posted: 05.9.2005
Chương II
1
Vua Hùng thứ XVIII đã
mất vương quyền bởi sự đánh đổ của Thục Phán An Dương vương, đó
là một sự thật lịch sử thuộc về thời kì huyền sử. Khái niệm “sự thật lịch sử” thời kì này có
tính chất không tuyệt đối, hàm chứa ít nhiều sai biệt có thể chấp nhận
được (kể cả khái niệm về các đơn vị [năm, tháng] tính toán số lượng
thời gian). Như vậy, thời đại
độc lập, tự chủ đích thực của dân tộc Lạc Việt đã chấm dứt.
Và từ đó, Thục Phán với việc thành lập nước Âu Lạc (Âu Việt + Lạc
Việt) đã khởi đầu một giai đoạn mới trong khoảng năm mươi năm ở nửa
sau thế kỉ thứ ba trước công nguyên Tây lịch. Đối với nguy cơ thường
trực là sự xâm lược của phong kiến Hán – Hoa, nước Âu Lạc vẫn thật
sự là một nước độc lập. Hơn nữa, Âu Lạc đã kháng chiến chống sự
xâm lược của Tần Thuỷ hoàng, trực tiếp là đánh bại hai tên giặc Triệu
Đà và Nhâm Ngao (Hiêu) cùng quân binh nhà Tần, trước khi bị chúng thực
thi kế gián điệp để cướp nước. Cho dù nhận định rằng
chiến tranh sáp nhập các bộ lạc thị tộc
(nhân tộc) là tất yếu lịch sử thời cổ đại để hình thành dân tộc (hoà huyết các nhân tộc), tôi
vẫn gọi giai đoạn 50 năm thuộc triều đại An Dương vương là giai đoạn
“bản lề” (*). 2
a. Gốc tích Triệu Đà và nhà Triệu
– Hán: Không còn nghi ngờ
gì nữa, Triệu Đà là người Hán (nguyên quán: huyện Chân Định, tỉnh Hà
Bắc, Trung Hoa), là một tên tướng xâm lược thuộc đội quan quân viễn
chinh, chiếm đóng của bạo chúa Tần Thuỷ hoàng (một trong những bạo
chúa khét tiếng nhất trong lịch sử thế giới). Nhưng cũng không nghi ngờ
gì nữa, Triệu Đà cùng Nhâm Ngao (còn đọc là Nhâm Hiêu) không phải là
trung thần mù quáng của Tần Thuỷ hoàng. Khi nhà Tần (Trung Hoa) suy bại, sắp
sụp đổ, Ngao sắp chết, Ngao đã bàn với Đà về ý đồ cát cứ, lập
ra một nước mới thuộc quyền sở hữu của riêng Đà. Và quả thật, 4 năm
sau (208 tr. c. ng.), Đà sẽ thực hiện được điều này sau khi đánh bại
An Dương vương nước ta. Tất nhiên, việc cát cứ này, ngoài tham vọng quyền
lực, giàu sang cá nhân vốn là động cơ, còn bởi nguyên nhân là Triệu Đà
phải tự vệ trước sự chiến thắng của Lưu Bang với sự thành lập triều
Hán, một đế chế mới, thay thế triều Tần đã sụp đổ (206 tr. c. ng.). Cương mục chép sự kiện
4 năm về trước: “Năm Tân mão (210 tr. c. ng.) (Thục – An Dương vương
năm thứ 48; Tần – Thuỷ hoàng năm thứ 37) […] Triệu Đà sang xâm lược,
đóng quân ở núi Tiên Du thuộc Bắc Giang, đánh nhau với vua Thục. Vua Thục
đem nỏ thần ra bắn. Đà thua chạy. Khi ấy, Nhâm Hiêu [:Ngao – ct.] đóng
chu sư ở tiểu giang, vì mắc bệnh, phải trở về. Lúc về, Nhâm Hiêu có
dặn Triệu Đà rằng: ‘Nhà Tần mất rồi. Nếu ông biết dùng mưu đánh
lấy Thục thì có thể lập
được nước đấy’” (1). Và mặc dù bại trận,
Triệu Đà cũng đã dùng áp lực của nước Tần khổng lồ để buộc An
Dương vương phải cắt đất cầu hoà. “Triệu Đà biết
vua Thục có cái nỏ thần, không thể địch nổi, bèn lui giữ núi Vũ Ninh,
sai sứ xin hoà. Vua Thục mừng, chia đất cho Đà từ sông Bình Giang trở về
Bắc; còn từ Bình Giang trở về Đây là lần chia cắt
Đất nước đầu tiên trong lịch sử nước ta (sau cuộc li thân, chia con của
Âu Cơ và Lạc Long quân), bởi cuộc
xâm lược của người Hán tộc (Trung Hoa). Chính nhờ mưu gian gửi rể (có thể gọi là mĩ nam kế), Trọng Thuỷ lấy được lẫy
nỏ trong lúc Mỵ Châu ngây thơ, cả tin đưa nỏ thần cho Thuỷ xem. Cuối cùng,
Triệu Đà xua quân đánh úp nước Âu Lạc. Nước Âu Lạc mất, sau 50 năm
sáp nhập Âu vào Lạc, kế tục nước Văn Lang của nhân
dân ta dưới triều đại hơn hai nghìn năm của mười tám đời vua Hùng. Như vậy, còn phân
vân gì nữa để không xác định rõ: Triệu
Đà là một tên giặc ngoại xâm thuộc
Hán tộc Trung Hoa! Và cho dù y li khai nhà Hán ở Trung Hoa với âm mưu cát
cứ, xâm chiếm thêm để thành lập một nước riêng, thuộc quyền sở
hữu riêng của y và của họ tộc y, thậm chí y và con cháu y còn lấy vợ
người Bách Việt, y tự xưng là “Man Di
đại trưởng lão phu, thần Đà” (2) khi viết phúc thư đệ gửi Hán Văn
đế vào năm 180 tr. c. ng., thì y vẫn là tên “giặc Đà”. Huống nữa, Triệu Đà vốn
là người Hán, còn thần phục nhà Hán (196 tr. c. ng.), được Hán Cao đế
phong làm Nam Việt vương. “Giặc Đà” hay “Triệu
Vũ vương”? Nói rõ hơn, Triệu Đà là tên xâm lược có tham vọng
riêng hay là một vị vua
chính thống có công đức với dân tộc Việt Các sử gia Cương mục xem nhà Triệu – Hán này
không phải là chính thống, mà chỉ xếp vào loại liệt quốc. Tuy việc xếp vào loại
liệt quốc này, gồm cả An Dương vương lẫn Lý Bí (Bôn), Lý Phật
Tử, Triệu Quang Phục, chưa hẳn đã hợp lí hoàn toàn, nhưng cũng chứng tỏ
ý thức dân tộc ở triều Tự Đức – Kiến Phúc nhà Nguyễn có được sự
quan tâm. “Người đặt tên
nước là Âu Lạc, người đóng đô ở Phiên Ngung, đều chép ngang như liệt
quốc” (3). Tất nhiên, song song
với sự định danh là một vương triều chính thống của lịch sử dân tộc
(Toàn thư)
hoặc chỉ là loại liệt quốc (Cương mục), Triệu Đà vẫn bị
gọi đúng danh xưng là “giặc Đà”. Về sau, giới sử
gia ở Miền Bắc nước ta (1954 – 1975) mới định danh xác đáng: “Giặc Đà”, triều đại xâm lược họ Triệu – Hán, là
danh nghĩa đồng thời là thực chất của Triệu Đà và 4 đời con cháu
y nối nhau làm vua ở nước ta, đúng như Ngô Thì Sĩ (1726 – 1780), tác giả
Việt sử tiêu án đã viết: “Đến như việc tán tụng công lao của Triệu
Đà đã xướng ra cơ nghiệp đế vương trước tiên, Lê Văn Hưu sáng lập ra sử chép như thế,
Ngô Sĩ Liên cứ theo cách chép ấy không biết thay đổi, rồi đến bài Tổng
luận của Lê Tung, thơ Vịnh sử của Đặng Minh Khiêm thay nhau mà tán tụng,
cho Triệu Đà là bậc đế của nước ta. Qua hàng ngàn năm mà không ai cải
chính, vì thế tôi phải biện bạch kĩ càng” (4). Do đó, sau giai đoạn
“bản lề” là 50 năm triều đại An Dương vương (nhà Thục), đất nước
ta thật sự rơi vào thời kì bi thảm, đen tối nhất của dân tộc: hơn một ngàn năm phải làm nô lệ giặc Tàu.
