805-gdiem2.gif (5804 bytes)

posted: 05.9.2005

TRIỆU THỊ TRINH,
NGƯỜI NỮ ANH HÙNG KHỞI NGHĨA

1

Bối cảnh lịch sử và hành trạng anh hùng

Trong lịch sử nước ta, có một người nữ anh hùng, chính Tự Đức lúc châu phê vào Cương mục (1), đã từng so sánh với Trưng Trắc – Trưng Nhị: “Con gái nước ta, nhiều người hùng dũng khác thường. Bà Triệu Ẩu cũng là người sánh vai được với Hai Bà Trưng” (2).

Cuộc khởi nghĩa, kháng chiến, giành lại độc lập, tự do cho Đất nước, nhân dân do Hai Bà Trưng tổ chức, lãnh đạo, thành lập vương triều nối lại quốc thống nước Văn Lang của vua Hùng, tiếc thay, chỉ ngắn ngủi trong 3 năm. Sau đó, suốt cả trăm năm, đế chế nhà Đông Hán (Hậu Hán, 25 – 219) ngày càng siết chặt gông xiềng nô lệ trên toàn cõi Giao Chỉ bộ (từ năm 203, Hán – Hiến đế đổi lại địa danh là Giao Châu). Bấy giờ, vua quan triều đại Đông Hán khá vững mạnh trong sự chuyên chế ở Trung Hoa, do đó, chúng có đủ điều kiện để củng cố ách đô hộ của chúng ở nước ta. Sử sách không ghi nhận thêm một cuộc khởi nghĩa nào trên toàn cõi Giao Chỉ bộ. Điều đó, khiến chúng ta thấy rõ sự kìm kẹp, khống chế bằng các đội quân binh viễn chinh và bằng cách đưa bọn lưu dân các loại từ Trung Hoa sang là hết sức thâm độc. Nhân dân ta không khởi nghĩa nổi trong sự kìm kẹp, khống chế xảo quyệt đó, chứ không phải chỉ biết cúi đầu trong tủi nhục.

Mãi cho đến năm Đinh sửu [137] (Hán, năm Vĩnh Hoà thứ 2), ở huyện Tượng Lâm xa xôi thuộc quận Nhật Nam (Quảng Nam, Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình), mới bùng lên được cuộc khởi nghĩa do Khu Liên (người Chăm) lãnh đạo. Một đất nước Lâm Ấp (về sau tự đặt quốc hiệu là Hoàn Vương, Cham-pa   [Chiêm Thành]) bắt đầu hình thành từ đó, ngay trong vùng đất cực nam lãnh thổ Giao Chỉ bộ (*).

Kế đó, năm Giáp thân (144), nhân dân quận Nhật Nam lại khởi nghĩa (3).

Năm Canh tí (160), Chu Đạt khởi nghĩa ở quận Cửu Chân, rồi vào cố thủ tại Nhật Nam (3).

Năm Mậu ngọ (178), Lương Long khởi nghĩa ở quận Giao Chỉ (3).

Ngoài ra, tại ba quận Nhật Nam, Cửu Chân, Giao Chỉ, suốt bảy mươi năm tiếp theo, hẳn những cuộc khởi nghĩa do chính nhân dân xướng xuất đã bị bọn viễn chinh, lưu dân Trung Hoa phát hiện, dập tắt ngay từ tia lửa đầu tiên, bóp chết ngay trong trứng nước. Hầu như đó là quy luật, nhân dân các thuộc địa cổ đại thuộc đế chế bành trướng Hán tộc tại Trung Hoa chỉ có thể nổi dậy, đánh đuổi bọn thứ sử, thái thú được trong một quãng thời gian nào đó, hoặc chỉ có thể kháng chiến thành công, trong những điều kiện suy bại, xâu xé nhau ngay trong nội bộ chính quốc Trung Hoa.

Và thời cơ đã đến. Ngoại thích, hoạn quan tại kinh đô Lạc Dương (Trung Hoa) đã làm đế chế Đông Hán suy vi. Đỗng Trác khuynh đảo triều Hán, Tào Tháo lại mở rộng thế lực, Lưu Bị khởi xướng cuộc phù Hán, Tôn Kiền (anh của Tôn Quyền) cũng gầy dựng thế lực. Từ năm 213, tình thế Tam Quốc (Nguỵ, Thục, Ngô) đã khởi đầu cho đến khoảng 67 năm về sau.

Lúc này, Giao Châu (bộ Giao Chỉ cũ) lại thuộc lãnh thổ do Tôn Quyền (nhà Ngô, Trung Hoa) chiếm cứ.

Ở Giao Châu, vào năm Mậu thìn (248), tại vùng núi Quan Yên, Hậu Lộc (của tỉnh Thanh), thuộc quận Cửu Chân (Thanh Hoá – Nghệ – Tĩnh), anh em Triệu Quốc Đạt – Triệu Thị Trinh đã tổ chức và lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa. Trong hai anh em, người con gái ở tuổi hai mươi ba Triệu Thị Trinh lại càng tỏ rõ tài năng chiến tướng hơn cả anh ruột mình.

Tuy chỉ mới 23 tuổi, chưa từng lấy chồng, từ chối mọi lời cầu hôn để rảnh tay kháng chiến, Triệu Thị Trinh (tiểu tự là Triệu Ẩu) vẫn được tôn xưng là Lệ Hải bà vương.

2

Tư liệu gốc,

và một số chi tiết không đẹp

quanh tiểu sử người nữ anh hùng Triệu Thị Trinh

Toàn thư (4) viết về Bà Triệu (rất tiếc là các sử gia bấy giờ chưa xử lí tốt tư liệu gốc [thư tịch cổ] của Trung Hoa): “Mậu thìn, [248], (Hán, Diên Hi năm thứ 11; Ngô, Vĩnh An năm thứ 1 [đúng ra, Xích Ô thứ 11, đời Ngô vương Tôn Quyền – cước chú của dịch giả]). Người Cửu Chân lại đánh hãm thành ấp, châu quận rồi [rối – ct. (**)] động. Ngô vương cho Hành Dương đốc quân đô uý Lục Dận (có sách chép là Lục Thương) làm thứ sử kiêm hiệu uý. Dận đến nơi, lấy ân đức tín nghĩa hiểu dụ, dân ra hàng phục đến hơn 3 vạn nhà, trong châu lại yên. Sau, người con gái ở quận Cửu Chân là Triệu Ẩu tập họp dân chúng đánh chiếm các quận huyện (Ẩu vú dài ba thước, vắt ra sau lưng, thường ngồi trên đầu voi, đánh nhau với giặc [Tàu – ct.]). Dận dẹp yên được. (Sách Giao Chỉ chí chép: Trong núi ở quận Cửu Chân có người con gái họ họ Triệu, vú dài ba thước, không lấy chồng, họp đảng cướp bóc các quận, huyện, thường mặc áo ngắn màu vàng, chân đi giày mũi cong, ngồi đầu voi mà chiến đấu, sau chết làm thần)” (5).

Mặc dù các sử gia Toàn thư đã xử lí tư liệu Trung Hoa đạt đến mức độ xác định được địch – ta, nhưng lại để nguyên những chi tiết biếm hoạ về người nữ anh hùng Triệu Thị Trinh! 

Cương mục chép:[Cương: – ct.] Năm Mậu thìn (248). (Ngô, năm Xích Ô thứ 11; Hán, năm Diên Hi thứ 11; Ngụy, năm Chính Thuỷ thứ 9). Bà Triệu Ẩu, người quận Cửu Chân, họp dân chúng đánh phá các quận huyện. Thứ sử Lục Dận đi đánh, dẹp yên. [Mục: – ct.] Người quận Cửu Chân lại đánh phá thành ấp. Các châu quận đâu đấy đều náo động, chúa nhà Ngô cho đốc quân đô uý châu Hành Dương là Lục Dận làm thứ sử kiêm chức hiệu uý. Lục Dận đến nơi, dùng ấn tín hiểu dụ, hơn ba vạn nhà ra đầu hàng; đất Giao Châu lại yên. Bấy giờ người con gái quận Cửu Chân là Triệu Ẩu tụ họp dân chúng, giành cướp các quận huyện; Lục Dận đi đánh, dẹp yên” (6).

Ở mục lời chua, Cương mục ghi: “Đến khi giặc Man Di quận Cửu Chân đánh và hạ được các thành ấp, Giao Châu náo động, chúa nước Ngô dùng Lục Dận làm thứ sử Giao Châu” (6); “Bà Triệu Ẩu: Theo sách Thái Bình hoàn vũ kí của Nhạc Sử nhà Tống, trong miền núi quận Cửu Chân có người con gái họ Triệu, vú dài ba thước, không lấy chồng, tụ họp đồ đảng đánh cướp các quận huyện, thường mặc áo vải mộc màu vàng, đi guốc, cưỡi đầu voi, xông ra trận đánh. Sau khi chết, thành thần. Nay có đền thờ ở xã Phú Điền, huyện Mỹ Hoá, tỉnh Thanh Hoá” (6).

