Thường Đức
chuyển ngữ Trong
suốt nhiệm kỳ làm Bí Thư Đảng của Vùng Tự Trị Tibet (viết tắt: VTTT
= TAR = Tibet Autonomous Region), Hồ Cẩm Đào (Hu Jintao) thiết lập cơ chế ủy
nhiệm của một nhà trị trị cứng rắn ở Tây Tạng, kể cả việc sử dụng
lực lượng sát thủ chống lại những người biếu tình Tây Tạng tay
không và cho áp dụng thiết quân luật ở Lasha. Hồ Cẩm Đào được bổ
nhiệm Bí Thư Đảng ở VTTT vào tháng 12, 1988, một chức vụ mà ông thường
vắng mặt, cho đến năm 1992. Chức vụ sau cùng của ông ở Tây Tạng trước
thời Đặng Tiểu Bình –một nhà lãnh đạo tối cao, chọn lựa ông để
chuẩn bị thay thế Triệu Tử Dương (Jiang Zemin). Hồ Cẩm Đào thay thế
người tiền nhiệm là Wu Jinghua, một người có tiếng là cởi mở, bình
dân. Wu từng là người thi hành những chính sách tự do, do Hồ Diệu Bang
(Hu Yaobang) khởi động, chẳng hạn như giảm thiểu số cán bộ người Tàu
ở Tây Tạng, nâng cấp những người Tây Tạng lên hàng lãnh đạo. Khi sự
thay thế người tiền nhiệm ông Wu mới được nghe đồn, Lanchen Lạt Ma -một
nhân vật rất có ảnh hưởng đương thời, đã mạnh mẽ ‘lobby’ hậu
trường chính trị Bắc Kinh để cho người Tây Tạng được giữ chức vụ
đó. Sự bổ nhiệm Wu là một điều đầy hứa hẹn. Wu người dân tộc
Yi, chứ không phải là Hán tộc, và là người rất được Panchen Lạt Ma
ngưỡng mộ. Về sau đó, Đảng (CS Tàu)
cho rằng Wu quá dễ dãi ở Tây Tạng, ông bị cáo buộc là đã tạo ra
không khí chính trị đưa tới những cuộc biểu tình có khuynh hướng đòi
độc lập cuối năm 1987 và đầu năm 1988. Quyết định bổ nhiệm
Hồ Cẩm Đào vào chức vụ Bí Thư Đảng ở VTTT, một phần, là để chứng
tỏ quân sự sẽ đóng vai trò sâu đậm hơn so với bất cứ tỉnh hay vùng
tự trị nào khác. Dĩ nhiên sự bổ nhiệm này, đối với Hồ Cẩm Đào
là một hình thức hạ tầng công tác so với tham vọng chính trị trong Đảng
của ông, nhưng Bắc Kinh lại muốn có một người mà họ tin tưởng cứng
rắn để trở thành công cụ khắc nghiệt thi hành những chính sách của
Đảng ở một nơi đầy ngang bướng. Hồ Cẩm Đào được
loan báo bổ nhiệm vào ngày 9 tháng 12, 1988. Ngày hôm sau, đáp lễ cho sự bổ
nhiệm này là một cuộc biểu tình rộng lớn đổ xuống Lasha, thủ đô của
Tây Tạng. Cảnh Sát Vũ Trang Nhân Dân nổ súng bắn ngang những người biểu
tình, giết chết nhiều người Tây Tạng cầm lá quốc kỳ (bị cấm) và
làm thương tích nghiêm trọng người chụp hình Hòa Lan. Hồ Cẩm Đào nhận nhiệm chức ở Lasha
vào giữa tháng Giêng, 1989; và việc đầu tiên là tổ chức một cuộc họp
với nhà lãnh đạo Phật Giáo Tây Tạng, để thuyết phục rằng –ông muốn
được người Tây Tạng coi ông như một người kính trọng tôn giáo ở đất
nước này. Vào ngày 23 tháng Giêng, Hồ thăm viếng Shigaste, là nơi cư ngụ
