805-gdiem2.gif (5804 bytes)

posted: 05.9.2005

Chương III

THỜI KHAI SÁNG KỈ NGUYÊN ĐỘC LẬP, TỰ DO
VÀ NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN TỰ CHỦ TRUNG ĐẠI
KHÁI LƯỢC VỀ THỜI VÀ THẾ (906 – 980)

Trong 304 năm, sau triều đại Tiền Lý – Triệu Việt vương – Hậu tiền Lý (541 – 602), từ năm Quý hợi (603) đến năm Bính dần (906), nước ta bị phụ thuộc dưới ách đô hộ của hai đế chế hầu như nhất thống toàn cõi Trung Hoa là Tuỳ và Đường. Nối tiếp truyền thống từ các cuộc kháng chiến vĩ đại của Trưng Trắc – Trưng Nhị (40 – 43), Triệu Thị Trinh (248) trước kia, suốt ba trăm năm lẻ đó, hai cuộc khởi nghĩa, kháng chiến lập nên hai triều đại độc lập, tự chủ: Mai Hắc đế (722), Phùng Hưng (791). Tuy ngắn ngủi, nhưng triều Mai và triều Phùng không những chỉ gây phấn chấn cho ý chí quật khởi, tự cường của dân tộc, mà còn buộc kẻ thù xâm lược là bọn phong kiến bành trướng Hán tộc Trung Hoa phải run sợ, lo âu.

Đến thời điểm cuối thế kỉ thứ IX, bước sang thế kỉ thứ X, một thời cơ lịch sử dần dần chín muồi để nhân dân ta mở ra một kỉ nguyên mới, quyết giành lại và quyết giữ vững mạnh, bền lâu nền độc lập, tự do cho Đất nước. Đây là kỉ nguyên được khai sáng bởi dân tộc Việt, một dân tộc bấy giờ chưa đông đảo, một đất nước vốn không rộng, bị áp bức, bị đồng hoá cả văn hoá lẫn phần nào huyết thống, nhưng vẫn giữ được cốt cách, bản sắc dân tộc để tự lực đánh bại một đế quốc cổ đại khổng lồ cực kì nham hiểm là Trung Hoa phong kiến.

Thời điểm lịch sử là năm 906.

1

Ở Trung Hoa:

Bấy giờ, phía chính quốc Trung Hoa, nhà Đường đã phải rơi vào chỗ diệt vong, sau hơn 80 năm tuột dốc – quãng lịch sử được gọi là mạt Đường (823 – 907). Nếu thời trung Đường, biến động chủ yếu là khởi nghĩa An Lộc Sơn và tình trạng phiên trấn cát cứ, liên minh chống triều Đường, thì vào thời mạt Đường, nội loạn chính là do thế lực của hoạn quan (mặc dù hoạn quan được trọng dụng khởi từ sự mất tin tưởng của vua Đường vào các quan văn võ, nhất là các tiết độ sứ tại các phiên trấn). Với các vua chúa, hoạn quan thực chất chỉ là bọn gia nô, thế mà, vua Văn đế nhà Đường phải nuốt hận than: “Trẫm bị gia nô áp bức!”. Và các vua kế tiếp cuối thời mạt Đường lại do chính thế lực hoạn quan lập lên. Hoạn quan hoàn toàn tuỳ ý sử dụng, bố trí quan khanh, tuỳ ý giết hại hay trọng thưởng họ. Hoạn quan đục khoét, bán chức buôn án.

Trong khi đó, bên ngoài cung đình nhà Đường, các tộc người, các nước nhỏ như Nam Chiếu, Cầu Phủ, Bàn Huân kéo quân vào trung nguyên để xâm chiếm hoặc uy hiếp. Nổi bật nhất vẫn là hai cuộc khởi nghĩa do Vương Tiên Chi và Hoàng Sào lãnh đạo.

Năm 875, Hoàng Sào khởi binh. Sau đó, lực lượng khởi nghĩa mạnh dần, tấn công vào tận kinh đô Trường An, vua Đường lại thêm một lần chạy qua đất Thục. Chỉ 6 năm, Hoàng Sào đã đạt thắng lợi, lên ngôi hoàng đế.

Lý Khắc Dụng (thuộc tộc Sa Đà của sắc tộc Đột Quyết) được triệu về, trấn áp được cuộc khởi nghĩa Hoàng Sào. Nhưng một viên tướng của Hoàng Sào được trọng dụng, đó là Chu Toàn Trung. Chu đã cùng Thôi Dận, Lý Mậu Trung dẹp yên được bọn hoạn quan lộng quyền.

Về sau, chính Chu Toàn Trung đã giết vua Đường – Chiêu Tông, lập Ai đế, rồi lại ép Ai đế nhà Đường nhường ngôi, để y lên ngôi cữu ngũ, lập nên nhà Hậu Lương (907). Vai trò và quyền bính nhà Đường phải bị tước đoạt, sụp đổ, diệt vong sau 209 năm tồn tại (1).

Sau khi nhà Đường bị cướp ngôi vĩnh viễn, lịch sử Trung Hoa bước sang một chặng khác với nhiều ngả rẽ.

Đó là thời Ngũ Đại – Thập Quốc (907 – 960):

● Ở trung nguyên Trung Hoa:

1. Chu Toàn Trung chiếm ngôi nhà Đường, lập ra nhà Hậu Lương. Đến năm 923, nhà Hậu Lương bị Lý Tồn Húc tiêu diệt.

2. Lý Tồn Húc (tộc người Sa Đà) lập nên nhà Hậu Đường (923).

3. Thạch Kỉnh Đường (tộc người Sa Đà) diệt Hậu Đường (936 ?), lập nên nhà Hậu Tấn. Sau hai đời vua (11 năm), nhà Hậu Tấn đầu hàng quân binh của nhân tộc Khiết Đan (947 ?).

4. Lưu Trí Viễn (tộc người Sa Đà), thấy trung nguyên vô chủ, lập nên nhà Hậu Hán. Sau 4 năm (947 ? – 951 ?), lại bị Quách Uy tiếm ngôi.

5. Quách Uy (tộc Hán) lập ra nhà Hậu Chu (951 ? – 960 ?). Triệu Khuông Dẫn lại ép vua Hậu Chu nhường ngôi, lập nên nhà Tống.