Các sử gia Cương mục đã khảo đính, chép lại “một cách lạnh lùng” như thế, nhưng kèm theo đó là lời phê bằng son đỏ của vua Tự Đức: “Con gái nước ta, nhiều người hùng dũng khác thường. Bà Triệu Ẩu cũng là người sánh vai được với Hai Bà Trưng. Xem như vậy thì Bắc sử chép chuyện thành Phu nhân, quân nương tử, há có phải chỉ Trung Quốc là có đàn bà nổi danh tiếng đâu? Nhưng nói là vú dài ba thước thì cũng là quái gở, đáng cười! (2) & (6)”.

Thật ra, Tự Đức khi so sánh Bà vương Triệu Thị Trinh với hai nhân vật nữ trong sử Trung Hoa, đó là mẹ của Chu Tự, tên là Hàn thị, và Bình Dương công chúa, con gái của Đường Cao tổ, vợ của Sài Thiệu, chỉ là sự so sánh hơi khập khiễng, làm giảm oai phong và tài năng của Triệu Thị Trinh. Hàn thị (truyện thành Phu nhân) chỉ là người đàn bà có đôi mắt chiến thuật, tài cầm quân, trong phạm vi một thành luỹ. Bình Dương công chúa (truyện Nương tử quân) chỉ là người chiêu tập và chỉ huy một cánh quân ngang với cánh quân của chồng; và cả hai cánh quân này cũng đều phụ thuộc những cánh quân của Đường Cao Tổ (7). Trong khi đó, mặc dù Triệu Thị Trinh chưa thắng lợi đến mức độ đuổi sạch quân Trung Hoa khỏi cả nước (toàn cõi Giao Châu) và lập thành một triều đại độc lập, tự chủ như Hai Bà Trưng, nhưng cũng là người tổ chức và lãnh đạo toàn cuộc khởi nghĩa, đến mức làm lu mờ cả vai trò của người anh ruột là Triệu Quốc Đạt. Tất nhiên so sánh nào cũng khập khiễng, bởi tầm vóc lịch sử của Hai Bà Trưng là quá vĩ đại – hai người phụ nữ vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới.

Về chi tiết “vú dài ba thước”, Tự Đức cũng đã chỉ ra là “quái gở”, và kẻ nói ra điều đó cũng rất “đáng cười”! Tôi nghĩ đó là chi tiết biếm hoạ của đối phương (các sử gia Trung Hoa thuộc loại giặc Tàu). Tôi cũng nghĩ rằng, hoặc giả, “vú dài ba thước, vắt ra sau lưng”, chính đôi vú của cô gái anh hùng chưa chồng ấy (nếu tính theo mét Tây [metre], chính xác là dài đến 1m 2), không gì khác hơn là đôi ruột tượng (9) dùng để chứa gạo trên đường hành quân. Mặc dù là Lệ Hải bà vương, Nhụy Kiều tướng quân, “thường mặc áo ngắn màu vàng, chân đi giày mũi cong, ngồi đầu voi mà chiến đấu”, Triệu Thị Trinh vẫn làm gương cho quân binh, nghĩa sĩ bằng cách khoác hai khúc ruột tượng gạo. Đó không thể là dị tật, bởi nữ vương Triệu Thị Trinh mặc “áo ngắn màu vàng”. Tuy nhiên, điều quan trọng không phải là dị tật hay không dị tật, mà chính là tài năng, ý chí và tâm huyết vì Đất nước, vì nhân dân, cùng nhân dân đánh giặc, cứu nước.

Nhiều người cũng đã phê phán sách sử Tàu khi gọi bà là Triệu Ẩu. Chính học giả Đào Duy Anh, người đã biên soạn Từ điển Hán – Việt (8), ông đã viết trong cuốn Lịch sử Việt Nam: “(Sử cũ Trung Quốc gọi là Triệu ẩu, tức là mụ Triệu, là có ý khinh bỉ)” (10). Thực ra, theo cước chú của các dịch giả Tổ Biên dịch Viện Sử học (Hoa Bằng, Phạm Trọng Điềm, Trần Văn Giáp), chữ “Ẩu” có hai nghĩa, “a) tiếng gọi chung các bà già, có ý tôn kính, thí dụ: [các] bà mẹ [của các] đại thần nhà Hán được tôn gọi là Vạn Thạch Ẩu; b) nghĩa cũng như Ẩu chiếu, là bảo vệ nhi đồng” (11). Ngoài ra, cũng ở cước chú này, các dịch giả cho biết: “Theo Thanh Hoá kỉ thắng (t. 65) của Vương Duy Trinh, bà Triệu tức là Lệ Hải Bà vương, họ Triệu, huý Trinh, tiểu tự là Nữ Ẩu, là em gái Triệu Quốc Đạt” (11). Vả lại, dù sao đi nữa, tên tiểu tự, ai cũng biết là thường không đẹp (theo tục kiêng cữ) (12).

Ngoài ra, có một chi tiết không hề có trong Toàn thư cũng như trong Cương mục, gây khá nhiều nỗi gờn gợn khi nghiên cứu về nữ anh hùng Triệu Thị Trinh. Trần Trọng Kim, trong Việt Nam sử lược, viết: “Sử ta chép rằng bà Triệu là người ở huyện Nông Cống bấy giờ. Thuở nhỏ cha mẹ mất cả, ở với anh là Triệu Quốc Đạt, đến độ 20 tuổi gặp phải người chị dâu ác nghiệt, bà ấy giết đi rồi vào ở trong núi” (13). May thay, Trần Trọng Kim còn chép tiếp liền vào chi tiết ấy: “Bà ấy là một người có sức mạnh, lại có chí khí và lắm mưu lược. Khi vào ở trong núi, chiêu mộ hơn 1.000 tráng sĩ để làm thủ hạ. Anh thấy thế mới can bà, thì bà bảo rằng: ‘Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp đường sóng dữ, chém cá tràng kình ở bể đông, quét sạch bờ cõi, để cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối, chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu cong lưng để làm tì thiếp người ta’ ” (13). Đó là ba chi tiết của một sự kiện.

Nếu đoạn sử chỉ dừng lại ở câu: “đến độ 20 tuổi gặp phải người chị dâu ác nghiệt, bà ấy giết đi rồi vào ở trong núi”, hẳn người đọc không thể không nghĩ đến một vụ án hình sự xã hội phạm chứ không phải chính trị. Phải chăng người con gái anh hùng Triệu Thị Trinh gặp phải một người chị dâu toan ép bà làm tì thiếp cho một tên quan Hán tướng Tàu háo sắc nào đó, và không những thế, người chị dâu ấy là nguy cơ nội gián cho cuộc khởi nghĩa. Triệu Thị Trinh dứt khoát không thể là một người can án, một tội phạm hình sự xã hội! Phải dứt khoát điều đó. Cách viết sử thiếu minh xác, dễ khiến hậu thế hiểu lầm một cách tai hại như thế thật cần phải tự cảnh giác và cảnh giác!

Những chi tiết sau đây đã phủ chính chi tiết ngỡ như thuộc loại hình sự xã hội phạm rờn rợn ấy:

“Năm Mậu thìn (248), vì quan lại nhà Ngô tàn ác, dân gian khổ sở, Triệu Quốc Đạt mới khởi binh đánh quận Cửu Chân. Bà đem quân đánh giúp anh, quân sĩ của Triệu Quốc Đạt thấy bà làm tướng có can đảm, bèn tôn lên làm chủ” (13).

“Về sau, vua Nam đế nhà Tiền Lý khen là người trung dũng, sai lập miếu thờ, phong là: ‘Bật chính anh liệt hùng tài trinh nhất phu nhân’ ” (13) .

Ca dao lịch sử vẫn mãi hát về Bà Triệu, ngay cả lúc người mẹ ru êm giấc ngủ trẻ thơ, để còn rảnh tay làm tạp vụ cho quân binh, tướng sĩ kháng chiến, cho người cha có cau trầu mang theo khi ra trận:

“Ru con, con ngủ cho lành
Cho mẹ gánh nước rửa bành ông voi
Ai coi lên núi mà coi
Coi Bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng
Túi gấm cho lẫn túi hồng
Têm trầu cánh kiếm cho chồng ra quân” (14).

Chúng ta đều thấy, chính Toàn thưCương mục của ta khẳng định tài năng, công đức của Triệu Thị Trinh; thư tịch cổ của phía đối phương (giặc Tàu) mặc dù có những chi tiết biếm hoạ, bôi nhọ tục tĩu, cũng đã trực tiếp hay gián tiếp thừa nhận Bà Triệu: Đó là một nữ anh hùng lịch sử dân tộc Việt Nam, người đã trở thành thần thánh, hình tượng tín ngưỡng, phụng thờ, mãi mãi sáng ngời sự tích trong tâm trí nhân dân Giao Châu thuở đó, Việt Nam bây giờ.

Nghiên cứu về người con gái Việt Nam anh hùng Triệu Thị Trinh, chúng ta có thêm một thu hoạch phụ: nâng cao kinh nghiệm sử dụng các loại tư liệu, kể cả tư liệu dân gian; phải luôn luôn tỉnh táo, sáng suốt khi sử dụng tư liệu của đối phương (ngoại xâm) và của đối lập (nội nghịch, hoặc khác chính kiến).

TP. HCM., viết xong lúc 17 giờ 31 phút,
Ngày 07. 07. HB4 (20. 05 G. thân HB4).
TXA.