của Lanchen Lạt Ma; rồi nhân danh ông để triệu tập một cuộc họp. Hồ
ngồi bên cạnh Lanchen Lạt Ma và tuyên bố “ông tự coi mình như một người
dân Tây Tạng” và “muốn chia sẻ với số phận của Tây Tạng và làm hết
sức mình để mang lại phúc lợi cho người dân ở đây”. Đầy bất ngờ, Lanchen Lạt Ma đã lợi dụng
cơ hội này tuyên đọc một tường trình gay gắt về sự cai trị của
Trung Quốc ở Tây Tạng, họ tuyên bố sự cai trị đó tạo ra hậu quả phương
hại hơn là phúc lợi cho người dân Tây Tạng. Những lời nói can đảm đó
đã làm người Tàu hoảng hốt và coi đó là dấu hiệu phê bình (còn hạn
chế) của những người Tây Tạng tân tiến. Chừng vài ngày sau cuộc
họp đó, Panchen Lạt Ma chết tại Tashi Lhunpo, là tu viện của ngài ở
Shigaste. Nhiều người Tây Tạng tin rằng có bàn tay của Hồ Cẩm Đào
trong cái chết bất thường của Lanchen Lạt Ma. Cái chết của Lanchen Lạt
Ma tạo ra một khoảng trống lãnh đạo chưa ai có thể thay thế. Cuối năm đó, vào ngày
10 tháng 12, 1989 Đạt Lai Lạt Ma nhận
được giải Hòa Bình Nobel, đưa đẩy nhà lãnh đạo lưu vong này bước vào
sân khấu quốc tế với sự tín nhiệm và uy tín. Do đó, Hồ Cẩm Đào đối
diện với một tình huống là không có một người lãnh đạo Tây Tạng
nào khác để hợp tác đối chọi, trong khi Đức Đạt Lai Lạt Ma mỗi lúc
mỗi nổi bật trên trường quốc tế. Cái chết của Lạt Ma
Lanchen để lại cho người dân Tây Tạng một niềm mất mát sâu thẳm,
nhân lên và rộng ra sự tin tưởng cái chết của Ngài là một nguyên nhân
bất thường, chuyên chở thêm những cuộc nổi dậy. Đầu tháng 3, 1989, những
cuộc biểu tình khổng lồ tương tự như những cuộc tổng nổi dậy của
hàng ngàn người dân Tây Tạng, chiếm lấy đường phố, họ rào cản các
khu vực riêng biệt của người Tây Tạng ở Lasha, và đổ vào cướp phá
những cửa hàng của Tàu. Ước chừng 40 đến 130 người Tây Tạng bị Cảnh
sát Nhân Dân Vũ Trang bắn chết trong thời gian ba ngày, trong lúc quân Tàu
tìm cách tái chiếm đóng các khu phố. Cảnh sát bắn bừa bãi vào các khu
dân cư này, không chỉ giết những người biểu tình mà còn giết chết những
người dân ẩn núp trong nhà họ. Trong một buổi phát thanh vào ngày 20
tháng 4, 1989, Hồ tuyên bố những cuộc biểu tình ấy là “hậu quả
nghiêm trọng” trong tiến trình 40 năm chiếm đóng, ngang với cuộc nổi dậy
của dân Tây Tạng vào tháng 3, 1959 đòi “cải cách dân chủ”, và cuộc
chiến tranh Ấn-Hoa vào năm 1962. Giữa đêm 7 tháng 3, sau
khi điện đàm xin chỉ thị ở Bắc Kinh, Hồ Cẩm Đào đột ngột ban hành
thiết quân luật ở Lasha, sau hơn một thập niên “giải phóng” Tây Tạng.
Hồ giám sát một cuộc đổ quân hơn 2.000 lính Quân đội Giải phóng Nhân
Dân để chiếm đóng thủ đô Lasha, bắt giữ hàng trăm người Tây Tạng.