Sự định danh lại về Triệu Đà và nhà Triệu – Hán ([-207] – [-111])
còn kéo thêm một số vấn đề khác, như việc phải định danh lại nhân
vật Lữ Gia chẳng hạn (5). b. Triệu Đà
và chủ trương bành trướng Hán tộc, đồng hoá dân tộc Bách Việt của
nhà Tần (Tần Thuỷ hoàng): Sẽ là vội vã kết
luận nếu không phân tích thêm một vài nét. Cả Toàn thư và Cương mục đều đã khảo chứng tư liệu
và cùng ghi nhận rằng, các nhân tộc Bách Việt vốn sinh sống trên địa
bàn rộng lớn từ phía nam sông Dương Tử (nay là nam Trung Hoa) đến Âu Lạc
(nay là Bắc kì và bắc Trung bộ nước ta), trong đó có dân tộc Việt (Âu Cơ – Lạc
Long quân), đã bị bọn phong kiến Trung Hoa áp đặt chính sách bành trướng
Hán tộc, đồng hoá dân tộc Việt với mưu toan “tiệt nòi”, hoàn toàn
Hán hoá. Khởi đầu là cuộc xâm lược của quân binh nhà Tần với tên tướng
giặc Đồ Thư. Cương mục chép: “Năm
Đinh hợi (214 tr. c. ng.), (Thục An Dương vương năm thứ 44; Tần Thuỷ hoàng
năm thứ 33). Nhà Tần sai Đồ Thư và Sử Lộc sang lấy đất Lĩnh Nam, đặt
ra Tượng quận. Bấy giờ nhà Tần hám đất Việt có nhiều ngọc trai và
ngọc cơ, muốn chiếm lấy đặt làm quận huyện, mới bắt kẻ trốn
tránh, người gửi rể và lái buôn ở các đạo đi làm lính, sai hiệu uý
là Đồ Thư làm tướng, Sử Lộc khơi cừ lấy lối tải lương, đi sâu
vào cõi Lĩnh Nam, cướp lấy đất Lục Lương, đặt ra Quế Lâm, Nam Hải,
Tượng Quận để đày những kẻ phải đi thú. Người Việt [chỉ chung Bách Việt – ct.] bấy giờ đều rủ nhau núp vào trong rừng rậm,
không ai chịu để người Tần dùng; lại
ngầm bầu những người tài giỏi lên làm tướng, đánh nhau với người Tần,
giết được hiệu uý Đồ Thư” (6). Cương mục còn chua thêm:
“Bây giờ tỉnh Quảng Tây tức là Quế Lâm, tỉnh Quảng Đông tức là Cương mục chép tiếp:
“Nhà Tần sai Nhâm Hiêu và Triệu Đà đem năm mươi vạn dân bị tội đày sang thú ở đất Ngũ Lĩnh. Hiêu và Đà mới
âm mưu làm việc cát cứ, kiêm tính” (7). Cũng theo Cương
mục, Nhâm Hiêu bàn về lực lượng người Hán bị đưa sang Bách Việt
này: “… Phiên Ngung (nhà Hán gọi là Đến năm Giáp ngọ
(207 tr. c. ng.), Triệu Đà “đã kiêm tính
được đất Lâm Ấp và Tượng Quận, tự lập làm Chủ trương di thực
Hán hoá ấy đã bị thực thi khắp các xứ sở Bách Việt (Quảng Đông, Quảng
Tây, bắc Việt Đó là một thảm trạng
dân tộc do âm mưu, chính sách thâm độc của bọn phong kiến bành trướng
Hán tộc ở phía bắc sông Dương Tử (trên đất Trung Quốc hiện nay). Lạ
thay, lại có kẻ vong bản (do bị nhồi sọ),
cho rằng đó là một cơ may lịch sử để giao lưu huyết tộc và văn hoá (10) (**)! Nhân
danh dân tộc Việt Nam, xin trích dẫn nguyên văn một đoạn sử tồi tệ
do Phan Thị Hán viết (nếu không bị ai đó
sửa chữa nhằm bôi nhọ dân tộc Việt Nam ta và bôi nhọ cả cụ Phan):
“Sách Lễ Kí chép rằng: ‘Người
phương nam gọi là Mán, trán có khắc hình và hai ngón chân giao nhau’. Sử
chép rằng: thời Lê, Lý, quân sĩ đều có khắc chữ “thiên tử quân”
trên trán. Đó là chứng cớ khắc trán. Giao chỉ là hai ngón chân cái xoè
ra, hai chân giao nhau. Hồi còn trẻ tuổi, thấy có một vài người già, hai
ngón chân cái xoè ra, đứng thẳng thì giao nhau, đi giày không được. Đó
là chứng cớ giao chỉ. Ngày nay trong nước vẫn có người có ngón chân
cái giao nhau, họ đến độ bảy, tám mươi tuổi rồi. Thời nhà Hán chia nước
ta ra thành quận Giao Chỉ, có lẽ cũng nhân giống người đặc biệt ấy mà
đặt tên quận chăng?” (11). Một đoạn khác: “Hơn nữa, gần đây,
một vài người Giao Chỉ còn sót lại, số lượng không bằng một phần
trăm dân số trong nước, lại rất là đần độn không biết gì, họ như
người thời thái cổ. Ngoài ra những người lanh lợi, khôn ngoan thì đều
là hỗn hoá chủng tộc với người Hán Trung Quốc” (11). Phan Bội
Châu (Phan Thị Hán) còn dẫn chứng bằng nhân dạng, ngôn ngữ, tên họ,
sách sử ta ghi chép về những nhóm người, đoàn người Hán nhập cư dọc
dài theo lịch sử. Phan Thị Hán viết tiếp: “Gộp những điều chứng trên kia lại mà xét, thì giống
người nước ta ngày nay có thể đoán chắc là giống người Hán. Giống
người mọi rợ khắc trán, giao chỉ kia nhất biến đã thành giống người
văn minh xinh đẹp, áo mũ chững chàng. Tuy đó là điều không may cho người
nước ta ngày xưa, nhưng lại là đều may cho người nước ta sau này. Thế
thì con cháu, họ hàng chúng ta ngày nay có nỡ lòng để cái giống nòi này
mòn mỏi hèn kém xuống ngang hàng với ngựa trâu được không?” (11). Hoàng
Trọng Mậu lại viết lời phê ngay trong “Việt
Tôi ngờ rằng đây
là tư tưởng Đại Hán chủ nghĩa (bành
trướng Hán tộc chủ nghĩa), nội hạ ngoại
di (người trong nước [Tàu] thì
văn minh, người ngoài nước [Tàu] là mọi rợ) của một phân số người
Hán, và trực tiếp là của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu hoặc của những
Hoa kiều, người Việt gốc Hoa nào đó. Nhưng chẳng lẽ cái tên tự đặt
là Phan Thị Hán cũng do Lương Khải Siêu đặt nốt!?! Trong lí luận, nhất
là lối ngụy biện, người ta vẫn dùng chứng cứ để ngụy biện cho có
lí. Tuy nhiên, ai cũng biết rằng, có những hiện tượng không phổ biến,
không tiêu biểu vẫn cứ được thổi phồng để làm đặc trưng (như sách Lễ kí), để làm luận chứng, luận cứ (như Việt Nam quốc sử khảo của Phan [Thị Hán]
Bội Châu); hoặc xuyên tạc các chứng cứ
theo ý đồ, theo nhận thức chủ quan sai lầm. Về nhân dạng, chẳng
lẽ Phan Bội Châu không hiểu về nhân chủng và các chi nhánh của nhân chủng!
Ai cũng biết và ai cũng thấy, nếu các nhân tộc, dân tộc thuộc đại chủng
da vàng châu Á, thì đại thể là giống nhau về nhân dạng; cũng đại thể
là giống nhau như vậy, trong đại chủng da trắng châu Âu (+ bắc châu Mỹ),
trong đại chủng da đen ở châu Phi. Về ngôn ngữ, ngoài tư duy có tính phổ
quát của loài người thể hiện ở ngữ pháp, chẳng lẽ không có sự giao
lưu, vay mượn từ ngữ và nhất là sự hình thành số lượng từ ngữ “nhập
tịch” do bị áp đặt một nền Hán học lâu đời, như thể tiếng La
Tinh đối với các ngôn ngữ châu Âu? Về họ, cũng cứ lấy họ của người
châu Âu mà xét, cho dù là người Đức, người Pháp, hay người Anh, người
Nga, các dân tộc ấy đều lấy tên Thánh trong Kinh Thánh của Do Thái để làm họ (thật
ra, ban đầu là do các linh mục của đế quốc La Mã “ban cho” giáo dân
thuộc địa!); ở trường hợp nước ta, là do viết trại, đọc trại họ
Việt cổ theo chữ Hán, âm Hán hoặc bị áp đặt họ Hán để đồng hoá
về tộc tính. Ở đây, tôi không
muốn sa đà đến lạc đề. Cái chính là có một
sự thật lịch sử: Quả thật, có chính sách đồng hoá dân tộc của
phong kiến Hán tộc Trung Hoa; ở thời điểm thế kỉ thứ III tr. c. ng. là
chính sách của nhà Tần, trong quá trình chúng thực dân, xâm chiếm Bách Việt
(gồm cả xứ Giao Chỉ) để bành trướng Hán tộc, để làm “tiệt nòi”
Bách Việt (hoàn toàn Hán hoá), thông qua vai trò của Triệu Đà, Nhâm Hiêu
(Ngao). Và tất nhiên cũng có phản ứng ngược lại, đó là ý thức cùng
hành vi chống sự đồng hoá dân tộc, giữ gìn bản sắc dân tộc của người
Bách Việt từ vùng đất nay là Quảng Tây, Quảng Đông và bắc Việt Nam.