Cước chú của bài Triệu Thị Trinh, người nữ anh hùng…:

(1) Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884) (gọi tắt là Cương mục), tiền biên và chính biên, bản dịch (2 tập), tập 1, Nxb. Giáo Dục, 1998.

(2) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 143 (Tb. [tiền biên], q. [quyển] III, [tờ] 9).

(*) Xin xem thêm cuộc khởi nghĩa, bước đầu lập quốc của Khu Liên và nhân dân huyện Tượng Lâm (thuộc quận Nhật Nam, bộ Giao Chỉ) ở các bài viết sau. Tuy nhiên, ở đây, tôi xin được nhấn mạnh: huyện Tượng Lâm là một huyện trong phạm vi quận Nhật Nam (bấy giờ, một quận thống nhiếp dăm ba huyện), mà Nhật Nam là một quận trong chín quận thuộc bộ Giao Chỉ (về sau được gọi là Giao Châu), vì vậy, cuộc khởi nghĩa của nhân dân huyện Tượng Lâm, do Khu Liên (người Chăm) lãnh đạo, được sự hưởng ứng của hai quận Cửu Chân, Giao Chỉ, và bước đầu thành lập vương quốc Lâm Ấp là hai sự kiện gắn bó hữu cơ, đồng thời diễn ra trong nội bộ của xứ Giao Châu. Nói gọn hơn, cuộc khởi nghĩa Khu Liên ấy và vương quốc Lâm Ấp sơ khai ấy là sự kiện của lịch sử Việt Nam cổ đại, mặc dù về sau Lâm Ấp (Chiêm Thành) tự tách ra thành một vương quốc riêng.

(3) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 125 – 126 (Tb., q. II, 22 – 24).

Như chúng ta đã biết, quận Giao Chỉ là một trong chín quận thuộc bộ Giao Chỉ.

(4) Đại Việt sử kí toàn thư (gọi tắt là Toàn thư), bản in nội các quan bản (1697), bản dịch (3 tập), tập 1, Nxb. Văn hoá – Thông tin, 2003.

(**) Đối chiếu với Đại Việt sử kí toàn thư (gọi tắt là Toàn thư), bản in nội các quan bản (1697), bản dịch (3 tập) và 1 tập nguyên văn chữ Hán, tập 1, Nxb. KHXH., 1998, tr. 167: rối động.

(5) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 234 (NK., q. IV, tờ 3b – 4a). Cước chú của dịch giả Tổ Biên dịch Viện Sử học (Hoa Bằng, Phạm Trọng Điềm, Trần Văn Giáp). TXA. in đậm (iđ.) & chua thêm (ct.).

(6) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 142 – 143 (Tb., III, 8 – 9). TXA. iđ & ct. Một trong những nguyên tắc viết sử theo thể cương mục là mỗi tiểu mục đều có phần cương (đề, tiêu đề) và phần mục (thuyết, chi tiết cụ thể). Ở cước chú này, tôi (TXA.) ghi rõ như vậy, nếu không sẽ thấy đoạn trích dẫn trên khá lủng củng vì lặp lại.

(7) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 142 – 143 (Tb., III, 8 – 9): Cước chú của dịch giả Tổ Biên dịch Viện Sử học (Hoa Bằng, Phạm Trọng Điềm, Trần Văn Giáp).

(9) Ruột tượng: danh từ chỉ một loại túi được khâu bằng vải, hình ống, đường kính khoảng 10cm,  dài khoảng 80cm – 100cm , được cột túm một đầu hoặc cả hai đầu bằng dây rút (như gối kê đầu), dùng để dựng gạo. Khi đi đường xa, người ta vắt lên vai; có thể vắt chéo hai cái ruột tượng gạo như thế trên hai vai.

(8) Đào Duy Anh, Từ điển Hán – Việt, tập hạ & tập thượng, Nxb. KHXH. tái bản, 2001.

(10) Đào Duy Anh, Lịch sử Việt Nam, Nxb. Văn hoá – Thông tin tái bản, 2002, tr. 133.

(11) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 142 – 143 (Tb., III, 8 – 9): Cước chú. Theo đó, tôi nghĩ rằng còn tuỳ văn cảnh, tuỳ địa phương, như chữ mụ, trong tiếng Việt ở vùng bắc Trung bộ, lại có nghĩa tôn kính, chẳng hạn gọi các bà già ngang tuổi, ngang vai vế với mệ ngoại, mệ nội (bà ngoại, bà nội) là mụ (mụ bà cô, hoặc mụ nội, tức là chị em ruột của ông nội), hoặc chùa Linh Mụ, Thiên Mụ (bà già linh thiêng, bà già từ Trời xuống thế), hoặc đèo Mụ Giạ (có sách ghi là Mộ Dạ [?])…

(12) Vùng Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá thường gọi trẻ em gái là Hĩm. Thơ Tố Hữu, bài Mẹ Tơm, viết về một bà mẹ kháng chiến chống Pháp, có nhắc đến cô cháu gái của bà: “Hĩm đấy ư em, mấy tuổi rồi? Hai mươi? Ừ nhỉ, tháng năm trôi…”. Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá chính là nơi bà Triệu đã hi sinh (hay tự tử tiết?) lúc mới 23 tuổi (Xem: Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng, Các triều đại Việt Nam, Nxb. Thanh Niên, bản in lần 2, 1995, tr. 35).

(13) Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb. Tân Việt, 1964, tr. 52 – 53. TXA. iđ. & ct. Người viết bài này đã khảo chứng tư liệu, thấy rằng Trần Trọng Kim đã lấy các tình tiết này trong một cuốn sách cổ của nước ta (không phải là sử đúng nghĩa, hầu hết chỉ là những tư liệu điền dã); xin xem: Lý Tế Xuyên (Chư Cát thị bổ sung), Việt điện u linh tập, Trịnh Đình Rư dịch, Đinh Gia Khánh hiệu đính và bổ sung, Nxb. Văn Học tái bản, tr. 119 – 120… Phần “Lệ hải bà vương kí” (sđd., tr. 119 – 125) viết về Triệu Thị Trinh không phải do Lý Tế Xuyên sưu tầm, biên tập mà do Chư Cát thị bổ sung, hiệu đính về sau (tân đính hiệu bình).

(14) Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, Nxb. KHXH., in lần thứ 8, 1978, tr. 33. Vũ Ngọc Phan chú thích: cánh kiếm, có bản chép là cánh quế. Tôi biết ở Huế, Quảng Trị, người ta hay nói đến hình ảnh têm trầu cánh phượng. Ngoài ra, ở câu 2: ông voi, ít ai gọi là con voi.

       TXA.

CUỘC KHỞI NGHĨA CỦA LÝ BÍ (NHÀ TIỀN LÝ),
CUỘC TRƯỜNG KÌ KHÁNG CHIẾN CỦA TRIỆU QUANG PHỤC
(NHÀ TRIỆU – VIỆT),
VÀ VÀI NÉT VỀ LÝ PHẬT TỬ (NHÀ HẬU TIỀN LÝ) (*)

1

Bối cảnh lịch sử

Sau cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh vào năm Mậu thìn (248), lịch sử nước ta về phương diện chống xâm lược, chống sự thống trị của các thế lực phong kiến Trung Hoa lại rơi vào khoảng trống trong sử sách. Giao Châu rơi vào giữa hai gọng kìm: phía bắc vẫn là các thế lựïc Trung Hoa; phía nam lại là Lâm Ấp (Chiêm Thành).

a.      Ách đô hộ và gọng kìm Trung Hoa:

Ở Trung Hoa, thế tam phân của thời Tam quốc (**) đã thay đổi. Trước đó, Tư Mã Ý đã khuynh loát nhà Ngụy; tiếp đến, Tư Mã Chiêu tiêu diệt được nước Thục (263); đến đời Tư Mã Viêm, Viêm đã ép vua Ngụy nhường ngôi, để lập nên nhà Tấn (264). Nhà Thục và nhà Ngụy tiêu vong, chỉ còn nhà Ngô và nhà Tấn chia nhau thống trị nước Trung Hoa. Tôn Hạo là con cháu của Tôn Quyền, vẫn kế tục ngai vàng nhà Ngô ở vùng đất phía đông nam Trung Quốc. Giao Châu ta vẫn là xứ thuộc địa của Ngô triều này.

Từ cuộc khởi nghĩa Bà Triệu, mãi đến 15 năm sau (263), ở Giao Châu ta mới bắt đầu có một biến động thể hiện rõ sự phản kháng của nhân dân. Đó là sự kiện Lữ Hưng, vốn là một quan lại cấp thấp của quận Giao Chỉ, nhân tình thế đó, đã triệt hạ tên thái thú gian ác Tôn Tư và cả tên Đặng Tuân (1). Cả hai quận Cửu Chân và Nhật Nam đều hưởng ứng. Tuy nhiên, đây chỉ là sự hưởng ứng của nhân dân đối với một viên quan lại không gian ác để tiêu diệt những tên quan lại gian ác kia mà thôi. Nhà Ngụy (264 (2)) ở Trung Hoa vẫn phong Lữ Hưng làm An Nam tướng quân, đô đốc việc quân ở Giao Châu!

Tiếp theo đó là những năm Giao Châu thành vùng đất tranh giành lẫn nhau giữa nước Ngô và nước Tấn (cả hai đều là Trung Hoa)! Cho đến năm Canh tí (280), Trung Hoa mới nhất thống dưới ngai vàng duy nhất của nhà Tấn (265 – 317)!

