posted: 21.9.2005
do
Trần Xuân An soạn và cảm
nghĩ. 1.
Quan niệm về Thượng Đế siêu hình và nghi thức niệm Phật danh: “…
Các bậc Thiền đức không tán thành thái độ của người Công giáo
[Ca-tô – ct.] – cả người Công giáo huyền học – quá chấp nặng vào ý thức Chúa [Thượng
đế - ct.], coi như đấng khai sáng và bảo hộ thế gian và muôn vật. […]
Môn đệ của Triệu Châu, Vân Môn và các bậc cổ đức khác không nhằm
chứng gì hơn là hoàn toàn đồng hóa hoặc viên dung cái tôi, năng tri, và
đối tượng của tư tưởng, sở tri. Vì lí do đó, các ngài quyết không
chịu đọc đến tiếng “Phật” hoặc “Thiền” trong bài giảng của
các ngài. Chắc chắn đó không phải là phản Phật, mà chính vì Phật
giáo đã hoàn toàn đồng hóa trong người các ngài. Chẳng hạn như câu
chuyện sau đây của Pháp Diễn ở Ngũ Tổ Sơn (? – 1104) quở nhẹ đệ tử
là Phật Quả Viên Ngộ (1063 – 1135). Ngũ
Tổ nói: “Được lắm, nhưng có chút chưa ổn”. Viên Ngộ gạn hỏi hai,
ba lần chút ấy là gì, rốt cùng sư mới nói: “Ông nói đến “Thiền”
nhiều quá”. Viên Ngộ phản ứng lại: “Sao vậy? Học Thiền thì tự
nhiên nói “Thiền”, sư phụ ghét là sao?” Ngũ Tổ nói: “Như một cuộc
nói chuyện thường ngày vậy, thì tốt hơn”. Một ông tăng có mặt lúc
ấy hỏi: “Tại sao hòa thượng ghét nhất người ta nói đến “Thiền”?”.
– “Vì nó làm cho ta bợn dạ”, đó
là lời phán quyết của Sư. Cùng
tinh thần ấy, Lâm Tế Nghĩa Huyền (? – 867) có lối nói cực bạo, triệt
để cách mạng. Nếu không quen với phương pháp dạy Thiền, nhưng đoạn
văn trích sau đây khiến ta trố mắt, nghiến răng, tóc dựng đứng lên
được… […] “Cầu
Phật, cầu pháp là tạo nghiệp địa ngục. Cầu bồ tát cũng là tạo nghiệp.
Coi kinh, coi giáo cũng là tạo nghiệp. Phật với Tổ sư đều là người vô
sự”… […] “Này,
quý ông cầu chân lí! Muốn ngộ vào chánh tông (Thiền), chớ để thiên hạ
phỉnh mình. Trong cũng như ngoài, gặp chướng ngại nào cứ đạp ngã ngay.
Gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ, gặp La Hán hoặc họ hàng thân
thiết, giết hết, chớ ngần ngại. Đó là con đường độc nhất để giải
thoát. Đừng để bất cứ ngoại vật nào trói buộc mình; hãy vượt lên,
hãy vượt qua, hãy tự do. Tôi thấy trong suốt thiên hạ những vị gọi
là cầu đạo không ông nào đến với tôi tự do và độc lập hết. […].
Tôi không có gì để cho quý vị. Tất cả những gì tôi có thể làm được
là tùy bệnh mà cho thuốc, là giải phóng cho quý vị tất cả phiền trược”… […] Đó
là Lâm Tế chủ tâm quét sách tất cả ngấn bụi ý thức về Chúa [Thượng
Đế - ct.] trong tâm người cầu chân lí. Lẫm liệt biết bao nhiêu, như lôi
thần Thor, Sư giáng tất cả sấm sét trong từng lời cổ võ!”. (Daisetz Teitaro Suzuki,
Thiền luận, quyển thượng, Trúc Thiên
dịch, [luận bảy, tiết X, “Ý thức về
Thượng đế”], Nxb. TP.HCM. tái bản, 1992, tr. 569 – 576). 2. Quan niệm về tượng Phật được tô đắp,
điêu khắc để tôn thờ: “…Một
Thiền sư có nói: “Tâm nguyện của mỗi người
phải vút lên bằng ngôi vị Phật Tì Lô đồng thời tình ý ở đời phải
hạ thấp sát đất đến độ sẵn sàng quỳ dưới chân một đứa con nít”. Nói
một cách khác, đó là: “Muốn được cao trên thiên hạ, phải hạ thấp
dưới thiên hạ, và làm tôi tớ cho thiên hạ”. [Vì
vậy, – ct.] nên sinh hoạt ở Thiền đường được quy định tỉ mỉ, mọi
chi tiết cần được nghiêm chỉnh vâng theo nhằm thực hiện tinh thần ấy.