Phải thấy rằng, trước đây, phong tục ăn trầu, nhuộm răng Việt Nam, là
một trong các biện pháp để khỏi xoá nhoà dân tộc, chống lại sự đồng
hoá dân tộc (không những từ cổ đại mà cho đến đầu thế kỉ XX, từ
Nam Quan đến Cà Mau, phong tục đó vẫn còn tồn tại). Phải thấy rằng, Việt Nam vẫn vượt qua thách
thức đồng hoá dân tộc theo chính sách thực dân, bành trướng, Hán hoá
đó, và dân tộc ta vẫn tồn tại, mãi mãi tồn tại, suốt mấy ngàn năm
qua và muôn vạn năm sau, trong khi ở Quảng Tây, Quảng Đông, đồng bào
Bách Việt của Việt Nam chúng ta hầu như đã Hán hoá gần hết. Hãy thử làm một
chuyến du lịch – nghiên cứu văn hoá trên khắp nước hoặc ở một vài
tỉnh bất kì, tuỳ chọn lựa, người ta sẽ không tìm thấy đâu ra người
Hán (ngoài số ít Hoa kiều) hoặc dấu vết Hán (ngoài một số chữ Hán do
nền giáo dục cũ lâu đời lưu lại) trong sinh hoạt thường ngày, trong lễ
tết của tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam, làng thôn, thành thị Việt
Nam. Dĩ nhiên, có giao lưu văn hoá, có tiếp nhận văn hoá, nhưng đặc biệt
là tất cả những yếu tố văn hoá tiếp nhận ấy đều được Việt hoá, chứ không phải Hán
hoá. Từ
xa xưa, trong “Đại cáo bình Ngô”, Nguyễn Trãi đã viết: “Núi sông bờ cõi đã chia, phong tục Bắc
[:Hán – TXA. ct.], Vấn đề là Triệu
Đà với chính sách Hán hoá huyết thống Việt và văn hoá Việt trong thế
kỉ thứ III tr. c. ng. do nhà Tần khởi xướng. Và vấn đề là bản lĩnh
Việt, bản sắc văn hoá Việt, khả năng Việt hoá trong thách thức lâu
dài đó. c. Thêm vài nét
về nhà Triệu – Hán xâm lược, chiếm đóng và cát cứ: Từ những năm Tần
Thuỷ hoàng còn sống với quyền lực bạo chúa trong tay, Triệu Đà và
Nhâm Ngao (Hiêu) còn làm hiệu uý, chúng xua quân đánh chiếm Bách Việt, số
người Hán gồm binh lính viễn chinh, kẻ lái buôn, hạng trốn tránh, người
nghèo khó không cưới nổi vợ phải đi ở rể với phận tôi tớ cho nhà
vợ, những tội nhân (gồm cả quan lại phạm pháp) phải bị lưu đày viễn
châu, phụ nữ Hán ế chồng sang đất Việt để làm hộ lí, phu phen cho lực
lượng viễn chinh (12). Sau khi nhà Tần sắp sụp đổ (Tần – Nhị thế
năm thứ 2, 208 tr. c. ng.), Triệu Đà cát cứ, đốt sạn đạo, cắt đường
đi nẻo về, giữa Bách Việt và Trung Hoa. Năm Ất mùi (206 tr. c. ng.), nhà Tần
đổ, nhà Hán làm chủ Trung Hoa, một số lớn không ít trong bọn họ phải
ở lại đất Bách Việt. Triệu Đà và bốn đời vua con cháu nhà Triệu
– Hán đều dựa vào số lượng người Hán ấy để thực hiện việc thành
lập và duy trì vương quốc của riêng y và con cháu y. Trong thực tế, lãnh
thổ Bách Việt là rất rộng, gồm cả Quảng Đông, Quảng Tây, bán đảo
Hải Nam và Bắc bộ, bắc Trung bộ ngày nay, do đó, số người Hán ấy hoặc
co cụm ở những phủ lị, chốn đô hội (như Phiên Ngung) để làm quan chức,
chiếm những vùng đất màu mỡ để canh tác, hoặc vẫn đóng đồn ở những
nơi hiểm yếu. Triệu Đà vẫn phải duy trì chế độ Lạc hầu, Lạc tướng
với thể thức phụ đạo (cha truyền con nối) ở Âu Lạc. Nói chung, trước
sức mạnh của nhà Hán mới lên ngôi, trước sự chống cự của dân Bách
Việt, Triệu Đà ở thế bắt buộc phải vừa dựa vào người Hán lưu
vong, vừa mị dân bản xứ, “không đụng chạm gì đến tổ chức nội
bộ và phong tục của người bản địa” (13) để có thể tồn tại. Ban đầu, Hán – Cao
đế chưa củng cố và tăng cường quyền lực kịp, nên đã sai Lục Giả
sang phong vương cho Triệu Đà (196 tr. c. ng.). Mười hai năm sau (184 tr. c.
ng.), Cao hậu họ Lữ (Lã) nắm lấy ngai vàng nhà Hán, làm áp lực Triệu
Đà, như cấm bán đồ sắt ở cửa khẩu. Đà tức giận, năm sau, bèn tự
xưng đế, đem quân đánh Trường Sa. Nhưng rồi Đà cũng phải thần phục
trước sự thuyết khách của Lục Giả và lá thư chiêu dụ của Hán Văn
đế (179 tr. c. ng.). Triệu Đà chết,
cháu là Hồ (con của Trọng Thuỷ) lên nối ngôi vào năm Giáp thìn (137 tr.
c. ng.), ấy là Triệu Văn vương. Kế đến là Anh Tề (Triệu Minh vương).
Đến khi Anh Tề chết, con của y và Cù thị là Hưng đã được ngồi trên
ngai báu (Triệu Ai vương), vào năm Mậu thìn (113 tr. c. ng). Sau 95 năm ([-207] –
[-113]) tồn tại, nhà Triệu – Hán đã lâm vào tai hoạ để phải chấm dứt
vương quyền vào hai năm sau (Canh ngọ [-111]). Tai hoạ ấy cũng thuộc về
mưu kế hôn nhân, như Trọng Thuỷ đối với Mỵ Châu, nhưng lại ghê tởm
hơn nhiều. Trước đây, để tránh
được sự tấn công của nhà Hán ở Trung Hoa, Triệu Đà đã chịu thần
phục, không dám xưng đế hiệu. Đến đời Triệu Văn vương, y phải cho
con trai là Anh Tề sang sống ở kinh đô Trường An của nhà Hán để làm con tin. Trong thời gian đó, hẳn do mưu kế
của nhà Hán sắp đặt (?), Anh Tề lấy Cù thị, một người nữ Hán tộc.
Cù thị trước khi lấy Anh Tề, đã có quan hệ nam nữ với An Quốc Thiếu
Quý. Đến khi về nước, Anh Tề lên ngôi vua (Triệu Minh vương), Cù thị
được phong làm hoàng hậu. Và tai hoạ cho nhà Triệu – Hán trên nước
Nam Việt nẩy sinh từ hoàng hậu Cù thị của Triệu Minh vương Anh Tề, khi
Minh vương chết. Cương mục chép: “Hưng
lên làm vua, tôn mẹ là Cù thị làm thái hậu. Trước kia, Cù hậu khi chưa
lấy Minh vương, đã từng tư thông với An Quốc Thiếu Quý (An Quốc là họ,
Thiếu Quý là tên), người đất Bá Lăng [Trung Quốc – ct.]. Đến
năm này [113 tr. c. ng. – ct.], nhà Hán sai Thiếu Quý sang dụ bảo vương và thái hậu vào chầu,
lại sai bọn biện sĩ là Nguỵ Thần giúp việc quyết định, vệ uý
là Lộ Bác Đức đem quân đóng ở Quế Dương để đợi tin sứ giả. Bấy
giờ vương [Ai vương
Hưng – ct.] còn thơ dại; Cù hậu lại tư
thông với Thiếu Quý. Người nước đều biết rõ chuyện, nên nhiều người không
theo về với Cù hậu. Cù hậu sợ trong nước rối loạn, muốn dựa vào uy quyền nhà Hán, khuyên vương và các quan nên
phụ thuộc vào Hán. Nhân có Hán sứ đấy, thái hậu liền dâng thư xin liệt vào hàng nội
chư hầu: cứ ba năm một lần vào chầu, xoá bỏ cửa quan nơi biên giới.
Vua Hán ưng thuận, ban ấn bạc cho thừa tướng Lữ Gia và các ấn cho
nội sử, trung uý và thái phó; còn các quan chức khác đều tự ý xếp đặt.