Sau đó, nhà Tấn bị Ngũ Hồ (năm nước Hồ [sử cũ thường gọi là rợ Hồ] ở tây bắc Trung Hoa) xâm lấn. Hậu duệ nhà Tấn lại trung hưng, lập kinh đô ở Kiến Khương (Nam Kinh ngày nay). Do đó, nhà Tấn sơ (265 – 317) được gọi là nhà Tây Tấn; nhà Tấn trung hưng (317 – 420) được gọi là nhà Đông Tấn. Nhưng nhà Đông Tấn không còn nhất thống toàn cõi Trung Hoa nữa, mà chỉ còn giữ được vùng đất đông nam.

Giao Châu ta lại chịu ách đô hộ của Đông Tấn (317 – 420)!

Năm 420, ở Trung Hoa, cục diện lịch sử cũng đã đổi khác: thời kì Nam (420 – 589) – Bắc triều (386 – 531)!

Phía bắc Trung Hoa, các triều vua tranh đoạt, nối tiếp nhau là: Hậu Nguỵ (người Mãn Châu; về sau, chia ra Đông Ngụy, Tây Nguỵ), kế theo Đông Nguỵ là Bắc Tề, kế theo Tây Ngụy là Bắc Chu, cuối cùng Bắc Chu diệt cả Bắc Tề (577). Bắc Chu tồn tại đến năm 581.

Phía nam Trung Hoa, các triều Tống (420 – 479), kế đến là Tề (479 – 502), rồi tiếp đến là Lương (502 – 556), Trần (557 – 589) thay nhau cầm nắm vương quyền (3)!

Giao Châu ta phải chịu lệ thuộc vào các vương quyền Nam triều Trung Hoa đó!

Mãi đến năm Mậu thân (468) [Tống, Minh đế, năm Thái Thuỷ thứ 4], ở Giao Châu mới khởi dậy một sự kiện có thể nói là gây phấn chấn cho nhân dân dưới ách đô hộ của các vương triều Hán tộc. Cương mục chép: “Người trong châu là Lý Trường Nhân giết những bộ thuộc của Lưu Mục đem từ Trung Quốc sang, rồi chiếm giữ đất Giao Châu…” (4). Lý Trường Nhân tự xưng là thứ sử; chống cự cả thứ sử người Tàu, tên Lưu Bột, do nhà Tống bổ nhiệm. Sau đó, tự biết thế lực, Lý Trường Nhân nhún nhường xin hàng, “tự giáng chức mình xuống làm người chấp hành công việc Giao Châu. Vua Tống y cho” (4). Nhưng trong thực tế, Nhân vẫn giữ cương vị thứ sử. Sau Nhân, nhà Tề thuận cho người họ hàng là Lý Thúc Hiến thay chân thứ sử (479). Nhưng 6 năm sau (485), Lý Thúc Hiến không chịu cống nạp, nhà Tề sai Lưu Khải dẫn quân binh sang đánh. Hiến phải xin bãi binh; Lưu Khải làm thứ sử.

Sau đó, năm Ất dậu (505), lại diễn ra cuộc tranh chống giữa quan lại nhà Tề với quan lại nhà Lương, khi nhà Tề đã bị tiêu vong ở Trung Hoa (5)! (7).

b.      Gọng kìm Lâm Ấp (Chiêm Thành)

Thêm một nỗi khổ hoạ nữa cho xứ Giao Châu, đó là xâm lấn của nước Lâm Ấp ở phía nam. Sau cuộc khởi nghĩa của Khu Liên (năm Đinh sửu, 137) ở huyện Tượng Lâm, thuộc quận Nhật Nam, nước Lâm Ấp bắt đầu lập quốc. Đến nay, Lâm Ấp muốn bành trướng lãnh thổ của mình, bằng cách đánh vào nước Phù Nam phía Nam (vùng Nam bộ Việt Nam ngày nay) và liên tục đánh ra phía bắc (Nhật Nam, Cửu Chân và Giao Chỉ [Thừa Thiên – Lạng Sơn ngày nay])! Các cuộc xâm chiếm khốc liệt nhất của Lâm Ấp vào Cửu Chân, Giao Chỉ là vào các năm: Kỉ hợi (399), Quý sửu (413), Ất mão (415); cho đến năm Canh thân (420), thứ sử Giao Châu (Đỗ Tuệ Độ, người Tàu (***), nhà Tấn) đánh Lâm Ấp, giết chóc nhân dân Lâm Ấp đến quá nửa dân số (7). Tuy vậy, tham vọng bành trướng lãnh thổ của Lâm Ấp vẫn chưa thôi. Đây là bi kịch chua xót nhất trong quy luật về sự tồn sinh của mọi sinh vật, nhất là sinh vật cấp cao là động-vật-người (****)!

Trận Lâm Ấp đánh phá Cửu Chân lại diễn ra tiếp theo vào năm Tân mùi (431). Trận này thứ sử Giao Châu Nguyễn Di Chi (người Tàu) phản công và tiến công, nhưng không thể thắng Lâm Ấp, đành rút quân về. Sau đó, vua nước Lâm Ấp là Phạm Dương Mại lại sai sứ sang Trung Hoa, xin nhà Tống cho Lâm Ấp cai quản cả Giao Châu ta. Đó là sự kiện diễn ra vào năm Quý dậu (433) (*****). Tất nhiên vua Tống không chịu! Năm Bính tuất (446), Lâm Ấp lại bị Đàn Hoà Chi, thứ sử Tàu cai quản Giao Châu, đánh bại. Họ Đàn kéo quân vào đến tận kinh đô Lâm Ấp, vơ vét, giết chóc.

Nước ta bị siết chặt giữa hai gọng kìm lịch sử. Một khổng lồ, một sắc nhọn! Dẫu sắc nhọn, gọng kìm Lâm Ấp (về sau là Hoàn Vương, Chiêm Thành) khởi đầu và chung quy vẫn là vấn đề nội bộ của lịch sử Việt Nam. Trung Hoa, bấy giờ và mãi đến mấy trăm năm sau, còn là một cái ách đô hộ nặng nề, đầy đau đớn, tủi nhục.

2

Cuộc khởi nghĩa Lý Bí (Lý Bôn)

và việc thành lập triều đại Tiền Lý (544 – 548)

Theo Toàn thưCương mục, Lý Bí còn có tên gọi là Lý Bôn, vốn có gốc gác là người Trung Hoa. Từ 6 đời trước, thời Tây Hán ([-206] – [+ 8]), tổ tiên Lý Bí đã tránh loạn trên đất Hán, sang cư trú tại nước ta, dòng dõi là hào trưởng. “Đến Lý Bôn là đời thứ bảy, đã trở thành người Phương Nam (8). Lý Bôn tài kiêm văn võ, làm quan triều Lương, coi đạo quân Cửu Đức. Vì bất đắc chí, nên về Thái Bình khởi binh. Tù trưởng huyện Chu Diên (9) là Triệu Túc cũng đem quân theo Lý Bôn. [Thứ sử triều Lương – ct.] Tiêu Tư biết rõ việc ấy, đem tiền đút lót cho Lý Bôn rồi chạy về Quảng Châu (10). Lý Bôn liền giữ thành Long Biên” (11). Ngoài Triệu Túc, một người thuần Việt (làm tù trưởng), còn có Tinh Thiều, một người học giỏi, lại có tài văn chương, đã lặn lội sang đến kinh đô nhà Lương để ứng tuyển làm quan. Bấy giờ, ở Trung Hoa, dưới triều Lương, thể chế tuyển dụng căn cứ vào dòng dõi (sĩ tộc: quan muôn đời làm quan; hàn tộc: dân muôn đời chân lấm tay bùn!). Hơn nữa, cho dù bất kì ai có gốc gác là sĩ tộc Trung Hoa, nhưng di cư sang Giao Châu, cũng bị liệt vào loại hàn tộc. Do đó, ở trường hợp Thiều, thượng thư Bộ Lại triều Lương căn cứ vào lí lịch họ Tinh, thấy không có ai hiển đạt, nên chỉ bổ cho Tinh Thiều làm Quảng Dương môn lang, một chức việc trông gác cổng thành có tên là cửa Dương Quang! Thiều xấu hổ, trở về, mưu việc khởi binh với Lý Bôn. “Giữa lúc đó thứ sử Giao Châu là Tiêu Tư vì tàn bạo, khắc nghiệt, mất lòng dân. Hai người, Lý Bôn và Tinh Thiều, nhân đấy liên kết với mấy châu; các hào kiệt đều hưởng ứng, theo cả” (11).

Cuộc khởi nghĩa này, có một nguyên nhân, như Toàn thư và Cương mục đã ghi rõ, Đào Duy Anh đã trình bày thêm: “Người Trung Hoa đã di cư sang Giao Châu lâu đời thì dù có phải nguồn gốc sĩ tộc cũng bị xem là hàn tộc, cho nên người Giao Châu, trừ những thời Trung Quốc có loạn, từ thời Tam Quốc về sau không được bổ chức quan cao nữa – không như thời Hán, thỉnh thoảng có người sinh trưởng ở Giao Châu, như Lý Tiến, Trương Trọng, được bổ quan lại cao cấp. Đó là một nguyên nhân tăng thêm mâu thuẫn giữa tầng lớp hào trưởng bản quốc đối với quan lại Trung Quốc. Phần tử lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa quan trọng này đa số chính là thuộc thành phần ấy” (11).