Ở các biên trấn chung quanh trung nguyên Trung Hoa:

Trong thời đoạn khoảng 53 năm (907 – 960) ấy, mười nước khác vốn là các phiên trấn, đứng đầu là các tiết độ sứ cát cứ, chớp lấy thời cơ, mỗi xứ tự xưng thành nước độc lập. Thập quốc ấy gồm: Ngô, Tiền Thục, Ngô Việt, Sở, Mân, Nam Bình, Hậu Thục, Nam Đường, Bắc Hán, đặc biệt là nước Nam Hán gần kề nước ta (đất Quảng Đông ngày nay), do Lưu Ẩn dựng lên.

Cuối cùng Triệu Khuông Dẫn đánh thắng tất cả, lập nên nhà Tống (Bắc Tống: 960 – 1126; Nam Tống: 1127 – 1279 [tổng cộng 320 năm]). Nhưng tồn tại bên cạnh nhà Tống (Hán tộc) ở trung nguyên, còn có nước Liêu (tộc người Khiết Đan), nước Tây Hạ (tộc Thát Bạt), nước Kim (tộc Nữ Chân) (1).

2

Ở nước ta:

Năm Quý mùi (803), bộ tướng Giao Châu đánh đuổi tên đô hộ phủ Bùi Thái về nước (2).

Năm Kỉ hợi (819), Dương Thanh, cha ông từng làm ngụy quan đến chức thứ sử Hoan Châu, bản thân vốn là tù trưởng người thiểu số (tộc người ở Giao Châu), đánh úp phủ thành, giết tên đầu sỏ Đô hộ phủ là Lý Tượng Cổ. Cuộc khởi nghĩa kéo dài khoảng chín năm. Nhà Đường đã từng mua chuộc Dương Thanh bằng chức thứ sử ở Quỳnh Châu, nhưng người anh hùng này vẫn kiên quyết kháng chiến. Đến năm Mậu thân (828), Dương Thanh bị giặc Đường đánh bại, bắt được và đem chém, tru di cả họ tộc (3).

Năm Tân dậu (841), kinh lược sứ Vũ Hồn từ Tàu sang nhậm chức, bắt quân lính đắp sửa thành luỹ, gây nên một cuộc nổi dậy lớn, khiến y phải chạy về Quảng Châu (4).

Năm Mậu dần (858), nhân dân Giao Châu lại nổi dậy. Nhưng Vương Thức lại là một tên thực dân cổ đại cáo già, y đã khôn khéo, nham hiểm, trầm tĩnh đối phó (5)!

Mặt khác, nạn xâm lăng của quân Nam Chiếu suốt 20 năm trời (846 – 866), trong đó có năm chúng đánh thắng quan quân nhà Đường (860) và chiếm đóng trên nước ta (863 – 866), gây thêm cho nhân dân rất nhiều tang tóc, đau khổ! Năm Giáp thân (864), Cao Biền được cử sang làm đô hộ tổng quản và chuyên lo việc đánh dẹp quân Nam Chiếu. Sau khi y thắng lợi, được phong làm tiết độ sứ (866). Cao Biền là một tên thực dân phong kiến cổ đại rất mực tinh vi trong thủ đoạn lừa bịp một số không ít nhân dân, đến mức y tự dựng lên huyền thoại về bản thân: y có phù phép như có thể hô phong hoán vũ, tìm ra long mạch, cỡi diều giấy bay khắp mọi nơi… Đây cũng là một hiện tượng khá đặc biệt đến mức kì quặc (6).

Năm Canh tí (880), quân Đô hộ phủ lại nổi loạn chống tiết độ sứ Tăng Cổn (7). …

Hai điều kiện thời và thế đã hình thành trong diễn biến lịch sử như vậy. Đến năm 906, cuộc khởi nghĩa bắt đầu nổ ra, khởi đầu từ Khúc Thừa Dụ, đến Dương Đình Nghệ. Và lưỡi kiếm lịch sử, Đất nước đã trao tay Ngô Quyền để hoàn tất sứ mệnh giành giữ độc lập, tự do, rồi trao đến Đinh Bộ Lĩnh với sứ mệnh thống nhất bờ cõi nước ta về một mối.

TP. HCM., 10 giờ 15 phút ngày 16. 07. HB4
(29. 05 G. thân HB4).
TXA.

Cước chú của bài Khái lược về thời và thế (906 – 980):

(1) Xem: Phan Khoang, Trung Quốc sử lược, ấn quán Hồng Phát, Chợ Lớn – Sài Gòn, 1958, tr. 133 – 136.

(2) Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884) (gọi tắt là Cương mục), tiền biên và chính biên, bản dịch (2 tập), tập 1, Nxb. Giáo Dục, 1998, tr. 192 (Tb. [tiền biên], [quyển] IV, [tờ] 27).

(3) Đại Việt sử kí toàn thư (gọi tắt là Toàn thư), bản in nội các quan bản (1697), bản dịch (3 tập), tập 1, Nxb. Văn hoá – Thông tin, 2003, tr. 273 – 274 (NK. [ngoại kỉ], q. [quyển] V, [tờ] 7a – 8a); Cương mục, sđd., tập 1, tr. 194 – 195  (Tb. [tiền biên], [quyển] IV, [tờ] 29 – 30).

(4) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 199 (Tb., IV, 34 – 35).

(5) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 202 – 203 (Tb., IV, 38 – 39).

(6) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 199 – 214 (Tb., IV, 35 – 36…, & q. V, [tờ] 10); Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 2, bản dịch Phạm Trọng Điềm, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb. Thuận Hoá, 1992, tr. 289: có đến ba trăm (300) đền thờ về y ở các địa phương trong tỉnh Thanh Hoá, chưa kể ở các tỉnh khác như Nghệ An, Hải Dương v. v… với sự tôn xưng y là Cao vương [sic!]. Xem thêm: sđd., tập 3, tr. 425 (sự tích Cao Vương, chương về tỉnh Hải Dương). Chắc hẳn sự tôn thờ phi lí này là do “ma thuật” lừa bịp của Cao Biền và do mệnh lệnh của nhà Đường, một phần khác là do tướng tá trong đội quân viễn chinh của y lưu trú, trực tiếp phỉnh gạt và cưỡng bức nhân dân ta. Vả lại, dẫu không đặt chân đến để chăm lo hương khói, nhân dân cũng không dám đập phá vì tâm lí mê tín, sợ “thần” ngại quỷ. Xin trích một vài đoạn nguyên văn từ sđd., tập 3, tr. 425 [TXA. in đậm (iđ.) & chua thêm (ct.)]:

