NHỮNG
NGÀY CHƯA QUÊN ...Để
nhớ lại ngày tháng cũ, nhớ Không quân, nhớ Võ Bị. Nguyễn
văn An (Khóa
Vào một
đêm lạnh giữa tháng ba của Cali, anh chủ bút Đoàn Ph. Hải gọi tôi cho
biết Đa Hiệu số tới có chủ đề Hải Lục Không quân, Hải yêu cầu
tôi viết một bài. Tôi không biết phải viết gì đây ? -Để góp phần, hôm nay tôi xin kể lại
vài mẫu chyện nhỏ có liên quan đến những người anh, người bạn Không
quân và Võ Bị đã nằm xuống hay còn sống mà tôi đã cùng làm việc, bay
chung, học chung hay đã tiếp xúc nhiều lần… được coi như những kỷ niệm
được nhắc lại. Xếp bút nghiên. Gần cuối năm 1959, tôi
đang theo học Đệ nhất B1 trường Quốc học Huế ….
Được nhà trường cho biết tin trường Võ Bị Quốc gia Đà Lạt cần tuyển
mộ SVSQ theo học khóa bốn năm; sau khi ra trường được chọn Hải, Lục,
Không quân và được cấp phát văn bằng tốt nghiệp tương đương Đại học
Khoa học. Tôi phấn khởi, cơ hội tốt đến với tôi
chăng ? Tôi có thể tiếp tục việc học
để sau nầy trở thành nhà giáo, nhưng trong tôi, vẫn ám ảnh mãi hình ảnh
người cha trong bộ quân phục đậm màu mà lúc nhỏ tôi rất ưa thích. Lớn lên tôi cũng có những khát vọng cao
xa… Tôi không thể ngồi yên. Cuối
cùng bỏ học đường, bỏ sách vở, từ giã người bạn áo trắng vừa
thân quen. Tôi đi, mang theo sức sống hai mươi, gia nhập trường Võ Bị Quốc
Gia Việt Tháng 11/1959 tôi nhập học
khóa 16 trường VB/ĐL. Khóa tôi có trên hai trăm người, gồm những thanh niên
trẻ khắp mọi nẻo đất nước miền Sự hăm hở, háo hức ban đầu
khi tập trung ở trước cổng trường đã nhường chỗ cho sự thất vọng,
căm tức sau đó… Mới vào đã bị bắt chạy, đã bị khoá 14 đàn anh
hành hạ, la lối, nạt nộ… Có người ném cả hành lý ở dọc đường,
không muốn nhặt lại. Vào đây rồi
là bị hành xác, bị kỷ luật. Phải từ giã mái tóc bồng bềnh bay bướm
cuả thuở nào. Tập bò Năm thứ nhứt bắt đầu với mùa
học văn hoá và quân sự. Kỷ luật thật
gắt gao, học tập và canh gác... Luôn luôn phải tỏ ra là Sinh viên gương
mẫu; chào kính khóa đàn anh nghiêm chỉnh và làm gương cho khóa đàn em… Kết quả năm đầu: hơn năm
mươi người phải rời khỏi trường vì thiều điểm văn hóa, mặc dù điểm
quân sự cuả họ khá cao… như các bạn
Thái quang Cẩm, em của Tướng Thái quang Hoàng... Giữa năm thứ hai, chúng
tôi bắt đầu chọn quân chủng. Mộng
đã thành sự thật đây… Hồi rất nhỏ khi tôi học tiểu học trường làng,
thầy có dạy bài thơ nói về máy bay, độc
đáo như sau :
Tôi cho
là hay lắm … Lớn lên khi học trung học, tôi
nhớ đọc cuốn truyện Đời Phi công cuả Toàn phong Nguyễn xuân Vinh. Chàng học bay bên trời Tây gửi thư về
cho em ở quê nhà, có đoạn : “…Ban đêm nhìn lên trời em đếm được
bao nhiêu vì sao, tình anh yêu em còn hơn thế nữa…” Tình tứ và lãng mạng quá… Cho nên, mê không gian là điều tôi từng
ấp ủ trong lòng.
