép tiếp đến Hùng vương, để tỏ rõ chỗ mở đầu quốc thống, còn những việc hoang đường quái dị, cũng hãy cứ ghi lại những truyền thuyết mà chua phụ ở dưới phần “mục” (13).

Trong dụ chỉ II (12. 9. 1856), vua Tự Đức nêu một câu hỏi khá sắc lạnh để nhắc nhở phương châm của sử gia: “Vậy thì, đối với nghĩa ‘bỏ việc quái dị, nói việc bình thường’ của nhà làm sử, có thể chép như thế được không?” (14). Tự Đức viết dụ tiếp, với sự “chuẩn y cho chép bắt đầu từ đời Hùng vương, để nêu rõ quốc thống nước ta từ đấy. Còn hai kỉ Kinh Dương và Lạc Long thì chuẩn cho chua phụ ở sau việc đời Hùng vương, để hợp với việc ‘dĩ nghi truyền nghi’” (14). Tất nhiên, về An Dương vương, dụ chỉ của Tự Đức vẫn chuẩn cho chép vào phụ lục, không xem là chính thống… (14).

Trải qua nhiều đời tổng tài Quốc sử quán, từ Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành, cuối cùng đến Nguyễn Văn Tường, với sự duyệt nghị của phó tổng tài Lê Bá Thận (1871), duyệt kiểm của toản tu Phạm Huy (1872), phúc kiểm của tế tửu Bùi Ước (1876), duyệt đính của Quản Hàn lâm viện ấn triện Nguyễn Tư Giản (1878), cuối cùng là duyệt kiểm của phó tổng tài Phạm Thận Duật, toản tu Vũ Nhự (1881) cùng các tập thể sử quan tên tuổi được ghi lại, mãi đến năm Kiến Phúc nguyên niên (1884), Phạm Thận Duật cùng Vũ Nhự đã dâng tiến biểu để khắc in. Tiến biểu (1884) viết về giai đoạn huyền sử: “Bắt đầu chép từ lúc dựng nước Văn Lang, nêu rõ gốc nguồn vương thống; chép việc sai quan của Đường đế làm tỏ tên cõi Nam Giao. […] Người đặt tên nước Âu Lạc […] chép ngang như liệt quốc” (15).

3

Huyền sử từ Toàn thư đến Cương mục

Về giai đoạn huyền sử, Sử quán nhà Hậu Lê đã biên soạn, lưu giữ lại những gì từ các huyền thoại, truyền thuyết, ca dao lịch sử trong Toàn thư? Ngô Sĩ Liên đã ghi lại huyền thoại của một vị vua gọi là Hoàng Đế, một danh từ chung được sử dụng như danh từ riêng (như thể Thượng Đế) (16). Hoàng Đế đã định bờ cõi cho Bắc (Trung Hoa) và Nam (Việt Nam), một cách công bằng để cùng đối sánh. Nước ta bấy giờ có tên gọi là Giao Chỉ (đất của xứ Giao Long (17)) và Việt Thường thị, cuối cõi Bách Việt. Kỉ Hồng Bàng thị khởi đầu từ đó, với ba niên hiệu: Kinh Dương vương (Lộc Tục), Lạc Long quân (Sùng Lãm), Hùng vương (không rõ tên huý, trải 18 đời đều xưng là Hùng vương [hoặc Lạc vương]). Toàn thư ghi cả chuyện Mẹ Âu Cơ sinh ra trăm trứng, nở ra trăm con trai, tổ của Bách Việt (trăm xứ Việt), và lời chia tay, chia con giữa mẹ Âu [Việt] – cha Lạc [Việt], người lên núi, kẻ về biển. Và vua Hùng lên ngôi, đóng đô ở Phong Châu, đặt quốc hiệu là Văn Lang, chia nước ra làm mười lăm bộ, đặt Lạc hầu, Lạc tướng, hoàng tử gọi là quan lang, công chúa gọi là mị nương, quan coi việc là bồ chính (bồ chính được thế tập, với thể chế phụ đạo). Toàn thư viết về tục vẽ mình, đặc biệt là truyện Thánh Gióng vào đời Hùng vương thứ 6, chuyện biếu chim trĩ trắng cho vua Phương Bắc nhà Chu, và huyền thuyết Sơn Tinh – Thuỷ Tinh. Đó là những huyền thoại, truyền thuyết hầu như người Việt Nam nào cũng biết. Tất cả đã trở thành kí ức mãi mãi không phai mờ của dân tộc.