Từ bỏ hình phạt [của nhà Tần – ct.] thích chữ vào mặt và xẻo mũi, dùng pháp luật
nhà Hán. Về chính trị thì theo như các
chư hầu; đặt sứ giả đóng ở trong nước để trấn thủ và vỗ về”
(14). Rõ ràng là thái hậu
Cù thị đã thông dâm với An Quốc Thiếu Quý (người tình cũ từ Trung Hoa
sang)! Hơn thế nữa, Cù thị cùng An Quốc Thiếu Quý bàn việc triệt tiêu
vương quyền Triệu – Hán tại nước Nam Việt (thuộc đất Bách Việt) để
hoàn toàn nội thuộc nhà Hán ở Trung Hoa về mọi mặt. Thái phó Lữ Gia
không thể đành lòng. Thái hậu Cù thị mưu giết Lữ Gia. Trước tình huống
đó, thái phó Lữ Gia phải dấy binh giết Cù thị, sứ giả (gồm cả An Quốc
Thiếu Quý (***)), và giết cả Triệu Ai vương Hưng, để lập con cả của
Anh Tề (Triệu Minh vương), là Thuật Dương hầu, tên gọi là Kiến Đức,
lên làm vua. “Vua và thái hậu
đã sửa soạn hành trang lễ vật quý giá để vào chầu [nhà Hán –
ct.]. Bấy giờ tể tướng Lữ Gia tuổi đã nhiều, làm tướng trải ba
triều […] rất được lòng dân hơn cả vua. Gia nhiều lần dâng thư can vua, vua không nghe, nhân thế có
lòng muốn làm phản, thường cáo ốm không tiếp sứ giả nhà Hán.
Các sứ giả nhà Hán đều chú ý đến Gia, nhưng thế chưa thể giết được. Vua và thái hậu cũng sợ bọn Gia khởi
sự trước, muốn nhờ sứ giả nhà Hán trù mưu giết bọn Gia. Bèn đặt
tiệc rượu mời sứ giả đến dự, các đại thần đều ngồi hầu rượu.
Em Gia làm tướng, đem quân đóng ở ngoài cung. Tiệc rượu mới bắt
đầu, thái hậu bảo Gia rằng: ‘ “Năm Canh ngọ
(111 tr. c. ng.)… […] Mùa đông. Bọn Lộ Bác Đức tiến quân đánh phá
Phiên Ngung, đuổi bắt được Triệu vương Kiến Đức và Lữ Gia” (16). Và từ đó, Nam Việt
thuộc Hán! Cũng từ đó, “nhà Hán diệt
nhà Triệu rồi, chia đất làm chín quận,
liệt [cả đất Nam Việt – ct.] làm bộ Giao Chỉ. Nhà Hán đã bình
được nhà Triệu, mới lấy đất đặt làm chín quận: Nam Hải, Thương Ngô,
Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Châu Nhai, Đạm Nhĩ. Mỗi
quận đặt một thái thú để cai trị. Tên gọi ‘Giao Chỉ bộ’ có từ
đấy” (17). Giao Chỉ bộ là tên
gọi chung cả một phần rộng lớn đất Bách Việt (gồm nước Nam Việt của
Triệu Đà); Giao Chỉ quận lại là một trong chín quận thuộc Giao Chỉ bộ. Nhà Triệu – Hán tồn
tại tất thảy được 97 năm (207 tr. c. ng. – 111 tr. c. ng.). Khởi đầu bằng
mưu kế trong hôn nhân (Mị Châu – Trọng Thuỷ) và kết thúc cũng bằng
mưu kế trong hôn nhân (?) (An Quốc Thiếu Quý – Cù thị – Minh vương Anh
Tề)! Triều đại Triệu – Hán do Triệu Đà
thành lập trước sau vẫn là một thứ chính quyền ngoại xâm của bè lũ
quan lại người Hán. Bàn luận về triều đại này, chẳng qua là dẫu sao,
nó cũng là một sự thật lịch sử diễn ra trên đất nước ta, khởi đầu
cho thời kì hơn mười một thế kỉ đen tối của dân tộc Bách Việt nói
chung và dân tộc Việt d. Nghĩ về lời bình luận của sử
gia thời phong kiến về nhân vật Lữ Gia: Lê Văn Hưu (1272): “Lữ Gia can ngăn Ai vương và Cù thái hậu
không nên xin làm chư hầu nhà Hán, đừng triệt bỏ
cửa quan ở biên giới, có thể gọi là trọng nước Việt vậy. Song can
ngăn mà không nghe, thì nghĩa đáng
đem hết bầy tôi đến triều đình, trước mặt vua trình bày lợi hại về
việc nước Hán, nước Việt đều xưng đế cả, có lẽ Ai vương và thái
hậu cũng nghe ra mà tỉnh ngộ. Nếu lại
vẫn không nghe theo, thì nên trách mình mà lánh ngôi (tể tướng), nếu không
thế thì dùng việc cũ họ Y [Y Doãn – ct.], họ
Hoắc [Hoắc Quang – ct.], chọn một người khác trong hàng con cháu của
Minh vương để thay ngôi, cho Ai vương được như Thái Giáp và Xương Ấp mà
giữ toàn tính mệnh, như thế thì không lỗi đường tiến thoái. Nay lại
giết vua để hả lòng oán, lại không biết cố chết giữ lấy nước, khiến
cho nước Việt bị chia cắt, phải làm tôi nhà Hán, tội của Lữ Gia đáng
chết không dung” (18). Ngô Sĩ Liên (1479): “Tai hoạ của Ai vương tuy bởi ở Lữ Gia mà
sự thực thì gây mầm từ Cù hậu. Kể
ra sắc đẹp đàn bà có thể làm nghiêng đổ nước nhà người ta thì có
nhiều manh mối, mà cái triệu của nó thì không thể biết được. Cho nên
các tiên vương tất phải đặt ra lễ đại hôn, tất phải cẩn thận quan
hệ vợ chồng, tất phải biết phân biệt hiềm nghi, hiểu những điều nhỏ
nhặt, tất phải chính vị trong ngoài, tất phải ngăn ngừa việc ra vào, tất
phải dạy đạo tam tòng, thì sau đó mối hoạ không do đâu mà đến được.
Ai vương ít tuổi không ngăn giữ được mẹ, Lữ Gia coi nước, việc trong việc ngoài lại không dự biết hay sao?
Khách của nước lớn đến, thì việc đón tiếp có lễ nghi, chỗ
ở có thứ tự, cung ứng có số, thừa tiếp có người, sao đến nỗi để
thông dâm với mẫu hậu? Mẫu hậu ở thẳm
trong cung, không dự việc ngoài; khi nào có việc ra ngoài, thì có xe da
cá, có màn đuôi trĩ, cung tần theo hầu, sao để đến nỗi thông dâm với
sứ khách được? Bọn Gia toan dập tắt lửa
cháy đồng khi đang cháy rực, sao bằng ngăn ngay cái cơ hoạ loạn từ khi
chưa có triệu chứng gì có hơn không? Cho nên nói: Làm vua mà không biết
nghĩa Xuân Thu tất phải chịu cái tiếng cầm đầu tội ác; làm tôi không
biết nghĩa Xuân Thu tất mắc phải tội cướp ngôi giết vua; tức như là
Minh vương, Ai vương và Lữ Gia vậy” (19). Lê Tung (1554): “Minh vương buổi đầu nối nghiệp, yên vui
buông thả. Cù hậu được yêu, vợ Việt bị bỏ, trong nước
không hoà, kỉ cương đại loạn. Ai vương tuổi ấu thơ, chưa biết lẽ trị
nước, mẫu hậu kiêu dâm, quyền thần chấp chính, mà cơ nghiệp họ Triệu
rốt cuộc lụn bại. Thuật Dương vương là anh Ai vương, lập nên bởi tay
quyền thần, trí kém sức yếu, giặc mạnh xâm lấn mà cơ đồ nhà Triệu từ đấy sụp đổ. Xét
tai hoạ của Ai vương, tuy ở Lữ Gia, nhưng thực ra là do ở Minh vương yêu chiều Cù hậu mà
gây ra. Nữ sắc làm nghiêng đổ nước nhà như thế, phải lấy làm
răn” (20). Ngay cả lời chép sử cũng đã thể
hiện sắc thái biểu cảm của sử gia phong kiến. Sống trong vòng vây của
hệ ý thức bảo hoàng, nên mặc dù thấy rõ sự thật, họ cũng bị sự ràng
buộc bởi quyền lực vương triều và sức ép vô hình của hệ ý thức bảo
hoàng ấy (nói rõ ra, ở trường hợp này, là phải hết mức bảo vệ vua,
thái hậu cho dù họ thế nào đi nữa). Tuy nhiên, sử gia vẫn có sự sáng
suốt của họ, vương triều đương thời (thời của các sử gia kể trên)
cũng cần thấy sự thật để rút kinh nghiệm. Lê Văn Hưu đã nói được điều cốt
tuỷ nhất: “Lữ Gia can ngăn Ai vương và
Cù thái hậu không nên xin làm chư hầu nhà