Thế rồi một số SVSQ đưọc chọn về Sài gòn, vào Trung tâm Giám định
Y khoa KQ ở Tân Sơn Nhất, khám sức khỏe, bị loại khá nhiều vì thiếu
tiêu chuẩn. Tôi ở trong toán thủ Quốc và Quân kỳ của nhà trường : có
tám người, được chọn năm người, ba người bị rớt sức khoẻ : có
Tôn thất Chung -người cao ráo, khá bảnh trai, thủ Quân kỳ bị loại vì mắt
loạn thị. Chàng ta buồn lắm. Cuối
cùng có khoảng 20 người được chọn gia nhập K.Q. Cuối năm thứ hai ở quân trường,
không khí đã khá dễ thở hơn, việc học tập được đà trôi chảy, hoa
mai vàng cầm chắc trong tay. Bấy giờ
chúng tôi là đại niên trưởng, được ra phố cuối tuần thoải mái hơn. Khoá 15/ĐL đã ra trường, khóa 17/ĐL được
một năm, chúng tôi phải làm Huấn luyện viên cho khóa 18/ĐL trong tám tuần
sơ khởi. Thời gian rồi cũng qua
mau… đã gần hết năm thứ ba, khóa 19/ĐL đã nhập học. Vì nhu cầu chiến trường lúc bấy giờ,
khóa tôi phải mãn khóa sớm hơn gần một năm.
Chúng tôi lại phải tập diễn hành, tập trận Đống Đa,
chuẩn bị cho ngày mãn khóa. Hôm
đó là ngày 22-12-62. Một ngày thật đẹp
trời, tôi còn nhớ mãi … Lễ mãn khóa đã diễn ra thật trang nghiêm, có
Tổng Thống Ngô đình Diệm và quí vị Tướng lãnh, quan khách ngoại quốc tham dự…. Hai tiểu
đoàn SVSQ K.16 hơn hai trăm ngừơi sắp thành hai khối ngay ngắn trước khán
đài danh dự, với quân phục đại lễ màu trắng, SV khóa sau đứng hai bên.
Sinh viên thủ khoa K.16/ĐL là bạn Bùi Quyền đứng giữa, gần khán đài. Sau diễn văn ngắn của Tổng thống NĐD.,
T.T. đặt tên cho khóa là khóa “Ấp Chiến Lược”. Ông Chỉ huy trưởng,
cựu Đại tá Trần ngọc Huyến dõng dạc hô: “Quỳ xuống SVSQ!”, những
cặp lon với hoa mai vàng được các SQ./HLV gắn lên vai cho mỗi người ;
“Đứng dậy Tân Sĩ quan”, tất cả đồng loạt đứng lên, như cả một
mùa xuân bừng dậy… Trong lòng mọi người hân hoan, rộn ràng niềm vui
khó tả. “-Đêm nay mới thật là đêm,
Ai đem trăng tưới lên trên vườn chè.”
Những ngày tháng Không
quân. Ngày tháng Không
quân bắt đầu. Đầu năm 1963, chúng
tôi trình diện Bộ Tư lệnh KQ. Tư lệnh KQ lúc ấy là cựu Đại Tá Huỳnh
hữu Hiền. Chúng tôi làm các thủ tục ở phòng nhân viên; một số bạn
vì vấn đề an ninh bị đưa về lại Bộ binh. Mọi việc xong xuôi, chúng
tôi chuyển về căn cứ Huấn luyện /KQ
ở Nha Trang, học Anh văn để đi du học. Mọi
người phấn khởi, nhưng không kém phần lo lắng. Lại học, học nữa…
những khó khăn đang đón chờ. Lúc đó Chỉ huy trưởng căn cứ HL/KQ ở
Nha Trang là cựu Trung tá Nguyễn ngọc Oánh; Tiểu đoàn trưởng SVSQ và
Khóa sinh là cựu Đại úy Đinh thế Truyền ; HLV Anh văn là cựu Đại úy
Toàn và anh Hiển. Về Nha Trang, ở trong
căn cứ, cơm hai bữa đã có câu lạc bộ. Khí hậu ở đây mát mẻ, cảnh
đẹp, có dừa xanh, với bãi cát trắng chạy dọc đường Duy Tân, có những
Kios rãi rác. Mỗi chiều, sau một ngày học Anh văn, luyện giọng, làm test,
ra ngồi bãi biển mà hưởng cái mát, cái âm thanh rì rào cuả sóng biển
mà ngẫm cuộc đời, nghĩ đến trường cũ, bạn bè mỗi người một nơi.