“[…] Vương người tỉnh Bảo Sơn, thuộc quận Quảng Nam ở Trung Quốc, họ Cao tên Hiển […]. … khi chết được [vua Tống – ct.] tặng [hàm tước – ct.] đại vương, khiến [:ra lệnh cho – ct.] các chư hầu đều lập đền thờ. […] Nay xét triều Tống không có chức đại thừa tướng, mà danh thần liệt truyện trong sử cũng không có người nào họ Cao tên Hiển. Vả Khánh Lịch là niên hiệu Tống – Nhân Tông, ngang với đời Lý Thái Tông nước ta. Nếu Cao vương có công với nhà Tống thì [nhà Tống – ct.] thờ là đáng, cớ gì mệnh lệnh lập miếu lại sang cả nước ta? Duy Cao Biền nhà Đường phong làm Bột Hải quận vương, từng làm tiết độ sứ ở nước ta, hoặc giả trước kia tướng tá [của y – ct.] có lập đền, rồi dân sở tại nhân đấy mà thờ, bèn [lưu – ct.] truyền sai đi mà thôi. Nhưng việc này vẫn chưa khảo cứu được, vậy chép ra đây, để chờ đính chính”.

(7) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 217 (Tb., V, 13 – 14). Lời cẩn án của Quốc sử quán triều Nguyễn: Sách An Nam kỉ yếu của Cao Hùng Trưng cho rằng Tăng Cổn nổi tiếng về tài chính trị, ngờ sử cũ nhầm (?).

KHÚC THỪA DỤ, KHÚC HẠO, KHÚC THỪA MỸ,

DƯƠNG DIÊN NGHỆ,

VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC MỚI CỦA NGƯỜI VIỆT

1

Họ Khúc, thời cơ xuất hiện và thế lực, uy đức sẵn có

Cương mục (1) chép: “Năm Bính dần (906). (Đường, Chiêu Tuyên đế, năm Thiên Hựu thứ 3). Tháng giêng, mùa xuân. Nhà Đường phong chức đồng bình chương sự cho quan Tĩnh Hải quân tiết độ sứ là Khúc Thừa Dụ. Họ Khúc là một họ lớn lâu đời ở Hồng Châu (2). Thừa Dụ, tính khoan hoà, hay thương người, được dân chúng suy tôn. Gặp thời buổi loạn lạc, nhân danh là hào trưởng một xứ, Thừa Dụ tự xưng là tiết độ sứ và xin mệnh lệnh với nhà Đường; nhân thế vua Đường cho làm chức ấy” (3).

Như vậy, Khúc Thừa Dụ không phải là một lãnh tụ khởi nghĩa, giành lại chính quyền cho nhân dân Việt. Tiết độ sứ thực chất chỉ là một chức quan của nhà Đường phong cho các thủ lĩnh của những phiên trấn quanh trung nguyên. Tuy thế, vẫn có khác biệt với các chức quan khác, là tiết độ sứ có quyền thế tập, cha truyền con nối, lại nắm giữ tất cả mọi lĩnh vực, từ tài chính, dân chính đến quân sự, ở lãnh địa. Theo Phan Khoang, thậm chí có tiết độ sứ lại “tự thị” không nhận tướng sĩ của triều đình bổ nhiệm đến… (4). Hầu như đó là các tiểu vương mặc dù không được chính thức phong là tiểu vương. Khúc Thừa Dụ cũng gần như thế.

Ở thời điểm này, vua Chiêu Tông nhà Đường hẳn đã bị Chu Toàn Trung giết, và Đường – Ai đế được lập lên làm vua; cuối cùng, đến năm sau, 907, nhà Đường bị cướp ngôi vĩnh viễn!

Cương mục chép tiếp: “Năm Đinh mão (907), (Đường, năm Thiên Hựu thứ 4; Lương, Thái Tổ, năm Khai Bình thứ 1). Khúc Thừa Dụ mất, con là Hạo giữ Giao Châu, tự xưng là tiết độ sứ. Khúc Hạo nhờ vào cơ nghiệp cũ, giữ lấy La Thành, tự xưng là tiết độ sứ, chia đặt các lộ, phủ, châu, và xã ở các xứ; đặt ra chánh lệnh trưởng và tá [:phó – dg. ct.] lệnh trưởng, bình quân thuế ruộng, tha bỏ lực dịch; lập sổ khai hộ khẩu, kê rõ họ tên quê quán, giao cho giáp trưởng trông coi. Chính sự cốt chuộng khoan dung giản dị. Nhân dân đều được yên vui. Khi đó, nhà Lương dùng tiết độ sứ Quảng Châu là Lưu Ẩn kiêm lĩnh chức Tĩnh Hải quân tiết độ sứ và phong cho tước Nam Bình vương. Lưu Ẩn giữ thành Phiên Ngung, Khúc Hạo giữ Giao Châu, tự xưng tiết độ sứ, hai bên chực thôn tính lẫn nhau” (5).

Lưu Ẩn là người Hán, làm tiết độ sứ ngay trên đất Bách Việt cũ (Giao Chỉ bộ bị chia hai, một bên thành Quảng Châu, một bên là Giao Châu). Y là quan chức nhà Đường, nay Đường tiêu vong, y tiếp tục công việc cũ, lại nhận tước gia phong là Nam Bình vương của nhà Lương mới thành lập. Và như sử cổ viết, một tình huống đối đầu bắt đầu diễn ra, giữa họ Khúc (Việt) với Lưu (Hán).

Mười năm sau, Đinh sửu (917), khi Lưu Ẩn chết, em của Ẩn là Nham nối ngôi. Ngay lúc mới nối ngôi, Nham đã quyết chí cát cứ, thành lập một vương quốc riêng, lấy quốc hiệu là Hán, tức là nước Nam Hán, đặt niên hiệu là Kiền Hanh.

“Khúc Hạo sai [con là] Thừa Mỹ sang Nam Hán kết mối hoà hảo. Thực ra, đó là mượn tiếng hoà hảo để dò xét tình hình hư thực” (6).

Cũng năm 917 ấy, “Khúc Hạo mất, con là [Khúc – ct.] Thừa Mỹ lên thay” (6).