Trong những năm tiếp sau thiết quân luật, nhiều nhà tù thiết lập tràn
ngập tù nhân, và những người bị giam cầm bị đối xử một cách tàn
ác và kinh hoàng -theo tường trình đặc biệt về tra tấn của Tổ chức
Liên Hiệp Quốc. Vào mùa hè 1989, khi thiết
quân luật đang thi hành ở Bắc Kinh sau vụ nổi loạn ở Công trường Thiên
An Môn, đã tức thời ảnh hưởng đến Lasha và nhiều tháng sau đó. Vào lúc đó, Hồ Cẩm Đào gởi điện tín
hổ trợ và chúc mừng “chính sách đàn áp” thành công. Có nhiều người cho rằng,
hành động của Hồ Cẩm Đào ở Tây Tạng xảy ra là bởi ông không còn sự
chọn lựa nào khác. Giáo sư Joseph Fewsmith, một chuyên viên về Tàu tại Đại
học Boston, nói : “Không nghi ngờ là
Hồ Cẩm Đào đã thi hành nhiệm vụ của ông một cách có hiệu quả, nhưng
chỉ là lý do rất nhỏ buộc ông phải chịu trách nhiệm khi quyết định
những chính sách này. Ông chỉ có 45 tuổi, tân bổ nhiệm Bí Thư Đảng, một
chức vụ dân sự đầu tiên ở Tây Tạng, bị bao vây chung quanh toàn những
nhân vật của QĐND (PLA) về hưu tóc đã hoa râm, chắc hẳn phải có những
ý kiến riêng tư làm thế nào để thực thi một chính sách cho người Tây
Tạng. Và một sự thực không thể nghi ngờ rằng, nếu Hồ đóng vai trò
“mềm yếu” để đương cự với những cuộc bất ổn dân sự, chắc chắn
ông đã bị thay thế bằng sự bổ nhiệm khác rồi.” Liệu có phải do tình
huống đã buộc Hồ Cẩm Đào phải hành động như ở VTTT; với chức vụ
cao nhất, ông đã chấp thuận và thi áp đặt những chính sách bạo-hành
và phải chịu trách nhiệm với các hành động đó. Ít nhất là có 25 tù
nhân chính trị ở nhà tù Drapchi vẫn còn bị tù tội trong thời gian ông
cai trị; trong số họ có những trường hợp thể hiện chính sách lộ liễu
nhất chống lại dân tộc tính Tây Tạng. Cũng
trong giai đoạn này, phương thức đối phó với các tù nhân chính trị
thay đổi bằng cách dùng tới các công cụ trả thù như cô lập hóa những
tù nhân bị cho là hay gây sự và đánh đập tù nhân tập thể và gia tăng
thời hạn ở tù của họ. Dư luận rộng rãi tin Hồ
Cẩm Đào không thật sự bỏ sức làm việc ở VTTT. Không giống như những
sự bổ nhiệm Đảng trước đó ở các thị trấn Nhà quan sát về Trung Quốc
Jonathan Mirsky kiểm điểm các sự kiện thời sự đã chứng minh Hồ không
hề tin cậy người Tây Tạng. Mirsky viết cho tờ “Người Bảo vệ” (the
Guardian) như sau: “Tôi có cơ hội gặp gỡ Hồ. Vì không biết tôi là ký
giả, ông ta đã bộc lộ thái độ không ưa nền văn hóa, khí hậu và cao
độ của Tây Tạng. Ông để vợ con ở Bắc Kinh, ông cho biết vì sợ rằng
nếu người Tây Tạng nổi dậy chống lại Trung Hoa, thì không một người
Tây Tạng nào muốn bảo vệ ông ta cả.” Ánh sáng chính trị đến
với Hồ Cẩm Đào bắt đầu vào mùa hè 1990, khi Triệu Tử Dương tổ chức
một cuộc viếng thăm nhằm mang đến cho Hồ một sự tự tin. Không lâu