Cuộc đời thật đáng yêu, nhưng cũng lắm thử thách, nhiều biến chuyển.
Hàng ngày chúng tôi học Anh văn, làm Sĩ quan trực cho khóa 62C và khóa 63A.
Có những buổi ra phi đạo học và quan sát các phi cơ, làm Baptême de l’air
để lãnh tiền bay. Một hôm đi học
trở về, ngang qua phi đạo thấy có một số SQ/phi công Khu trục đứng ở
hangar. Họ mặc áo bay, đội nón rộng vành như Cowboy, mang súng, chống nạnh
trông rất hách, nhìn chúng tôi một cách ít cảm tình. Có anh nói vọng vào : “Các ông bay bỏ bố
chỉ có Trung uý; các anh mới qua đi học mà đã mang lon Thiếu uý.” Nhưng,
rồi cũng là anh em cả, sau nầy chúng tôi rất gần gũi và thân mật với
các anh nầy. Mấy tháng học tập, rồi
thi ESL, một số đủ điểm được đi học bay Trực thăng ở Hoa Kỳ, có
các bạn : Trương thành Tâm, Bảo Sung, Vĩnh Quốc, Hùng, Trần châu Rết,
Nguyễn văn Ức, Dương quang Lễ, Bửu Ngô, Tân, Đinh quốc Thinh v.v…; học
Khu trục có : Nguyễn Anh và Mai nguyên Hưng ( Hưng về sau bị tử nạn phi
cơ, sau một phi vụ oanh kích trở về.) Phần
còn lại có tôi, Toản, Toàn (tức ‘Tây già’ ), Khôi ( ‘già Rô’), Trừng,
Nhường, Đằng, Tùng, Vọng, Châu ( ‘Thộn’ ), Châu ( ‘Lổ’ ), Châu (
‘Ông chủ’ ). Phía KQ, có Vinh, Võ, Hậu, Ba ( ‘Bụng’ ), Hạnh, Phước,
Khâm, Cao. Tôi về lại căn cứ TSN học khóa I Trực thăng với phi cơ H.19
do SQ/HLV Hoa Kỳ đảm trách. Phía Viêt Đ/úy
Ánh bay “check progress” với tôi, ông bảo : “Anh bay cũng smooth lắm…”.
Tôi biết tôi “gặp” trở ngại rồi Lâm quang Đằng và tôi
được BTL/KQ cho đi học khóa Quan Sát; khoảng giữa năm 63, cùng học với
Sĩ quan Thủ Đức chuyển qua, có các bạn như : Nguyễn Phụng, Lưu, Khai,
Nguyễn hữu Cảnh ( sau bay C.130 ở Phi đoàn 437 ), Kiệt, Sơn… Tôi lại trở
về Nha Trang, gặp lại các anh em Khóa 17/ ĐL đang học khóa I Cessna, như :
KQ Lê sĩ Thắng, Nguyễn duy Diệm, Nguyễn văn Thình, Vỏ Ý, Võ phi Hổ, Ngô
Nhơn, Tòng, Thanh, Nhựt, Tám, Hựu, Huy,
Vũ, Khải, Xuân, Anh, Lợi… Chúng tôi được chuyển về Biên
Hòa tiếp tục học Quan Sát - Đại uý Trịnh văn Thân làm SQ trưởng toán
HLV. Chúng tôi được mãn khoá và
thuyên chuyển đi các Phi đoàn.
Phi đoàn 110.