“Trở lên là (kỉ) Hồng Bàng thị, từ Kinh Dương vương được phong năm Nhâm tuất, cùng thời với Đế Nghi [Phương Bắc – ct.], truyền đến cuối thời Hùng vương, ngang đời Noãn vương nhà Chu năm thứ 57 (258 t. c. n.) là năm Quý mão thì hết, tất cả 2.622 năm (2879 – 258 t. c. n.)” (16).

Đó là đoạn Toàn thư kết lại để chuyển sang kỉ Hùng vương (18).

Cương mục hầu như cũng chép y nguyên như Sử cũ (ở đây là Toàn thư), chỉ khác cách sắp xếp như tấu nghị, dụ chỉ, phàm lệ đã bàn khá cụ thể. Do cách quan niệm về sử, nên truyền thuyết Mẹ Âu Cơ và Trăm trứng (trăm con trai) chỉ được đặt vào phần lời chua thêm, lại lược bỏ hẳn hai truyền thuyết Thánh Gióng, Sơn Tinh – Thuỷ Tinh; nhưng lại căn cứ vào sách Cương mục tiền biên của Lý Kim Tường và Thông chí của Trịnh Tiều để chép việc sứ thần Việt Thường thị sang Trung Hoa tiến rùa thần, trên lưng có chữ khoa đẩu (kiểu chữ thời nhà Chu, 1134 – 250 tr. c. ng.), khiến vua Nghiêu phải sai quan chép lấy, gọi là Quy lịch (lịch rùa) (19).

Không chỉ thời Hùng vương, huyền sử còn là giai đoạn Thục Phán An Dương vương trị vì nước Âu Lạc (Âu Việt + Lạc Việt) (*).

So với Toàn thư, rõ ràng Cương mục thể hiện một tinh thần duy lí, khoa học ở mức độ cao hơn. Ở Toàn thư, phần phụ chỉ có lời bình của sử gia, còn ở Cương mục là những tiểu mục cẩn án, lời chua rất chi tiết, cụ thể, có đối chiếu với nhiều thư tịch cổ của Trung Hoa, sách sử của danh sĩ trong nước, có trích dẫn nguyên văn các sách ấy, do Quốc sử quán biên soạn. Riêng sách đối chiếu, có đến hàng chục bộ: Đường thư địa lí chí; Thái Bình hoàn vũ kí của Nhạc Sử triều Tống; Kinh Thi; An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng; Lịch sử cương mục bổ; Thông giám tập lãm; Dư địa quận quốc thiên hạ; Đại Thanh nhất thống chí; Địa dư chí của Nguyễn Trãi (đời Hậu Lê); Kinh Thư; Tập truyện kinh Thư của Thái Trừng; Thông chí của Trịnh Tiều; Cương mục tiền biên của Lý Kim Tường; Sử kí của Tư Mã Thiên; Phương dư kỉ yếu…   Đặc biệt, lại có thêm lời châu phê của Tự Đức.

Xin dẫn một phần của một lời chua tiêu biểu như sau: “Truyền mười tám đời: ‘An Nam chí nguyên’ của Cao Hùng Trưng chép: “Giao Chỉ khi chưa đặt làm quận huyện, bấy giờ có ruộng Lạc, theo nước triều lên xuống mà làm ruộng; khai khẩn ruộng ấy là Lạc dân, thống trị dân ấy là Lạc vương, người giúp việc là Lạc tướng, đều dùng ấn đồng, thao xanh. Nước gọi là Văn Lang. Phong tục thuần hậu, mộc mạc, chưa có chữ nghĩa, còn dùng lối thắt dây làm dấu ghi nhớ; truyền được mười tám đời”” (20). 