Khiêm hạ, thanh bần, và tịnh tâm – đó là những lí tưởng tránh cho Thiền
khỏi sa vào tệ bịnh của hàng triết gia mâu thuẫn luận thời Trung cổ* (cước chú: * Nguyên văn:
medieval antinomians). […] Thiền
sư Đơn [:Đan – ct.] Hà Thiên Nhiên (738 – 824), đời nhà Đường, dừng
bước vân du ở chùa Huệ Lâm, tại Kinh Đô; gặp tiết đại hàn giá buốt,
sư rinh một tượng Phật lớn xuống bửa ra đốt sưởi ấm. Ông từ kinh
hoảng hỏi: “Sao Hòa thượng dám đốt tượng Phật của tôi?”. Sư đưa
gậy bới vào đống tro lửa như tìm kiếm vật gì, đáp: “Tôi đốt Phật
để tìm xá lợi”. Ông từ nói: “Phật gỗ mà xá lợi ở đâu?”. Sư bảo:
“Thế sao ông trách tôi? Ông cho tôi xin nốt hai phong tượng kia để sưởi
cho đỡ lạnh”. Sau
đó, ông từ rụng hết lông mi * (cước chú: * về câu chuyện Thúy Nham nhắc đến truyền thuyết
cho rằng người nào giảng sai giáo pháp của Phật sẽ rụng hết lông
mày), vì lời quở trách Đơn Hà tội phạm thánh, còn sự thịnh nộ của
Phật không bao giờ giáng xuống đầu Đơn Hà. Dầu
đáng ngờ về phương diện lịch sử, câu chuyện trên được truyền tụng
nhiều, và các Thiền sư đều đồng ý về sự triệt ngộ của nhà sư
Đơn Hà đốt tượng Phật”. “Sau
đó có ông tăng hỏi một Thiền sư về ý nghĩa Đơn Hà đốt tượng Phật,
Sư nói: “Lạnh
đến lò than bên lửa sưởi” Lại
hỏi: Nhưng Đơn Hà có tội không? Sư
đáp: “Nóng
ra rừng trúc cạnh khe ngồi””. (Daisetz Teitaro Suzuki,
Thiền luận, quyển thượng, Trúc Thiên
dịch, [luận bảy, tiết V, “Khiêm hạ”, tr. 543 – 550], Nxb. TP.HCM. tái bản, 1992,
tr. 545 – 546). Thiền
sư Trung Quốc, môn đệ của Thiền sư Thạch Ðầu Hi
Thiên và Mã Tổ Ðạo Nhất
và cũng là thầy của Thiền sư Thúy Vi Vô Học.
Sư là nhân vật chính trong Công án 76
của Bích nham lục. Như
Thiền sư Viên Ngộ
Phật Quả thuật lại trong Bích nham lục, Sư trước học Nho, đi vào Trường
An ứng thi làm quan. Trên đường đi Sư gặp một thiền khách, ông ta hỏi:
“Nhân giả đi đâu?”. Sư đáp: “Ði thi làm quan”. Ông khách lại nói:
“Thi làm quan đâu có bằng thi làm Phật”. Sư hỏi: “Thi làm Phật phải
đến chỗ nào?”. Ông khách đáp: “Hiện nay ở Giang Tây có Mã Ðại sư
ra đời, là trường thi làm Phật, nhân giả nên đến đó”. Sư bỏ thi, tìm
đến Giang Tây ra mắt Mã Tổ. Mã Tổ lại khuyên Sư đến Thạch Ðầu Hi
Thiên. Ðến
Thạch Ðầu, Sư luân phiên làm bếp ba năm (Ðiển tọa).
Một hôm Thạch Ðầu bảo chúng: “Ngày mai cắt cỏ ở dưới điện Phật”.