Đầu năm 1964 tôi và KQ Đằng (sau tử nạn trong phi vụ hành quân 1965) được
đưa về Phi đoàn 110 ở Đà Nẵng, gặp
lại các KQ khoá 17/ ĐL như : Vũ, Thắng, Diệm, Khải, Xuân, Anh, Hựu, Lợi…
Tôi cũng gặp lại các bạn Khoá 16/ ĐL như KQ Cao quảng Khôi và Châu ( ‘Thộn’
) và biết các anh “Thợ bay” Trực thăng như KQ Nguyễn kim Bông, Đặng
văn Phước, Võ văn Triệu. Vùng điạ đầu hỏa tuyến… có
khá nhiều phi vụ hành quân. Toàn sĩ
quan trẻ, đa số còn độc thân, không khí thân mật, bay chung với nhau rất
vui. Mỗi khi đợi phi vụ, có thì giờ
là đọc truyện kiếm hiệp, chơi Domino, thỉnh thoảng lén chơi xì phé. KQ
Trần Dật rất hên, hay ăn lường đứng dậy đòi về, bị anh em chửi. KQ được ở thành phố, có vẻ nhàn nhã,
nhưng nhiều hiểm nguy đang đợi chờ. Khi có phi vụ hành quân là họ xông
xáo, bất chấp lửa đạn để yểm trợ quân bạn ở mọi tình huống, họ
hết lòng với trách nhiệm, họ góp phần mang lại thắng lợi cho binh chủng
bạn. Cũng có lắm chuyện đau lòng, như một hôm, vừa ăn điểm tâm ở
câu lạc bộ buổi sáng, trưa không bao giờ còn gặp nhau lại nữa. Bạn Được Phi đoàn 516 bị trúng đạn khi
chúi xuống thả bom, trong phi vụ yểm trợ quân bạn, mấy hôm sau mới mang
xác về. Ôi, “Không quân đi, không ai
tìm xác rơi…” Không
quân lẫm liệt như thế, mong rằng có một hai con sâu sẽ không “làm rầu
nồi canh”.
Chỉ huy trưởng Phi đoàn 110 lúc đó là Đ/uý Ngô tấn Diêu, có Đ/uý Hoạt,
Ba Lý, Nhơn, Lượng. Về sau Đ/uý Mạnh thay thế Đ/uý Diêu. Phi đoàn bạn
là Phi đoàn Khu trục 516 -có QK Vượng, Châu, An, Du… Tôi có nhiều phi vụ
hướng dẫn Khu trục đi đánh phá những mục tiêu và căn cứ cuả địch
ở những vùng đồi núi sông rạch xa về phía Tam Kỳ. Nhớ hôm đi biệt
phái Quảng ngãi, bay chung với phi công Mỹ, một hôm được lệnh hướng dẫn
Khu trục oanh kích tự do một vùng đồi núi ở phiá tây bắc Quảng Ngãi.
Khi bay xuống thấp thấy toàn thường dân mặc aó quần đen đang làm rẩy;
sợ chết Huế và tôi. Phi đoàn 110 ở Đà Nẵng gần
Huế nên tôi rất thích. Huế đối với tôi có quá nhiều kỷ niệm. Tôi sinh ra và lớn lên ở đó, tôi còn nhớ
các trường học mà tôi đã từng mài đủng quần từ lúc còn ấu thơ :
trường tiểu học An truyền, Gia hội; học lớp Nhất trường Thế Dạ. Tôi còn nhớ tên Công Tằng Tôn nữ thị
Phùng Thăng, nhớ Lan hay phụng phịu xin bỏ bớt điểm xấu vì hay nói chuyện
trong lớp mỗi khi tôi giữ bản “Linh hoạt”.
Nhớ thôn Vỹ, nơi có dòng họ Nguyễn Khoa, nổi tiếng khoa bảng…
và những tên đẹp như Nguyễn khoa Diệu-Trang, Diệu-Hạnh v.v…; nơi mà
Hàn Mặc Tử đã một thời vương vấn :
Phía Hàng me, bên kia Đập đá có Nga
Mi, Trà Mi, Diệm Mi ( em của KQ Nguyễn đình Huệ bị tử nạn khi làm HLV
Cessna ở Nha Trang; khi anh cố đáp sau đuôi của C130 đang cất cánh.). Nhớ trường Trung học Nguyễn
Tri Phương -nơi mà năm 1952 khi thi vào Đệ thất, tôi đỗ hàng thứ ba; người
đỗ đầu là Trần đại Bưu ; thứ hai là Nguyễn Doãn ; thứ tư là Nguyễn văn Cung ( hiện làm Bác
sĩ ở Orange County ). Trong số ba trăm thí sinh trúng tuyển cuả một đám học
sinh hơn hai ngàn người dự thi : gồm học trò ở Huế, Quảng Trường Quốc Học với cổng
trường màu đỏ uy-nghi; có hàng phượng Vĩ với sân rộng, nhà chơi lớn;
vào hè có ve kêu rền rỉ báo hiệu mùa thi sắp đến. Năm đệ Nhị, học
sinh “học gạo”, học hết mình. Có khi ra học dưới ánh đèn đường
trước nhà cho thoáng mát. Phải học để thi đỗ vì tương lai cho mình mà
cũng là niềm hãnh diện của gia đình; phải đỗ Tú tài I vì sang năm lên
đệ Nhất được học chung với con gái đẹp từ trường Đồng Khánh qua.
