ĐÔNG LA
Tôi muốn viết
tên nhà triết học, nhà cách mạng vô sản là Các Mác, cách phiên âm của
nước Việt Nam XHCN, nơi tôi đã sống trọn nửa thế kỷ, cho đúng với
ngôn ngữ chính trị của một chế độ mà mỗi bước đi đã được chiếu
sáng bởi tư tưởng ông, cái ánh sáng mà một nửa nhân loại (áng chừng)
coi là ánh đuốc dẫn đến thiên đường; còn một nửa kia coi là ánh lửa
hung bạo dẫn xuống địa ngục! Tôi cũng dựa
vào tên bài hát Bác Hồ - một tình yêu bao
la của Thuận Yến để đặt tên cho bài viết, bởi tôi nhận thấy cặp
“thầy trò” này; ngoài điểm khác biệt: người thì có tinh thần quốc
tế vô sản người thì chỉ muốn “được việc” cho dân tộc mình; nhưng
cả hai đều có cái chung, đó chính là tinh thần nhân đạo - một tình
yêu bao la đối với con người! Viết vậy,
có lẽ tôi sẽ gây ra nhiều ngạc nhiên khi nửa nhân loại chống đối từng
cho Các Mác là “một kẻ nổi loạn”,
thậm chí nhiều người còn cho là “tên tội
phạm của lịch sử”; còn cái nửa tôn thờ giờ cũng có nhiều người
tỏ ra thức thời từ bỏ ông, một số còn phủ nhận và chống đối
ông. Nhưng tôi vốn là người luôn suy nghĩ độc lập, chủ nghĩa tôi theo
là chủ nghĩa khoa học, nên trước vô vàn ý kiến về Mác, tôi vẫn muốn
viết đôi điều, dù hiểu rằng, có được ý kiến riêng thực sự là một
thách thức trí tuệ. Và, tôi chấp nhận cái thách thức ấy!
Mấy năm gần đây, nhờ có internet, tôi mới có thể biết được nhiều
thông tin mà trước đây nếu có thì chỉ là loáng thoáng theo kiểu “nghe
hơi nồi chõ”. Lúc đầu có thể nói là kinh ngạc, nhưng trái lại với một
số người, thường chuyển từ cực này sang cực khác, biết được nhiều
chuyện nhưng nhận thức của tôi về những vấn đề cơ bản vẫn không
thay đổi nhiều, thậm chí có những vấn đề lại có cơ sở để khẳng
định vững chắc hơn. Bài này tôi muốn viết
về chủ nghĩa Mác, cái ý thức hệ đã và đang quyết định bước đi của
đất nước ta, cái điều mà một số người muốn thể hiện quan điểm của
mình đã phải khốn đốn. Gần đây nhất lại thêm nhà văn trẻ Đỗ Hoàng
Diệu, viết truyện Vu quy, đã văn học
hóa những chính kiến của nhiều thế hệ (nếu tính tuổi thì lớp đầu
ngang với ông nội cô), mà những người chống chế độ gọi là “những
chiến sĩ đấu tranh cho dân chủ” như: Hoàng Minh Chính, Nguyễn Thanh Giang,
Bùi Tín, Nguyễn Minh Cần, Dương Thu Hương, Hà Sĩ Phu, Lữ Phương v.v... Bắt
đầu là xu hướng theo chủ nghĩa xét lại
(revisionism) với tư tưởng đặt nhẹ đấu tranh giai cấp và giải phóng
dân tộc; rồi đến việc phủ nhận một phần; và cuối cùng là phủ
nhận toàn phần chủ nghĩa Mác. Nhưng chủ
nghĩa Mác khởi thủy lại là một chủ nghĩa nhân đạo, nó chính là cái
quy trình cách mạng nhằm xóa bỏ sự thống trị, bóc lột để mang lại công
bằng và hạnh phúc cho toàn thể loài người; một điều tốt đẹp thế
sao lại bị phủ nhận?! Theo tôi, có như vậy, có lẽ bởi lịch sử triển
khai cái quy trình trên vào thực tiễn chính là lịch sử làm sai lạc, thậm
chí làm ngược với tinh thần nhân đạo của Các Mác; do người ta hiểu
chưa rõ, hiểu sai, từ những khái niệm đến những nguyên lý cơ bản
trong lý luận của ông.
