905-gd.gif (2472 bytes)

posted: 19.9.2005

Giọt Mực, Cánh Đồng
và Vở Kịch Điên

tập thơ của Trần Xuân An

butterflies_flowers_mw.gif (8353 bytes)
1983, NGƯỜI BỊ ĐÁNH THUỐC KÍCH ĐỘNG
 
có một người điên đọc đơn trước chợ
quá lâu rồi, gã cố lãng quên
gã lãng quên cỏ cây cứ nhớ
vở kịch đớn đau đòi nhân phẩm nhân quyền
 
ôi người điên đọc thơ trước chợ
công lí ơi, kẻ giấu mặt ở đâu?
không hoang tưởng, bị nhập vai phẫn nộ
ai lập công, xô người xuống vực đau?
 
                                                        1990
 
NHỮNG SỢI THẦN KINH
 
sống không lẽ để tập lặng câm
úp mặt vào lòng tay hối tiếc
ôi những bài thơ nhạt mờ xa xăm -
thời cường tráng của tâm hồn - đã mất
trót lãng phí mình bao năm!
                                    lãng phí đau xót!
thơ bây giờ không thể tự in
                        cũng không thể tự hát
đành tự cấm mình, bao lần phải tự cấm mình
rồi vẫn viết với nỗi bệnh của mình
khi mình thật với mình, rất thật
thơ chỉ đọc thầm và cất
trang giấy lại mong manh!
nhưng không viết thì khác gì đã chết,
                                                đau hơn cái chết
 
úp mặt trong niềm hối tiếc
hai bàn tay lạnh buốt
dòng thơ trào ra cuốn chặt trái tim
- những sợi chất đời
những sợi thần kinh - thắt siết
nỗi đau của người câm!
nỗi đau trang bản thảo mong manh!
 
                                           28.10.1988
  
THƠ VÀ LỬA
 
những bài thơ đã cháy hết hình hài
còn bốc lên lả tả bao mảnh hồn
                                                trong trí nhớ
ôi ngọn lửa trưa nào! Thơ cháy bùng
                                                lửa đỏ
mãi rát bỏng trong đầu nỗi mất mát.
                                                Xót xa
thơ là lòng ta, lửa cũng lòng ta
lòng ta cái còn cũng lòng ta cái mất
chẳng hối tiếc đừng hối tiếc!?
ta đánh đổi đời mình cho ngọn bút
ngọn lửa bùng lên sao gọi đóa hoa?
 
                                          09.11.1988
 
ĐỪNG LO CHO CON MẸ ƠI
 
quét vôi là xong rồi mẹ
ngôi nhà đã sáng sủa ra
tiền chị gửi về chỉ thế
đủ yên ấm mẹ tuổi già
đừng lo cho con còn trẻ
còn lo miếng ăn thôi mà!
không lo hoàng hôn xiêu xế
lo chi hừng đông lụi tà!
 
                                06.02.87
                        (mùng 7 Tết Đinh Mão)
 
THƠ BỐN NHÁNH CHỮ
 
I. XA LẠ VỚI CHÍNH MÌNH
 
            lạc nước trở về sợ hãi chính mình
            nằm trên cỗ súng thần công thời mượn chữ
            thây mặc cái ngoại lai của những triều vua,
                                    bé bỏng ơi,
                                    can cớ chi trĩu đầu, cúi rũ
            thương em biết tự nhìn soi,
                                    xoáy buốt ngực buồn.
 
II. TÌNH NGÂY NGÔ NON YỂU
 
            áo lụa trắng màu tang
            tìm chi trong chiều úa
            tuổi học trò góa bụa
            chết nụ hôn vội vàng!
 
III. MỞ CỬA
 
            kính chào mái tóc xoăn phai vàng trắng
            chùm đảo bần quân mắt xếch ruột rà
            siết tay-cầm-súng-mà-quyền-lực-bắn
            đây, cái nhìn thù - bạn, nghìn xưa xa.
                                               
IV. ''ĐOẠN ĐƯỜNG KHÔNG VUI''
 
            lại đường máu kinh hoàng đan đạn chéo
            trảng huyết, lửa xe bùng xác đỏ lềnh trôi
            giặc cút rồi,
                        phủ màu xanh hai mươi năm bão cát
            phế liệu
                        thực dân, mê tín
                        đế quốc, bá quyền
                        còn nổ nát thơ tôi!
 