Hai trường Quốc Học và Đồng Khánh rất gần nhau, đám con trai thường
đứng bên nầy nhìn qua hoặc trêu ghẹo đám con gái áo trắng phía bên
kia. Có lần bị thầy Hiệu trưởng
Nguyễn văn Hai bắt gặp; ông xỉ vả, la mắng cho một trận mới thôi. Huế với sông Hương núi Ngự
với đền đài lăng tẩm; nơi của mộng mơ. Có cầu Trường Tiền sáu
vài mười hai nhịp; với mưa dầm gió bấc; với những cơn lụt lớn… Huế
có bánh bèo bến Ngự, bún bò Gia Hội; có nữ sinh với áo dài tha thướt…
với tiếng guốc khua vang rộn vỉa hè mỗi buổi tan học về. Về các cô
gái Huế, Hà huyền Chi có những vần thơ hay :
…… Tình cảm
của tôi đối với Huế thiết tha như vậy… Nên khi ở căn cứ Đà Nẵng,
tôi thường đi theo KQ Mai lái trực thăng về đó thăm khi có phi vụ.
Biết là những người bạn năm
xưa không còn nữa… tôi vẫn muốn về thăm Huế. Đà Nẵng với tôi. Đà Nẵng cũng là nơi đáng
ghi nhớ của tôi. Ở đó, tôi được quen ông cụ thân sinh người bạn đời
cuả tôi. Ông uyên thâm Hán học và giỏi về môn tử vi. Lúc đó nàng đang học Dược năm thứ hai
ở Sài gòn, cùng là bạn đồng song với chị Hiếu ( phu nhân của KQ Đặng
kim Qui ) và chị Thanh Hương ( phu nhân cựu Ch/T KQ Nguyễn văn Lượng ). Gần cuối năm 65 tôi lại
phải thuyên chuyển về làm tại Bộ Chỉ Huy Hành Quân KQ, cũng được thuận
tiện cho tôi được gần gũi và làm lễ cưới với nhà tôi. Bộ CH. HQKQ. Về BCHHQ/KQ tôi làm SQ
trực Không vận, trưởng phòng là Th/Tá Trịnh văn Đào; ông vui tính và
hay nói đùa, dáng rất khoẻ mạnh. Ở đây còn có Đại uý Quách văn Hảo
trưởng phòng ALO, Đại uý Hồ thế Hạo -trưởng phòng Quân báo, Đại uý
Bách, Tr/uý Hồng, Hiền TV, Sính. Chỉ huy trưởng là Tr/tá Vũ thượng Văn;
CHP là Tr/tá Nguyễn hữu Tần (sau là Ch/tg SĐT/SĐ4
KQ). Mỗi chiều phải biết phi cơ khả dụng
của Vận tải, Trực thăng để sắp xếp các chuyến bay hôm sau; thường
xuyên theo dõi các phi vụ chuyển vận, tải thương, tiếp tế… Công việc
bận rộn, có Th/tá Đào hay pha trò nên cũng vui.