sau đó, Hồ được bổ nhiệm làm Tổng Bí thư Ủy Ban Quân Ủy Đảng CS Tây
Tạng. Tuy thế, vào tháng 10, 1990 chưa tới 2 năm sau ngày bổ nhiệm, Hồ từ
giã Lasha và trở về Bắc Kinh. Vào lúc đó, nhiều nguồn tin cho rằng Hồ
bị vấn đề sức khỏe, do độ cao của Tây Tạng, nhưng điều đó có đúng
sự thật hay không, chưa ai biết rõ. Trong
một tiểu sử chính thức về ông thì ghi rằng, ông là người “can đảm
trong điều kiện khí hậu thiên nhiên của vùng cao nguyên đầy khắc nghiệt,
kể cả việc sống môi trường thiếu dưỡng khí.” Hai năm tiếp theo sau đó,
Hồ vẫn còn tiếp tục giữ vai trò Bí thư VVTT, nhưng lần này, sự cai trị
được chỉ đạo trực tiếp từ Bắc Kinh. Tháng 10, 1992 Hồ được
thăng chức vào Ủy ban Thường trực Trung ương Đảng CS Trung quốc, tạo
cho ông một thế đứng đầy quyền lực vào hàng thứ 7 ở Trung Quốc.
Trong tháng Giêng 1992, Chen Kulyuan được bổ nhiệm làm Phó Bí thư Đảng
ở Tây Tạng, một thay đổi chuẩn bị để thay thế Hồ Cẩm Đào vào cuối
năm đó. Có thể đó là dấu hiệu
khá hơn của ý thức hệ và khuynh hướng về cái gọi là chính sách “người
thiểu số” trong những năm trước đó của Hồ ở Lasha, cũng có thể để
Hồ ủng hộ Chen kéo dài một chính sách khắc nghiệt hơn nữa về tôn
giáo, văn hóa và vấn đề của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Dân Tây Tạng bắt đầu
quan tâm đến Chen Kuiyuan, một trong những người cai trị Tàu nghiệt ngã
nhất kể từ cuộc Cách Mạng Văn Hóa; nhiều cán bộ cao cấp Tây Tạng viết
thư về Bắc Kinh phàn nàn về chính sách khắc nghiệt của Chen. Những lời
van nài đó đã không được quan tâm và người ta tin chắc rằng chính Hồ
Cẩm Đào ở Bắc Kinh đã hổ trợ Chen trong chính sách khắc nghiệt đối
với Tây Tạng. (Giữa và cuối năm 1990, số
cán bộ cấp cao khác hổ trợ chính sách của Chen ở Tây Tạng còn có
thêm -Li Ruihuan, Chủ tịch Ủy ban Dân tộc của Ủy ban Tư vấn Chính trị
Nhân dân Trung quốc.) Chính sách về Tây Tạng
của chính quyền Trung quốc được xác định qua 04 cuộc hội nghị; kể từ
1980. Trong hội nghị lần thứ ba, được tổ chức ở Bắc Kinh tháng 7,
1994, đem ra tái duyệt để áp dụng rộng rãi hơn nữa, dù vậy, vai trò
qua sự hiện diện của Hồ Cẩm Đào trong hội nghị không được rõ
ràng. Mặc dù qua những tường
trình về vai trò Bí thư của họ Hồ ở VTTT, dân chúng Tây Tạng vẫn hy vọng
ông ta sẽ đóng vai trò tích cực cho tương lai Tây Tạng. Những nhà lãnh
đạo uy tín Tây Tạng hiện đang phục vụ ở VTTT và các khu vực khác, tin
tưởng Hồ có kinh nghiệm trực tiếp về cảm thức của người Tây Tạng,
ông ta có thể đáp ứng cho quyền lợi của người Tây Tạng hơn bất cứ
nhà lãnh đạo nào trong quá khứ. Vào ngày 9 tháng 11, 2001, Hồ đã trả lời
với các phóng viên báo chí ở Bá Linh, “Tôi đã ở Tây Tạng gần bốn năm,