V. NHỮNG ĐẦY TỚ CỦA NHIỀU NGƯỜI CÒN NGHÈO
 
            giấc mộng tưởng: đẹp cánh tay búa xẻng
            vua quan nhiệm kì, tinh mộc, thân gần
            mệ nường đến lớp áo sờn bạc nhất
            khổ cùng trương chi để biết thương dân.
 
VI. HÍT-LE (*) VÀ TÔN GIÁO
 
            máu quét công lí
            quốc trưởng vung tràn
            chúa trong bẫy quỉ
            phật chết tam quan!
 
                                         1995
(*) Hitler.
 
TỰ AN ỦI
 
mơ gì đâu! sống cuộc đời yên ả
như loài sầu đâu mọc khắp quê nhà
cứ lặng lẽ ra hoa và thay lá
lá hóa đất đai, hoa thoảng thơ ca
cứ đậu quả dù không ai hái quả
gợi cho đời một nét đẹp thôi mà!
sầu đâu vậy hỡi nhà thơ dân dã
chẳng sầu đâu! chẳng sầu đâu!
sầu đâu nào? rất yên tĩnh lòng ta!
 
                                        11.11.1988
 
TỈNH GIẤC
 
I. THẦN TƯỢNG SỤP ĐỔ
 
rất nhiều đêm, ảo vọng bừng tỉnh giấc
ngày gắng lãng quên, đêm biết làm sao!
trăm kẽ nứt len nghìn năm huyền hoặc
buồn hay vui, nước mắt cũng tuôn trào.
 
                                                03 - 06.11.1988
 
II. THẦN THÁNH TỰ PHÊ
 
khiến dựng tượng mình
khắp trời mê muội
đày đọa sinh linh
sương tên bụi tuổi!
 
                                    1995
 
ĐÊM NHÌN LẠI
 
đêm, chợt nhìn hai tay, trắng rợn
ôi thơ - chứa trong tim, cháy nồng
thời thế thêm buồn cho chí lớn
chút tài năng, có vẫn thua không!
 
                                15 - 17.02.89
                                (10 - 12 Kỉ tị)
 
HƯƠNG MÙA CỔ NGÀY XUÂN MỚI
 
CÂU ĐỐI
 
hương xuân trời đất trên hoa lá
ý tết nhân gian ở nụ cười.
 
                                    (Tết Đinh Mão 1987)
 
cuối chạp đã thật xuân, tiếng cháu giục
                                                hoa xuân sớm thắm
qua xuân càng rõ tết, lòng nội bừng
                                                nắng tết không phai.
 
chào đinh mão, cũng muốn viết dăm bài thơ,
                        ngại thơ ''bệnh'', báo không đăng,
                        đọc một mình ngán thật
đón mậu thìn, thôi thì làm vài câu đối,
                        mặc đối ''xoàng'', tường cứ dán,
                        nghe trăm bạn cười chơi.
 
nâng chén rượu ngẫm xuân
xuân phải mới bung ra muôn lá mới
nhấp ngụm trà thưởng tết
tết nên thơ cởi trói triệu niềm thơ.
 
chồng quanh năm gò lưng vắt sổ
nhà giăng tơ
gió may thay nam bấc mãi êm đềm
vợ gối mùa ngẩng mặt treo hàng
vải nở hoa
chỉ ước sao sen đào thêm ngan ngát.
 
tết đến
ước tháng ba mươi ngày
bán bán mua mua
mua thừa rau đủ báo
xuân về
mong năm mười hai tháng
may may mặc mặc
mặc ấm áo lành thơ
 
                                    (Tết Mậu thìn 1988)
 
xuân càng ước chi đây
cho nhánh lúa ngát hương tình đất
tết thêm mơ gì đó
để cụm hoa rực nắng chất người
                                   
                                    (Tết Canh ngọ 1990)
 
muốn hóa rồng rồng bay
đã tháo xiềng cởi trói?
cam làm ngựa ngựa chạy
lại che mắt cầm cương?
 