Sáng hôm sau, đại chúng mỗi người cầm liềm cầm cuốc đến trước chùa
làm cỏ. Chỉ riêng Sư lấy thau múc nước gội đầu, đến quỳ gối trước
Hòa thượng. Thạch Ðầu thấy thế cười liền cạo tóc cho Sư. Cạo xong,
Thạch Ðầu lại vì Sư nói Giới (s:
śīla), Sư bịt tai ra đi. Trở
lại Giang Tây yết kiến Mã Ðại sư, chưa lễ ra mắt, Sư đi thẳng vào tăng
đường trèo lên cổ tượng Văn Thù
ngồi. Ðại chúng kinh ngạc chạy báo cho Mã Tổ hay. Tổ đích thân vào tăng
đường, trông thấy, bèn nói: “Con ta, Thiên Nhiên!”. Sư bèn bước xuống
lễ bái, thưa: “Cảm tạ thầy ban cho pháp hiệu”. Mã Tổ hỏi: “Từ đâu
đến?”. Sư thưa: “Từ Thạch Ðầu đến”. Tổ hỏi: “Ðường Thạch
Ðầu trơn, ngươi có té chăng?”. Sư đáp: “Nếu có trợt té thì chẳng
đến đây”. Sau
khi từ biệt Mã Tổ, Sư vẫn tiếp tục du phương. Ðến chùa Huê Lâm, gặp
lúc trời lạnh, Sư bèn lấy tượng Phật gỗ đốt để sưởi, viện chủ
trông thấy quở: “Sao đốt tượng Phật của tôi?”. Sư lấy gậy bới
tro nói: “Tôi đốt tìm Xá-lị”.
Viên chủ bảo: “Phật gỗ làm gì có Xá-lị?”. Sư nói: “Ðã không có
Xá-lị, thì thỉnh thêm hai vị nữa, đốt”. Viện chủ nghe câu này tất
cả kiến chấp đều tan vỡ. Niên
hiệu Trường Khánh, năm thứ tư (824), ngày hai mươi ba tháng sáu, Sư gọi
đệ tử bảo: “Lấy nước nóng tắm, ta sắp đi đây”. Tắm xong, Sư đội
mũ mang giày cầm trượng, duỗi một chân chưa đến đất, liền tịch. Vua
sắc phong là Trí Thông Thiền sư”. Website Thư viện
Hoa Sen, Từ điển Phật học, mục từ Đan Hà Thiên Nhiên, http://www.daouyen.com/Data/Ph_DD/DD51.htm “Trên
lí thuyết, đạo lí Thiền vượt ngoài tầm hiểu biết bằng tư biện, không
bị ràng buộc trong luật mâu thuẫn luận lí. Nên đó là một miếng đất
quá trơn, nhiều người không đi thẳng lưng được. Và hễ vấp váp thì kết
quả thật tai hại. Cũng như nhiều nhà huyền học thời trung cổ, người
học dễ bị sa đọa, trở thành phóng đãng, hết kiểm soát được mình.
Lịch sử từng chứng minh điều ấy, và khoa tâm lí học cũng dễ giải thích
diễn trình sa đọa ấy. Nên một Thiền sư Thiền sư có nói: ”Tâm nguyện
của mỗi người phải vút lên bằng ngôi vị Phật Tì Lô đồng thời tình
ý ở đời phải hạ thấp sát đất đến độ sẵn sàng quỳ dưới chân
một đứa con nít”. Nói
một cách khác, đó là: “Muốn được cao trên thiên hạ, phải hạ thấp
dưới thiên hạ, và làm tôi tớ cho thiên hạ” … […]
Thế mới biết vai trò của kỉ luật Thiền đường quan hệ như thế nào
trong việc truyền dạy đạo Thiền cũng như ứng dụng vào sinh họat thế
tục”. (Daisetz Teitaro Suzuki,
Thiền luận, quyển thượng, Trúc Thiên
dịch, [luận bảy, tiết V, “Khiêm hạ”, tr. 543 – 550], Nxb. TP.HCM. tái bản, 1992,
tr. 544 – 545). 3.
Quan niệm về kinh sách – Phật pháp: “Không
gì biểu minh cụ thể hơn giáo lí xả chấp của Phật bằng thí dụ thông
thường về “chiếc bè”, có lẽ hơi khó hiểu đối với đôi học giả
quen sống trong không khí trí thức đối nghịch khác. Cũng như một chiếc
bè, tất cả “pháp” còn phải xả, huống nữa là “phi pháp” * (cước chú: * Trung Bộ kinh
22), đó là phiên khúc căn bản chạy dài suốt bộ sử diễn tiến của
giáo lí Phật giáo. […] Thật vậy, cái “không” của các bộ kinh Bát
Nhã chẳng gì khác hơn là bài triết luận về giáo lí xả chấp* (cước chú: * Coi Sulta
Nipata, V. 21: “Ta đã đóng một chiếc bè chắc chắn, ta đã đến tận Niết
Bàn, ta đã qua bờ bên kia, chiến thắng dòng cuồng lưu tham dục; ta không
còn dùng chiếc bè vào việc gì nữa, vậy trời muốn mưa thì cứ mưa”).