Thứ nhất là chủ nghĩa giáo điều, với tư tưởng sùng bái cá nhân phi
khoa học, người ta đã biến Mác thành thánh sống, coi mỗi câu chữ của
ông là khuôn vàng thước ngọc, trong khi thực chất Mác chỉ viết ra những
điều chung nhất, mà lại về cách mạng xã hội, cái quy trình có tính bao
quát vô cùng lớn, phụ thuộc vô vàn các điều kiện; không giống như những
quy trình công nghệ với những thông số cụ thể. Nên áp dụng những
nguyên lý của Mác là phải hết sức mềm dẻo và luôn có sự thay đổi
cho thích ứng như chính bản thân Mác và Ăngghen, trong lời tựa viết cho bản
tiếng Đức Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản
xuất bản năm 1872, đã viết: “việc áp dụng
những nguyên lý... cũng phải tùy theo hoàn cảnh lịch sử”, rồi “không nên quá câu nệ vào những biện pháp
cách mạng nêu ra... ngày nay mà viết lại... cũng phải viết khác đi”.(Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Nxb Chính trị quốc gia 1998, trang 9). Trong quá
khứ ta thấy có chuyện, khi người có ý thay đổi Mác mà không thuộc phe
nắm quyền sẽ bị cho là “xét lại”, phản động; còn nếu thuộc phe nắm
quyền sẽ được coi là đóng góp, vận dụng sáng tạo. Nhưng nói chung, mọi
thay đổi nếu theo đúng tinh thần nhân đạo, vì lợi ích cách mạng, vì
dân, phù hợp với quy luật chung, sẽ mang lại sự phát triển và tiến bộ,
như Lê Nin đã cho Cách mạng XHCN không chỉ thành công ở quy mô toàn cầu
khi chủ nghĩa tư bản phát triển đến giai đoạn cực mâu thuẫn, mà có
thể thành công tại một nước tư bản kém phát triển là Nga; và khi
giành được chính quyền, ông cũng đã đưa Kế hoạch Kinh tế mới (НЭП
- Новый экономический план) (chính
là nền kinh tế thị trường theo định
hướng XHCN bây giờ) đầy tính sáng tạo, mà có những học giả tư sản
nói rằng, phe xã hội chủ nghĩa cứ vận dụng đến giờ thì không biết
sẽ phát triển đến đâu rồi! Điều
thứ hai. Cũng trong “Tuyên ngôn” Mác
và Ăngghen viết: “Trong tất cả các giai cấp
hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản
là giai cấp thực sự cách mạng” (tr. 97, sđd); và theo hai ông: “Bác sĩ, luật gia, tu sĩ, thi sĩ, bác học đều
bị giai cấp tư sản biến thành những người làm thuê”(tr.74, nt); rồi:
“Từng bộ phận trọn vẹn của giai cấp
thống trị bị sự tiến bộ của công nghiệp đẩy vào hàng ngũ giai cấp
vô sản... Những bộ phận ấy cũng đem lại cho giai cấp vô sản nhiều
tri thức” (tr.95-96, nt). Như vậy, tầng lớp trí thức và tư sản tiến
bộ cũng thuộc “giai cấp thực sự cách mạng”.
Hơn nữa với chú thích của Ăngghen “Giai
cấp vô sản là giai cấp những công nhân làm thuê hiện đại”(tr.65,
nt), vậy khái niệm “giai cấp công nhân”
với ý nghĩa triết học Mác chính là “giai
cấp làm thuê hiện đại”, bao gồm tất cả những tầng lớp bị bóc
lột, bị trị, bị vô sản hóa, cả những tư sản tiến bộ, chứ không
chỉ trơ trụi là những người công nhân đứng máy, những người hoạt
động cơ bắp. Chính vì không hiểu điều này nên những người chống đối
cho Mác sai khi đề cao sức mạnh cơ bắp, cho những người “ngu si tứ chi
phát triển” làm sao mà lại “tiên phong”, lại lãnh đạo cả những tầng
lớp có “đầu óc” được. Còn trong quá trình cách mạng, khi giới hạn
ngoại diên khái niệm và “nghĩa đen hóa” ý nghĩa “giai cấp công nhân”
chỉ là những người đứng máy như thế, người ta đã đưa ra những chủ
trương phản Mác, đã gây ra bao tai họa, loại bỏ, kìm hãm bao người vô
sản chân chính, những trí thức ưu tú, những nhà tư sản, những địa chủ
yêu cách mạng; đã đưa ra những chính sách quái gở, thực hiện cái khẩu
hiệu “vơ đũa cả nắm” lầm lạc và phi nhân “trí, phú, địa, hào - đào tận gốc, trốc
tận rễ!”, thực hiện cái “chủ nghĩa thành phần, chủ nghĩa lý lịch”
kỳ lạ làm khốn đốn bao người thuộc tầng lớp trên, giàu tri thức hoạt
động cách mạng, kìm hãm và kéo lùi lại biết bao sự phát triển. Cải
cách ruộng đất ở ta cũng chính là một hậu quả của sự sai lầm trên.