Hán, đừng triệt bỏ cửa quan ở biên giới, có thể gọi là trọng nước
Việt vậy”. Ngô Sĩ Liên đặt ra tình huống dự
phòng để sự thể đừng xảy ra, nhưng đó chỉ là ý tưởng giúp cho các
triều vua về sau rút kinh nghiệm hơn là phản ánh đúng sự thật thuở đó
(vì đã phản ánh ở các đoạn sử trần thuật, còn đây là lời bàn mở
rộng, được đặt thành mục riêng). Dẫu sao Ngô Sĩ Liên cũng viết thẳng
được ý tưởng đầy tính chất phê phán này: “Tai hoạ của Ai vương tuy bởi ở Lữ Gia mà sự thực
thì gây mầm từ Cù hậu” và “Cho nên nói:
Làm vua mà không biết nghĩa Xuân Thu tất phải chịu cái tiếng cầm đầu
tội ác; làm tôi không biết nghĩa Xuân Thu tất mắc phải tội cướp ngôi
giết vua; tức như là Minh vương, Ai vương và Lữ Gia vậy”. Không thể
hiểu khác được, chính Minh vương và Ai vương phải chịu tiếng cầm đầu
tội ác (vì Minh vương đã trót lấy Cù thị, lập Cù thị làm hoàng hậu,
cho con thứ là Ai vương lên làm vua, thay vì Kiến Đức vốn là con trưởng,
con của Minh vương với người vợ Việt; nói cách khác, chính Cù thị – dẫu là thái hậu, Cù thị cũng chỉ là bề
tôi – đã cướp ngôi cho con ruột của mình, và, chính Ai vương – trước khi lên ngôi cũng là bề tôi – đã
cướp ngôi của anh cùng cha khác mẹ của mình). Cũng không thể hiểu khác
được, chính Lữ Gia mắc tội cướp ngôi giết vua nhưng không phải là như
thế; vì đó là kết luận giả của một tình huống đặt ra rất phi hiện
thực. Trong thực tế rõ rành rành là Lữ Gia có giết hôn quân, nhưng không
cướp ngôi, mà đã đưa Kiến Đức lên ngai vàng. Thật ra, đó là cách viết
gộp để người đọc tự tách các khía cạnh của vấn đề ra, theo
như các đoạn sử trần thuật, đặt ở trên lời bình trích dẫn này
trong Toàn thư. Và Lê Tung cũng nói lên được sự thật
cốt yếu: “Xét tai hoạ của Ai vương, tuy
ở Lữ Gia, nhưng
thực ra là do ở Minh vương yêu chiều Cù hậu mà gây ra. Nữ sắc làm
nghiêng đổ nước nhà như thế, phải lấy làm răn”. Cả ba sử gia thời phong kiến đều
chung một kết luận: tất cả sự thể tồi tệ như thế là do Cù thị, thứ
nữa là Ai vương, chứ không phải do Lữ Gia. Và họ có chung một cách viết
lời bình là gợi ý để người đọc tự hiểu theo cách đúng nhất. Mặt
khác, các sử gia phong kiến luôn tuân thủ theo cách viết, ý hướng của
kinh Xuân Thu (một trong ngũ kinh của nho gia), là dùng sử để nêu gương tốt
và để răn mầm ác. Hậu thế cố gắng hiểu các sử gia
xa xưa, nhưng phải chăng cần hiểu thêm một điều này: Dẫu sao, các sử
gia phong kiến cũng có hạn chế của họ, đó là ý hệ bảo hoàng đôi khi
mù quáng. Theo
tôi, bản chất, tính cách Cù thị và âm mưu nhà Hán đến mức như thế,
không thể trách Lữ Gia sao không lo liệu trước để tình huống phải như
vậy. Và tình huống đã như vậy, cách giải quyết của Lữ Gia không thể
khác được. Không thể để triều nhà Triệu nội thuộc nhà Hán. Đó là
tất cả nghĩa vụ và trách nhiệm. Vấn đề là Lữ Gia vẫn là người
trung nghĩa của nhà Triệu, một kẻ đầy tớ tốt của các tên chủ xấu.
Thêm một điều nữa, khi đọc lời tuyên cáo khởi binh của Lữ Gia, tôi nghĩ
Lữ Gia chính là người Bách Việt hay ít ra cũng đã Bách Việt hoá: “Vua còn
nhỏ tuổi, thái hậu vốn là người Hán, lại cùng với sứ giả nhà Hán
dâm loạn, chuyên ý muốn nội phụ với nhà Hán […] chỉ nghĩ đến mối
lợi một thời, không đoái gì đến xã tắc họ Triệu và lo kế
muôn đời”. Điều đó có lẽ khiến chúng ta ít nhiều cũng có thiện
cảm với ông ta (21). Cuối bài viết này,
tôi chợt thấy đã bàn luận quá nhiều đến những tên vua quan Hán tộc
xâm lược và thống trị nhân dân Bách Việt ta (trong đó có người Lạc
Việt – Âu Việt ta), nhưng tiếc thay sử cũ không cung cấp gì thêm về số
phận nhân dân, ngoài những điều tôi đã viết bên trên. Tp. HCM., khởi viết vào lúc 08 giờ
ngày 29. 06. HB4 (12. 05. G. thân HB4); viết xong vào lúc 17 giờ 55 phút ngày
01. 07. HB4 (14. 05 G. thân HB4). TXA. Cước chú của
bài Nhận định danh nghĩa Triệu Đà (nhà
Triệu – Hán)…: (*) Xin vui lòng xem bài
viết của tác giả: “An Dương vương, “giặc
Thục” hay anh hùng bi tráng?” (TXA.). Xin nhấn mạnh: tất yếu lịch
sử (chiến tranh để sáp nhập nhân tộc
thành dân tộc) chỉ được giới hạn
trong thời cổ đại để thành lập quốc gia (dân tộc, nhà nước, lãnh thổ);
và Thục Phán An Dương vương là người Việt Chứt cổ hay ít ra cũng là
người Việt Chứt cổ (Lạc / Rồng) đã Tày cổ hoá (Âu + Lạc, tức là
Tiên + Rồng). (1) Khâm định Việt sử thông giám cương mục
(1884) (gọi tắt là Cương mục),
tiền biên và
chính biên, bản dịch (2 tập), tập 1,
Nxb. Giáo Dục, 1998, tr. 85 (Tb. [tiền biên], [quyển] I, [tờ] 15 – 16). TXA.
chua thêm (ct.). (2) Đại Việt sử kí toàn thư (gọi tắt là Toàn thư), bản in nội các quan bản
(1697), bản dịch (3 tập), tập 1, Nxb. Văn hoá – Thông tin, 2003, tr. 194 (NK.
[ngoại kỉ], q. II, tờ 5a). (3) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 55 (Tnb. [tiến
biểu], [tờ] 3). Cước chú của dịch giả Ngô Đức Thọ: “Những
nước nhỏ phải phụ thuộc vào nước lớn”. Cũng có thể hiểu “liệt quốc” là các nước
nhỏ, nhiều nước nhỏ trong tình trạng phân tranh, chưa phải gộp lại
thành một hoặc vài quốc gia nhất thống. (4) Toàn thư, bản dịch, tập 1, sđd., bài giới
thiệu của GS. Phan Huy Lê, “ĐVSKTT., tác giả, văn bản, tác phẩm”,
và đoạn trích
Việt sử tiêu án, dẫn theo bài giới thiệu đã dẫn, tr. 106 – 107. Ngô Thì Sĩ, Việt sử tiêu án, bản dịch của Hội Việt
Nam Nghiên cứu – liên lạc văn hoá Á Châu, Văn hoá Á châu xb., 1960, tr.
35. (5) Từ sự định giá
về triều đại Triệu Đà và nhà Triệu – Hán đó, một nhân vật
lịch sử khá nổi bật, danh tính từng được đặt tên cho đường phố và
khu chung cư (ít ra là ở Tp. HCM.), ấy là Lữ Gia, cũng cần phải đánh giá
lại. Phải chăng Lữ Gia chỉ là một đại thần trung nghĩa của nhà Triệu
– Hán xâm lược, xưng hùng xưng bá kiểu liệt quốc? Như vậy, không cách nào
khác, Lữ Gia cũng chỉ là một kẻ thù của dân tộc Việt (6) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 80 – 82 (Tb.
[tiền biên], [quyển] I, [tờ] 9 – 12). TXA. chua thêm (ct.) & in đậm
(iđ.). (7) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 84 (Tb. I, 14).
TXA. ct. & iđ. (8) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 88 (Tb. I, 18
– 19). TXA. ct. & iđ. (9) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 89 (Tb. I, 19).