Kinh Kim Cương nói như vầy: “Như Lai thường dạy rằng, các thầy tì khưu
nên biết pháp ta nói ra ví như chiếc bè đưa qua sông: pháp còn nên bỏ,
huống nữa chẳng phải là pháp.” Thí
dụ ấy, Trung Bộ kinh giảng rộng như sau: “Này
các thầy tì khưu, lời ta dạy ví như chiếc bè, để đưa qua [sông –
ct.], không phải để mang giữ. Hãy nghe nhớ kĩ lời ta đây. Ví như có người
suốt ngày đi đường nhọc mệt, gặp phải một con sông rộng nước sâu;
bờ sông bên này đầy lo sợ và hiểm nghèo, còn bờ bên kia thì yên ổn,
không [phải -ct.] sợ sệt, nhưng không có ghe
thuyền đưa qua sông, mà cũng không có cầu bắc nối hai bờ. Ví như người
ấy nghĩ bụng như vầy: Quả thật sông thì rộng, nước thì sâu; bờ bên
này đầy lo sợ và hiểm nghèo, còn bờ bên kia thì yên ổn, không [phải
– ct.] sợ sệt; nhưng không có thuyền mà cũng không có cầu đưa ta qua bờ
bên kia. Sao ta không thử lượm lặt những lau sậy, những que cành chà lá,
kết lại làm bè coi sao? Rồi ngồi trên bè, ta dùng tay dùng chân làm chèo,
chèo êm qua bờ bên kia. Theo đó, này các thầy tì khưu, ví như người ấy
lượm lặt những lau sậy, những que cành chà lá, kết lại làm bè, rồi
dùng tay dùng chân làm chèo, chèo êm qua bờ bên kia. Bấy giờ, sông qua rồi,
bờ đến rồi, ví như người ấy nói vầy: Quả thật chiếc bè ấy đã
giúp tôi nên việc lớn. Nhờ nó chở tôi, và tôi dùng tay dùng chân làm
chèo, tôi mới qua êm được đến bờ bên kia; bây giờ phỏng như tôi đội
chiếc bè trên đầu hoặc mang nó trên vai, và cứ thế mà lên đường đi
đâu tùy thích [chăng –ct.]? Các thầy tì khưu
nghĩ sao? Người ấy dùng bè như vậy có không ngoan không? – Bạch ngài,
nhất định là không. – […] Cũng như vậy đó, các thầy tì khưu, giáo
pháp tôi day các thầy ví như chiếc bè, cốt để đưa qua [sông – ct.],
không phải để mang giữ. Thấu rõ như vậy đối với pháp, các thầy còn
phải xả thay, huống nữa là cái phi pháp” * (cước
chú: * Pháp: dhrama; phi pháp: addhrama (chẳng phải
là pháp))”. (Daisetz Teitaro Suzuki,
Thiền luận, quyển thượng, Trúc Thiên
dịch, [luận ba, tiết V, “Dhyana (Thiền)
và chiếc bè pháp (dhrama)”, tr. 229 -
239], Nxb. TP.HCM. tái bản, 1992, tr. 234 – 237). “Để hiểu
rõ thêm về bản chất của đức tin trong đạo Phật, ta nên đọc lại đoạn
này trong kinh Kalama: “Một
hôm, các vị hoàng tử xứ Kalama đến bạch Phật: “Thưa ngài, trong khi
các vị đệ tử dòng họ Thích cho rằng giáo lí của Phật là đúng. Vậy
thì các nhà truyền giáo khác cũng cho rằng giáo lí của họ cũng đúng. Vậy
chúng tôi biết nghe theo ai?”. Phật trả lời: “Này các hoàng tử Kalama:
Đừng vội công nhận một điều gì, dù điều đó là điều người ta hay
nói. Đừng vội công nhận một điều gì, dù điều đó là điều ấy phù
hợp với nội giáo. Đừng vội công nhận một điều gì, dù điều đó
mình rất ưa thích. Đừng vội công nhận một điều gì, dù điều đó
phù hợp với chủ trương của mình. Đừng vội công nhận một điều gì,
dù điều ấy do một người có uy tín nói ra. Đừng vội công nhận một
điều gì, dù điều ấy được nhiều người đáng kính trọng tuyên bố”.
“Này
các hoàng tử Kalama, khi nào các ông nhận biết bằng lí trí các ông rằng,
một cái gì đó là bất thiện, là đáng chê trách, là bị kẻ thức giả
phủ nhận, và nếu đem cái ấy ra mà công nhận và thực hành theo thì sẽ
mua lấy đau khổ và tan nát, [vậy – ct.] thì các ông hãy bác bỏ nó đi”.