Một điều kỳ lạ là khi thực hiện những chính sách này, sao người ta
không chịu hiểu chính Mác là trí thức, môt tiến sĩ triết học, Ăngghen
là con tư sản, Bác Hồ là con quan lại và Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng
là một giáo viên... Điều
thứ ba, cái xương sống của chủ nghĩa Mác: tư tưởng “đấu tranh giai cấp”. Trong lịch sử áp dụng
nó, những người vô sản đã mang lại những thành quả rất lớn lao nhưng
cũng không ít điều tệ hại. Nó cũng chính là vấn đề bị những học
giả tư sản và những người chống đối phê phán nhiều nhất, thậm chí
nhiều người còn cho Mác là một tội phạm hiếu chiến, kích động bạo
loạn. Có như vậy tôi nhận thấy là do người ta đã vận dụng sai và hiểu
chưa chính xác tư tưởng của Mác. Cũng
trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”,
Mác và Ăngghen viết: “Đặc trưng của chủ
nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ chế độ sở hữu nói chung, mà là
xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản...là biểu hiện cuối cùng và đầy đủ
nhất... trên cơ sở những người này bóc lột những người kia”
(tr.107, nt); “Chủ nghĩa cộng sản không tước
bỏ của ai cái khả năng chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ
nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch
lao động của người khác”(tr.114, nt), rồi: “Cái sở hữu làm ra, kiếm được một cách lương
thiện... chúng tôi có cần gì phải xóa bỏ cái đó”(tr.108, nt). Như vậy,
nội hàm chính của khái niệm “đấu tranh
giai cấp” chính là “tước bỏ quyền
dùng sự chiếm hữu để nô dịch người khác”, “Lật đổ sự thống trị”, xóa bỏ chế
độ “Người bóc lột người”. Nhưng
trong thực tiễn vô vàn trường hợp người ta đã không chỉ tước “quyền sở hữu” mà còn tước cả “sinh mạng sở hữu”, lẽ ra chỉ đấu
tranh với sự bóc lột, bất công, người ta đã đấu tranh với tất những
gì thể hiện sự sung túc, phê phán tất cả những gì sang trọng, văn
minh, cho là biểu hiện của lối sống xa hoa, phù phiếm, trụy lạc tiểu tư
sản và tư sản; đề cao cái dân giã,
thô mộc, đơn sơ, nghèo khó. Về điều này tôi đã phải làm hai câu thơ:
“Ôi đất nước có thời sao ai ai cũng sợ
sự giàu có/ Nên cái nghèo từng là vết son trang điểm trang lý lịch của
con”. (Bài Ơi đất nước mang hình dấu
hỏi?)”. Tệ hại hơn nữa, có những cá nhân nhiều tham vọng khi nắm
được quyền lực đã dựa vào tư tưởng đấu tranh giai cấp, vào đủ thứ “tính đảng”, “tính giai cấp”, “tính
quần chúng”... đấu tranh với chính đồng chí mình, triệt hạ những người
không cùng cánh, giành trọn và giữ vững quyền lực; từ đó sinh ra tệ
sùng bái cá nhân, để rồi từ việc lật đổ sự thống trị cũ lại thiết
lập một sự thống trị mới, chuyên quyền và tàn ác hơn, đi ngược lại
hoàn toàn tinh thần nhân đạo và tiến bộ của chủ nghĩa Mác, vì mình,
vì băng nhóm mình chứ không vì cách mạng, vì dân; từng gây ra tai họa khủng
khiếp cho cả một đất nước như những sự thanh trừng ở Liên xô cũ, Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc. Về điều
này, không kể những người chống Mác ở “phía bên kia”, mà ngay cả một
số nhân vật từng là tín đồ của Mác, được đào tạo cơ bản, được
giao những trọng trách, từ việc thể hiện quan điểm, góp ý, đến đi
ngược với xu thế chung, đã bị thất sủng, bị chế độ lên án, bị quản
chế, thậm chí bị tù tội... mà phải đến tận hôm nay, nhờ internet, nhiều
người mới biết cụ thể những chính kiến của các vị qua những trang
viết cụ thể. Muốn đánh giá tinh thần “xét lại”, “chống đối”
đó đúng hay sai, hành động đó vì dân, vì nước hay vì cái tôi, và những
cái tôi đó có thực sự siêu vĩ đại không (vì họ phê phán, phủ nhận
toàn những nhân vật mà chế độ hiện thời đều cho là vĩ nhân cả như:
Các Mác, Lê Nin, Bác Hồ...) đầu tiên phải dựa trên dòng chảy liên tục
của lịch sử, xem trên cái dòng ấy, ý thức hệ được tiếp thu rồi dẫn
dắt đất nước như thế nào, tới hòa bình hạnh phúc hay bạo loạn và bất
hạnh? Trước hết, có một sự thực khách quan, dù phía này hay phía kia buộc
phải công nhận: Từ khi Bác Hồ đọc Tuyên
ngôn thành lập nước Việt Nam mới, 2-9-1945, nước ta mới bắt đầu có
lại chính thể, có người lãnh đạo, sau bao năm: nước thì bị mất, vua