Rất tiếc Th/tá Đào đã thiệt mạng do tai nạn xe cộ ở đường Công
Lý, trên đường về nhà. Hôm đưa đám anh, tôi về nhà lấy phong pháo
còn lại đem đốt dưới chỗ để hòm, để khi di quan hồn ma sợ mà đi,
không còn lẩn quẩn ở nhà nữa ( !? ) Trong
khoảng thời gian nầy, có Th/tá Anh và Th/tá Long (oanh tạc Dinh Độc Lập
1962) bị tử nạn khi bay chung trên AD6 trong phi vụ huấn luyện ở Biên
hòa. Đầu năm, BCHHQ dời qua khu nhà lầu
lớn do KQ/ Hoa kỳ trao lại; Tr/tá Huỳnh văn Tính làm CHT, Tr/tá Nguyễn văn
Lượng CHP, các phòng sở được tổ chức, trang bị đầy đủ. Các SQ có
người đến kẻ đi… Tr/tá Trịnh hảo Tâm Trưởng khối Hành quân; Tr/tá
Lê minh Luân Trưởng khối Kế hoạch; Tr/tá Phạm hữu Lộc Trưởng khối
Không vận -có KQ Cương ( ‘Khào’ ) và Nguyễn văn Cử; Đại uý Nguyễn hữu
Tuấn trưởng phòng ALO. Tôi làm SQ trực
Hành quân chung với SQ trực Hoa kỳ. Công
việc khá bận rộn, trách nhiệm nặng nề vì phải liên tục điều động
và theo dõi các phi vụ yểm trợ hành quân khắp bốn vùng chiến thuật. Tết Mậu Thân 68. Đ/uý Tuấn gọi tôi và KQ Đinh
sinh Long đi bay quan sát Sàigòn trên Cessna U17 lúc sáng sớm, bay vòng Bệnh
viện Cọng Hòa đã thấy có mấy đám cháy; đài phát thanh, chợ Thiết cũng có đám cháy; thấy cả
quân ta đang giao tranh với VC; dân chúng chạy hớt hãi hỗn loạn. Anh Tuấn
cho máy bay xuống thấp gần ngọn cây để quan sát trên đường xuống Mỹ
Tho, gần Bến Lức thì bỗng nghe tiếng nổ lộp bộp; đúng là một loạt
đạn từ súng AK đang nhắm bắn vào chúng tôi. Phi
cơ bị trúng đạn. Tôi thấy xăng chảy nhiều ở hai cánh, phi cơ mất cao
độ, tôi rờ soát thân thể không thấy bị thương, tôi yên tâm. ĐSL liên lạc vô tuyến về BCHHQ/KQ báo
cáo địa điểm bị bắn, anh Tuấn phải đáp khẩn cấp xuống phi trường
Bình Đức. VC còn rót súng cối 81 ly vào thêm mấy quả… Hoàn cảnh chúng
tôi lúc đó thật nguy hiểm. Trên phi trường không thấy phi cơ, không có
bóng người; chúng tôi cũng không có súng để tự vệ. Chúng nó vào bắt
chắc khó thoát… chết. Đến chiều
may có một Cessna lên đón. Phi cơ đáp hờ xuống, chúng tôi phải chạy
theo; cửa mở sẵn, nhảy lên thật lẹ và cất cánh luôn. Trời đã tối,
thấy tôi về, nhà tôi mừng đến phát khóc. Sau đó phi cơ được câu về,
anh Cơ khí viên đã đếm có hơn bốn mươi viên đạn AK trúng khắp thân
và hai bình xăng. Anh Tuấn nói với chúng tôi: “Tụi bây bay với tao khỏi
lo, ông Huỳnh Liên xem tao có mạng lớn đạp lên mìn cũng không nổ…” Thời gian ngắn sau đó anh đã bị nát
thây vì quân khủng bố gài lựu đạn dưới xe Jeep của anh đậu trước
nhà ở đường Trương minh Giảng.
Giữa năm 69, Đ/tá Vũ văn Ước
về làm CHT BCHHQ/KQ; CHP là Đ/tá Võ công Thống; các khối và phòng sở được
sắp xếp qui cũ. Tôi làm Phụ tá trưởng phòng Thống kê và Huấn luyện.
Tôi đã huấn luyện được nhiều khóa SQ/LLĐK cho các SQ bên Hải quân gửi
qua học và cũng đã tổ chức nhiều khóa Tr/sĩ cho các binh sĩ thuộc bốn
TTHQ/KT. Tôi có nhiều sự liên hệ với Tr/tá Tôn thất Lăng (K.16), KQ Hoàng
như Á thuộc TTHL/KQ ở Nha Trang. Khóa 3/70 CHTM/KQ. Tôi không được đi biệt
phái hành quân Kampuchia; nhưng được Đ/tá Ước đề cử theo học khóa
3/70 Chỉ huy và Tham mưu Trung cấp KQ tại Nha trang.