TXA. ct. & iđ.. Theo cước chú
trong bản dịch Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 188 (NK., q. II, tờ 1a), đúng ra là Quế Lâm chứ không
phải Lâm Ấp. (10) Phan Bội Châu, Những tác phẩm Phan Bội Châu, tập I [gồm
Việt Nam vong quốc sử & Việt (**) Kẻ vong bản (người
mất gốc) ấy chính là Phan Thị Hán (một tên tự đặt của nhà
yêu nước Sào Nam Phan Bội Châu)! Phan Thị Hán có nghĩa là gì? Đó là người
Hán tộc thuộc họ Phan (họ Phan của Hán tộc), mặc dù từ “Hán” còn
có nghĩa là người con trai (nam nhi)! Và Sào (11) Phan Bội Châu, Những tác phẩm Phan Bội Châu, tập I [gồm
Việt Nam vong quốc sử & Việt (12) Tư Mã Thiên, Sử kí, bản dịch của Phan Ngọc, Nxb. Văn
hoá – Thông tin và TT. Văn hoá – Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản,
2003, tr. 43, 44, 864. Dẫn theo Đào Duy Anh, Lịch
sử Việt Nam, sđd., tr. 49, 54: Tư Mã Thiên, Sử kí, quyển 112, viết, “Sai giám sát
là Lộc đào cừ chở lương để vào sâu đất Việt. Người Việt bỏ trốn.
[Quân Tần – ĐDA. ct. ] trì cửu lâu ngày. Lương thực bị tuyệt và thiếu.
Người Việt ra đánh. Quân Tần đại bại. [Nhà Tần – ĐDA. ct.] bèn sai
Uý Đà [Triệu Đà – TXA. ct.] đem quân đóng giữ đất Việt. Đương lúc
bấy giờ, nhà Tần ở phía bắc thì bị hoạ với rợ Hồ, phía nam thì bị
hoạ với người Việt. Đóng binh ở đất vô dụng, tiến không được,
thoái cũng không được. Trong hơn mười năm, đàn ông thì mặc áo giáp, đàn bà thì phải chuyên chở, khổ không sống
nổi. Người ta tự treo cổ ở cây dọc đường. Người chết trông nhau. Kịp
khi Tần hoàng đế băng hà thì thiên hạ cả nổi lên chống”. TXA. iđ. (13) Đào Duy Anh, Lịch sử Việt Nam, Nxb. Văn hoá – Thông
tin tái bản, 2002, tr. 62. (14) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 99 (Tb. I, 29
– 30). TXA. iđ. & ct.. (***) Lê Tắc, An Nam chí lược (thuộc Tứ khố toàn thư, Trung Hoa), bản dịch
của Uỷ ban Phiên dịch sử liệu Viện Đại học Huế (GS. Trần Kinh Hoà cố
vấn), Viện Đại học Huế xb., 1961; Nxb. Thuận Hoá, TT. Văn hoá – Ngôn ngữ
Đông Tây tái bản, 2002, tr. 103. (15) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 205 – 206 (NK.,
q. II, tờ 13b – 15a). TXA. iđ.
& ct.. (16) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 106 (Tb. II, 1). (17) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 108 (Tb. II, 3
– 4). TXA. ct. & iđ. Châu phê của Tự Đức: “Xét chung từ trước đến
sau, đất đai của nước Việt ta bị mất về Trung Quốc đã đến quá một
nửa, tiếc rằng vua sáng tôi hiền các triều đại cũng nhiều người lỗi
lạc hiếm có ở trên đời, mà vẫn không thể nào lấy lại được một
tấc, đó là việc đáng ân hận lắm! Thế mới biết việc thu hồi đất
đai đã mất, từ đời trước đã là việc khó, chứ không những ngày nay
mà thôi. Thật đáng thương tiếc!”. Xem thêm: Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 211 (NK., q. II,
tờ 18a): lời bình của Ngô Sĩ Liên. (18) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 210 (NK., q. II, tờ
17b). (19) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 206 – 207 (NK.,
q. II, tờ 15a – 15b). (20) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 151 (TL. [tổng luận],
q. II, tờ 4b). (21) Lê Tắc, An Nam chí lược (thuộc Tứ khố toàn thư, Trung Hoa), sđd., tr.
264 – 265: xác định Lữ Gia là người Việt, nhưng có lẽ Việt là Bách
Việt (gồm Âu Việt, Lạc Việt, Mân Việt, Dương Việt, Quỳ Việt…), không
xác định cụ thể là Việt nào.
1 Vài nét về thời
đại, những tư liệu gốc về Hai Bà Trưng và cuộc khởi nghĩa giành độc
lập, tự do cho dân tộc Sau 97 năm dưới ách
xâm lược và thống trị của nhà Triệu – Hán (từ Triệu Đà [207 tr. c.
ng.] cho đến Thuật Dương vương Triệu Kiến Đức [111 tr c. ng.]), nước ta
lại phải chịu sự thống trị của nhà Tây Hán (Trung Hoa) thêm 151 năm
(111 tr. c. ng. – 40 s. c. ng.). Trong hơn một thế kỉ rưỡi ấy, Thạch Đái
là người được Hán triều bổ nhiệm làm châu
thái thú đầu tiên (Tân mùi, 110 tr. c. ng.). Ít năm sau (-106), y vẫn giữ
quyền cai trị chín quận thuộc Giao Chỉ bộ, đổi chức danh là thứ sử. Dưới quyền y, còn có chín quận thái
thú (quan mục) cai trị chín quận. Sau khi Đái chết, Chu Chương
thay. Cuối đời Vương Mãng (soán đoạt ngôi vua nhà Hán, 8 s. c. ng. – 23
s. c. ng.), thứ sử Giao Chỉ bộ là Đặng Nhượng. Những thái thú người
Hán cai trị các quận, Toàn thư (1) và Cương mục (2) ghi lại tên họ: Tích Quang
(thái thú quận Giao Chỉ (3)), Đỗ Mục (?) (*), Nhâm Diên (thái thú quận Cửu
Chân (4) trong 4 năm)… Trong đó, Tích Quang và Nhâm Diên là hai thái thú đã
thi hành thủ đoạn mị dân, được thư
tịch cổ Trung Hoa khá đề cao. Thực ra,
để biện minh cho sự xâm lược, bóc lột, chúng sử dụng chiêu bài
khai hoá (đem văn minh Hoa Hạ sang truyền bá với mục đích đồng hoá); và
để chứng tỏ sự khai hoá, không gì bằng thủ đoạn xuyên tạc, bôi nhọ
nhân dân hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân là mọi rợ (ngoại di, nam man) (5). Đến năm Giáp ngọ
(34 s. c. ng.), ở Trung Hoa, hoàng đế nhà Hán là Quang Vũ Lưu Tú (niên hiệu
Kiến Vũ). Bấy giờ, thái thú Giao Chỉ mới nhậm chức là Tô Định. Tô
Định là một tên thực dân cổ đại, “cai
trị tham lam, tàn bạo” (6) khét tiếng. Đây là tên thái thú gian ác nhất
trong những tên thái thú gian ác. Nhân dân ta rên xiết dưới sự bóc lột
độc ác của y. Trước tình cảnh đó,
hậu duệ của dòng dõi vua Hùng không thể ngồi yên, câm lặng, chịu đựng.
Phải kháng chiến, ấy là ý chí của nhân dân và của nhiều người trong
hàng ngũ Lạc hầu, Lạc tướng. Trong đó, nổi bật nhất lại là một người
nữ: Trưng Trắc (vốn có tên tiếng Việt: Trứng
Chắc), và em gái là Trưng Nhị (Trứng
Nhì). Tuy nhiên, sách Hậu Hán thư,
ở mục Mã Viện truyện, lại ghi nhận
với nhãn quan của bọn xâm lược: “Người
đàn bà ở Giao Chỉ tên là Trưng Trắc với em tên là Trưng Nhị làm phản (chú [thích
– ct.]: Trưng Trắc là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh, là vợ của người
huyện Chu Diên tên là Thi Sách, rất hùng dũng. Thái thú Giao Chỉ là Tô Định lấy pháp luật mà ràng buộc, Trắc oán
giận mà làm phản), đánh chiếm quận. Người Man Di các quận Cửu Chân,
Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng, cướp chiếm hơn 65 thành ở Lĩnh
ngoại. Trắc tự lập làm vua. Bấy giờ (vua Hán) cho Viện làm phục ba tướng
quân, lấy Phù Lạc hầu Lưu Long làm phó, đốc xuất bọn Lâu Thuyền
tướng quân Đoàn Chí đánh Giao Chỉ ở Phương Nam. Quân đến Hợp Phố thì
bị bệnh chết. Chiếu cho Viện kiêm thống xuất binh của Chí. Bèn theo dọc
bờ biển mà tiến, theo núi phát đường hơn nghìn dặm. Năm 18 [niên
hiệu Hán – Kiến Vũ – ct.] quân đến trên
Lãng Bạc, đánh phá được giặc, chém được hơn nghìn đầu, đầu hàng đến hơn vạn người.
Viện đuổi theo bọn Trưng Trắc đến Cấm Khê, đánh thắng nhiều lần.