Nói đúng hơn, huyền sử với các thần thoại, truyền thuyết, kể cả ca dao có dấu vết lịch sử (như Chàng về thiếp một theo mây, Con thơ để lại đất này ai nuôi) là sự thật lịch sử được phản ánh bằng thi pháp đặc trưng của tư duy cổ đại. Nhưng không chỉ thế. Các thư tịch cổ Trung Hoa và Việt Nam thuở xa xưa được tra cứu nói trên cũng đã góp phần quan trọng để chứng minh giai đoạn huyền sử này: lịch sử thời Hùng vương dựng nước là có thật, chứ không phải là huyền hoặc.

Sự thật lịch sử thời Hùng vương dựng nước này và cả thời Thục Phán An Dương vương cũng còn được chứng minh một cách không thể bác bỏ bằng các ngành khoa học hiện đại về sau: khảo cổ học, nhân chủng học, dân tộc học, ngôn ngữ học (phân môn ngữ âm lịch sử); địa lí học nhân văn, cổ sinh vật học với sự vận dụng các thành tựu của các khoa học thực nghiệm như hoá học, vật lí học, địa chất học… Văn học cũng có sự đóng góp nhất định cho sử học. Cho đến nay, các công trình sử học của các nhà nghiên cứu sử đã đi sâu vào việc này.

4

Tinh thần khoa học đích thực đối với huyền thoại, truyền thuyết và ca dao lịch sử

Không thể nói khác được, rõ ràng các sử gia Trần – Lê – Nguyễn đã dần dà đẩy các huyền thoại, truyền thuyết, ca dao lịch sử về phía văn học, ngành khoa học chuyên nghiên cứu các sản phẩm của nghệ thuật hư cấu! Không những Cương mục thẳng thừng gạt bỏ những truyền thuyết lịch sử thuần chất hoặc pha đậm yếu tố cắt nghĩa hiện tượng thiên nhiên – xã hội cực kì tuyệt vời như Thánh Gióng, Sơn Tinh – Thuỷ Tinh mà cả những cổ tích phản ánh tự nhiên – xã hội thời Lạc Long quân như chùm truyện Hồ tinh, Mộc tinh, Ngư tinh, thời Hùng vương như An Tiêm, Chử Đồng Tử – Tiên Dung, Trầu cau, Bánh chưng bánh dầy cũng bị gạt nốt ở Toàn thư! Không nghi ngờ gì nữa về hiện thực phản ánh, đó là thời Hùng vương dựng nước, khi mỗi câu chuyện cổ ấy đều bắt đầu: “Ngày xửa ngày xưa, vào thời vua Hùng thứ 6…”; “ngày xửa ngày xưa, vào thời Hùng vương thứ 18…” (21). Tất nhiên văn học không bao giờ từ chối những di sản quý báu đến thế! Đó là di sản cổ không có gì có thể thay thế nổi.

Khi nhận định rằng có sự tiến bộ về tinh thần khoa học lịch sử của các thế hệ sử gia từ triều Trần, đến Hậu Lê và kế tiếp sau đó là triều Nguyễn, không thể không nhớ lại câu nhắc nhở của Tự Đức trong bản dụ chỉ II (12. 9. 1856) về việc biên soạn Cương mục. Bấy giờ, vua Tự Đức nêu một câu hỏi khá sắc lạnh để nhắc nhở phương châm của sử gia: “Vậy thì, đối với nghĩa ‘bỏ việc quái dị, nói việc bình thường’ của nhà làm sử, có thể chép như thế được không?” (14).