Hai năm sau, năm Kỉ mão (919), nhà Lương ở trung nguyên Trung Hoa chính thức trao chức tiết độ sứ cai quản Giao Châu cho Khúc Thừa Mỹ, sau khi Khúc Thừa Mỹ sai sứ sang nhà Lương để xin lãnh “tiết việt”. Theo suy nghĩ của Khúc Thừa Mỹ, đó là cách dựa vào một nước lớn (nước Lương tuy xa hơn), nhằm để ngăn bớt tham vọng của nước láng giềng (nước Nam Hán mặc dù gần hơn!).

Năm Quý mùi (923), ở Trung Hoa, Lý Tồn Húc đã diệt nhà Lương, lập nên nhà Hậu Đường! Thế là Khúc Thừa Mỹ bị hẫng chỗ dựa, chưa kịp sai sứ sang nhà Hậu Đường, thì đã bị quân Nam Hán chớp lấy thời cơ, tấn công. Bấy giờ, chúa nước Nam Hán là Lưu Cung (đổi tên vì kiêng cữ, dị đoan)!

“Theo sách An Nam kỉ yếu, trước kia, Lưu Cung [vốn tên là Lưu Nham – ct.] nghe nói Thừa Mỹ đã nhận “tiết việt” của nhà Lương, giận lắm, sai tướng giỏi là Lý Khắc Chính đem quân sang đánh, bắt được Thừa Mỹ đem về” (7).

Lưu Cung liền sai tướng của y là Lý Tiến sang làm thứ sử, cùng với Lý Khắc Chính chiếm đóng, cai trị nước Giao Châu ta (923).

Thế là vai trò lịch sử của họ Khúc đã chấm dứt. Đó là một sự nghiệp cứu nước, cứu dân, tuy không hào hùng, chủ yếu nhờ vào uy đức vốn được nhân dân suy tôn, biết chớp lấy thời cơ lịch sử để bước đầu xây dựng nên một hệ thống nhà nước Việt của người Việt.

2

Dương Diên Nghệ,

người anh hùng hai lần đánh bại quân Nam Hán

Sau khi Khúc Thừa Mỹ đã bị quân Nam Hán đánh bại, bắt về nước, Toàn thư (8) chép rõ diễn biến tiếp theo: “Lý Khắc Chính ở lại Giao Châu, bị tướng của Khúc Hạo là Dương Đình [:Diên – ct.] Nghệ, người Ái Châu, đánh đuổi. Vua [Nam – ct.] Hán trao cho Đình Nghệ tước vị, lấy Lý Tiến làm thứ sử Giao Châu, cùng với Lý Khắc Chính giữ thành, bảo tả hữu rằng: ‘Dân Giao Chỉ hay làm loạn, chỉ có thể ràng buộc (ki mi) mà thôi’.” (9).

“Tân mão, [931], ([Hậu – ct.] Đường – Minh Tông, Tự Nguyên, Trường Hưng năm thứ 2). Mùa đông, tháng 12. Dương Đình Nghệ nuôi 3 nghìn con nuôi, mưu đồ việc khôi phục. Lý Tiến biết, sai chạy ngựa về báo cho vua [Nam – ct.] Hán. Năm ấy, Đình Nghệ đem quân vây Tiến. Vua Hán sai thừa chỉ Trần Bảo đem quân sang cứu, chưa đến nơi, thành đã mất. Tiến trốn về nước. Bảo đến vây thành, Đình Nghệ đưa quân ra đánh, Bảo thua chết. Từ đó Đình Nghệ tự xưng tiết độ sứ, trông coi việc châu” (10).

Năm Bính thân (936), nhà Hậu Đường ở Trung Hoa tiêu vong; Thạch Kỉnh Đường cướp ngôi lập nên nhà Hậu Tấn. Năm sau, 937, vào một ngày mùa xuân tháng ba, “nha tướng của Đình Nghệ là Kiều Công Tiễn […] giết Đình Nghệ để thay chức” (11).

Người anh hùng với chiến công lừng lẫy, ít ra là đã hai lần đánh bại quân Nam Hán, khiến chúng hãi hùng, nhụt mộng xâm lăng, bỗng gặp phải cái chết hết sức đau lòng bởi kẻ thuộc hạ có lòng dạ xấu xa như thế!

Dẫu sao, từ lúc họ Khúc thực sự xây dựng chính quyền Việt của người Việt (906) cho đến thời điểm 937 này, trừ đi khoảng non 10 năm (923 – 931) Lý Khắc Chính và Lý Tiến kìm kẹp, chiếm đóng, Dương Đình Nghệ tuy thắng nhưng buộc phải “hoà”, còn lại, nhân dân ta đã được sống gần 20 năm độc lập tự do, lập nên những chiến công hiển hách.

Có một điều rất đáng tiếc, từ họ Khúc (Khúc Thừa Dụ,  Khúc Hạo, Khúc Thừa Mỹ) đến Dương Đình Nghệ, nước ta vẫn chưa có một lãnh tụ xưng vương, xưng đế như trước kia, mà chỉ chịu “thừa lệnh, chấp hành”, trên danh nghĩa chỉ là tiết độ sứ, thần phục theo dạng hợp thức hoá như là quan chức được sai phái đến của bọn phong kiến Trung Hoa!

TP. HCM., viết xong lúc 15 giờ 53 phút
Ngày 16. 07. HB4 (29. 05 G. thân HB4).

Cước chú của bài Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, Khúc Thừa Mỹ, Dương Diên Nghệ…:

(1) Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884) (gọi tắt là Cương mục), tiền biên và chính biên, bản dịch (2 tập), tập 1, Nxb. Giáo Dục, 1998.

(2) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 218 (Tb. [tiền biên], [quyển] V, [tờ] 14): Lời chua: Ninh Giang, Bình Giang thuộc tỉnh Hải Dương.

(3) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 217 – 218  (Tb., V, 14). TXA. in đậm (iđ.).

(4) Phan Khoang, Trung Quốc sử lược, ấn quán Hồng Phát, Chợ Lớn – Sài Gòn, 1958, tr. 130 – 131.

(5) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 218  (Tb., V, 14 – 15). TXA. (iđ.). Lời chua: theo An Nam kỉ yếu, một thư tịch của Trung Hoa, không phải Khúc Thừa Dụ, mà chính Khúc Hạo, người Giao Chỉ, đã nhận chức tiết độ sứ nhà Đường thay Độc Cô Tổn! Khúc Hạo làm tiết độ sứ 4 năm thì mất!