Giặc tan chạy. Năm sau, tháng giêng, chém Trưng Trắc, Trưng Nhị, gởi đầu về Lạc Dương (chú: ‘Việt chí’ nói
rằng: Trưng Trắc khởi binh, đóng đô ở huyện Mê Linh. Kịp bị Mã
Viện đánh, chạy vào suối Kim Khê, hai năm sau bắt được”) (7). Không thể không sử
dụng tư liệu gốc của Trung Hoa, nhưng các sử gia nước ta vẫn viết theo
nhãn quan của người Việt Sách của người Việt,
trong đó, đặc biệt có Thiên Nam ngữ lục,
phần ngoại kỉ, viết: “Tô Định ngờ Thi Sách làm phản, lại ghét Thi Sách lấy cả
hai chị em họ Trưng, bèn sai binh đến thành Chu Diên, toan bắt Thi Sách và
Trưng Trắc. Thi Sách đem quân chống cự, nhưng thế yếu, bèn khiến Trưng
Trắc và Trưng Nhị rút quân về giữ Hát Môn. Đêm ấy, Thi Sách bị quân
Tô Định giết. Trưng Trắc bèn cùng với Trưng Nhị xướng nghĩa, nổi quân
để trả thù chồng” (7). Toàn thư viết ở phần
đề mục: “Vua rất hùng dũng, đuổi Tô Định, dựng nước, xưng
vương, nhưng vì là vua đàn bà, không thể làm nên công tái tạo” (8). Cương mục viết: “Năm
Canh tí (40 s. c. ng.). (Hán, năm Kiến Vũ thứ 16). Tháng 2, mùa xuân. Người
con gái quận Giao Chỉ là Trưng Trắc khởi binh đánh đuổi thái thú Tô Định;
tự lập làm vua. Vua vốn họ Lạc, lại có một tên họ nữa là Trưng. Là
con gái quan Lạc tướng huyện Mi Linh, quận Giao Chỉ, và là vợ Thi Sách người
huyện Chu Diên, bà là người rất hùng dũng. Lúc bấy giờ thái thú Tô Định
cai trị tham lam và tàn bạo, giết mất chồng bà. Bà bèn cùng với em gái
là Trưng Nhị dấy quân, đánh hãm
chỗ châu lị. Tô Định phải chạy về “Năm Tân sửu
(41 s. c. ng.). (Hán, năm Kiến Vũ thứ 17). Tháng 12, mùa đông. Nhà Hán phong
Mã Viện làm phục ba tướng quân, Lưu Long làm phó tướng, đốc xuất bọn
Lâu Thuyền tướng quân là Đoàn Chí, sang đánh Trưng vương. Nhà Hán cho rằng
Trưng thị tự xưng làm vua, đem quân đánh các thành ấp, làm cho các nơi
biên giới bị khổ sở, bèn bắt các đất Trường Sa, Hợp Phố và Giao Chỉ
sắm sửa đủ xe, thuyền, sửa sang cầu đường, khơi thông các khe suối,
chứa sẵn lương thóc; […]” (9). Năm sau (42 s. c. ng.), tháng 3, mùa
xuân, “Mã Viện ven theo đường biển tiến quân, qua núi đốn cây, đi
hơn nghìn dặm đến Lãng Bạc, đánh nhau với quân Trưng vương. Trưng
vương thấy thế quân bên Hán mạnh nhiều, tự nghĩ quân mình ô hợp, sợ
không thể chống lại được. Quân của bà cũng cho rằng bà là đàn bà,
không địch nổi với Hán; vì thế quân bà tự tan vỡ” (9). Năm kế tiếp (43 s. c. ng.), “tháng giêng, mùa xuân, Trưng Trắc cùng em
gái là Nhị cự chiến với quân Hán.
Hai bà bị thua và mất. Trưng vương cùng em gái là Nhị cự chiến với
quân Hán, quân vỡ, thế cô, đều bị
thất trận chết. Mã Viện đuổi đánh tàn quân của hai bà là bọn Đô Dương
(chữ … trong Hán thư chép là chữ dê (**)), đến huyện Cư
Phong thì hàng phục được họ. Mã Viện lập cột đồng để ghi địa
giới tận cùng của nhà Hán. Khi Mã Viện về rồi, người trong nước thương nhớ Trưng vương, lập đền thờ bà”
(9). Và Cương mục viết
lời chua về “cột đồng”: “… Sách Nhất
thống chí nhà Đại Thanh có chép: ‘Tương truyền (cột đồng) ở về
động Cổ Sâm châu Khâm, Mã Viện có thề rằng: ‘Đồng trụ chiết, Giao
Chỉ diệt’, nghĩa là ‘cột đồng ấy gãy thì Giao Chỉ bị diệt’,
nên người Việt đi qua dưới chân cột đồng ấy cứ lấy đá bồi đắp
lên mãi thành gò đống cao. Đó là vì sợ cột đồng bị đổ gãy” (9). Toàn thư và Cương mục
là tư liệu gốc của nước ta, rất tiếc là cũng chỉ viết sơ lược
như thế. Tuy nhiên, có những
dòng chữ đã làm chói sáng công cuộc khởi nghĩa rộng khắp, đạt được
thắng lợi hiển hách của nhân dân Bách Việt, và làm sáng chói triều đại
Trưng nữ vương, tuy rằng triều đại độc lập, tự chủ ấy của dân tộc
ta chỉ đứng vững vỏn vẹn trong 3 năm trời (40 s. c. ng. – 43 s. c. ng.). 2 Phải chăng nguyên
nhân khởi nghĩa như nhiều người đã nghĩ? Hai Bà Trưng là hậu
duệ của vua Hùng (10). Trong dã sử nước ta, về thời Hùng vương, có truyện
cổ Trầu cau rất nên thơ, phản
ánh trình độ văn minh nhất định của người Việt Có lẽ cần phân
tích thêm một vài chi tiết nữa về văn hoá thời cổ đại này. Theo các
thư tịch cổ của Trung Hoa, đã được trích dẫn bên trên, rằng, người
Cửu Chân không biết cày bừa bằng trâu bò: “… Hậu Hán thư (quyển
106): “Người Cửu Chân, tục lấy săn bắn làm nghề nghiệp, không biết
cày bằng trâu bò (Đông quan Hán kí
nói: Cửu Chân tục đốt cỏ mà trồng trọt ở ruộng. Tiền Hán
thư nói: Sưu túc đô uý là Triệu Quá dạy
dân cày bằng bò)…” (xem lại cước chú (5)). Nhưng sự thật là trong
ngôn ngữ Hán, từ “ngưu” được dùng để chỉ cho cả trâu lẫn bò,
chứng tỏ người Hán – Hoa không phân biệt được hai loại súc vật
này, vì hình như ở đất Trung Hoa không hề có loài trâu; trâu là loài
súc vật đặc chủng ở vùng Nam Á. Ở Nam Á, chủ yếu là cày bằng trâu
chứ ít người cày bằng bò. Khi muốn nói về loài trâu, người Hán –
Hoa phải thêm một định ngữ : thuỷ ngưu (bò nước), còn khi họ chỉ dùng mỗi một từ “ngưu”,
thì phải hiểu đó là bò! (13). Cho nên, không thể tin được vào Hậu
Hán thư cùng các sách cổ khác của Trung Hoa về chi tiết này. Về cách búi tóc (“búi tóc ở gáy”), trang phục (“lấy vải luồn qua đầu làm áo”), có
lẽ là đúng sự thật. Trước thế kỉ XX, nam lẫn nữ người Việt búi
tóc ở gáy là phổ biến; cho đến ngày nay (XIX), một số vẫn còn búi
tóc ở gáy, xem như một đặc sắc văn hoá thuần Việt đáng tự hào.
Trang phục “lấy vải luồn qua đầu làm áo”, quả thật
chỉ còn thấy ở loại áo binh trong vàng mã dùng để cúng tế. Tuy
nhiên, loại trang phục chỉ khoét một lỗ tròn ở tấm vải làm cổ áo để
chui đầu qua này, tất nhiên là gọn ghẽ, chứ không phải để bùng xoà,
cột thắt lưng, như vẫn thấy ở một vài dân tộc Trung Á (xem các tranh
thờ của người Do Thái cổ đại) hoặc ở loại áo mưa cánh dơi (poncho).
Về chi tiết thích đi chân không, mặc dù guốc dép vẫn có, là một sự
thật hiện nay vẫn còn ở nông thôn Việt Nam; do đó, bàn chân hơi thô,
các ngón chân hơi toẽ ra (chứ không phải “giao chỉ” với nghĩa xấu!).