thì bị đi đầy, dân thì không phải được sống trong “thế giới tự
do” như giờ mà là dưới sự thống trị của một chủ nghĩa thực dân
nguyên chất, với đầy đủ những thuộc tính: áp bức, bóc lột, tù đầy
của nó. Những chủ nhân muốn đuổi kẻ cướp nước mình, khi bị bắt,
thì bị xâu dây thép vào tay như người ta xiên cá, và cuối cùng là hàng
mấy triệu người chết đói... Vậy chính Bác Hồ cùng Đảng cộng sản
đã tiếp nối truyền thống của Đinh Bộ Lĩnh, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt,
Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung... giành lại đất nước
từ tay bọn xâm lược chứ không phải ai hay bất cứ một thế lực nào
khác. Còn theo như một số người nói: Cuộc cách mạng giành độc lập,
theo luật pháp quốc tế, chỉ là một cuộc đảo chính, bởi tại
điện Elysée, đích thân Tổng thống Pháp Vincent đã chính thức trao trả
quyền độc lập cho Việt Nam vào ngày 8.3.1949 với đại diện là cựu
hoàng Bảo Đại. Nhưng có điều họ không biết, thực chất Pháp đã trao trả cái mà Pháp không có, bởi
Pháp đã bị Nhật đảo chính ngày 9.3.1945, cái ngày mà ông vua còn đang bận đi săn! Liền sau đó ông cũng đã tuyên bố hủy bỏ những hiệp ước
ký với Pháp và ngày 12.8.1945 còn làm lễ “thoái vị” giao quyền lãnh đạo
đất nước cho Chính phủ Lâm thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Rồi sau
đó khi Mỹ không ký vào Hiệp nghị Giơ-ne-vơ (7.1954), phá hỏng tổng tuyển cử 7.1956,
thành lập chính phủ Việt Nam Cộng hòa, đem quân
vào, thì việc lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến thống nhất
đất nước tiếp theo của một chính phủ hợp pháp là lẽ đương nhiên,
và cuộc kháng chiến đó là chính nghĩa cũng là lẽ đương nhiên. Còn lúc
này lại đi theo “chủ nghĩa” nào đó đòi “chung sống hòa bình”, chấp
nhận sự chia cắt đất nước, rõ ràng đã đi ngược dòng chảy lịch sử.
Ngay cả Khơrutxov, cha đẻ của tư tưởng “chung sống hòa bình” đó, năm
1964 cũng đã bị hạ bệ do trước đó đã ra tay đàn áp sự nổi loạn của
nông dân ở Poznan, Ba Lan và ở Budapest, Hungary mà do chính chính sách của
ông đã gián tiếp dẫn tới. Còn tư tưởng có thể đạt được thắng lợi
bằng bất bạo động, đàm phán? Khi
làm biên tập cuốn tiểu thuyết của Đại tá Phi công Vũ Thành, như một
cuốn biên niên sử về Quân chủng Phòng không-Không quân VN, tôi mới biết,
Mỹ đã khoanh một vòng tròn 60 km quanh Hà Nội và Hải Phòng chừa ra không
đánh, thực hiện cuộc chiến tranh phá hoại để mặc cả, muốn chấm dứt
chiến tranh theo ý đồ của mình, rồi không được mới dùng B52 đánh thẳng
vào Hà Nội và Hải Phòng, cuối cùng vẫn không được, và khi hết mọi
cách, Mỹ mới chịu thất bại hoàn toàn. Như vậy, làm sao có chuyện chỉ
có thể đàm phán suông mà kết thúc được chiến tranh, cũng giống như một
tên kẻ cướp lấy được của quý rồi, chủ nhà làm sao mà “đàm phán”,
thay vì kêu công an hoặc hàng xóm đến, để buộc nó phải trả lại của
được. Vậy thực
là sai lầm khi Bùi Tín viết: “Cái
sai lớn nữa của Mác là đã đề cao một chiều bạo lực và chuyên chính
vô sản, coi dùng bạo lực như là phương thức duy nhất để chuyển sang
chế độ chính trị mới”
(trong cuốn Mặt thật); và Hà Sĩ Phu:
“Nhưng Mác-Lê tâng bốc đấu tranh giai cấp
thành động lực duy nhất thúc đẩy tiến hóa để có sức mạnh mà giành
chính quyền” (trong
bài “Triết Học Mác-Lê : Khủng Hoảng
Phương Pháp Luận”). Đó chính là những
sai lầm khi phủ nhận cái quy luật: trong đấu tranh đối kháng chỉ có thể
giành thắng lợi bằng bạo lực, bạo lực là “bà đỡ” của cách mạng;
cái quy luật mà không phải do hiếu chiến Mác nghĩ ra mà ông đã rút ra
được từ chính lịch sử phát triển xã hội. Còn Hoàng
Minh
Chính, tại
Đaị học Harvard, ngày 28 tháng 9 năm 2005,
nói: “Trước hết, Marx và Engels tuyên bố
rằng “Lịch sử tất cả các xã hội tồn tại từ trước đến nay chỉ
là lịch sử đấu tranh giai cấp”, và cho rằng: “Luận điểm này đi ngược lại lịch sử phát
triển khách quan của xã hội loài người”, mà theo ông: “Trên cái nền tảng vật chất sản xuất và
thương mại, khoa học và công nghệ” “xã hội loài người đã thăng trầm
trải qua các nền văn minh đồ đá, đồ kim khí, máy hơi nước, v.v”.