Cựu Đ/tá Trần Phước là CHT của trường; Tr/tá Đặng văn Hậu
là SQ Trưởng phòng Nghiên Huấn. Tôi gặp
lại các anh em K16 và K17/ĐL làm HLV như KQ Vĩnh Quốc, Đinh quốc Hùng, Nguyễn
văn Thình… Khoá 3/70 phần lớn là cấp bậc Th/Tá như: KQ Phạm văn Hiệp,
An văn Nhất, Trần đình Giao, Phiếu, Cầu, Lượng ( ‘Môi’ ), Hùng (
‘ống nhổ’ ), Ngọ, Thủy, Lạc… Một số trong khóa ở ngành Vận tải,
nên week-end nào cũng có C47 đón về SNG. Một
hôm phi cơ cất cánh từ Nha Trang bay về phía biển chưa được bao lâu thì
nghe động cơ kêu lụp bụp, mất cao độ, anh em hơi tái mặt, anh AVN nhanh
nhẹn dành tay lái - điều chỉnh một lúc, phi cơ bay bình thường về đáp
SGN luôn, anh em nhìn nhau mà mừng. Mấy tháng học CH/TM ở
NTG, tôi có nhiều kỹ niệm. HLV và học viên thảo luận nhiều vấn đề
thuộc nhiều lãnh vực: Thông đạt; giao tế; giải quyết vấn đề; tổ chức
quân đội v.v… thể thao thể dục được luyện tập hằng ngày. Không
khí lớp học sôi động, hợp tác và có sự tôn trọng ý kiến lẫn nhau.
Lễ mãn khóa được tổ chức trang nghiêm, đỗ đầu lớp là SQ Phạm văn
Hiệp. Tôi học Luật. Về SGN tôi tiếp tục đi học
trường Luật. Trước đó, tôi đã ghi
danh học Luật, nơi có “con đường Duy Tân cây dài bóng mát…”; tôi đã
trả lời người bạn học rằng : “Anh ở dân sự học được, tôi là
quân nhân nhưng nếu có cơ hội, tôi cũng học được.” Khi xong công việc
hoặc sau giờ làm việc là tôi vội vàng đến trường, ghi chép, nghe lời thầy giảng. Viện Trưởng là Gs.
Vũ văn Mẫu; các Gs giảng viên là Tăng kim Đông, Nguyễn văn Vọng, Vũ quốc
Thông, Vũ quốc Thúc, Trần chánh Thành, Gs Nguyên văn Lại. Tôi không có
thì giờ nhiều và không được thoải mái khi có giờ học cần nghe mà
công việc ở BCH thì chưa xong, tôi đành phải mặc nguyên quân phục, có
khi mang cả lon lá đến trường luôn cho kịp giờ học. Các người bạn học
thấy tôi ở nhà binh mà chịu khó, họ đâm có cảm tình. Tôi được may mắn
gặp CHT là Đ/tá Ước đã nâng đỡ cho đàn em hiếu học. Ông lờ để tôi
được đi học là quí lắm rồi. Sau bốn
năm học, tôi đã lấy xong Cử nhân Luật (ban Công pháp). Thừa thắng xông lên.
Tôi ghi danh học Cao học khóa II Chính trị & Kinh doanh thuộc Viện Đại
học Đà lạt, có chi nhánh tại Thương xá Tax ở SGN. Viện trưởng lúc đó
là Gs. Phó bá Long. Điều ngẫu nhiên lý thú là tôi gặp anh Nghiêm xuân
Khuyến ( cựu Tr/tá KQ ), anh dạy tôi về môn Tiếp Thị. Gặp tôi, anh cười
hỏi: “Cậu vào học đây à ?”; “Dân
học mà, cũng như anh vậy!” Tôi đáp, anh em cùng cười xòa vui vẻ. Anh thường
quây bài ronéo, phát từng đống cho SV mang về học. Có các môn khác như: Phân tích Định lượng ( Gs Dật ); Tài
chánh xí nghiệp ( Gs Uông ); Động thái
tổ chức (Gs Long ); Thẩm lượng dự án đầu tư ( Gs Hiển ). Một nhân vật
làm rạng danh KQ là anh Dương xuân Nhơn ( cựu Tr/tá KQ ), anh đã đỗ đầu
Khóa I Cao học ban Kinh doanh, nhà trường ai cũng biết anh học giỏi. Tôi sắp
thi cuối năm I thì gặp biến cố trọng đại của đất nước.