                                    (Tết Canh ngọ 1990)
 
CHÂN DUNG MỘT GÃ LÀM THƠ
 
bao bài thơ khi đem ghép lại
- những mảnh đời ta - thành chuyện đời ta?
và khoảng trống, khoảng trống còn trống mãi?
con ơi con, xin gắng hiểu giùm ba.
 
                                                    kỉ niệm sinh nhật: 10.11
                                                       11.11.1988
 
PHO TƯỢNG NGƯỜI CON GÁI
CÓ TÊN PHAN THIẾT...
 
nắng lay Phan Thiết man mát gió
ta lâng lâng chiều man dại vàng
hương biển chừng mơn man tóc xõa
bồng bềnh không rượu cũng man man
 
không ngờ say Phan Thiết ngồ ngộ
chờ bạn tan trường, ta ngớ ngây
men nhấp thuở xưa giờ dịu bốc
sóng vỗ hay ta vỗ cánh bay
 
(hồi xế giả khùng bên gốc liễu
quán giữa mây sóng trắng vang giòn
hoa mặt trời đen, lụa nhật thực
bấm ngực đêm dấu móng tay son
 
tiếc ngày-tối-đang-trưa ta vắng
thì lếch thếch mộng du rảo đời
sách với vở, sá gì sách vở?!
tìm Kiều gặp Thúc, Từ, đành thôi)
 
Phan Thiết da ngăm ngăm mê hoặc
nét hiền Kinh thoáng lắng trầm Chăm
lóng rày đổ đốn ngậm ngãi, đắng:
ngắm pho tượng biển, đớ lưỡi, câm
 
ta lấm lem em trong văn vắt
quý Phan Thiết kính cúi đầu chào
thoáng nọ vờ điên buồn muốn khóc
nhưng thương sen nỡ lánh bùn sao!
 
(kêu đứt ruột? Kiều dâm? đáng kiếp (*)
xé Nguyễn Du nhuộm phẩm đem phơi
ngắt khúc cọng sen làm thuốc súng
pháo thăng thiên, đốt, mưa tro rơi?
 
sống trên đất ta quên bụi đất
lầm lội tận cùng, Phan Thiết ơi...
viết, đọc - sám  hối. Còn phạm tội!?
trong mỗi người có một khách chơi?!)
 
lang thang tàn tàn xộc xệch chạy
cọc cạch xe máy phố heo may
bạn đón, qua cầu, ròng nước mặn
ta khô lòng, soi mặt đâu đây?
 
                                            1995
 
 (*) Nguyễn Công Trứ kết án Kiều.
 
TRUYỆN VỀ KIỀU KHÔNG PHẢI KIỀU
                       
                                         giá như Kiều có một đứa con
                        có lẽ tâm hồn chúng mình bây giờ đã khác
                                                               (T.X.A.)
 
1
tóc đen, ngời, ngát, thơm rơm
hương sả lâng trong chiều hôm sẫm chiều
em bồng em, ru niềm Kiều
đi quanh sân lúa gầy xiêu bó gầy
 
2
nhuộm hoe khô vàng tóc bay
em mi xanh, ngực áo bày khoe non
môi mơn man tuổi-hoàng-hôn!
nhạc chếnh choáng, khách-trẻ-con hát chờ!
 
3
xác xơ tóc rụng lơ thơ
xỉn da em, rựng mắt ngơ phèn ngầu
vẳng tiếng lớp may rừng sâu
sắn, sắn ngút, rào lút đầu bủa quanh
 
4
sa bẫy nợ, mộ lạnh tanh
kho lưu sổ đọa ai đành tự biên!
em nghe se sua giấy tiền
bóng ma hào nhoáng gió nghiêng cột kèo!
 
5
huyền tóc giả hồng bủng beo
khách lùa cha ngã kiếp nghèo vào men
ruột rà van nhau nguôi quên!
em lộng lẫy vi vút bên tấm chồng!
 
6
thương Kiều bợt trắng tay không
tắc tiếng oan, nghẹn, gãy cong cờ Từ
nhưng em, còn chăng hình như
mơ đổi đời với giấc hư, mộng liều!
 
7
buôn quê kiểng, cả tình yêu?
thiệp rao lừng, chói phù điêu phòng trà
đâu ngờ, khung báo (xót xa!)
tạc bia đời. Bước khỏi nhà, sạch tay!
 