Với nguyên nhân như thế, cuộc khởi nghĩa đã nổ ra.

Sử cổ cũng chép, cuộc khởi nghĩa của Lý Bí (Bôn) giành chính quyền không gặp phải sự chống cự của thứ sử người Hán là Tiêu Tư (họ Lương, thân thuộc vua Lương) và quân binh của y.

Sau đó, nhà Lương sai quan tướng sang tái chiếm. Toàn thư chép, vào năm Nhâm tuất (542), vì khí độc, nên: “bọn Tử Hùng đi đến Hợp Phố, 10 phần chết đến 6, 7 phần, quân tan rã mà về. Tiêu Tư tâu với vua Lương rằng Quỳnh và Tử Hùng dùng dằng không chịu đi, đều bị buộc phải tự tử” (12).

Đơn giản là thế. Tuy vậy, Lý Bôn vẫn rèn luyện quân binh, lo việc phòng thủ. Trận chiến đấu đầu tiên xảy ra vào hai năm sau (Quý hợi, 543), lại gặp đối phương chính là quan tướng Lâm Ấp! Phạm Tu, một viên tướng của Lý Bôn, đánh tan quân Lâm Ấp ngay tại Cửu Đức (Hà Tĩnh).

Năm Giáp tí (544), “Tháng giêng, mùa xuân. Lý Bôn tự xưng là Nam Việt đế, đặt niên hiệu là Thiên Đức, tên nước là Vạn Xuân […]. Dựng điện Vạn Xuân để làm chỗ triều hội. […] Đặt ra trăm quan. Dùng Triệu Túc làm thái phó, Tinh Thiều làm tướng văn, Phạm Tu làm tướng võ ” (13).

Cương mục chép tiếp: “Năm Ất sửu (545). ([Tiền] Lý, năm Thiên Đức thứ 2; Lương, năm Đại Đồng thứ 11). Tháng 6, mùa hạ. Triều Lương sai Dương Phiếu, Trần Bá Tiên sang đánh. Nam Việt đế Lý Bôn chạy sang Gia Ninh” (14).

“Năm Bính dần (546). […]. Tháng giêng, mùa xuân. Bọn Dương Phiếu đánh được thành Gia Ninh, Nam Việt đế Lý Bôn chạy đi Tân Xương. […] Mùa thu, tháng tám. Nam Việt đế Lý Bôn đóng đồn ở hồ Điển Triệt. Quân Lương đến đánh, quân Lý Bôn bị vỡ, rút vào giữ động Khuất Lạo. […] Sử cũ chép: Nam Việt đế Lý Bôn lại rút lui, giữ trong động Khuất Lạo, điều chỉnh binh lính, mưu tính chiến đấu về sau; giao cả cho tả tướng quân Triệu Quang Phục [con trai của Triệu Túc – ct.] giữ nước, cầm quân chống nhau với Bá Tiên” (15).

“Năm Mậu thìn (548). ([Tiền] Lý, năm Thiên Đức thứ 5; Lương, năm Thái Thanh thứ 2). Tháng 3, mùa xuân. Nam Việt đế Lý Bôn mất ở động Khuất Lạo. Nam Việt đế Lý Bôn ở động Khuất Lạo, bị cảm mạo khí lam chướng, đến năm này mất” (16).

Như vậy, nhà Tiền Lý chỉ tồn tại được 5 năm (544 – 548).

Có lẽ lời châu phê của Tự Đức cũng đã rộng rãi lắm về Lý Bôn: “Nam đế nhà [Tiền] Lý dẫu sức không địch nổi giặc Lương đến nỗi công cuộc không thành, nhưng đã biết nhân thời cơ vùng dậy, tự làm chủ lấy nước mình, đủ làm thanh thế mở đường cho nhà Đinh, nhà Lý sau này. Vậy việc làm của Lý Nam đế há chẳng hay lắm sao?” (17).

Phải chăng tài năng của Lý Bôn là đã phân tích nhạy bén, chính xác về thời thế, cụ thể là sự suy yếu trước mắt và suy vong tất yếu sẽ xảy ra không xa của nhà Lương, và đã biết chớp lấy thời cơ. Ngoài ra, nguồn gốc, nguyên nhân của khởi nghĩa và tài thao lược của Lý Bôn là không có gì đáng ca ngợi.

Lý Bôn (Lý Bí) chính là một nguỵ quan của bọn phong kiến nhà Lương (Trung Hoa) xâm lược, cho dù chỉ là nguỵ quan cấp thấp. Lý Bôn “bất đắc chí” trong quá trình làm nguỵ quan, hay nói như Toàn thư, “làm quan không được vừa ý” (18). Tinh Thiều cũng có ý muốn và đã thực sự dấn thân vào con đường làm nguỵ quan cho giặc xâm lược, nhưng chua xót thay, lại bị vướng phải thể chế lí lịch (hàn tộc chứ không phải sĩ tộc, lại là lưu dân Trung Hoa sang đất Việt đã bị Việt hoá), không lên cao được trên con đường quan chức Trung Hoa. Cả hai đều tầm thường. Họ là điển hình của bi kịch lưu dân, vừa bị chính nước tổ (nước gốc Trung Hoa) bạc đãi vì thiếu tin tưởng, vừa bị chính nhân dân nước ngụ cư (Giao Châu [nước Việt]) nghi ngại. Cuộc nổi dậy của họ chỉ xuất phát từ bất mãn cá nhân trước bọn chóp bu xâm lược và thể chế lí lịch của chúng.

Tuy nhiên, phải thấy thêm phân số Việt hoá trong huyết thống và bản chất văn hoá cá nhân của họ. Không những một thế hệ, mà đến bảy thế hệ gắn bó với người Việt, dẫu họ thế nào chăng nữa cũng có tình cảm gắn bó máu thịt với Giao Châu của người Việt.

Toàn thư vẫn ghi nhận với ngọn bút khoan dung: “Vua có chí diệt giặc cứu dân, không may bị Trần Bá Tiên sang đánh chiếm, nuốt hận mà chết. Tiếc thay!” (19) .

Chính tù trưởng Triệu Túc và nhất là con trai của ông, Triệu Quang Phục, mới là nhân vật đáng nể trọng.

3

Cuộc trường kì kháng chiến của nhân dân ta,

do Triệu Quang Phục lãnh đạo:

triều đại Triệu Việt vương (549 – 570)

a.       Triệu Quang Phục, nhân vật lịch sử hay huyền thoại?

Triệu Túc? và Triệu Quang Phục?

tù trưởng huyện Chu Diên (ở khoảng huyện lị Phả Lại, tỉnh Hải Hưng (20)), chắc chắn Triệu Túc là người thuần Việt.

Sử học không cho phép chúng ta suy diễn. Tuy nhiên, vẫn có thể chấp nhận những giả thuyết có một vài luận cứ khả dĩ (mặc dù chưa hội đủ luận cứ khoa học để kết luận khoa học). Nếu chi tiết Trần Trọng Kim đưa ra trong Việt Nam sử lược sẽ được kiểm chứng lại là đúng, chúng ta có thêm dữ liệu để làm luận cứ. Chi tiết ấy là: “Về sau, vua Nam đế nhà Tiền Lý khen [Triệu Thị Trinh] là người trung dũng, sai lập miếu thờ, phong là: ‘Bật chính anh liệt hùng tài trinh nhất phu nhân’ ” (20). Như vậy, Lý Bôn đã thể hiện lòng yêu nước (Giao Châu) trong việc sắc phong Triệu Thị Trinh cũng như việc dùng tù trưởng Triệu Túc làm thái phó, tướng võ của triều đình nước Vạn Xuân. Một luận cứ nữa, về nguồn gốc dân tộc Triệu Quốc Đạt (anh ruột của Triệu Thị Trinh), theo ghi nhận của Cương mục: “Đến khi giặc Man Di quận Cửu Chân đánh và hạ được các thành ấp, Giao Châu náo động” (21). Rõ ràng bọn Tàu thực dân ghi nhận anh em Triệu Quốc Đạt – Triệu Thị Trinh là Man Di (cách gọi ngạo mạn của chúng). 

Khẳng định như vậy, để đi đến ý tưởng sau đây: Tôi không có ý suy diễn điên rồ rằng, Triệu Quang Phục chính là hậu duệ của tên giặc Triệu Đà (kẻ giương cờ Tần Thuỷ hoàng xâm lược nước ta), nay muốn quang phục (khôi phục sự vẻ vang) cơ nghiệp cũ của tổ tiên. Tôi bình tâm tin tưởng, chính tù trưởng Triệu Túc muốn khôi phục lại sự vẻ vang của cuộc khởi nghĩa Triệu Thị Trinh, một nữ anh hùng (người Mường?) đã vì nước, vì dân tộc mà tổ chức, lãnh đạo, chiến đấu chống bọn phong kiến Trung Hoa xâm lược, chiếm đóng.