Tháng Tư buồn.
Nhà tôi làm việc cho Bank of America ở SGN. Chúng tôi được nhà Bank cho di tản
khỏi Việt Cuộc sống mới. Cuộc sống mới nơi đất khách,
chúng tôi thấy xa lạ. Lúc đó người Việt ta qua đây không nhiều, đi chợ
hoặc shopping gặp nhau mừng lắm, lạ cũng thành quen, hỏi han chuyện trò
ríu rít. Nhà hàng ăn cũng ít có, ở Vì đâu nên nỗi?. Có lúc buồn, tôi miên man nghĩ
ngợi… Tôi có hơn mười lăm năm trong quân ngũ, có lẽ tôi đã đóng góp
phần nhỏ công sức của mình cho đất nước. Những người bạn, những
người lính anh hùng của Quân đội VNCH đã bền gan chiến đấu trong hơn
hai mươi năm thì công lao của họ quá lớn lao. Bao nhiêu người đã nằm xuống, bao nhiêu xương máu đã đổ để bảo vệ
miền Có khi, cách đây 18 năm, tôi cũng
lẩm cẩm nghĩ rằng: Nếu như quân đội chúng ta còn tồn tại đến bấy
giờ -theo luật đào thải, tre già măng mọc, thì thế hệ chúng tôi đã
có những người thuộc Không quân, Hải quân, Thủ Đức, Võ bị Đà Lạt
đã có những vị có cấp bậc lớn, cầm giữ những chức vụ quan trọng
trong Quân đội. Hồi trước 75, riêng khóa 16/ĐL đã có những người mang
cấp bậc Đại tá, giữ các chức vụ: Trung đoàn trưởng, Tiểu đoàn trưởng,
Lữ đoàn trưởng, Lữ đoàn phó của Nhảy dù và TQLC, như : Nguyễn văn
Huy, Nguyễn hữu Thông, Nguyễn Thiều, Vĩnh Dác, Đăng phước Thành, Nguyễn
xuân Phúc, Đỗ hữu Tùng, Nguyễn đằng
Tống, Lê minh Ngọc… KQ đã có những Tr/Tá giữ chức vụ Không đoàn trưởng,
Phi đoàn trưởng, như : Trương thành Tâm, Nguyễn văn Ức, Trần châu Rết,
Dương quang Lễ, Cao quãng Khôi. Hải quân có Tr/Tá Hạm Trưởng: Nguyễn
như Phú, Hoàng Đ. Thanh. Vận nước đã an bài, làm sao biến đổi được!. Vững tin ngày mai. Cách đây hơn mười
năm, tôi gặp lại người bạn đồng khóa từ VN mới đến, anh nửa đùa
nửa thật nói với tôi rằng: “Bây giờ tao mới qua đây, trâu chậm uống
nước đục…” Tôi không nghĩ như vậy, đây
là xứ sở của cơ hội, hôm nào còn thấy xe cộ chạy tấp nập ngày đêm
trên xa lộ, các dinh thự còn mọc lên, thì mọi đón mời vẫn còn đó…
Nhưng không may, chúng ta qua sau nầy… sau bao năm trong ngục tù Cọng sản,
sức khỏe bị suy giảm, lại thêm tuổi đời chồng chất, không có được
nhiều chọn lựa. Nhưng may mắn thay là chúng ta có thế hệ con cháu. Người
Việt vốn thông minh, cần cù, nhẫn nại, chăm chỉ; đã có bao gương thành
công, danh vọng hiển hách trong mọi lãnh vực ở khắp năm châu bốn bể của
thế hệ trẻ. Nhà nào cũng có con em tốt
nghiệp Đại học. Ước mong một ngày
không xa, khi không còn chế độ cọng sản, những con em thế hệ trẻ trở
về xây dựng lại quê hương xứ sở trong tự do, ấm no, thanh bình và thịnh
vượng. Hãy vững tin ngày ấy sẽ đến.
Mùa Xuân
Nguyễn văn
An © Copyright 2006 giaodiem.com |
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com