Như vậy, Hoàng Minh Chính đã không hiểu đúng văn bản, không hiểu nội
hàm các khái niệm, lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia. Tôi thật không ngờ
một ông cựu Viện trưởng Mác-Lê, có gan đội đá vá trời mà lại có
thao tác tư duy sai lạc như thế. Thực ra Mác nói “lịch sử xã hội” là nói lịch sử chính trị, lịch sử thay đổi các chế độ,
ông lại đi phân tích “lịch sử phát
triển văn minh” rồi chê Mác “đi
ngược”, giống như ông phân tích một bài văn nhưng không thấy cộng,
trừ, nhân, chia đâu cả, nên chê là không hay! Hà Sĩ Phu cũng có sai lầm tương
tự Hoàng Minh Chính khi viết: “Nếu biết
nhìn lịch sử một cách thật biện chứng như một quá trình thống nhất
ắt các ông phải thấy "trí tuệ" mới là động lực... và không
dựng ra một học thuyết đấu tranh giai cấp rùm beng như thế”.
Còn trong thực tế có vài trường hơp thành công bằng con đường hòa
bình
như Mahatma Gandhi
thì theo học giả Hoàng Xuân Hãn, một chứng nhân lịch
sử, khi trả lời Thụy Khuê nói: “Nhưng
thực ra, với Gandhi, ... cũng may vì có chiến tranh thế giới cho nên các
ông ấy mới được độc lập, không phải là tự các ông ấy mà gỡ ra
được. Nói thực như thế”. Một
thực tế khác, chỉ
trong
vòng bốn năm từ 1945 -1949 đã có hàng loạt nước vốn là thuộc địa
được thực dân Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào
Nha, Hà Lan, Bỉ,... chủ động trao trả lại quyền độc lập, mà không hề
phải qua con đường khởi nghĩa vũ trang hay bạo động,
thì
thực
chất,
các nước thực dân buộc phải lựa chọn như vậy là để tránh việc
nhân dân các nước vùng lên giành lại quyền độc lập và sẽ rơi vào quỹ
đạo của chủ nghĩa cộng sản; cái điều mà chính Tổng thống Mỹ
H.Truman đã lo ngại: "Nếu một quốc
gia ở Đông Nam Á rơi vào tay cộng sản thì các quốc gia khác sẽ lần lượt
lọt vào tay cộng sản như một dãy cờ domino vậy". Như vậy, tất
cả những biến cố đã xảy ra trong lịch sử không
phải tự thân mà có mà chính là kết quả tất yếu của những nguyên
nhân, và nguyên nhân cơ bản nhất là quy luật sử dụng bạo lực trong đấu
tranh đối kháng. Ngay việc một loạt thay đổi trong xã hội tư bản hướng
về phía công bằng, tiến bộ, nhân đạo... cũng không phải tự nhiên mà
có. Theo Bùi Tín: “đời sống của công nhân vẫn có thể được
cải thiện rõ, đông đảo người lao động có
thể trở thành những người tham gia bằng cổ phần, cổ phiếu vào vốn
kinh doanh và thành một kiểu chủ nhân của công ty”. Thực ra ông cũng
nói theo Bách khoa toàn thư Wikipedia :
“hiện tượng Chủ nghĩa tư
bản toàn dân như hiện nay của các xã hội Âu - Mỹ khi công
nhân cũng có thể là đồng sở hữu của phương tiện sản xuất thông qua
cổ phần... thì Marx không thể nào có thể tưởng tượng ra nổi”. Đúng
là Mác không tưởng tượng ra nổi thật, nhưng để chạy đua với các nước
XHCN, các nưóc tư bản đã tự thay đổi, một hành động mà tôi gọi là
“tự chết” theo đúng tư tưởng nhân đạo và công bằng của Mác. Những
tính chất xấu xa của chủ nghĩa tư bản đã tự mất đi như: "Người với người là chó sói" (Lenin); rồi: “ chuyên chính tư sản - chính là chiến tranh thực dân trong lịch sử
hai trăm năm gần đây, chế độ tư bản... phải dùng chiến tranh để giải
quyết cái “tham lam” (greet), chủ nghĩa tư bản nói “greed is good” (tham
lam là điều thiện).. Trong lý luận của chế độ tư bản chính thống,
không có khái niệm dân chủ”. (Ngô Thanh Nhàn, Giáo sư thỉnh giảng
Trường Đại học NewYork, thành viên Ban Điều hành Brecht Forum). Về mặt
thay đổi này, tôi thấy các nước tư bản trung thành với Mác hơn cả những
nước XHCN với sự “quan liêu, giáo điều, duy ý chí” của nền kinh tế
kế hoạch tập trung ở LX, triết lý phản tiến bộ “an bần lạc đạo”
của TQ. Điều
cuối cùng, Hà Sĩ Phu trong bài “Triết Học
Mác-Lê: Khủng Hoảng Phương Pháp Luận” viết: “Cứ cho mọi điều Mác-Lê đã nói là đúng hết