“Và
khi nào các ông nhận biết rằng lí trí các ông rằng, một cái gì đó là
thiện, là không bị chê trách, là được kẻ thức giả tán thưởng, và nếu
đem cái ấy mà công nhận và thực hành theo thì sẽ đạt tới sự an lạc
và hạnh phúc, [vậy –ct.] thì các ông hãy tin nó và đem nó ra thực hành”.
-Thích
Nhất Hạnh, Đạo Phật đi vào cuộc đời,
[bài “Đạo Phật, con đường thực nghiệm
tâm linh”, trích dẫn Kinh Kalama], bản
in lần thứ 2, Nxb. Lá Bối, Sài Gòn, 1966, tr. 189 – 190;
4.
Quan niệm về việc trì giới linh hoạt: “Một hôm,
hoàng thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm (em gái của Thượng Sĩ Tuệ Trung) mở tiệc trong cung điện.
Trên bàn có cả thức ăn mặn và thức ăn chay. Thượng Sĩ gắp thức ăn không phân biệt chay hay mặn.
Hoàng thái hậu hỏi : “Anh tu Thiền
mà ăn thịt cá thì làm sao thành Phật được ?”. Thượng Sĩ cười dáp : “Phật là Phật, anh là anh.
Anh không cần thành Phật. Phật cũng không cần thành anh. Em không nghe các
bực cổ đức nóị Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát đó sao”. Trong bữa tiệc
này có cả vua Trần Nhân Tông; vua rất thắc mắc về việc này và chưa hiểu
rõ ý nghĩa câu trả lời của Thượng Sĩ, nhưng
chưa tiện hỏi. Dù là bậc
hoàng tộc tôn quý (anh rể của thượng hoàng, cậu ruột của vua Trần
Nhân Tông) và có chức tước cao sang bực nhất trong nước, nhưng Thượng
Sĩ Tuệ Trung không ham thích công danh, sống thanh tịnh, an đường tu hành nơi
Thái ấp Tịnh Bang, lập Dưỡng Chân Trang để tu Thiền và hoằng dương Phật
pháp. Thượng Sĩ sống an nhàn tự tại,
hòa lẫn trong thế tục, vui trong thiền duyệt, hết lòng dìu dắt những người
muốn tu hành theo đạo Phật. Phật tử đến
tham học Phật pháp, Thiền giả đến tham vấn Thiền, Thượng Sĩ đều hết lòng chỉ dẫn những chỗ tâm yếu,
khiến họ thông hiểu được lí đạo và ham thích tu học, không có vẻ
quyền quý cao sang cách biệt với kẻ dưới, không phân biệt sang hèn, chưa
hề phụ ai bao giờ. Thượng Sĩ Tuệ Trung là một cư sĩ thọ giới Bồ Tát,
sống chân thực và bình dị theo tinh thần của một thiền giả, nên sống
rất tự tại, phóng khoáng, không câu chấp lễ nghi, tiểu tiết. Những điều
luận bàn huyền nhiệm về Phật pháp là những thiền ngữ của ngài đều
được các nhà Thiền học thời đó hết sức kính trọng, và vẫn còn
giá trị cho đến ngày nay”. “… Năm
Đinh Hợi (1287), hoàng thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm băng. Thượng hoàng
Trần Thánh Tông trông lo việc triều chính ở kinh đô, vua Trần Nhân Tông
phải cấp tốc về đất An Bang để thỉnh cậu là Thượng Sĩ Tuệ Trung về
lo lễ tang. Trên đường về kinh đô bằng thuyền, có thời giờ để Thượng
Sĩ Tuệ Trung và cháu (vua Trần Nhân Tông) đàm luận. Trong khi đó, vua vẫn
còn thắc mắc về việc Thượng Sĩ ăn mặn và những câu trả lời của
Thượng Sĩ trong bữa tiệc mà Thái hậu
đãi lần trước, vì vậy, vua hỏi Thượng Sĩ: “Thưa cậu, chúng sanh quen
cái nghiệp ăn thịt, uống rượu, làm thế nào thoát khỏi tội báo nghiệp
lực?”. Thượng Sĩ đáp:
“Nếu có người đứng xây lưng lại, thình lình có vua đi qua phía sau lưng,
người kia không biết, vô tình ném vật gì đó trúng vào vua, thử hỏi người
ấy có sợ bị tội hay không, và vua có giận, bắt tội hay không? Nên biết,
hai việc đó không dính dấp gì đến nhau cả”. Tiếp theo đó, Thượng