Tuy nhiên, thế là khoa học nhưng thật sự chưa phải khoa học. Gạt bỏ phần quái dị, thực thực hư hư của các yếu tố hoang đường, thần thánh, ma quỷ xen lẫn với nhân vật, sự kiện lịch sử trần phàm là do ý thức duy lí của nhà nho. Tuy nhiên, nói một cách khái quát, mức độ khoa học ấy còn hạn chế, ở chỗ chưa bảo lưu toàn vẹn vốn cổ thời hồng hoang, cổ đại của nhân loại nói chung, tổ tiên người Việt Nam chúng ta nói riêng. Ở trình độ khoa học hiện đại, phát triển đến mức cao hơn thế kỉ XIX trở về trước, các nhà nghiên cứu lịch sử chính trị – xã hội (bao gồm cả kinh tế, văn hoá…) và các nhà nghiên cứu văn học đều khai thác bằng phương pháp giải mã các yếu tố hoang đường, thần tiên và quái dị, để tìm thấy những dấu tích của sự thật lịch sử vốn đã được mã hoá. Trào lưu giải huyền thoại hiện nay lại thô bạo, phá phách, tục tĩu, thực chất là phản khoa học và vô ơn đối với cổ nhân. Tôi chợt nhớ một câu danh ngôn: “Bắn vào quá khứ bằng súng lục, quá khứ sẽ nã vào hiện tại và tương lai bằng đại bác”.  

Tp. HCM., khởi thảo vào 15 giờ 12’ chiều ngày 19. 06. 2004 (02. 05. Giáp thân HB4);

viết xong : 15 giờ 59’, 20. 06. HB4 (03. 05. G. thân HB4).

TXA.

Cước chú của bài Giai đoạn huyền sử trong Đại Việt sử kí toàn thư…:

(1) Đại Việt sử kí toàn thư, (gọi tắt là Toàn thư), bản in nội các quan bản (1697), bản dịch (3 tập), tập 2, Nxb. Văn hoá – Thông tin, 2003, tr. 55  (BK. [bản kỉ], q. V, tờ  33a – 33b). TXA. in nghiêng (ing.) và in đậm (iđ.) tên bộ sử (chỉ gồm bốn chữ: Đại Việt sử kí) do Lê Văn Hưu và Quốc sử viện triều Trần soạn.

(2) Xin phân biệt với bộ sử hoàn chỉnh, cũng lấy lại nguyên tên sách (ĐVSKTT.), khắc in về sau, vào năm 1697. ĐVSKTT. (1697), thường được gọi tắt là Toàn thư (1697) vốn đã chỉnh lí, tục biên từ bộ sử hoàn thành năm 1479 bởi Ngô Sĩ Liên và Sử quán triều Hậu Lê. Xin xem thêm bài khảo cứu “ĐVSKTT., tác giả, văn bản, tác phẩm” của GS. Phan Huy Lê, được đặt ở phần giới thiệu đầu bản dịch Toàn thư, tập 1, sđd., tr. 13 – 110.

(*) Những thời điểm hoàn tất và khắc in các kỉ tiền biên và các kỉ chính biên (từ kỉ thứ nhất đến kỉ thứ ba chính biên) của bộ Đại Nam thực lục, là trước 1879. Ba kỉ chính biên kế tiếp, từ kỉ thứ tư [1847 – 1883] đến kỉ thứ năm [1884 – 1885], kỉ thứ sáu [1885 – 1888], được biên soạn và khắc in trong thập kỉ cuối của thế kỉ mười chín (XIX), thập kỉ đầu của thế kỉ hai mươi (XX).

(3) Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884) (gọi tắt là Cương mục), tiền biên và chính biên, bản dịch, 2 tập, Nxb. Giáo Dục, 1998.