8
mặn mồ hôi thoảng nồng cay
tóc tràn sóng biển, mượt dày, lài trôi
em ru Kiều cho con côi
ngấm ơn mái rạ thấm lời Vân Tiên...
 
                                                               1996
 
NHỮNG VƯỜN TRẦU CAU
NHỮNG CÁNH RỪNG CAO SU
 
I
đá tảng trơ vơ xứ lạ
bờ sông xao xác mịt mùng
 
cau gầy vói trông mấy nẻo
gió hỡi về đâu chập chùng
 
hơi cây dây trầu quấn quít
linh cảm khói sương mung lung
 
quả cau rưng rưng con mắt
vôi nồng tâm trắng, lửa nung
 
cay cay hình tim dáng lá
nghĩa thơm tình ngát trinh trung
 
đời đời thiêng liêng máu thắm
say say hồn thơ vua Hùng
 
II
vấn vít quanh thân - dấu khấc
hóa một, cao su điệp trùng
 
mang cái chết màu tang trắng
của chất đá trắng tận cùng
 
máu đỏ buồn đau trắng máu
nghĩa sinh đôi, máu không ngưng!
 
như dáng mẹ ngồi, bú mớm
bát cơm bầu sữa nào lưng
 
ngỡ sống lại tình máu mủ
xanh, cao su xanh lạ lùng!
 
trầu lặn vào cây còn vết
muối biển trắng giọt chưa ngừng
 
thắm hòa xưa ba thân phận
cao su nhập một, thành rừng
 
thanh kẹo Trầu Cau ngát quyện
mặn hương, ngọt giọng hương gừng
 
hồn xưa xưa sau thi sĩ
cho loài người tứ thơ chung.
 
                                                  1993
TẤM LÒNG
 
bất ngờ trước những tứ thơ
những trang văn, vẫn có ngờ được đâu!
 
bàn tay tìm đến nỗi đau
trái tim nghe tận nguồn sâu mạch đời
 
chút tình rộng mở đến tôi
cái nhìn gắng trải khắp trời nắng, mưa
 
bao điều đã viết và chưa
cơ hồ thấm thía như vừa đọc xong
 
văn chương tự những tấm lòng
mãi trong veo mãi ngát dòng Sông Hương
 
các anh vào, nắng vườn dương
cứ bâng khuâng ở bên đường làng quê
 
tôi ngồi đến cạn đèn mê
mảnh trăng vằng vặc lại về trong tôi.
 
                                                 1985
 
VỚI NHỮNG NGƯỜI BẠN BÔNG ĐÙA
BÊN HỒ HOÀN KIẾM
 
hồ tỏa khói mờ, trời xuống mây mơ
ngàn cánh nắng mai đậu trên Thê Húc (1)
em là trăng, nên ngày không còn thực
rất hoa đào, thắp ấm một hừng đông
 
ngỡ em quan họ tung lụa cầu vồng
hay từ tay áo nâu sồng màu đất
lược cài tuổi thơ tươi son em cất
tự tiền kiếp nào, hóa Thê Húc xinh
 
em, con ngỗng trời huyền sử lung linh
bỗng bay bên vai, trắng ngần Hà Nội
tôi mặc áo the, đội khăn, tóc bối
guốc mộc bước qua, ngắm truyền thuyết xưa
 
lẫy nỏ Rùa Vàng, tên bắn như mưa
triệu tia mặt trời gãy trong làn nước...
khi chụp ảnh với Thánh Trần, mắt ngước (2)
thấy gươm thần thành Tháp Bút, ngút trời
 
thi sĩ bông lơn đồng bóng giữa đời
nhặt lá bồ đề, ép tim vào sách
nửa thành Đài Nghiên - cái tâm hóa thạch
nửa hóa Rùa Vàng - chút tình thành kinh
 
yêu các em như trời đất, thất tình
đáng đời chăng, kẻ chỉ mê tín sắc
ơi ni cô đẹp nét không thơ Phật
ơi trăng ơi đào, ngỗng trời yêu ơi...
 