Sĩ đọc cho vua nghe hai bài kệ trong kinh sách Phật : Vô thương
chư pháp hành Tâm nghi tội
tiện sanh Bổn lai vô nhứt
vật Phi chủng diệc
phi manh Nhựt nhựt đối
cảnh thời Cảnh cảnh tòng
tâm xuất Tâm cảnh bổn
lai vô Xứ xứ
Ba-la-mật. Tạm dịch:
Vô thường các
pháp hiện, Tâm ngờ tội
liền sanh Xưa nay không
một vật Không giống cũng
không mầm Ngày ngày thì
đối cảnh Cảnh cảnh
theo tâm xuất Tâm, cảnh, vốn
là không Khắp nơi là
“Niết bàn”. Vua suy nghĩ giây
lâu nhưng vẫn chưa hiểu hết ý Thượng Sĩ, nên lại hỏi cậu: “Tuy là
như vậy, nhưng nếu tội là phước rõ ràng thì làm thế nào?”. Thượng Sĩ biết
vua chưa hiểu rõ nên đọc thêm một bài kệ để chỉ bảo thêm : Khiết tháo dữ
khiết nhục Chúng sanh các
sở thuộc Xuân lai bách
thảo sanh Hà xứ kiến
tội phúc! Trúc
Thiên dịch: Ăn chay cùng
ăn thịt Chúng sanh tùy
sở thích Xuân về cây
cỏ tươi Chỗ nào thấy
tội, phước! Vua lại hỏi:
“Như vậy, việc công phu giữ giới tinh nghiêm không chút lơi lỏng là để
làm gì?”. Thượng Sĩ chỉ cười mà không đáp câu hỏi. Vua cố năn
nỉ, Thượng Sĩ đọc hai bài kệ ấn
tâm cho vua: Trì giới
kiêm nhẫn nhục Chiêu tội bất
chiêu phúc Dục tri vô tội
phúc Phi trì giới
nhẫn nhục Như nhân thượng
thọ thì An trung tự cầu
nguy Như nhân bất
thượng thọ Phong nguyệt hà
sở vi. Tạm
dịch: Trì giới và
nhẫn nhục Chuốc tội chẵng
chuốc phúc Muốn biết
không tội phúc Không nhẫn nhục
trì giới Như người
đang leo cây Đang yên lại
tìm nguy Như người không
leo cây Trăng gió làm
gì được? Đoạn Thượng
Sĩ bí mật dặn kĩ vua: “Đừng nói
với những người không hiểu biết (vật thị phi nhân)”. Từ đó, vua
Trần Nhân Tông mới biết môn phong Thiền học của Thượng Sĩ cao thâm
siêu việt. Một hôm khác, vua Trần Nhân Tông hỏi Thượng Sĩ về “yếu
chỉ của Thiền Tông” và muốn biết được bí quyết giác ngộ mà Thượng
Sĩ được Thiền sư Tiêu Dao truyền. Thượng Sĩ
ứng khẩu đáp: “Hãy quay về tự quán xét chính bản thân mình chứ
không thể nhờ một người nào khác (phản quan tự kỉ bản phận sự, bất
tòng tha đắc)”. Nhờ vào lời
dạy thâm sâu bí yếu này của Thượng Sĩ mà
vua Trần Nhân Tông ngộ được yếu chỉ của Thiền tông và thấy được
đường vào Đạo. Từ đó, vua Trần Nhân Tông mới hết lòng tôn kính Thượng
Sĩ và thờ Thượng Sĩ làm thầy”. -Trích Đoạn: Tuệ Trung Thượng Sĩ với Thiền tông Việt Nam, Viện Khoa học Xã hội, Trung tâm Nghiên cứu Hán – Nôm, Nxb. Đà Nẵng, 2000, tr. 352 – 355; http://www.thuvienhoasen.org/ac-tuetrungthuongsivaanchay.htm
“Theo Tuệ
Trung, không cần phải ăn chay, trì giới vì “ăn cỏ hay ăn thịt là tập
quán tự nhiên của mỗi loài khác nhau, cũng như xuân về thì trăm cây cỏ
nảy nở, không cái nào là tội và cái nào là phúc”. Thậm chí ông còn bảo
“trì giới và nhẫn nhục chỉ chuốc tội chứ không chuốc phúc”. Thái
độ quyết liệt này xét đến cùng nhằm đánh tan những đầu óc bảo thủ,
cố chấp thường làm con người ta trở thành kẻ nô lệ của mọi thứ
và của cả chính mình. Ở Tuệ Trung nổi bật một tinh thần “phá chấp”
triệt để. Ông cực lực đả kích cái nhìn “nhị kiến”, phân chia
mọi vật ra thành hai cực giá trị để gán cho nó một cực này hoặc cực
kia. Tuy nhiên ngài đã bí mật dặn kĩ vua: “Đừng nói
với những người không hiểu biết (vật thị phi nhân)”. Lời dạy của
ngài là chân lí, là cứu cánh, nhưng kẻ tầm thường thì không nên biết.