(6) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 219  (Tb., V, 15). TXA. ct..

(7) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 220  (Tb., V, 16). TXA. ct..

(8) Đại Việt sử kí toàn thư (gọi tắt là Toàn thư), bản in nội các quan bản (1697), bản dịch (3 tập), tập 1, Nxb. Văn hoá – Thông tin, 2003.

(9) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 290 (NK. [ngoại kỉ], q. [quyển] V, [tờ] 18a). TXA. iđ. & ct.. Ki mi (hoặc cơ mi), từ để chỉ sự vật cụ thể, có nghĩa là chính quốc thực dân chỉ ràng buộc lỏng lẻo, trao nhiều quyền tự chủ cho xứ bị lệ thuộc.

(10) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 291 (NK., q. V, tờ 18b). TXA. iđ. & ct..

(11) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 291 (NK., q. V, tờ 18b – 19a).

NGÔ QUYỀN
HAY ĐINH BỘ LĨNH
LÀ NGƯỜI KHAI SÁNG KỈ NGUYÊN ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ
THỜI PHONG KIẾN TRUNG ĐẠI?

Các cuộc khởi nghĩa lừng lẫy trong suốt hơn một nghìn năm bị áp bức, bóc lột của bọn phong kiến Trung Hoa do Trưng Trắc – Trưng Nhị (40 – 43), Triệu Thị Trinh (248), Mai Thúc Loan (722), Phùng Hưng (791) lãnh đạo đã nổ ra và sau đó bị đánh bại, trấn áp là các cuộc khởi nghĩa riêng biệt trong từng giai đoạn khác nhau. Cuộc khởi nghĩa do Lý Bôn (Lý Bí) lãnh đạo (541 – 548) lại có sự kế tục suốt 54 năm (548 – 602) do Triệu Quang Phục, Lý Thiên Bảo – Lý Phật Tử đảm nhận vai trò lịch sử. Lần này cũng vậy, không còn là cuộc khởi nghĩa riêng biệt, mà có sự tiếp nối, từ Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, đến Dương Diên Nghệ và tiếp đến là Ngô Quyền với nền độc lập, tự chủ đã giành giữ được, chấm dứt vĩnh viễn thời kì đen tối, tủi nhục hơn một nghìn năm nô lệ giặc Tàu phong kiến, để cuối cùng, Đinh Bộ Lĩnh sẽ thực hiện được sự thống nhất non sông Tổ quốc, sau 20 năm nội chiến, cát cứ giữa 12 sứ quân. Từ đó, dân tộc ta lại nối tiếp thời kì vẻ vang vua Hùng dựng nước ở một tầm mức phát triển cao hơn, hiển hách hơn.

Tuy vậy, các sử gia vẫn đặt lại vấn đề: Ngô Quyền hay Đinh Bộ Lĩnh là người khai sáng kỉ nguyên độc lập, tự chủ thời phong kiến trung đại? Có người còn khẳng định chính nhân vật lịch sử Khúc Thừa Dụ là người đã thực hiện nhiệm vụ lịch sử ấy!

1

Người anh hùng, nhà quân sự kiệt xuất Ngô Quyền

Sau khi Dương Diên Nghệ hai lần đánh bại quân Nam Hán, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, ông đã đột ngột qua đời bởi một kẻ nội phản đê tiện là Kiều Công Tiễn (Kiểu Công Tiện, người Phong Châu nước ta), vào năm Đinh dậu (937). Càng đê mạt hơn nữa, khi Tiễn lại xin thần phục “nước láng giềng phía Bắc” do Lưu Nham (tức Lưu Cung) nắm quyền, ấy là nước Nam Hán! Bấy giờ, ở trung nguyên Trung Hoa, Thạch Kỉnh Đường (tộc người Sa Đà) đã tiêu diệt nhà Hậu Đường (936 ?), lập nên nhà Hậu Tấn được 2 năm. Năm sau, Mậu tuất (938), người con rể của Dương Diên Nghệ, vốn đang là nha tướng coi giữ đất Ái Châu (Thanh Hoá), đã kéo quân ra Bắc.

Cương mục (1) chép: “Năm Mậu tuất (938). ([Hậu – ct.] Tấn, năm Thiên Phúc thứ 3). Tháng 9, mùa thu. Một nha tướng khác của Dương Diên Nghệ là Ngô Quyền khởi binh, đánh giết Kiểu Công Tiện. Chúa Nam Hán, Lưu Cung sai con là Hoằng Tháo sang cứu viện. Ngô Quyền đón đánh ở sông Bạch Đằng: quân Nam Hán bị thua, Hoằng Tháo chết đuối.

Ngô Quyền, người xã Đường Lâm [đồng hương với Bố Cái đại vương Phùng Hưng – ct.], thuộc dòng dõi quý tộc đã lâu đời, cha là Mân, trước làm quan mục ngay châu nhà. Khi Ngô Quyền mới sinh, có điềm sáng rực cả nhà, trạng mạo đặc biệt khác thường, trên lưng có ba nốt ruồi đen. Người xem tướng lấy làm lạ, bảo rằng sau này có thể làm chúa một phương. Vì thế mới gọi tên là Quyền. Khi Quyền lớn lên, mặt mũi khôi ngô, mắt sáng như chớp, chân bước khoan thai như dáng con hổ, có trí dũng, sức khoẻ cất nổi cái vạc, làm nha tướng của Diên Nghệ. Diên Nghệ gả con gái cho. Ngô Quyền coi giữ Ái Châu. Khi Công Tiện giết Diên Nghệ, Ngô Quyền đem quân từ Ái Châu ra đánh, giết được Công Tiện.