(4) Cương mục, sđd., tập 2, tr. 378 (Chb. [chính biên] XXXIV, tờ 40 – 41).
(5) Toàn thư, bản dịch, tập 1, sđd., bài giới thiệu của GS. Phan Huy Lê, “ĐVSKTT., tác giả, văn bản, tác phẩm”, tr. 46.
(6) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 127 & 128 (Phl. [phàm lệ], tờ 1a & tờ 1b – 2a).
(7) Toàn thư, sđd., tập 3, tr. 114 (BK., q. XV, tờ 24b). Xem thêm cước chú của hai dịch giả Hoàng Văn Lâu & Ngô Thế Long về ghi nhận của Phan Huy Chú: để tiện đọc!
(8) Xem cước chú (9): Cước chú của dịch giả Ngô Đức Thọ: Ý nói, vua chỉ cho phép thường mà trị nước, không bày đặt chính lệnh phiền nhiễu.
(9) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 150 (Tl. [tổng luận], tờ 3b – 4a). TXA. in đậm (iđ.), in nghiêng (ing.) & chua thêm (ct).
(10) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 17 (Dch. [dụ chỉ] I, tờ 1).
(11) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 21 – 23 (Tng. [tấu nghị], tờ 3 – 4).
(12) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 25 – 26 (Tng., 6 – 7).
(13) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 27 (Tng., 8). Mỗi tiểu mục có 2 phần: cương (tiêu đề, cốt yếu) và mục (diễn giải chi tiết).
(14) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 29 – 30 (Dch. II, 9 – 10).
(15) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 55 (Tnb. [tiến biểu], 3). Trong những ngày sau cuộc Kinh đô quật khởi và bị thất thủ (05. 7. 1885), “… cái đã làm cho chính Nguyễn Văn Tường cũng phải khóc là việc thiêu huỷ kho lưu trữ ở hầu hết các Bộ và của Thư viện Quốc gia; những thiệt hại của các phòng viết sử biên niên (Quốc sử quán), của Quốc gia ấn quán, các bản gỗ rời khắc lịch sử bằng chữ Hán đã biến mất” (Jean Chesneaux [dẫn lời thú nhận của linh mục Pène-Siefert, kẻ đi theo đoàn quân xâm lược], “Đóng góp vào lịch sử dân tộc Việt Nam” [Contribution à l’Histoires de la Nation Vietnamiene], tr. 134), dẫn lại từ: Nguyễn Đắc Xuân, Hỏi đáp về triều Nguyễn và Huế xưa, tập 6, Nxb. Trẻ, 2003, tr. 56 – 57. May thay, bản thảo gốc Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884), Đại Nam thực lục, tiền biên & ba kỉ chính biên (I, II, III [từ Gia Long đến Thiệu Trị]), và phần lớn châu bản thời Tự Đức – Hàm Nghi vẫn còn tồn tại, nên hôm nay giới sử học có được tư liệu gốc để nghiên cứu!
(16) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 171 – 178  (NK., q. I, tờ 1a – 5b). TXA. ct..
(17) Chỉ: vùng đất; giao: giao long. Không phải theo cách giải thích sai lầm: hai ngón chân cái giao nhau. Xem: Đào Duy Anh, Lịch sử Việt Nam, Nxb. Văn hoá – Thông tin tái bản, 2002, tr. 35: Vùng đất của nhân tộc xem Giao Long là vật tổ (tô-tem): Con rồng cháu tiên.
(18) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 174  (NK., q. I, tờ 2b): Trong kỉ Hồng Bàng thị, Ngô Sĩ Liên có lời bình về hôn nhân đồng huyết: “Xét sách ‘Thông giám ngoại kỉ’ nói: Đế Lai là con Đế Nghi; cứ theo sự ghi chép ấy thì Kinh Dương vương là em ruột Đế Nghi, thế mà kết hôn với nhau, có lẽ vì đời ấy còn hoang sơ, lễ nhạc chưa đặt mà như thế chăng?”. Cước chú của dịch giả: “Thông giám ngoại kỉ” là phần ngoại kỉ thuộc bộ sách “Tư tri thông giám” của Tư Mã Quang (đời Tống).
(19) Theo chú thích của dịch giả Ngô Đức Thọ: Về Việt Thường thị, sách Thuỷ kinh chú, Cựu Đường thư cho là ở quận Cửu Đức (tức Hà Tĩnh nước ta hiện nay); nhưng các sách Văn hiến thông khảo, Minh sử, Minh nhất thống chí lại cho là thuộc vùng đất về sau thành nước Lâm Ấp (Chiêm Thành).
(*) Xin xem bài “An Dương vương, ‘giặc Thục’ hay anh hùng bi tráng?” (TXA.).
(20) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 73 (Tb.I, 2). TXA. iđ..
(21) Có người cho rằng các cổ tích này được gia công về sau (thời Lý – Trần: Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp; thời Trần: Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên)! Đó không phải là ý kiến thoả đáng.
(14) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 29 – 30 (Dch. II, 9 – 10). TXA. iđ..
 