                                      Hà Nội, 02.03.1997
                                      Tp. HCM., 12.03.1997
 
1. Thê Húc: nắng ban mai đậu lại.
2. Đền thờ Trần Hưng Đạo (Đức Thánh Trần) ngay trong chùa Ngọc Sơn.
 
NGẪM KHỔ ĐẾ (1), TẢN MẠN NIỀM VIỄN TƯỞNG
QUANH CHÙA MỘT CỘT
 
ni cô cùng anh rong chơi
thăm chùa xưa - đóa sen đời sắc nâu
vuông hồ gói cả trời sâu
hay khăn lụa biếc óng màu chép kinh?
đọc từng hoa súng, giật mình
chùa này, bóng ảo của xinh xắn này?
 
nâu sồng ơi, nghìn xưa đây
khói hương là thoáng sương bay hương đồng
 
cửa không, thơ-không-hư-không
dáng chùa, ngọn đuốc tỏa hồng lửa thiêng
 
nhớ xưa, một nụ hôn thiền
ấm phương nam ngưỡng vọng miền tâm linh
 
hoa súng ơi, anh đa tình
nhìn đâu cũng thấy lung linh hoa đầy
 
ngỡ bừng đuốc tuệ đêm ngày
thôi hiểu nhầm quả đất này: trần gian
địa ngục? cũng thành niết bàn
khi hai tay khỏe tưởng ngàn cánh tay
cõi người viễn tưởng, hồn chay
với Tự Nhiên, ta hết giày vò ta
 
cùng ni cô giữa ta bà
tâm đau khổ đế, la đà buồn ai (1)...
 
tự thưa, tên kẻ khổ sai:
một mái nhà và chẳng hai bạn tình (2)
 
cô em ni cô hát kinh...
quanh chùa Một Cột gặp mình đang bay
 
phật đày thương chăng phàm đày (3)
hạnh bồ tát tu trong cay đắng đời
 
người bóc người, đỏ mồ hôi
tình lột tình, gió tình ơi, héo tình!
vấp chân ngọn cỏ sơ sinh
giẫm dăm chú kiến, giật mình. Cứ đi!
về thôi, bông súng từ bi
anh còn cày ruộng xanh rì trang thơ
 
địa ngục? Ừ. Yêu ngẩn ngơ
lúa thơm vào áo, gạo no tâm hồn
 
 cõi người viễn tưởng, yêu hơn
cũng là quả đất đầy tròn dưới chân
 
mộng mơ thơ biếc bạt ngàn
nai nhà rộng trảng ngựa hoang quên rừng
 
vẽ vời cùng cô em cưng
nông trang chùa dựng nâu cùng dáng em
 
búp nâu nở một cánh mềm:
ngôi chùa hoa súng ngày đêm một người
mặn mà mắt mặn môi tươi
phật yêu dấu là tiếng cười anh thương (3)
chùa trong anh, đi muôn đường
chùa em, hoài ghé nghe chuông, xanh đời.
 
                                                Hà Nội, 03.03.1997
                                                Tp. HCM., 13.03.1997
 
1. Khổ đế (một trong tứ diệu đế Phật Giáo): nguyên nhân khổ đau, 
trong đó có tư hữu.
2. An, theo chữ Hán, tượng hình: một người nữ dưới một mái nhà.
3. Phật (buddha), chữ Phạn: người giác ngộ chân lí ngay trong đời sống,
dù là đời sống phàm tục.
 
VU VƠ CHIỀU VĂN MIẾU,
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGHÌN XƯA
 
                                                Thiên hà ngôn tai!
                                                (Trời có nói gì đâu!)
                                                            Khổng Tử,
                                         ''NGƯỜI THẦY GIÁO CỦA VẠN ĐỜI''
1.
cô nàng mặc áo tứ thân
từ nghìn xưa đến hát gần bên tôi
điện thờ, thầy Khổng sững ngồi
nhập thân tình tứ chọn lời Kinh Thi? (1)
 
thưa em, duyên yêu là chi
râu nghiêm bạc, úa tim si thánh hiền
 
đâu vô danh vô vi thiền
đây bia chất xám, niềm riêng chói trời
giọng ca như rượu chuốc mời
em quan họ khảm vào đời ảnh em!
 