Vả lại, thật sự trong tâm thức dân gian, ở di tích tín ngưỡng, quần chúng nhân dân lại đồng nhất Triệu Quang Phục với truyền thuyết lịch sử An Dương vương: không phải đồng nhất hoá Triệu Đà với Triệu Quang Phục, mà lạ thay, ngược lại, nhân dân đã đồng nhất An Dương vương với Triệu Quang Phục! Không những thế, truyền thuyết từ thời vua Hùng (trước công nguyên Tây lịch) là truyện Tiên Dung (công chúa) – Chử Đồng Tử (ngư dân nghèo khổ) lại được phục hiện ở nhân vật lịch sử Triệu Quang Phục (ở ngôi: 548 – 570), thế kỉ thứ VI, với sự phù hộ của Chử Đồng Tử đối với Triệu Quang Phục.

Có điều gì lạ lùng ở lớp sương mù huyền thoại bao phủ lên nhân vật lịch sử này? Cũng chính vì sự oái oăm, trái ngược nào đó trong lớp sương mù huyền thoại ấy, nên một số nghi ngại về tính xác thực nẩy sinh:

Toàn thư ghi chú ngay dưới đầu đề kỉ Triệu Việt vương: “(Xét Sử cũ không chép Triệu Việt vương và Đào Lang vương, nay nhặt trong dã sử [sử do dân dã lưu giữ trong kí ức, ở thần tích – ct.] các sách khác, bắt đầu chép vị hiệu của vương và phụ chép Đào Lang vương để bổ sung)”  (22).

Cương mục lại ghi lời chua dẫn “theo sách Thanh nhất thống chí, Dạ Trạch thuộc huyện Đông Kết, phủ Kiến Xương. Thời Lương Vũ đế, Trần Bá Tiên đánh Lý Bôn, Lý Bôn trốn vào trong chằm [trằm – ct.] này, đêm đến đem quân ra đánh; nhân thế gọi là Dạ Trạch. Huyện Đông An trước gọi là Đông Kết” (23). Chẳng lẽ Lý Bôn chính là Triệu Quang Phục? Hay Lý Bôn còn có một cái tên khác, đó là Triệu Quang Phục?

Cương mục lại ghi lời cẩn án: “Sử cũ chép việc Triệu Việt vương được cái móng rồng của Chử Đồng Tử cho; việc Nhã Lang sang gửi rể rồi lấy trộm móng rồng; việc Triệu Việt vương vì mất cái móng rồng mà bị thua. Đem những chuyện ấy mà kháp với truyện Thục An Dương vương và Triệu Trọng Thuỷ trước kia, giống nhau như hệt, kì quái tưởng không cần biện bạch cho lắm. Nhưng Sử cũ chép phần nhiều trùng điệp nhau, sai hẳn sự thực, đại loại như thế đấy. Nay muốn tìm ở Sử cũ lấy chuyện có thể tin ở đời này và truyền lại đời sau, thật cũng khó lắm” (24).

Theo Đào Duy Anh, nhà nghiên cứu sử học người Pháp H. Maspéro cũng đã từng nêu vấn đề nghi hoặc về Triệu Quang Phục: Triệu Quang Phục là nhân vật lịch sử có thật hay chỉ đơn thuần là huyền thoại, là sản phẩm của tưởng tượng, của tín ngưỡng. Nhưng Đào Duy Anh phản bác lại: “Maspéro lại nói rằng sử sách Trung Quốc không hề biết đến tên Triệu Quang Phục. Đó cũng không phải là lí do xác tạc, vì thời gian hoạt động của Triệu Quang Phục chính là thời mà nội tình Trung Quốc rất rối loạn, rất có khả năng rằng sử sách Trung Quốc bấy giờ không biết hết những sự việc xảy ra ở Giao Châu […]. Vậy thì, trong khi vấn đề chưa giải quyết dứt khoát được, chúng ta hãy tạm thời cứ bằng vào sử cũ mà chép chuyện Triệu Quang Phục ở giữa chuyện Lý Bôn và chuyện Lý Phật Tử” (25). Đào Duy Anh còn xác định trước: chuyện Lý Bôn và Lý Phật Tử sử ta và sử Trung Quốc đều có chép cả, duy trừ chuyện Triệu Quang Phục là sử Trung Quốc không chép mà thôi (25).

Rốt lại, có ba khía cạnh quan trọng của vấn đề đặt ra:

▪ Nguồn gốc dân tộc của Triệu Quang Phục?

▪ Tại sao nhân gian lại đồng nhất Triệu Quang Phục với An Dương vương?

▪ Triệu Quang Phục là nhân vật lịch sử hay sản phẩm của tưởng tượng?

Thử trả lời:

▪ Triệu Quang Phục là người bản xứ, cha ruột là tù trưởng bộ lạc (trưởng tộc của một họ tộc trong làng thôn Việt Nam cổ [Giao Châu]); không thể là người Hán – Hoa được. Toàn thưCương mục đã xác quyết điều đó bằng hai chữ “tù trưởng”. Triệu Quang Phục cùng cha ruột muốn khôi phục sự vẻ vang của nữ tướng Man Di Triệu Thị Trinh (người Mường?).

▪ Triệu Quang Phục chính là hình ảnh An Dương vương bị mất vương triều vào tay Lý Phật Tử (họ hàng của Lý Bôn). Nhân dân xác quyết như thế để đánh tan sự nghi ngờ do cái tên gợi ra. Người ta rất dễ suy diễn Triệu Quang Phục là hậu duệ Triệu Đà và mưu toan quang phục cơ nghiệp của Triệu Đà. Vì vậy, nhân dân phải xác quyết ngay rằng Triệu Quang Phục chính là An Dương vương, chứ không phải Triệu Đà, mặc dù ông có trùng họ với Triệu Đà. Lý Phật Tử (gốc Hán tộc) mới chính là Triệu Đà (người Hán chính cống).

▪ Như chúng ta đã trích dẫn và đã biết, “theo sách Thanh nhất thống chí, […]  Trần Bá Tiên đánh Lý Bôn, Lý Bôn trốn vào trong chằm [trằm – ct.] này, đêm đến đem quân ra đánh; nhân thế gọi là Dạ Trạch” (23). Như vậy, sử Trung Hoa cũng có ghi nhận về hành trạng kháng chiến của Dạ Trạch vương, nhưng ngỡ rằng Lý Bôn chưa bị cảm mạo mà chết. Chính nhân vật Lý Bôn trong Thanh nhất thống chí là Triệu Quang Phục, còn Lý Bôn thật đã chết vì bệnh trước đó, và trước khi chết, Lý Bôn đã trao binh quyền cho Triệu Quang Phục.

Kết luận: Triệu Quang Phục là nhân vật lịch sử có thật. Lớp sương mù truyền thuyết thời vua Hùng – An Dương vương (trước c. ng.) đã được nhân dân phục hiện quanh Triệu Quang Phục (thế kỉ thứ VI) với ý nghĩa và mục đích như đã trình bày. Hãy cởi bỏ lớp áo khoác (truyền thuyết phục hiện) bên ngoài ấy, sẽ thấy hiện ra con người lịch sử Triệu Quang Phục thuần Việt, có thật.

Phải nói thêm rằng: Thế kỉ thứ VI không còn là thời đại huyền sử nữa. Thời kì huyền sử đã chấm dứt từ sau bi kịch An Dương vương (năm Giáp ngọ, 207 tr. c. ng.). Tuy nhiên yếu tố thần thoại, truyền thuyết bao giờ cũng còn, ngay giữa thời vi tính điện tử (thế kỉ XXI này), như một chất thơ với những ẩn dụ, hoặc như một thủ pháp nghệ thuật (chủ nghĩa hiện thực huyền ảo lành mạnh). Do đó, Triệu Quang Phục không phải là hình tượng huyền thoại, truyền thuyết lịch sử mà chính là nhân vật lịch sử được điểm tô thêm bằng ẩn dụ lấy từ truyền thuyết lịch sử xa xưa.

b.  Tư liệu gốc của ta về Triệu Quang Phục:

Toàn thư viết: Lý Bôn “uỷ cho đại tướng là Triệu Quang Phục giữ việc nước, điều quân đi đánh Bá Tiên. Đinh mão [Thiên Đức] năm thứ 4 [547], (Lương, Thái Thanh  năm thứ 1). Mùa xuân, tháng giêng, ngày 1, nhật thực. Triệu Quang Phục cầm cự với Trần Bá Tiên, chưa phân thắng bại. Nhưng quân của Bá Tiên rất đông, Quang Phục liệu thế không chống nổi bèn lui về giữ đầm Dạ Trạch. Đầm này ở huyện Chu Diên, chu vi không biết bao nhiêu dặm, cỏ cây um tùm, bụi rậm che kín, ở giữa có nền đất cao có thể ở được, bốn mặt bùn lầy, người ngựa khó đi, chỉ có dùng thuyền độc mộc nhỏ chống sào đi lướt trên cỏ nước mới có thể đến được. Nhưng nếu không quen biết đường lối thì lạc, không biết là đâu, lỡ rơi xuống nước liền bị rắn độc cắn chết. Quang Phục thuộc đường đi lối lại, đem hơn 2 vạn người vào đóng ở nền đất trong đầm, ban ngày tuyệt không để lộ khói lửa và dấu người, ban đêm dùng thuyền độc mộc đem quân ra đánh doanh trại của quân Bá Tiên, giết và bắt sống rất nhiều, lấy được lương thực để làm kế cầm cự lâu dài. Bá Tiên theo hút mà đánh, nhưng không đánh được. Người trong nước gọi là Dạ Trạch vương” (29).