Theo sách Cương mục (Trung Quốc), Công Tiện sai sứ đem của đút lót cho chúa Nam Hán để xin cứu viện. Chúa Nam Hán là Lưu Cung định nhân dịp rối loạn ấy sang lấy Giao Châu, mới cho con là Hoằng Tháo làm Giao vương, đem quân sang cứu Công Tiện. Lưu Cung có hỏi Sùng Văn sứ là Tiêu Ích về sách lược; Tiêu Ích trả lời: ‘Hiện này mưa dầm đã suốt mấy tuần, đường biển hiểm trở xa khơi; Ngô Quyền lại là người giỏi lắm, chớ nên coi thường. Đại quân phải nên giữ gìn thận trọng, dùng nhiều người đưa đường rồi sau hãy tiến’. Lưu Cung không nghe, sai Hoằng Tháo đem thuyền chiến kéo thẳng sang đánh Giao Châu. Khi ấy, Ngô Quyền đã giết được Công Tiện, đem quân đón đánh. Trước hết lấy các cọc gỗ đầu đẽo nhọn và bịt sắt trồng ngầm ở cửa biển, nhân lúc nước triều lên, cho các thuyền nhẹ ra khiêu chiến, rồi giả cách thua chạy. Hoằng Tháo đuổi đánh, thình lình nước triều rút cạn, thuyền chiến mắc phải cọc bịt sắt, không trở về được; quân Nam Hán bị thua to, Hoằng Tháo bị chết đuối.

Theo Ngũ đại sử […], Lưu Cung đem quân đóng ở trấn Hải Môn. Ngô Quyền ra đón đánh, Hoằng Tháo bị thua và chết, Lưu Cung thu quân kéo về” (2).

Toàn thư (3) còn ghi thêm câu nói đầy tự tin của danh tướng Ngô Quyền lúc Lưu Cung, Hoằng Tháo mới xuất quân: “Hoằng Tháo là đứa trẻ dại khờ, đem quân từ xa đến, quân lính còn mỏi mệt, lại nghe Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi…” (4), và ghi cả cảnh tượng chiến đấu, chiến thắng oai hùng của quân ta, cảnh tượng thất trận nhục nhã của bọn cướp nước Nam Hán: “Khi binh thuyền đã vào trong vùng cắm cọc, nước triều rút, cọc nhô lên, [Ngô – ct.] Quyền bèn tiến quân ra đánh, ai nấy đều liều chết chiến đấu. [Quân Hoằng Tháo] không kịp sửa thuyền, mà nước triều rút xuống rất gấp, thuyền đều mắc vào cọc mà lật úp, rối loạn tan vỡ, quân lính chết đuối quá nửa. [Ngô – ct.] Quyền thừa thắng đuổi đánh, bắt được Hoằng Tháo giết đi. Vua Hán thương khóc, thu nhặt quân lính còn sót rút về…” (4).

Cuộc chiến thắng lẫy lừng trên sông Bạch Đằng (938) đã chấm dứt giai đoạn Toàn thư gọi là kỉ Nam – Bắc phân tranh (5).

Năm Kỉ hợi (939), vào mùa xuân, Ngô Quyền tự xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa, lập người vợ họ Dương (con gái Dương Diên Nghệ) làm hoàng hậu; đặt các quan chức, dựng nghi lễ trong triều, định màu sắc các lễ phục, triều phục cũng như các loại áo mão khác.

Như vậy, một triều đình của vương quốc độc lập, tự chủ đã được trang trọng thành lập, sau hơn một nghìn năm gánh ách nô lệ của giặc Tàu phong kiến.

Sử gia Lê Văn Hưu đã ca ngợi với niềm tự hào: “Tiền Ngô vương có thể lấy quân mới họp của nước Việt ta mà đánh được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo, mở nước xưng vương, làm cho người Phương Bắc không dám lại sang nữa. Có thể nói là một trận nổi giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy. Tuy chỉ xưng vương, chưa lên ngôi đế, đổi niên hiệu, nhưng chính thống của nước Việt ta, ngõ hầu đã nối lại được” (6).

Sử gia Ngô Sĩ Liên cũng khẳng định: “Tiền Ngô [vương] nổi lên không chỉ có công chiến thắng mà thôi, việc đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục, có thể thấy được quy mô của bậc đế vương” (6).

Về sau nữa, Ngô Thì Sĩ ngợi ca: “Trận thắng lợi trên sông Bạch Đằng là cơ sở sau này cho việc khôi phục lại quốc thống. Những chiến công của các đời Đinh, Lê, Lý, Trần vẫn còn nhờ vào uy thanh lẫm liệt để lại ấy. Trận Bạch Đằng này là vũ công cao cả, vang dội đến nghìn thu, há phải chỉ lừng lẫy ở một thời bấy giờ mà thôi đâu?”; “Vua Ngô Quyền giết được giặc nội phản để trả thù cho chúa [Dương Diên Nghệ – ct.], đuổi quân ngoại xâm để cứu nạn cho nước, xây dựng quốc gia, đem lại chính thống, công nghiệp thực là vĩ đại” (7).

Công đức trị bình chưa thể hiện rõ trong đời sống nhân dân sau đêm trường hơn nghìn năm nô lệ, Ngô Quyền đã vội qua đời, vào năm Giáp thìn (944)! Ông mất đi, triều đình lại bị nội biến. Không ai khác, chính người em ruột của Dương hoàng hậu, là Dương Tam Kha, đã cướp ngôi của cháu. Ngô Xương Ngập, con trai cả của Ngô Quyền phải lánh nạn. “Xương Ngập sợ, chạy đến Nam Sách Giang, ẩn náu tại nhà Phạm Lệnh Công ở Trà Hương. Tam Kha nuôi con thứ hai của Ngô vương Quyền là Xương Văn làm con của mình…” (8). Nhưng sự thể ấy cũng không thể tránh khỏi cảnh xâu xé trong nội bộ triều đình. Xương Văn cùng hai tướng là Dương Cát Lợi, Đỗ Cảnh Thạc, quyết giành lại ngai báu. Kết cục, sau 6 năm tiếm quyền, Dương Tam Kha bị truất phế. Ngô Xương Văn rước anh là Ngô Xương Ngập về. Ngô Xương Ngập cùng em trông coi việc nước, nhưng chỉ được một thời gian, Ngập lại lấn cả quyền em. Ngô Xương Văn đành ẩn nhẫn. Đến khi Ngập chết bệnh (Giáp dần, 954), Ngô Xương Văn mới thực sự nắm vương quyền.

Tuy nhiên, cha anh hùng, con lại hèn hạ! Chính Nam Tấn vương Ngô Xương Văn “sai sứ sang xin mệnh lệnh chúa Nam Hán là Lưu Thạnh. Nam Hán phong cho Nam Tấn vương chức Tĩnh Hải quân tiết độ sứ kiêm đô hộ” (9)!