Vì họ biết qua lời này họ sẽ chấp. Hoà thượng Thanh Từ có
giảng trong “Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục”, [phi nhân – ct.] là “những
người tầm thường; họ không hiểu nổi những ý nghĩa thâm sâu thì
không nên nói cho họ nghe, có hại. Những câu này chỉ nói cho người
xuất cách, vượt khỏi tầm thường nghe; hạng người này mới có đủ khả
năng tiếp nhận…”. -HT. Thanh Từ,
Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục giảng giải,
Thiền viện Thường
Chiếu Việt Nam ấn hành, 1996, tr. 104; “Đói thì ăn, mệt thì ngủ Trong
nhà có của báu, đừng tìm đâu xa xôi Đứng
trước cảnh mà vô tâm thì không cần hỏi Thiền nữa..” Tinh thần bài
thơ “Cư trần lạc đạo”, cũng là tôn chỉ của Đệ nhất tổ, nằm
ở bốn điểm: Hãy nên sống
hòa mình với đời, không câu chấp. Hành động tùy duyên, tức làm việc
cần làm, đúng lúc phải làm, và không trái quy luật tự nhiên. Tự tin vào
mình, trở về khơi dậy tiềm lực của chính mình, không tìm cầu tha lực.
Ở
Tuệ Trung nổi bật một tinh thần “phá chấp” triệt để. Ông cực
lực đả kích cái nhìn “nhị kiến”, phân chia mọi vật ra thành hai cực
giá trị để gán cho nó một cực này hoặc cực kia. Theo Tuệ
Trung, sự đối lập giữa “mê” và “ngộ”, giữa “sắc” và “không”
(mê ngộ bất dị), giữa “phàm” và “thánh”, “ta” và“người”’,
“Phật và “chúng sinh”, “phải và “trái”, “tà” và Thái hậu lấy
làm lạ hỏi : “Anh tu Thiền mà ăn thịt thì thành Phật sao được ? ông
cười đáp : “Phật là Phật, anh là anh. Anh chẳng cần làm Phật, Phật cũng
chẳng cần -Tuệ Trung Thượng Sĩ với Thiền tông Việt
Nam, Viện Khoa học Xã hội, Trung tâm Nghiên cứu Hán – Nôm, Nxb. Đà Nẵng,
2000, tr. 24 – 25; http://www.thuvienhoasen.org/ac-tuetrungthuongsivaanchay.htm
“Bậc
đạo nhân chân chánh […] quyết nhiên không câu chấp vào ngoại vật, thì
trước mắt tức thì hiện chánh pháp; […] vào ba đường địa ngục như
dạo vườn cảnh; vào ngạ quỷ súc sanh mà chẳng thọ báo; vào sắc giới
chẳng bị sắc mê hoặc; vào thanh giới chẳng bị thanh mê hoặc; vào vị
giới chẳng bị vị mê hoặc; vào xúc giới chẳng bị xúc mê hoặc; vào
pháp giới chẳng bị pháp mê hoặc”. (Daisetz Teitaro Suzuki,
Thiền luận, [trích dẫn lời Lâm Tế
Nghĩa Huyền (? – 867)], quyển thượng, Trúc Thiên dịch, [luận bảy, tiết
X, “Ý thức về Thượng Đế”], Nxb.
TP.HCM. tái bản, 1992, tr. 569 – 576). “…
Cho nên học Phật là đào sâu vào kinh nghiệm tâm linh để nắm lấy nguyên
lí, để thực hiện nguyên lí và để đạt đạo. Đạt đạo rồi thì
không cần một bộ luật nào cả, không cần một sách chỉ nam nào cả,
không cần một nền luân lí nào cả. Người đạt đạo ăn ngủ là đạo,
thuyết pháp là đạo, ăn rau cũng là đạo mà ăn thịt cá cũng là đạo nữa.
Những người chưa đạt đạo thì không thể
bắt chước họ được (1)”.