2.
tôi quỳ bên vuông cỏ mềm
chớp phim bè bạn, gió thêm rối bời
soi tôi xuống nước, nhìn tôi
mỗi bọt chữ mỗi lả lơi ỡm ờ!
 
vì đời, thầy Khổng tìm thơ
ngọt nồng em hát thực mơ, dâng đời
 
tiếng thơm, thơm cho nơi nơi...
(vẫn thương kính Lão tuyệt vời, quên danh
Gióng vô danh hóa Trời Xanh (2)
nghìn sau nhang khói vờn quanh tâm hình!)
 
3.
rùa thiêng, biểu tượng thần linh?
bia tên tuổi trĩu dân mình, bước lê?
lưng rùa, dựng sách tỉnh - mê
mê, bành trướng, mê, a ê bao đời! (3)
 
(như Thánh Kinh vút trùng khơi
da dê mục chữ nhầm lời, buồn không!)
 
một thẻ tre cách điệu xong
mai rùa một mảnh - mênh mông: bia ngời...
''đàn bà khó dạy''?! ấy ơi (4)
tôi nhạt đạo, ngoại đạo rồi, thưa em
 
4.
tháng giêng Văn Miếu, bên thềm
ngắm nàng đàn trong êm đềm chiều xanh...
thầy Chu An ngát hương thành...
yêu là Đạo? tôi tập tành trăm năm
 
ngài ơi, công nghệ lú câm
giàu nhân nghĩa sao âm thầm rạ rơm?
 
cái danh cái lợi - cái hòm?
cái tình, và cái lom khom rạp mình!
... tâm linh - ơn dựng miếu đình
tâm hồn, ngài hỡi - môi xinh í ời
 
5.
tôi về gò Đống Đa thôi
thắng Tàu, bởi học, vượt lời Tàu xưa!
 
Hà Nội, 02.03.1997
             Tp. HCM., 14.03.1997
 
1. Ở đây, chỉ chú trọng mảng đề tài lớn nhất trong Kinh Thi: yêu đương (phần Quốc phong).
2. Lão: ông già. Gióng: (tên làng). Thánh Gióng là biểu tượng Chiến sĩ Vô danh.
3. Phần hạn chế trong Kinh Thi (chủ yếu trong Tiểu Nhã, Đại Nhã, Tụng). Kinh Thi chỉ là một trong chín pho sách kinh điển của Khổng giáo. Cả chín pho đều bị mất mát ít nhiều, lại bị lắp ghép, xuyên tạc, thêm bớt.
4. Quan điểm của Khổng giáo về phụ nữ.
 
QUẢNG TRỊ, TRĂNG BÀU VỊT
 
trăng, anh đã tuổi năm mươi
đôi tay sần chai kềm búa
đang say khướt thơ
hồn ngất ngưởng trên từng câu chữ
 
trăng, anh hớt tóc cạo râu
                                    quán dựng ngã tư đường
thơ xoáy buốt
tuôn tràn
sóng vỗ vào chân, giả
 
trăng, anh tơ vò thế cuộc đảo điên
khổ đau và kinh sợ
phó thợ may ngày ngày vắt sổ
khát thèm như đêm nay sống thật cùng thơ
 
trăng, giọng hát kia nồng ấm không ngờ
ơi nhân sĩ làng quê họ mạc
đau đớn mười lăm năm
                        còn xa quá bến Tiền Đường
thơ nương thân vào ông chủ bác tài
                                                            xe khách
 
trăng, anh thầy thuốc tây búng đàn
môi run thầm thì từng nốt nhạc
trăng, anh thầy thuốc bắc
                                    tóc thả bềnh bồng
hồn lãng tử
                        giọng ngâm mượt mà da diết
                                                            mông lung
 
trăng, tạm lãng quên lãng quên
                                    bao điều khô quắt
hai anh giáo văn chương đêm nay,
                                                say, say nồng
say thật
thơ hơn
 
trăng, ơi nghiệm số trái tim
anh dạy toán chẳng cách nào tìm được
đến cùng thơ và nhạc
lung linh, chỉ thấy trong lung linh
 
tôi tách khỏi tôi đang giữa chúng mình
trăng, bàu nước tre pheo
                                    ngát đêm dân dã
quê hương quê hương trăng trăng trăng trăng
tôi vẽ bằng thơ chân dung Quảng Trị.
 
                                                                01.01.1991
 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Copyright web Giao Điểm. Thư từ, bài vở xin gởi về: giaodiem@giaodiem.com