đi... thì vẫn còn một sai lầm không
thể chối cãi là sai lầm về phương pháp luận!”, tức HSP muốn phủ
nhận Mác ở cấp độ sâu xa nhất, cơ bản nhất, cái cơ sở khoa học của
lý luận. Ông lý luận: “Nếu đã hiểu thuộc tính quan trọng nhất của
ý thức là tính "phản ánh" và tính "tác động" thì phải
biết rằng thuộc tính ấy là của vật chất nói chung, biểu hiện ở tất
cả mọi mức độ từ thấp lên cao. Cục
sắt và thanh nam châm, vật nọ phát tín hiệu và phản ánh vào vật kia và
tác động trở lại vào vật kia. Giữa phân tử ôxy và hydro cũng như vậy...
chúng nhận thức lẫn nhau và tác động lẫn nhau”. “Không thể tách ý
thức của con người ra khỏi khả năng "phản ánh" và "tác động"
của thế giới vật chất nói chung. Không phải đến con người thì cái
"ý thức" thiêng liêng ấy mới đột nhiên xuất hiện. Ý thức
không phải là chuyện riêng của thế giới con người (nếu mang nghĩa hẹp
ấy thì nó chỉ tương ứng với quy mô xã hội thôi, sao có thể đem đọ
với quy mô vật chất được?) “Ý thức
tinh thần chính là thuộc tính chung của thế giới vật chất. Không thể
có cái thứ vật chất không có tinh thần, cũng không có cái thứ tinh thần
ngoài vật chất: Tách thành vật chất và tinh thần để rồi cho rằng cái
này có trước, cái kia có sau tức là tách "vật chất" ra khỏi
chính thuộc tính của nó thì vô nghĩa biết chừng nào! Thử hỏi thanh nam
châm và cái thuộc tính hút sắt của nó thì cái nào có trước? Vật chất
và tính phản ánh của nó cũng vậy. Không thể có vật chất và ý thức,
chỉ có thế giới vật chất đang vận động, đang tự ý thức, tự phản
ánh, tự tác động phần này vào phần kia và tự biến đổi”.
Quả thật, tôi cũng lại quá ngạc nhiên và buồn cười trước Hà Sĩ Phu,
một tiến sĩ sinh học, có tâm hồn văn chương, nhiều tham vọng, trong
lĩnh vực lý luận có nhiều ý khá độc đáo (nhưng có đúng không thì phải
xem) khi ông vo viên tất cả lại như trên. Nếu làm như ông thì mọi lý luận,
mọi nghiên cứu khoa học trên đời không còn nữa. Để nhận thức thế
giới tự nhiên và xã hội, đưa ra những lý thuyết và lý luận phục vụ
lại cuộc sống con người, con người buộc phải tiến hành những thao
tác phân lớp, chia tách, thành những đối tượng, những hàm số, thông số,
biến số (với khoa học tự nhiên) và những khái niệm với những “nội
hàm” và “ngoại diên” nhất định
(khoa học xã hội); từ đó mới tiến hành thí nghiệm, phân tích, biện luận,
chứng minh rồi đưa ra những kết quả; rồi
lại đem những kết quả ấy ứng dụng vào thực tế và được chính thực
tiễn cuộc sống kiểm tra, điều chỉnh... Cứ thế, hành trình phát triển
nền văn minh là một quá trình vận động không ngừng theo nguyên lý “phủ
định của phủ định” để tiệm cận đến chân lý. Với tinh thần đó,
khái niệm “Vật chất” của chủ nghĩa
Mác là “thực tại khách quan”, là “một tập hợp vô hạn những hiện tượng, khách
thể và hệ thống đang tồn tại trên thế giới”; còn “Ý thức” là “hình thức phản ánh cao cấp, riêng có ở
con người, đối với thực tại khách quan”, là “toàn bộ quá trình tâm lý tích cực tham gia
vào sự hiểu biết của con người đối với thế giới khách quan”. Từ
những quy ước triết học đó, (không coi tính chất hóa học và lý học của
vật chất là ý thức, tức có ngoại diên nhỏ hơn khái niệm ý thức của
HSP nói trên) chủ nghĩa Mác cho “vật chất
có trước và sinh ra ý thức” trong bình diện tự nhiên; rồi từ cơ sở
khoa học đó vận dụng trong bình diện
xã hội cho: vật chất quyết định ý thức,
lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng
quyết định kiến trúc thượng tầng... Tính “quyết định” ở đây có nghĩa là trong một
hệ thống muốn phát triển tốt phải khảo sát, xây dựng trước, được
xác định là lực khởi động, chứ không có nghĩa là không có tác động
qua lại và ngược lại. Chính vì hiểu tính “quyết định” một chiều nên trong thực
tế, người đi theo thì vận dụng sai, người phủ nhận thì hiểu sai.