Toàn thư ghi chú: đó là nơi Tiên Dung và Chử Đồng Tử sống bên nhau: đầm Nhất Dạ (29).

Toàn thư viết tiếp: “… Kỉ tị, năm thứ 2 [549] […]. Từ đó quân thanh lừng lẫy, đến đâu không ai địch nổi (tục truyền rằng thần nhân trong đầm là Chử Đồng Tử bấy giờ cưỡi rồng vàng từ trên trời xuống, rút móng rồng trao cho vua, bảo cài lên mũ đâu mâu mà đánh giặc)” (30).

“Canh ngọ, năm thứ 3 [550]. Mùa xuân, tháng giêng, nhà Lương cho Trần Bá Tiên làm Uy minh tướng quân Giao Châu thứ sử. Bá Tiên lại mưu tính cầm cự lâu ngày khiến cho ta lương hết quân mỏi thì có thể phá được. Gặp lúc nhà Lương có loạn Hầu Cảnh, gọi [Bá Tiên] về, uỷ cho tì tướng là Dương Sàn đánh nhau với vua. Vua tung quân ra đánh. Sàn chống cự, thua chết. Quân Lương tan vỡ chạy về Bắc. Nước ta được yên. Vua vào thành Long Biên ở” (31).

Trong khi đó, Lý Thiên Bảo (anh của Lý Bôn) đã lập ra nước Dã Năng ở vùng đất của người Di Lạo. Một thời gian, ông qua đời, không có con nối ngôi, nên trao quyền chức lại cho người bà con cùng họ là Lý Phật Tử.

Lý Phật Tử kéo quân về đánh Triệu Quang Phục (Triệu Việt vương). Nội chiến nổ ra qua 5 trận đánh! Lý Phật Tử xin hoà. “Vua nghĩ rằng Phật Tử là người họ của Lý Nam đế, không nỡ cự tuyệt, bèn chia địa giới ở bãi Quân Thần (nay là hai xã Thượng Cát, Hạ Cát ở huyện Từ Liêm) cho ở phía tây của nước, [Phật Tử] dời đến thành Ô Diên (nay là xã Hạ Mỗ, huyện Từ Liêm, xã ấy có đền thờ thần Bát Lang, tức là đền thờ Nhã Lang vậy)” (32).

Chuyện lại diễn ra y hệt như bi kịch An Dương vương. Trọng Thuỷ chính là Nhã Lang! Tuy nhiên, dẫu sao Trọng Thuỷ còn biết hối hận đến mức tự sát; còn Nhã Lang, sử sách không ghi một dòng nào như thế. Rõ ràng, Trọng Thuỷ còn được thờ để còn nhớ chút lòng hối hận của một tên giặc nội gián. Nhưng Nhã Lang? Nếu y không biết hối hận như Trọng Thuỷ, sao lại còn được thờ phụng? Chỉ có thể trả lời: Dân gian đâu phải việc gì cũng đúng! Vả lại, trong dân gian còn có sự phân hoá chính kiến! Phe nhân dân ủng hộ Lý Phật Tử thờ Nhã Lang chăng? Trong lời bình, Ngô Sĩ Liên cung cấp một chi tiết: “Nhã Lang thì chết trước, bản thân [Lý Phật Tử – ct.] cũng không khỏi làm tù” (33). Như vậy, phải chăng chính Lý Phật Tử ra lệnh lập đền thờ Nhã Lang, chứ không phải nhân dân? Dẫu sao, cũng lưu ý, không phải mọi thần tích (di tích tín ngưỡng), ca dao lịch sử đều chính xác tất thảy. Nhân dân cũng có phân số mù quáng.

Khía cạnh khác, Toàn thư và Cương mục đều ghi nhận một chi tiết rất thật: hai địa danh Thượng Cát, Hạ Cát nguyên tên cổ là Thượng Cát Giới, Hạ Cát Giới với chữ “cát” có nghĩa là “cắt” (ranh giới) (34). 

Và như Triệu Đà thuở xa xưa, Lý Phật Tử lên ngôi, tự xưng là Hậu Nam đế, triều đại kéo dài đến ba mươi hai năm (571 – 602). Cuối cùng, “Năm Nhâm tuất (602), […], nhà Tuỳ sai Lưu Phương sang xâm lấn. Đế Phật Tử ra hàng” (35)! Cương mục còn viết: “Phật Tử sợ, xin hàng” (35). Nếu chưa chiến đấu mà đã xin hàng thì thật ô nhục!

Như đã trình bày, sự thật lịch sử về Triệu Quang Phục và Lý Phật Tử đã được nhân gian phủ lên một lớp sương mù huyền sử. Nói chính xác hơn, Triệu Quang Phục là nhân vật không còn thuộc thời kì huyền sử, nhưng là nhân vật lịch sử được điểm tô thêm bằng ẩn dụ lấy từ truyền thuyết lịch sử xa xưa.

Gạt đi các ẩn dụ lấy từ truyền thuyết, sẽ còn lại sự thật lịch sử.

c.       Các sử gia bình luận về Triệu Quang Phục:

Toàn thư đã viết: “Vua giữ đất hiểm, dùng kì binh để đánh giặc lớn, tiếc vì quá yêu con gái đến nỗi mắc hoạ vì con rể”; “Vua họ Triệu, tên huý là Quang Phục, là con Triệu Túc, người Chu Diên, uy tráng dũng liệt, theo Nam đế đi đánh dẹp có công, được trao chức tả tướng quân” (36).

Có thể nói, Triệu Quang Phục là vị tổ của chiến thuật du kích.

Về việc mắc mưu kế hôn nhân – nội gián, Ngô Sĩ Liên nhận xét: “Đàn bà gọi việc lấy chồng là “quy” thì nhà chồng tức là nhà mình. Con gái vua đã gả cho Nhã Lang thì sao không cho về nhà chồng mà lại theo tục gửi rể của nhà Doanh Tàn để đến nỗi bại vong” (37)!

Mưu kế hôn nhân – nội gián ấy, thời nay, đa số vợ chồng trẻ đều ra riêng (sống ở nhà riêng), hẳn cũng khó lòng cho lực lượng thù địch, ngoại xâm trong việc “cài người”, nhưng vẫn là bài học kinh nghiệm lịch sử.

4

Kết luận

Trong tình thế bị kẹp giữa hai gọng kìm lịch sử (Trung Hoa, Lâm Ấp) và dưới ách đô hộ tàn bạo (Trung Hoa) như thế, dẫu sao, Lý Bí (Lý Bôn), Triệu Quang Phục vẫn bẻ gãy được gọng kìm nhỏ nhưng sắc nhọn là Lâm Ấp, đập tan cả gọng kìm lớn và ách đô hộ nghiệt ngã Trung Hoa, để xây dựng được một triều đại tự chủ, độc lập cho dân tộc, kéo dài đến gần 60 năm (544 – 602). Trong đó, có ba mươi hai năm (571 – 602) Lý Phật Tử nắm ngai vàng, thực ra cũng là nhờ công lao kháng chiến gian khổ và oai danh của Lý Bôn (5 năm) và của Triệu Quang Phục (22 năm). Toàn thư và Cương mục đã phê phán Lý Phật Tử thật đích đáng, tôi thấy không cần phải trích dẫn ở đây.

Tôi chỉ đề cao mỗi một Triệu Quang Phục.

Triệu Quang Phục mãi mãi là một nhân vật lịch sử cao đẹp, uy dũng và bi tráng.

Tôi muốn được một lần nữa lặp lại để nhấn mạnh điều này: Triệu Quang Phục là nhân vật không còn thuộc thời kì huyền sử, nhưng là nhân vật lịch sử được điểm tô thêm bằng ẩn dụ lấy từ truyền thuyết lịch sử xa xưa.

Triệu Quang Phục mãi mãi là một chiến tướng lớn, vị tổ của chiến thuật du kích, một vị vua kháng chiến thắng lợi của người Việt Nam chúng ta.

TP. HCM., viết xong lúc 16 giờ 01 phút,
ngày 09. 07. HB4 (22 .05 G. thân HB4).
TXA.

Cước chú của bài Cuộc khởi nghĩa của Lý Bí (nhà Tiền Lý)…:

(*) Gọi là nhà Tiền Lýnhà Hậu Tiền Lý để phân biệt với nhà Hậu Lý (Lý Công Uẩn) về sau. Gọi là nhà Triệu – Việt để phân biệt với nhà Triệu – Hán (Triệu Đà) thuở trước.

(**) Xem thêm: La Quán Trung, Tam quốc diễn nghĩa, tiểu thuyết lịch sử, viết theo quan điểm phù Hán.

(1) Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884) (gọi tắt là Cương mục), tiền biên và chính biên, bản dịch (2 tập), tập 1, Nxb. Giáo Dục, 1998, tr. 144 (Tb. [tiền biên], q. [quyển] III, [tờ] 10).

(2) Năm sau, Ất dậu (265), mới là năm Thái Thuỷ thứ 1 của nhà Tấn, đời Vũ đế. Lúc này (264) vẫn còn là niên hiệu nhà Ngụy.