“([Cước
chú (1)
của Hòa thượng Thích Nhất Hạnh: – ct.] Có một hôm Tuệ Trung Thượng
Sĩ (Trần Quốc Tảng) được thỉnh thọ
trai trong cung. Ngài gắp cả thịt cá trên bàn mà không ý thức. Hoàng hậu
em Ngài hỏi: "Anh tu mà còn ăn mặn làm sao thành Phật ?". Ngài cười
trả lời: " Phật là Phật, anh là anh, anh không cần thành ra Phật, Phật
cũng không cần thành ra anh"). (Thích
Nhất Hạnh, Đạo Phật đi vào cuộc đời,
[bài cùng tên sách], bản in lần thứ 2,
Nxb. Lá Bối, Sài Gòn, 1966, tr. 41). 5.
Đôi điều suy nghĩ của người tâm đắc Thiền học: Người sắp xếp những dòng tư liệu
trên chỉ nhấn mạnh (in đậm) một câu của Thiền sư Thích Nhất Hạnh: “Những người
chưa đạt đạo thì không thể bắt chước họ được” (sđd.). Phương pháp
truyền dạy Thiền học của các thiền sư, thường là đề xuất vấn đề
một cách rất ấn tượng, khiến người học phải động não để tự lí
giải, và nhờ đó, tiếp nhận có hiệu quả, bền vững nhất. Học tập
theo phương cách tu tập đó, tôi cũng chẳng dám lạm phép nghị luận, mặc
dù chủ kiến không thể không có. Tuy vậy, cũng
xin nêu ra một số khía cạnh đơn giản và thiết thực: a. Với chân lí
“kiến tánh thành Phật”, “Phật tại tâm”, “niết bàn tại tâm”,
Thiền học định hướng cho mỗi đạo hữu vào con đường tu tâm. Chúng
sinh là vô số và đa dạng, mỗi người một căn cơ, do đó không có hình
mẫu cụ thể nào là duy nhất, cho dù đó là Đức Phật Thích Ca. Cách nói
dữ dội có tính phá chấp, buộc phải động não ấy của thiền sư Lâm Tế
và cư sĩ Tuệ Trung Thượng Sĩ là với ý thức minh triết ấy: “Mỗi người tự thắp đuốc mà đi”,
đi trên đường Thiền trong cõi ta bà với ý thức về chân lí đạo đức
học phổ quát trong Thiền học. b. Tất cả các
pho tượng (để hướng chân tâm), kinh sách (để nghiên cứu, học tập),
nghi thức tụng niệm (để tự kỉ ám thị điều lành, tránh điều ác) đều
là phương tiện, trong khi đó, cứu cánh (mục đích cuối cùng của các mục
đích) là “kiến tánh thành Phật” – Phật với ý nghĩa nghiêm chỉnh của
danh từ là người giác ngộ bản chất của trần gian ta bà và chân lí hướng
đến. Ai cũng có thể thành Phật, như Phật Thích Ca đã nói: “Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ
thành”. c. Ngay cả ý thức
và ý chí tu trì theo các giới luật cũng chỉ là phương tiện để đạt
đạo. Tất nhiên, người ăn chay (chấm dứt cả thị dục trong ăn uống) dứt khoát phải được xếp cao hơn nhiều bậc
so với người ăn mặn. Người xuất gia, không kết hôn (khác với giới luật
Tin Lành và một vài tôn giáo khác), đã thực hiện đúng chữ “vô” một
cách nghiêm ngặt nhất, bởi lẽ, họ cần tu luyện để làm tấm gương sáng
về ý thức diệt dục và chứng minh khả năng diệt dục của sinh vật
người. Tuy nhiên, con đường xuất xử của nhà nho mà thiền sư Đan Hà,
thuở bấy giờ, nửa đường rẽ lối sang Thiền đạo, không phải là con
đường không cần thiết, thậm chí là rất cần thiết, cho con người, xã
hội và dân tộc, Đất nước. d. Trong hoài
bão của nhiều trí thức trẻ hiện nay, vốn là đạo hữu (chứ không phải
là Phật tử) của Đức Phật Thích Ca, chắc hẳn là việc xây dựng một
giáo hội Phật giáo Việt Nam đậm tính dân tộc, khoa học và hiện đại.
Định hướng khế lí (giữ vững nguyên
lí Phật pháp) và khế cơ (linh hoạt
theo sự phát triển nhận thức và công nghệ hiện đại) của họ, hẳn là
những thiền viện tối tân, đạm chứ không nồng, và Thiền học được
tu tập như một triết học thực hành, mà trong đó, đạo đức học thực
hành là chính yếu. Cuối cùng, tôi
muốn một lần nữa viết lại nhan đề của bài gom nhặt tư liệu Thiền
học này:
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com