Ai cũng có thể hiểu rằng, đó không phải do gien, mà do tập quán ở xứ bùn lầy nhiệt
đới. Nếu mang giày dép từ bé thì không có sự toẽ các ngón chân như thế
(14). Điều này rất trái ngược với hủ tục bó chân từ tấm bé để chân
yếu đi, nhỏ lại; càng yếu, càng nhỏ thì càng đẹp [sic!], thị hiếu sản
sinh từ thói áp bức phụ nữ của người Hán – Hoa. Sự phát triển và
trình độ văn hoá ở hai bộ Giao Chỉ và Cửu Chân nước ta trong thời đoạn
bị lệ thuộc nhà Triệu – Hán (Vũ vương Đà – Ai vương Hưng) và nhà
Tây Hán (Trung Hoa), tức là sau thời điểm vua Hùng thứ 18 bại vong, An Dương
vương làm mất nước, đến lúc này (năm +40), hẳn là bị áp bức, bóc lột,
bị kìm hãm về mọi mặt, nhưng không thể lạc hậu đến mức thụt lùi,
trở về thời đồ đá! Sở dĩ phải viết về
văn hoá thời Hùng vương, An Dương vương và thời bị nhà Triệu – Hán,
nhà Tây Hán (Tiền Hán) xâm chiếm, thống trị, bởi trước khi nổ ra cuộc
khởi nghĩa Trưng Trắc – Trưng Nhị, Toàn
thư và Cương mục đều chép lại
về hai thái thú Tích Quang, Nhâm Diên, kế tiếp ngay sau đó mới là tên
thái thú Tô Định! Và sở dĩ phải viết
về văn hoá như thế là bởi, tôi muốn bác bỏ những cách hiểu sai trái
về mấy chữ “lấy pháp luật mà ràng buộc”
trong Hậu Hán thư, ở mục Mã Viện truyện đã trích dẫn bên trên. Có
nhà nghiên cứu (như Đào Duy Anh chẳng hạn) cho rằng, Trưng Trắc chống lại
luật hôn nhân và các luật văn hoá khác của nhà Đông Hán (25 – 219)
(15)! Đúng là không thể không chống lại mưu toan và chính sách đồng hoá
văn hoá, đồng hoá huyết thống để tiệt nòi Việt, nhưng cụ thể mà lại
như thế, mặc dù nhà nghiên cứu vô tình, cũng đã làm hạ thấp ý nghĩa
của cuộc khởi nghĩa. Đó là một sai lầm nghiêm trọng của Đào Duy Anh. 3 Chân lí vốn rất
giản dị mà vĩ đại! Tại sao có cuộc khởi
nghĩa ấy? Nguyên nhân rất
đơn giản đã trở thành chân lí muôn đời: có ngoại xâm, tất nhiên phải
chống ngoại xâm. Hà tất phải hỏi! Cho dù sung sướng, cho dù văn minh hay
cho dù đất nước trở thành thiên đàng đi nữa (giả định phi lí dưới
ách nô lệ!), loài người nói chung vẫn có ý thức dân tộc và vẫn yêu
quý độc lập, tự do hơn tất cả. Không dân tộc nào lại chấp nhận
làm nô lệ cho người ngoại quốc; nô lệ cho chính quyền nước ngoài lại
càng không thể chấp nhận. Trong thực tế lịch sử, có bọn đế quốc,
thực dân, bành trướng nào lại đi xâm lược nước khác nhằm mục đích
khai hoá thật sự, mà ngược lại, chúng chỉ nhằm mục đích là áp bức,
bóc lột, nô dịch nhân dân nước bị xâm lược mà thôi. Chiêu bài khai hoá, thực ra, chỉ là đòn phép
mị dân và sỉ nhục dân tộc bị trị! Vì vậy, có rất nhiều
nhà nghiên cứu sử học cứ chăm chắm vào việc phân tích nguyên nhân cuộc
khởi nghĩa Trưng Trắc – Trưng Nhị ở những nguyên cớ trực tiếp, chứ
không phải là nguyên nhân sâu xa. Hai khái niệm nguyên cớ và nguyên nhân vốn khác nhau. Thiên
Rõ ràng nỗi ô nhục
của Tổ quốc bị giặc ngoại xâm dày xéo, nô dịch là nguyên nhân sâu xa
nhất, cháy bỏng thường trực nhất, được nêu lên ở vị trí số một.
Thứ đến, là vì sự nghiệp dựng nước và giữ nước của tổ tiên
Hùng vương (Lạc vương). Thù chồng phải trả; kẻ thù chính là quân ngoại
xâm nên chỉ có thể trả bằng kháng chiến, chứ không thể bằng luật
pháp. Nguyên nhân thứ tư và cuối cùng, lại chính là sự tự bảo vệ cơ
ngơi, sự nghiệp, trong đó có cả nhân phẩm bản thân. Hai nguyên nhân đầu
là vì đại nghĩa. Hai nguyên cớ sau là vì gia đình riêng. Tuy nhiên, mặc dù
rõ ràng là vậy, nhưng sách Hậu Hán thư, ở mục Mã Viện truyện (15), viết: “Thái thú Giao Chỉ là Tô Định
lấy pháp luật mà ràng buộc, Trắc oán giận mà làm phản”. Pháp
luật của đế chế Đông Hán (Hậu Hán) ràng buộc điều gì? Thiên Nam ngữ lục, phần ngoại kỉ
(7), viết: “Tô Định ngờ Thi Sách làm phản, lại ghét Thi Sách lấy cả
hai chị em họ Trưng, bèn sai binh đến thành Chu Diên, toan bắt Thi Sách và
Trưng Trắc”. Vì luật hôn nhân
ư? Cụ thể là luật pháp nhà Đông Hán cấm người đàn ông cưới hai vợ
vốn là hai chị em ruột? Hoàn toàn không thể hiểu như thế. Truyện Trầu cau chỉ ngụ ý cấm phụ nữ không
được lấy hai anh em ruột làm chồng. Trong Truyện
Kiều, Kim Trọng chả lấy hai chị em Thuý Kiều – Thuý Vân là gì. Tất
nhiên luật pháp mỗi thời mỗi khác, nhưng cho đến nay, nhân dân Việt Và thật ra, Đào Duy
Anh cho rằng, luật pháp ở đây chính là luật mới của nhà Đông Hán (dời
kinh đô, đóng ở Lạc Dương, phía đông), triều đại kế tục nhà Tây
Hán (vốn đóng đô ở Trường An, phía tây), sau khi Vương Mãng (15 năm cướp
ngôi) bị giết chết. Luật pháp nhà Đông Hán ràng buộc chặt chẽ các
dân tộc bị trị, trong đó có các quý tộc cũ mà nhà Tây Hán còn dung dưỡng.
Nói rõ hơn, đến lúc này, bọn Đông Hán quyết siết chặt các thuộc địa
của chúng, bằng biện pháp trấn áp, bóc lột, tước đoạt ruộng đất của
nhân dân Bách Việt cho quan binh và lưu dân người Hán, và đồng thời đẩy
mạnh tiến trình Hán hoá, đồng hoá dân tộc bị trị thành người Hán,
tiệt nòi Bách Việt, nhất là Âu Lạc Việt. Riêng khía cạnh chính trị
này, Đào Duy Anh có lí (15). Như đã trích dẫn
bên trên, Cương mục (9), viết: “Lúc bấy giờ thái thú Tô Định cai trị
tham lam và tàn bạo,
giết mất chồng bà. Bà bèn cùng với em gái là Trưng Nhị dấy quân, đánh
hãm chỗ châu lị. Tô Định phải
chạy về Không nghi ngờ gì nữa,
một cuộc khởi nghĩa tạo được sự hưởng ứng rộng khắp gần cả cõi
Bách Việt như thế, không phải là ngẫu nhiên. Phải có tổ chức, có
liên lạc từ trước, và căn bản là có đại nghĩa, lãnh tụ phải có uy
tín. Câu sử Cương mục (9) thật hào
tráng, phản ánh một sự thật lịch sử hào hùng: “Quân bà đi đến
đâu, như gió lướt đến đấy. Các dân tộc Man, Lý ở Cửu Chân, Nhật
Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng theo”. Làm thế nào chỉ
là bỗng chốc, ngẫu nhiên, chỉ vì thù nhà riêng tư, mà có thể tập hợp
được lực lượng nhân dân, chiến đấu và chiến thắng một cách thần
tốc, vĩ đại đến thế! Tất nhiên ý thức dân tộc độc lập, tự do,
ý chí chống quân xâm lược tàn ác, chống lại mưu toan đồng hoá dân tộc
về huyết thống và văn hoá do bọn bành trướng Đại Hán thực thi, đã từ
lâu ngấm ngầm sôi sục trong tâm trí toàn dân Bách Việt, là cơ sở của
mọi cơ sở. Nhưng không thể không thấy được cuộc khởi nghĩa thần tốc
và vĩ đại ấy đã được Trưng Trắc, Trưng Nhị và Thi Sách (hoặc Thi)
liên lạc, tổ chức sâu rộng từ khá lâu trước đó (17). Trưng Trắc – Trưng
Nhị đã lãnh đạo nhân dân quét sạch kẻ thù; bọn thái thú như Tô Định
và quan tướng nhà Đông Hán thảm bại, hoảng hốt kéo nhau bỏ chạy về
nước. Hai Bà Trưng đã chiếm lại gần trọn vẹn đất Bách Việt với 65
thành trì. Trưng Trắc đã lên ngôi vua, phục hồi lại quốc thống từ thời
vua Hùng. |