AN DƯƠNG VƯƠNG,
“GIẶC THỤC” HAY ANH HÙNG BI TRÁNG?

1

Phan Bội Châu viết trong cuốn “Việt Nam quốc sử khảo”: “Nước ta, mọi việc từ thời giặc Thục trở về trước không thể kê cứu rõ. Còn kể từ thời Triệu Vũ về sau…” (*).

Tại sao lại gọi An Dương vương Thục Phán là “giặc Thục”, nhất là khi hai chữ “giặc Thục” đi liền với “Triệu Vũ”, họ và vương hiệu của tên giặc đích thực Triệu Đà (Triệu Vũ vương), cách gọi tỏ ý tôn trọng?

Khi đặt vấn đề như thế, không thể không gây nên một tổn thương tận nơi sâu thẳm nhất của tâm thức người Việt Nam chúng ta. Nhân vật lịch sử An Dương vương Thục Phán từ rất lâu rồi đã trở thành một huyền tượng anh hùng dân tộc kháng chiến chống quân xâm lược của Tần Thuỷ hoàng, chống Triệu Đà xâm chiếm, với bi kịch nước mất nhà tan. Truyền thuyết về An Dương vương và về mối tình đau thương, oan nghiệt Mỵ Châu – Trọng Thuỷ tự bao giờ đã phủ lên những con người có thật ấy một lớp sương mù huyền sử với lòng ngưỡng vọng, chiêm nghiệm vừa tự hào, vừa bi thương, chua xót của hậu thế.

Nhưng, ngẫm lại, lạ lùng thay, đồng thời huyền sử cũng khắc sâu vào tâm thức dân tộc Việt Nam một hình tượng khác, hầu như trở thành hình tượng có tính chất cao cả hơn – hình tượng tín ngưỡng –, gắn liền với ý thức cội nguồn nguyên sơ nhất, sâu xa nhất và tự hào nhất. Đó là hình tượng Quốc tổ Hùng vương. Phải chăng trong tâm thức chúng ta tồn tại từ bao giờ một nghịch lí? Không nghịch lí thế nào được khi chính Thục Phán đã tiêu diệt nước Văn Lang do mười tám đời vua Hùng cùng dân tộc Lạc Việt dày công xây dựng, và chính vua Hùng thứ mười tám đã uất hận đến mức thổ huyết rồi gieo mình xuống giếng sâu để tự sát?

Thật ra, trong các bộ chính sử như Đại Việt sử kí toàn thư (1697), Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884) và trong dã sử, huyền sử của tâm thức dân gian Việt Nam, mặc dù xác định mười tám vị Hùng vương là những huyền tượng lịch sử – tín ngưỡng, nhưng chưa bao giờ có một mảy may nghi ngại về tính chân thực lịch sử bất di bất dịch. Khác với huyền tượng Quốc tổ, chính sử (gồm cả phần huyền sử, chỉ xem là ngoại kỉ) được viết từ triều đại nhà Trần đến nhà Hậu Lê (1697), ngay cả chính sử trong thời Nguyễn từ triều Tự Đức đến Kiến Phúc (1884), vấn đề về An Dương vương không phải không bị các sử gia đặt một dấu hỏi khốc liệt nhất, có thể diễn đạt với ngôn ngữ hiện đại là: An Dương vương, kẻ thù dân tộc hay anh hùng bi tráng của dân tộc? Và Phan Bội Châu đã nhận định thế nào về An Dương vương, chúng ta đã biết. Cụ Phan, một người được sinh ra, lớn lên ở xứ Nghệ, làng quê thuộc huyện Nam Đàn, rất gần với Đền Cuông (Đền Công) thuộc huyện Diễn Châu (nơi An Dương vương đã đến lúc cùng đường, phải tự chính tay mình tử hình “kẻ thù ngồi sau lưng” là Mỵ Châu, rồi nhảy xuống biển tự sát; An Dương vương, Mỵ Châu đã được nhân dân và các triều đại lập đền thờ ở đấy). Dẫu vậy, nhà yêu nước họ Phan này, trong cuốn sách phục vụ cho nhiệm vụ tuyên truyền cổ động cách mạng (thân Nhật), Việt Nam quốc sử khảo (1909), đã quyết liệt định danh: “giặc Thục”! “Giặc Thục”? Quả thật, chưa bao giờ chính sử nước ta trong thời phong kiến lại ghi vào sách sử hai chữ vừa dứt khoát vừa khủng khiếp đến thế, mặc dù chính sử ngày xưa đã có nêu câu hỏi về An Dương vương, và cũng chỉ dám “dĩ nghi truyền nghi” (giữ sự nghi ngại để truyền lại sự nghi ngại [chưa khảo cứu được])? Còn sử học ngày nay vẫn nêu lại vấn đề, và kết luận An Dương vương là nhân vật lịch sử xứng đáng để vinh danh, không kém gì việc vinh danh các vua Hùng dựng nước. Còn phía văn học sử, truyền thuyết An Dương vương lại càng toả sáng. Như thế, phải chăng không còn tồn tại nghịch lí?