Trong giới hạn một bài viết tôi không thể chứng minh hết được, chỉ
riêng nguyên lý vật chất có trước và
sinh ra ý thức, thì ai hiểu biết khoa học sẽ thấy trong thực tiễn,
nó đã được chứng minh cụ thể và rõ ràng nhất. Con người đã làm ra
trí tuệ nhân tạo, thay quyền năng của Tạo hóa, bắt sắt thép cũng biết
suy nghĩ; trong lĩnh vực y học và sinh học, khi nghiên cứu cấu tạo cũng
như hoạt động hệ thần kinh, người ta đã thấy trí thông minh được
điều khiển bằng những gen, thấy bản chất dẫn truyền thần kinh là những
xung điện được tạo bới những ion các chất hóa học; bản thân ý thức
cũng có tính điện từ khi người ta có thể điều khiển các thiết bị
máy móc bằng ý nghĩ; nhiều thuốc chữa bệnh thần kinh và những thuốc
kích thích gây nghiện cũng thể hiện được một phần cái nguyên lý vật
chất quyết định ý thức nói trên...
Như vậy, tinh thần chống đối của các vị trên đây tôi thấy dường
như xuất phát từ tính kiêu ngạo tiểu nông, khí khái phong kiến, chưa biết
mình,
biết người, nên
chẳng khác gì hành động
muốn lấy gang tay đo cao rộng của trời đất, lấy bát ăn cơm đong nước
của biển cả, để cuối cùng thân làm tội đời. Dù tôi không đồng ý
cách xử lý mang tính bạo lực của chế độ với các vị, mà lẽ ra trong
thời bình nên sử dụng diễn đàn công khai để cho lý lẽ đấu tranh với
lý lẽ, nhưng nói các vị bị oan hoàn toàn thì cũng không phải. Tôi thấy,
biết khâm phục tài năng cũng là một tài năng, còn không phải cứ bạo
miệng chê những nhân vật vĩ đại là sẽ thành người vĩ đại đâu! Trong
thực tế “các nước dân chủ” đang thắng thế (tôi tạm gọi vậy vì
các nước này không còn hoàn toàn theo chủ nghĩa tư bản theo định nghĩa
của Mác nữa), có những con chiên chối Chúa của mình nêu trên, nhưng lại
có những học giả tư sản như Barbara Supp, Marian Blasberg,và Klaus
Brinkbäumer, trong bài “Con lật đật”, đã viết rất tốt về
Mác: “Cụ đã mổ xẻ cái hệ thống „trục
lợi“ này xuất sắc hơn ai hết. “Như
thể Karl Marx đã đội mồ đứng dậy“, tạp
chí Mỹ Newsweek băn khoăn, khi Franz
Müntefering , chủ tịch đảng Dân chủ Xã hội Đức, bắt đầu sử dụng
những ngôn từ như trên vào tháng 4 năm nay, lúc ông nói đến đến „bầy
châu chấu“, ám chỉ những nhà đầu tư
đã moi ruột các doanh nghiệp Đức và có thể nói là đã moi ruột cả nước
Đức”; rồi: “Tại sao một ông chủ ngân hàng đầu tư Hoa Kỳ
lại để người ta trích lời mình rằng „Marx có cái nhìn chính xác
nhất về chủ nghĩa tư bản“, và càng
hoạt động lâu ở Wall Street thì „tôi càng đoán chắc rằng Marx có
lý“?”; rồi nữa: “Theo thăm dò dư luận mới đây của tạp chí
Đức Der Spiegel, cụ được dân chuộng
một cách đáng ngạc nhiên, mà không phải chỉ ở Đông Đức: 50 phần
trăm dân Tây Đức nói rằng sự phê phán chủ nghĩa tư bản của Karl Marx
„ngày nay vẫn mang ý nghĩa của nó."