Ngô Xương Văn trị vì được 15 năm (951 – 965). Sau đó, trong một trận tiễu phạt nhỏ ở hai thôn hẻo lánh, Xương Văn đã bị tên nỏ mai phục, và đã chết. Triều nhà Ngô (Tiền Ngô, 939 – 944; và Hậu Ngô, 951 – 965) mất theo.

2

Đinh Bộ Lĩnh,
người dẹp tan cuộc nội chiến Mười hai sứ quân,
thống nhất Đất nước về một mối

Trong điều kiện hạn chế chung của thời cổ – trung đại trên thế giới và điều kiện hạn chế có tính khu vực (địa – chính trị) của thuở bấy giờ, dẫu sao, Đất nước cũng đã được độc lập, tự chủ. Tuy nhiên, chính “ma lực dục vọng” quyền bính đã khiến xui, dẫn đến tình huống xâu xé, tranh đoạt trong nội bộ thân thuộc và trong nước, sau khi đã đánh dẹp, ngăn chặn được nạn ngoại xâm. Đúng hơn, nguy cơ ngoại xâm từ một đế quốc luôn nuôi tham vọng bành trướng vô độ là Trung Hoa (gồm cả tiểu quốc Nam Hán) vẫn còn đó, chưa kể từ các nước láng giềng (Hoàn Vương [Lâm Ấp]; Nam Chiếu [Vân Nam]) và giặc bể (Chà Và, Côn Luân [Nam Dương]), nhưng sự tranh đoạt quyền bính, sự cát cứ địa phương trong nước đã bùng nổ.

Kiều Công Tiễn (Kiểu Công Tiện), rồi lại Dương Tam Kha là hai kẻ đầu sỏ nội loạn đáng trách nhất trong giai đoạn này.

Ngay khi Dương Tam Kha cướp ngôi của người cháu gọi mình bằng cậu ruột, cuộc nội chiến đã khởi đầu. Đó là sự cát cứ xưng hùng xưng nhưng sử sách gọi là “loạn các sứ”. Trước sau, có tất thảy 12 sứ quân, chiếm cứ mười hai vùng đất, tranh hoành lẫn nhau. Một trong những người nổi binh sớm nhất, có lẽ là Trần Lãm (Trần Minh Công). Trần Minh Công chính là sứ quân mà Đinh Bộ Lĩnh, trong thuở ban đầu tham gia vào cuộc nội chiến, đã đứng vào hàng ngũ thuộc hạ của ông.

Cương mục ghi lời cẩn án: “Xét kĩ ra, thì ngay từ năm thứ nhất đời Nam Tấn [Ngô Xương Văn – ct.], đã thấy có chép ‘Bộ Lĩnh giữ Hoa Lư, Nam Tấn vương và Thiên Sách vương đến đánh không được’. Vậy thì Trần Minh Công khởi binh phải ở vào trước khi Xương Văn chưa lấy lại được nước [từ tay Dương Tam Kha – ct.]. Cứ thế mà suy ra, mười hai sứ quân chiếm giữ các huyện ấy phải có kẻ trước kẻ sau, không giống nhau, chứ không phải đến khi Nam Tấn vương mất rồi, mười hai sứ quân mới đồng thời nổi dậy” (10).

Toàn thư chép: “Bấy giờ trong nước không có chủ, 12 sứ quân tranh nhau làm trưởng, không ai chịu thống thuộc vào ai. Đinh Bộ Lĩnh nghe tiếng Trần Minh Công là người có đức mà không có con nối, bèn cùng với con là Đinh Liễn đến nương tựa” (11).

Thật ra, tình thế Đất nước chỉ như thể là không có chủ!

Toàn thư trước đó đã ghi rõ, ngay từ năm Tân hợi (951), để có thời gian củng cố thế lực, chính Đinh Bộ Lĩnh đã cho con trai cả của mình vào triều Ngô để làm con tin. Con tin ấy là Đinh Liễn: “Bấy giờ, người động Hoa Lư là Đinh Bộ Lĩnh cậy núi khe hiểm cố, không chịu giữ chức phận làm tôi. Hai vương [Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn – ct.] muốn cất quân đi đánh; Bộ Lĩnh sợ, sai con là Liễn vào triều làm con tin để ngăn chặn việc xuất quân. Liễn đến, hai vương trách tội [Bộ Lĩnh] không đến chầu, rồi bắt giữ Liễn đem theo đi đánh…” (12).

Đến lúc Ngô Xương Văn trúng tên nỏ phục kích, qua đời (965), các sứ quân lại càng có thời cơ để đẩy mạnh cuộc nội chiến tương tàn thảm khốc. Ngô Xương Xí, con trai của Ngô Xương Văn, không giữ nổi triều đình, cũng không có cựu thần triều Ngô nào ủng hộ, nên rơi xuống mức độ chỉ là một trong 12 sứ!

1.       Trần Lãm (Trần Minh Công)

2.       Kiều Công Hãn (cháu nội Kiều Công Tiễn)

3.       Kiều Thuận (em ruột Kiều Công Hãn)

4.       Nguyễn Khoan

5.       Nguyễn Thủ Tiệp (anh em ruột của Nguyễn Khoan, quan cũ nhà Ngô)

6.       Nguyễn Siêu (như Nguyễn Thủ Tiệp)

7.       Ngô Nhật Khánh (tôn thất nhà Ngô)

8.       Lý Khuê

9.       Lữ Đường

10.  Phạm Bạch Hổ (nguyên bộ tướng của Ngô Quyền)

11.  Ngô Xương Xí (con trai Ngô Xương Ngập)

12.  Đỗ Cảnh Thạc (tướng của triều Ngô).

Bấy giờ ở trung nguyên Trung Hoa, nhà Hậu Chu đã bị Triệu Khuông Dận [:Dẫn] tiêu diệt, lập nên nhà Tống, từ 5 năm trước (960). Nhưng quyền lực nhà Tống cũng chưa vươn xa được đến nước ta. Hơn nữa, phía bắc nước ta còn có nước Nam Hán gần như án ngữ. Do đó, không ai khác, chính người Việt (gồm một vài kẻ là quan lại nhà Đường cũ?) đã xâu xé nhau hết sức đau lòng.