và tôi rất thành thuộc hoàn cảnh ở đó.” Vài nhà phân tích thời
sự tin, Hồ Cẩm Đào có kinh nghiệm khi làm việc ở các tỉnh Gansu,
Guishou, và Vùng TTT; ông ta mang nhiều ưu điểm để thay đổi những chính
sách về “người thiểu số” ở Tây Tạng hơn hẳn những nhà cai trị về
trước. Hồ Cẩm Đào trãi qua
nhiều giai đoạn gắn liền với người dân Tây Tạng. Trong những cuộc họp
hàng năm của Quốc hội Nhân dân Trung Hoa (NPC) ở Bắc Kinh, thường có
truyền thống các nhà lãnh đạo quốc gia thường gặp gỡ các ủy viên miền,
Hồ là người đã đích thân gặp gỡ phái đoàn Tây Tạng. Vào ngày 5
tháng 3, 2002, Hồ đã tuyên hứa với phái bộ Tây Tạng trong hội nghị NPC
lần thứ 9 rằng, gia tăng phát triển kinh tế, đẩy mạnh cải cách và cải
thiện tiêu chuẩn đời sống của nhân dân là một nhiệm vụ trung tâm của
Tây Tạng trong kỷ nguyên lịch sử mới và sẽ giải quyết hết mọi vấn
đề then chốt ở đây. Những nhà lãnh đạo Tây
Tạng làm việc thân cận với Hồ Cẩm Đào có, Dorjee Tsering, Bộ trưởng
Dân sự vụ ở Bắc Kinh, và cựu Chủ tịch chính quyền VTTT; Tenzin, cựu
Phó Bí thư Đảng Cộng sản Trung Hoa VTTT (TAR CCP); Ragdi và Passang, đồng Phó
Bí thư TAR CCP; và Dorjee Tseten, một cựu Chủ tịch khác của chính quyền
VTTT. Cái chết của Panchen Lạt Ma đã làm bế tắc khó khăn để tìm những
giải pháp, bởi đó là nhà tu sĩ có uy lực vào hàng thứ hai trong xã hội
Tây Tạng. ( Với cương vị của một Chủ tịch nước Trung Hoa, Hồ phải
có trách nhiệm về số phận của Panchen Lạt Ma, và Gedhun Choekyi Nyima –được
biết là bị giam giữ ở ngoài Bắc Kinh.) Hơn nữa, sự quan tâm của
dư luận với Hồ Cẩm Đào đối với vấn đề Tây Tạng và ngài Đạt
Lai Lạt Ma, sẽ không thể xóa nhòa bằng những lời tuyên bố. Ngày 19
tháng 7, 2001 ở Lasha, Hồ đã đọc một bài diễn văn nhân chào mừng sinh
nhật thứ 50 “giải phóng hòa bình Tây Tạng”; ông ta nói, “Vấn đề nòng
cốt là chiến đấu hai mặt chống lại những hoạt động phân ly của bè
lũ Đạt Lai và lực lượng chống-Tàu trên khắp thế giới…” Tuy vậy, vào ngày 7
tháng 3, 2002 ông Lodi Gyari, Đặc Sứ của Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhà thương
thảo được chỉ định của Ngài đến thảo luận với Trung quốc, đã
tuyên bố trong một cuộc điều trần trước quốc hội (nhân dân) rằng, yếu
tố cụ thể nhất là Hồ Cẩm Đào hiểu biết hoàn cảnh Tây Tạng từ
kinh nghiệm đầu tay. Trong một diễn văn mới đây của Hồ trong cuộc họp
báo ở Bá Linh vào tháng 11, 2001, Hồ nói rằng : “sẽ thương thảo với
Đạt Lai Lạt Ma khi nào ngài tuyên bố Tây Tạng và Đài Loan là những phần
không thể tách rời của Trung quốc.” Đó
là một thứ công thức cứng nhắc, phù hợp với văn phong kém cỏ
© Copyright 2006 giaodiem.com |
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com