2

Cũng như văn học sử, lịch sử chính trị – xã hội của bất kì nước nào trên thế giới cũng gồm có hai phần chính, tương ứng với hai thời kì phát triển chính. Đối với văn, đó là phần dân gian (văn truyền miệng) và phần bác học (văn viết). Đối với sử, đó là phần được gọi bằng đặc trưng của nó, dã sử hay huyền sử, và phần sử thành văn, được ghi chép, bình luận bởi các sử gia. Sử thành văn gồm cả thời có văn tự, trước thời Trần rất xa; ở các giai đoạn về sau, hầu hết là do các sử gia cũng là chứng nhân đương thời ghi chép.

Vấn đề An Dương vương không một ai không khẳng định là thuộc về dã sử hay huyền sử, mặc dù đã vượt qua mức độ thần thoại để đạt tới mức độ truyền thuyết, mặc dù thư tịch cổ Trung Hoa có ghi chép sơ lược. Do đó, cũng như vấn nạn huyền sử của bất kì nước nào, trong đó còn tồn đọng nhiều ức đoán mơ hồ, lung linh rất đẹp nhưng cũng khá gây hiệu ứng nghi ngại!

Sử thần Ngô Sĩ Liên viết: “Chuyện rùa vàng đáng tin chăng? […] Đến như truyện Mỵ Châu rắc lông ngỗng chỉ đường, thì chưa chắc đã có. […] Thế thì việc ma quỷ làm đổ thành cũng đáng tin sao? […] Đến như sử chép An Dương vương bại vong là do nỏ thần bị đổi lẫy, […] đều là mượn lời để cho vật trở thành thiêng mà thôi” (1).

Nhưng vấn đề nghiêm trọng không phải là ở đó. “Giặc Thục”, nhức nhối là ở chỗ này.

Toàn thư ghi rõ: “Cuối thời Hùng vương, vua có con gái gọi là Mỵ Nương, nhan sắc xinh đẹp. Thục vương nghe tiếng, đến cầu hôn. Vua muốn gả, nhưng Hùng hầu can rằng: ‘Họ muốn chiếm nước ta, chỉ lấy việc hôn nhân làm cớ mà thôi’. Thục vương vì chuyện ấy để bụng oán giận”. […]“Mị Nương đã lấy Sơn Tinh, Thục vương tức giận, dặn lại con cháu phải diệt Văn Lang mà chiếm lấy nước. Đến đời cháu là Thục Phán có dũng lược, bèn đánh lấy nước”. […] “Quân Thục kéo sát đến nơi, [vua Hùng – ct.] hãy còn say mềm chưa tỉnh, rồi thổ huyết chảy [nhảy? – ct.] xuống giếng chết, quân lính quay giáo đầu hàng Thục vương” (2).

Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884), một bộ sử lớn thứ hai, sau Toàn thư, cũng chép lại sự kiện trên không khác, sau khi đã khảo cứu kĩ lưỡng. Ở phần mục (thuyết, diễn giải) hầu như y hệt, và ngay mấy dòng cương (tiêu đề) lại càng cô đọng thật rõ ràng: “Thục vương Phán đem quân sang xâm. Hùng vương nhảy xuống giếng chết. Nước Văn Lang mất”; ở phần cương kế tiếp: “Thục vương đã lấy được nước Văn Lang, đổi tên nước là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê” (3).

Không còn nghi ngờ gì nữa, nước Văn Lang của dân tộc ta, dưới sự thống lĩnh của triều đại Hùng vương có công dựng nước, đã bị xâm lược và bị mất nước vào tay vua nước Thục! Như thế, Thục Phán (An Dương vương) không phải “giặc Thục” là gì!

Vấn đề gây nhiều tranh cãi ấy, thật ra, mấu chốt là ở chỗ “nước Thục”, “vua, họ Thục, huý Phán, người đất Ba Thục” (3). Chính Quốc sử quán triều Nguyễn, trong bản tấu nghị đầu tiên lúc mới nhận chỉ dụ khởi thảo (ngày 10 tháng 6 năm Tự Đức thứ 9 [11. 7. 1856]) cũng cho là: “An Dương vương là người nước ngoài, nhân dịp người ta suy yếu, trước thì cậy sức mạnh kiêm tính nước người…” (4). Tự Đức không khẳng định về khía cạnh đó, nhưng cũng ra chỉ dụ: “… Công việc của An Dương vương cũng chuẩn cho chép vào phụ lục, để tiện khảo cứu đính chính” (5). Tự Đức chỉ nêu lí do: nhà Thục của An Dương vương dẫu không quá ngắn ngủi, nhưng vỏn vẹn mỗi một đời vua duy nhất. Cuối cùng, ở bản Phàm lệ, Quốc sử quán triều Nguyễn xác định không xem An Dương vương là chính thống, mặc dù vẫn gọi là vương như Toàn thư, “duy lúc chết thì chép chữ ‘hoăng’, để phân biệt với triều chính thống” (6). Như vậy, ở Toàn thư (1697), An Dương vương được sử gia nước ta xếp thành một kỉ chính thống, “kỉ nhà Thục” (7), tương đương với “kỉ Hồng Bàng thị” trước đó, các “kỉ nhà Lê”, “kỉ nhà Lý”… sau đó; nhưng ở Cương mục (1884), An Dương vương không còn là chính thống nữa, chỉ là phụ chép mà thôi.

Căn cứ nào để xem là chính thống hay phi chính thống, nếu không xác định rõ là “họ muốn chiếm nước ta” (Toàn thư, sđd.), “người nước ngoài”, “người đất Ba Thục”, “kéo quân sang xâm” (Cương mục, sđd.), tức là quân xâm lược. Xem rất đơn giản nhưng lại khá rắc rối là ở chỗ, cả Cương mục lẫn Toàn thư đều xác định như thế nhưng lại mâu thuẫn ở cách định danh: chính thống hay phi chính thống. Tại sao có sự rắc rối này?

Trong bài “Việt giám thông khảo tổng luận” (1514) của Lê Tung, được đặt trang trọng ở phần đầu sách Toàn thư (1697), ghi rõ: “An Dương vương, phía tây thì dời sang Ba Thục, phía nam thì diệt vua Hùng vương, đóng đô ở Loa Thành, giữ nước Âu Lạc, nhờ được nỏ móng rùa, đánh lui quân nhà Tần, quen mui đánh thắng, yên vui sinh kiêu, quân Triệu đến đánh mà cõi bờ không giữ được” (8). Xin nhấn mạnh: “đánh lui quân nhà Tần”, vào lúc Tần Thuỷ hoàng còn tại vị, và giết được tướng giặc là Đồ Thư. Đó là một sự nghiệp rất đáng kể. Và phải chăng vì thế,