Cương mục ghi chép, khảo đính về thời đoạn này: “Năm Bính dần (966), […]. Từ khi Tam Kha cướp ngôi nhà Ngô, thổ hào các nơi đua nhau nổi dậy. Xương Văn tuy lấy được nước, nhưng chính sự cẩu thả, không thể thống nhất được; đến khi đi đánh Thái Bình, không được, [Xương Văn – ct.] bị chết trận; từ đó trong nước rối loạn. […]” (12).

Năm Đinh mão (967), “thế lực quân đội của Bộ Lĩnh mỗi ngày một mạnh, đánh đâu được đấy, lại phá được đám giặc ở Đỗ Động Giang [do nha tướng nhà Ngô là Đỗ Cảnh Thạc lãnh đạo – ct.]. Các bộ đều dẹp yên được cả. Quan lại và nhân dân các châu, các phủ không ai không quy phục”  (13).

Cương mục viết về việc Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vua: “Dẹp tan mười hai sứ quân, tự lập lên làm hoàng đế” (14), “đóng đô ở Hoa Lư”, “bầy tôi dâng tôn hiệu. Tôn hiệu nhà vua là Đại Thắng Minh hoàng đế” (15). Đinh Bộ Lĩnh lại lấy niên hiệu với tư cách một vị vua của một vương triều bề thế. Từ năm Canh ngọ (970), bắt đầu gọi là năm Thái Bình thứ 1 (16).

Triều đại mới của nước ta cũng thiết lập quan hệ ngoại giao với nhà Tống. Đinh Liễn (Nam Việt vương) là người chuyên trách lĩnh vực này.

Triều đình do Đinh Bộ Lĩnh thành lập khá có quy mô.

Ngoài việc đặt phẩm cấp cho quan văn võ, Đinh Bộ Lĩnh lại chứng tỏ là một vị vua “tôn sùng đạo Phật, mới đặt phẩm cấp cho tăng nhân và đạo sĩ: ban hiệu Thái sư cho Chân Lưu, lại cho Trương Ma Ni làm Tăng lục đạo sĩ, Đặng Huyền Quang làm Sùng chân uy nghi” (17). Cùng chức hàm thái sư (tể tướng triều đình), tăng sĩ Ngô Chân Lưu còn có danh hiệu được sắc tặng là Khuông Việt (17).

Duy có một điều đáng phấn khởi nhất, đó là việc Đinh Bộ Lĩnh đã đặt quốc hiệu mới cho nước ta, một cách khá thuần Việt, nếu không nói là đã rất thuần Việt: Đại Cồ Việt.

Đinh Bộ Lĩnh lập nên triều đại mới từ chiến tích dẹp tan nội chiến, cát cứ, chứ không phải bằng chiến công đánh ngoại xâm.

TP. HCM., khởi viết từ lúc 08 giờ sáng
ngày 17. 07. HB4 (01. 06 Giáp thân HB4);
viết xong lúc 15 giờ 36 phút cùng ngày.

Cước chú của bài Ngô Quyền hay Đinh Bộ Lĩnh…:

(1) Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884) (gọi tắt là Cương mục), tiền biên và chính biên, bản dịch (2 tập), tập 1, Nxb. Giáo Dục, 1998.

(2) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 221 – 222 (Tb. [tiền biên], [quyển] V, [tờ] 18 – 19). TXA. chua thêm (ct.).

(3) Đại Việt sử kí toàn thư (gọi tắt là Toàn thư), bản in nội các quan bản (1697), bản dịch (3 tập), tập 1, Nxb. Văn hoá – Thông tin, 2003.

(4) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 292 – 293 (NK. [ngoại kỉ], q. [quyển] V, [tờ] 19b – 20a). TXA. ct..

(5) Kỉ phân tranh giữa hai miền Quảng Châu [Bắc] – Giao Châu [Nam]; Quảng Châu vốn là đất cũ của nước ta, Lưu Cung chiếm đóng, lập ra nước Nam Hán.

(6) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 294 (NK., q. V, tờ 21a). TXA. in đậm (iđ.) & ct..

(7) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 222 – 223 (Tb., V, 19 – 20). TXA. iđ. & ct.. Xem thêm: Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, bản dịch: Nguyễn Trọng Điềm, hiệu đính: Đào Duy Anh, tập 4, Nxb. Thuận Hoá, 1992, tr. 252: Vế đối của vua nhà Minh – Hy Tông, và vế đáp của sứ thần nhà Lê nước ta – Giang Văn Minh (người tỉnh Sơn Tây) về trụ đồng Mã Viện và các trận chiến thắng quân Nam Hán, quân Nguyên – Mông của quân dân ta dưới sự chỉ huy của Ngô Quyền, Trần Quốc Tuấn trên sông Bạch Đằng:

Đồng trụ chí kim đài dĩ lục
Đằng giang tự cổ huyết do hồng
(Trụ Mã đến nay rêu đã lục
Sông Đằng từ cổ máu còn hồng).

Vua Minh – Hy Tông tức giận đến mức vi phạm luật lệ ngoại giao, ra lệnh bắt Giang Văn Minh và mổ bụng ông. Giang Văn Minh là một sứ thần dũng cảm, không chịu để nhục quốc thể.

(8) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 224 (Tb., V, 21).

(9) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 228 (Tb., V, 25). TXA. iđ. & ct..

(10) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 231 (Tb., V, 28 – 29). TXA. iđ. & ct..

(11) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 301 – 302 (NK., q. V, tờ 25b).

(12) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 298 (NK., q. V, tờ 23b – 24a). TXA. iđ. & ct..

(12) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 230 (Tb., V, 27). TXA. iđ. & ct..

(13) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 233 (Tb., V, 31 – 32). TXA. ct.. Cương mục ghi chép thêm thư tịch cổ của Trung Hoa Ngũ đại sửThập quốc Xuân thu. “Theo sách Thập quốc Xuân thu  của Ngô Nhận Thần nhà Thanh, […]. Trước kia, Ngô Xương Văn mất, tướng tá của Xương Văn là Lã Xử Bình cùng với thứ sử Phong Châu [nước ta] là Kiều Tri Hựu gây loạn, Bộ Lĩnh cùng với con là Đinh Liễn đánh bại Xử Bình, được dân chúng suy tôn lên làm vua” (sđd., tr. đã dẫn).

(14) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 237 (Cb. [chính biên], I, 2).

(15) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 237 (Cb. [chính biên], I, 2 – 3).

(16) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 238 (Cb. [chính biên], I, 3).

(17) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 239 (Cb. [chính biên], I, 4 – 5).

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com