Thậm chí 56 phần trăm thấy rằng chủ nghĩa xã hội là „một tư tưởng
hay nhưng được thực hành tồi" - trong
giới trẻ, sự đồng tình còn cao hơn nữa”. Derrida,
một triết gia tư sản, cũng viết:“Không thể không có Marx, không thể
có tương lai nếu không có Marx” trong “Những bóng ma của Marx” (Nxb Chính Trị Quốc
Gia và Tổng cục II - Bộ Quốc Phòng, Hà Nội, 1994). Trong Bách khoa toàn thư Wikipedia viết: “ Lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản là đối
trọng để chủ nghĩa tư bản trở nên tốt đẹp hơn để được xã hội
loài người chấp nhận. Từ chủ nghĩa tư bản với sự tự do bóc lột -
và đầy rẫy bất công tạo ra mầm mống của bạo động và cách mạng,
thế giới cũ đã tìm các cách thích nghi và triển khai một xã hội công
dân mà trong đó mọi thành phần xã hội đều có thể phát triển, các
mâu thuẫn xã hội không thể đã hết nhưng đã có những cơ chế thỏa hiệp
để giải quyết trên cơ sở hợp lý cho các giai tầng xã hội. Đây là một
đóng góp gián tiếp rất lớn của chủ nghĩa xã hội. Trong
lịch sử mấy chục năm tồn tại của mình các nhà nước tiêu biểu của
chủ nghĩa xã hội đã triển khai một số các biện pháp kinh tế chính trị
xã hội mà ngày nay đã được áp dụng một cách hợp lý sau khi loại bỏ
đi những hạt nhân phi hợp lý. Các ví dụ như vậy rất nhiều như: kế
hoạch hóa quy mô vĩ mô, dồn nguồn lực quốc gia cho những dự án lớn
có tính quan trọng sống còn, hệ thống bảo hiểm xã hội
toàn quốc, các kinh nghiệm về quốc hữu hóa,
vai trò của kinh tế quốc doanh trong nền kinh tế...Đó là những đóng góp
của chủ nghĩa xã hội cho tri thức quản lý nhà nước của nhân loại”. Ngay
ông Bùi Tín cũng viết trong “Mặt thật”:
“Tháng 8-1992 tôi ghé qua Berlin, ở phía Đông
Đức cũ, còn nguyên tượng đài Mác-Engels ở ngay trung tâm Alexander gần
tháp vô tuyến độc đáo, ở bên Tây Berlin có một đại lộ loại bự nhất
mang tên Đại lộ Các Mác”.
Trong
thực trạng của thời hiện đại, chưa bao giờ hết bạo lực, bất bình
đẳng, bài ngoại, nạn đói, thất
nghiệp, mất không gian sống, chiến tranh thị trường, tình trạng nghèo khổ
phổ biến ở vùng Nam bán cầu, sự đe dọa khủng khiếp của công nghiệp
vũ khí và bom hạt nhân, chiến tranh sắc tộc tràn lan, sự lộng hành của
các thế lực tội ác có tổ chức, tình trạng luật pháp quốc tế bị một
số cường quốc thao túng và
từ đó áp bức kinh tế, lại gây tác hại đến một phần nhân loại đông
đảo... thì trở về với chủ nghĩa Mác, với tất cả các biện pháp thể
chế thế nào đó để thực hiện đúng tinh thần nhân đạo, xóa bóc lột,
nô dịch để đạt công bằng; làm theo đúng những nguyên lý của chủ nghĩa
Mác: “vật chất quyết định ý thức”; “đấu tranh giữa các
mặt đối lập là động lực phát triển” (trong khoa học, các chất
phản ứng được hoạt hóa, cọ xát nhau tạo đối lập về điện tích
(ion âm và dương) mới sinh ra được chất mới), vậy đấu tranh ở đây
là để sinh sôi chứ không phải tiêu diệt nhau; từ đó tiến tới một
xã hội mà trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản có ghi: “trong đó
sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển
tự do của tất cả mọi người”(tr.130, sđd),... thì tôi tin là, thế
giới sẽ tiến tới một xã hội, dù không phải là “thiên đường”
như xã hội cộng sản chủ nghĩa, thì cũng là một xã hội tốt đẹp hơn
nhiều những cái mà chúng ta hôm nay đang sống.
TPHCM 4-1-2006 © Copyright 2006 giaodiem.com |
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com