(3) Kể thêm hai triều Ngô (222 – 280), Đông Tấn (317 – 420) trước đó, sử sách thường gọi là Lục triều. Cương mục, sđd., tập 1, tr. 166 (Tb. [tiền biên], q. [quyển] III, [tờ] 33): Cước chú của dịch giả Tổ Biên dịch VSH.: “Theo Tống sử, truyện Trương Thủ, […], sáu triều đại này kế tiếp nhau đóng đô ở Kiến Khang, tức Nam Kinh bây giờ”.

(4) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 162 (Tb., III, 29). Cương mụcToàn Thư (Đại Việt sử kí toàn thư [gọi tắt là Toàn thư], bản in nội các quan bản [1697], bản dịch [3 tập], tập 1, Nxb. Văn hoá – Thông tin, 2003), hai bộ sử của nước ta đều chép Lý Trường Nhân là người Giao Châu. Trường hợp Lý Trường Nhân cũng như Lương Long (khởi nghĩa năm Tân dậu [181], xem: Cương mục, sđd., tập 1, tr. 126 [Tb., II, 23 – 24], hiện nay, chưa có tư liệu để xác định cụ thể về nguyên quán và dân tộc của hai nhân vật này. Tôi đoán rằng, đó là hai người Bách Việt ta trên vùng đất phía bắc thuộc lãnh thổ Giao Chỉ bộ (Giao Châu). Lý Trường Nhân (năm 468) có lẽ có quê quán cụ thể là quận Hợp Phố (Tượng Quận, về sau gọi là Liêm Châu), tức là Quảng Đông (thuộc Trung Quốc) ngày nay. Xin xem thêm cước chú (10).

(5) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 164 (Tb., III, 31).

(7) Xem thêm: Phan Khoang, Trung Quốc sử lược, ấn quán Hồng Phát, Chợ Lớn – Sài Gòn, 1958.

(***) Lê Tắc, An Nam chí lược (thuộc Tứ khố toàn thư, Trung Hoa), bản dịch của Uỷ ban Phiên dịch sử liệu Viện Đại học Huế (GS. Trần Kinh Hoà cố vấn), Viện Đại học Huế xb., 1961; Nxb. Thuận Hoá, TT. Văn hoá – Ngôn ngữ Đông Tây tái bản, 2002, tr. 266 – 267: Lê Tắc xác định Đỗ Tuệ Độ là con trai của Đỗ Viện, người huyện Chu Diên (xem (9)) thuộc quận Giao Chỉ, đồng thời ghi lại ý kiến khác: Đỗ Viện người Kinh Triệu (Trung Hoa), ông nội Viện làm thái thú Hợp Phố rồi định cư ở Giao Chỉ. Tôi nghĩ, họ Đỗ này phải là người Hán mới được bổ nhiệm nhiều đời làm quan đến chức thái thú các quận, và cả chức thứ sử Giao Châu.

(7) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 158 (Tb., III, 24).

(****) Xin nhắc lại ý tưởng: vấn đề Lâm Ấp (Hoàn Vương, Chiêm Thành) khởi đầu và chung quy vẫn là vấn đề nội bộ của lịch sử Việt Nam (+) từ cổ đại (kể từ thời điểm Khu Liên kháng chiến chống nhà Hán [Trung Hoa], tách ra khỏi cộng đồng dân tộc để lập vương quốc riêng, vào năm Đinh sửu [137] ((()) cho đến khi lại sáp nhập hoàn toàn vào Việt Nam cận đại (thời chúa Nguyễn Phúc Chu ở Đàng Trong, cũng năm Đinh sửu [1697] (++). Trong những triều đại Lý, Trần, Hồ, Lê, Nguyễn về sau, số lượng người Chăm ra Bắc Trung bộ, Bắc bộ định cư khá lớn.

(+) Nỗi đau lịch sử Chiêm Thành là nỗi đau nhập thân của Chế Lan Viên, đồng thời đó cũng là nỗi đau thời Pháp thuộc với nhận thức, tín niệm về nhân quả – nghiệp chướng của ông, thể hiện trong tập thơ Điêu tàn. Nỗi đau Điêu tàn ấy được cảm nhận:

đức tin nghiệp chướng ngây ngô
niềm mất nước hoá giấc mơ kinh hoàng
thơ ai trên gạch tháp Chàm
mười bảy tuổi, vội Điêu tàn tóc xanh
bóng ma gào khóc chiến tranh
đau trong đau, đã kết thành, triệu năm…
                                                                        TXA.

(++) Không phải là năm 192 như nhiều sách viết. Xem: Đào Duy Anh, Lịch sử Việt Nam, Nxb. Văn hoá – Thông tin tái bản, 2002, tr. 121; Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb. Tân Việt, 1964, tr. 328. Xin xem thêm phụ lục thơ của người viết ở cuối sách.

(*****) Lê Tắc, An Nam chí lược, sđd., tr. 157 – 158 & tr. 60, 284: Xem bài biểu của vua nước Lâm Ấp đệ gửi vua Tống (Trung Hoa) với ý muốn cai quản cả Giao Châu, trong cuốn sách này, số trang đã dẫn. Lê Tắc xác định nước Lâm Ấp thành lập trên vùng đất nguyên là huyện Tượng Lâm, nhưng chắc hẳn đã nhầm khi cho rằng huyện Tượng Lâm ấy chính là quận Bố Chính thời Trần (nay là hai huyện Quảng Trạch, Bố Trạch ở phía bắc Quảng Bình). Thật ra, theo Đào Duy Anh (sđd., (***), tr. 122 – 125), huyện Tượng Lâm là đất tỉnh Quảng Nam ngày nay (và kéo dài đến đèo Đại Lãnh, tỉnh Khánh Hoà hiện tại?!?), kinh đô của nước Lâm Ấp là Trà Kiệu. Xem thêm: Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Phạm Trọng Điềm dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, tập 2, Nxb. Thuận Hoá, 1992, tr. 5 – 14.; chú thích (*) của phần phụ lục chương II, sách này.

(8) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 168 (Tb., IV, 2). TXA. iđ & ct. Theo lời chua & cước chú: Đền thờ Lý Bôn (Lý Bí) ở xã Từ Đường, huyện Thuỵ Anh, phủ Thái Bình, tỉnh Nam Định, nay là thôn Tử Các, xã Thái Đô, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình. Hẳn quê hương ông là ở đấy.

(9) Cương mục, sđd., tập 1, 114 (Tb., II, 10): Lời chua của Quốc sử quán triều Nguyễn: Vĩnh Tường, tỉnh Sơn Tây (cước chú của dịch giả: tỉnh Vĩnh Phúc).

(10) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 144 (Tb., III, 10): “Năm Giáp thân (264) […].Năm ấy, nhà Ngô cắt ba quận Nam Hải, Thương Ngô và Uất Lâm đặt làm Quảng Châu, châu lị ở Phiên Ung; Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố làm Giao Châu, châu lị ở Long Biên. Việc chia ra Giao Châu và Quảng Châu bắt đầu từ đấy”. Xem thêm: Cương mục, sđd., tập 1, tr. 168 (Tb., IV, 2): lời chua. TXA. iđ & ct.

(11) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 167 (Tb., IV, 1). TXA. iđ & ct.

(11) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 167 – 168 (Tb., IV, 1). TXA. iđ & ct. Xem thêm về thể chế tuyển dụng này trong cuốn Lịch sử Việt Nam của Đào Duy Anh, Nxb. VHTT, 2002, tr. 135.

(12) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 252 (NK., q. IV, tờ 15a – 15b); Cương mục, sđd., tập 1, tr. 169 (Tb., IV, 3). TXA. iđ & ct.

(13) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 168 & 169 (Tb., IV, 1 & 3). TXA. iđ & ct.

(14) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 169 (Tb., IV, 3 – 4 ). TXA. iđ & ct.

(15) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 170 – 171 (Tb., IV, 4 – 5). TXA. iđ & ct.

(16) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 173 (Tb., IV, 7). TXA. iđ & ct.

(17) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 173 (Tb., IV, 7). TXA. iđ & ct.

(18) Toàn Thư (Đại Việt sử kí toàn thư (gọi tắt là Toàn thư), bản in nội các quan bản (1697), bản dịch (3 tập), tập 1, Nxb. Văn hoá – Thông tin, 2003, tr. 251 (NK. [ngoại kỉ], q. [quyển] IV, [tờ] 15a).

(19) Toàn Thư, tập 1, sđd., tr. 250 (NK., q. IV, 14b).

(20) Toàn Thư, tập 1, sđd., tr. 251 (NK., q. IV, 15a): cước chú của dịch giả Ngô Đức Thọ. Trích: Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb. Tân Việt, 1964, tr. 52 – 53. TXA. iđ. & ct. Xem: Lý Tế Xuyên (Chư Cát thị hiệu đính, bổ sung), Việt điện u linh, Trịnh Đình Rư dịch, Đinh Gia Khánh hiệu đính và bổ sung bản dịch, Nxb. Văn Học tái bản, 1972, tr. 125: Lý Bôn phong Triệu Thị Trinh là Giản chính phu nhân; nhà Hậu Lý gia phong chữ Quý, truy tặng là Anh liệt phu nhân; nhà Trần lại gia phong: Hùng tài, Vĩ tích, Anh mẫn, đến năm Hưng Long thứ 21 (triều Trần Anh Tông, 1313), lại thêm một lần gia pho