july_gold_mb.gif (4348 bytes)
          posted: 07.7.2006

706-hu-tibet-1.gif (12435 bytes)

Bộ mặt che dấu đàng sau của Hồ Cẩm Đào
(Background Information on Hu JinTao)

Thường Đức chuyển ngữ

Source:
http://www.savetibet.org/news/positionpapers/hujintao.php?printable=yes

Trong suốt nhiệm kỳ làm Bí Thư Đảng của Vùng Tự Trị Tibet (viết tắt: VTTT = TAR = Tibet Autonomous Region), Hồ Cẩm Đào (Hu Jintao) thiết lập cơ chế ủy nhiệm của một nhà trị trị cứng rắn ở Tây Tạng, kể cả việc sử dụng lực lượng sát thủ chống lại những người biếu tình Tây Tạng tay không và cho áp dụng thiết quân luật ở Lasha.

Hồ Cẩm Đào được bổ nhiệm Bí Thư Đảng ở VTTT vào tháng 12, 1988, một chức vụ mà ông thường vắng mặt, cho đến năm 1992. Chức vụ sau cùng của ông ở Tây Tạng trước thời Đặng Tiểu Bình –một nhà lãnh đạo tối cao, chọn lựa ông để chuẩn bị thay thế Triệu Tử Dương (Jiang Zemin).

Hồ Cẩm Đào thay thế người tiền nhiệm là Wu Jinghua, một người có tiếng là cởi mở, bình dân. Wu từng là người thi hành những chính sách tự do, do Hồ Diệu Bang (Hu Yaobang) khởi động, chẳng hạn như giảm thiểu số cán bộ người Tàu ở Tây Tạng, nâng cấp những người Tây Tạng lên hàng lãnh đạo. Khi sự thay thế người tiền nhiệm ông Wu mới được nghe đồn, Lanchen Lạt Ma -một nhân vật rất có ảnh hưởng đương thời, đã mạnh mẽ ‘lobby’ hậu trường chính trị Bắc Kinh để cho người Tây Tạng được giữ chức vụ đó. Sự bổ nhiệm Wu là một điều đầy hứa hẹn. Wu người dân tộc Yi, chứ không phải là Hán tộc, và là người rất được Panchen Lạt Ma ngưỡng mộ.  Về sau đó, Đảng (CS Tàu) cho rằng Wu quá dễ dãi ở Tây Tạng, ông bị cáo buộc là đã tạo ra không khí chính trị đưa tới những cuộc biểu tình có khuynh hướng đòi độc lập cuối năm 1987 và đầu năm 1988.

Quyết định bổ nhiệm Hồ Cẩm Đào vào chức vụ Bí Thư Đảng ở VTTT, một phần, là để chứng tỏ quân sự sẽ đóng vai trò sâu đậm hơn so với bất cứ tỉnh hay vùng tự trị nào khác. Dĩ nhiên sự bổ nhiệm này, đối với Hồ Cẩm Đào là một hình thức hạ tầng công tác so với tham vọng chính trị trong Đảng của ông, nhưng Bắc Kinh lại muốn có một người mà họ tin tưởng cứng rắn để trở thành công cụ khắc nghiệt thi hành những chính sách của Đảng ở một nơi đầy ngang bướng.

Hồ Cẩm Đào được loan báo bổ nhiệm vào ngày 9 tháng 12, 1988. Ngày hôm sau, đáp lễ cho sự bổ nhiệm này là một cuộc biểu tình rộng lớn đổ xuống Lasha, thủ đô của Tây Tạng. Cảnh Sát Vũ Trang Nhân Dân nổ súng bắn ngang những người biểu tình, giết chết nhiều người Tây Tạng cầm lá quốc kỳ (bị cấm) và làm thương tích nghiêm trọng người chụp hình Hòa Lan.

Hồ Cẩm Đào nhận nhiệm chức ở Lasha vào giữa tháng Giêng, 1989; và việc đầu tiên là tổ chức một cuộc họp với nhà lãnh đạo Phật Giáo Tây Tạng, để thuyết phục rằng –ông muốn được người Tây Tạng coi ông như một người kính trọng tôn giáo ở đất nước này. Vào ngày 23 tháng Giêng, Hồ thăm viếng Shigaste, là nơi cư ngụ của Lanchen Lạt Ma; rồi nhân danh ông để triệu tập một cuộc họp. Hồ ngồi bên cạnh Lanchen Lạt Ma và tuyên bố “ông tự coi mình như một người dân Tây Tạng” và “muốn chia sẻ với số phận của Tây Tạng và làm hết sức mình để mang lại phúc lợi cho người dân ở đây”.  Đầy bất ngờ, Lanchen Lạt Ma đã lợi dụng cơ hội này tuyên đọc một tường trình gay gắt về sự cai trị của Trung Quốc ở Tây Tạng, họ tuyên bố sự cai trị đó tạo ra hậu quả phương hại hơn là phúc lợi cho người dân Tây Tạng. Những lời nói can đảm đó đã làm người Tàu hoảng hốt và coi đó là dấu hiệu phê bình (còn hạn chế) của những người Tây Tạng tân tiến.

Chừng vài ngày sau cuộc họp đó, Panchen Lạt Ma chết tại Tashi Lhunpo, là tu viện của ngài ở Shigaste. Nhiều người Tây Tạng tin rằng có bàn tay của Hồ Cẩm Đào trong cái chết bất thường của Lanchen Lạt Ma. Cái chết của Lanchen Lạt Ma tạo ra một khoảng trống lãnh đạo chưa ai có thể thay thế.

Cuối năm đó, vào ngày 10 tháng 12, 1989  Đạt Lai Lạt Ma nhận được giải Hòa Bình Nobel, đưa đẩy nhà lãnh đạo lưu vong này bước vào sân khấu quốc tế với sự tín nhiệm và uy tín. Do đó, Hồ Cẩm Đào đối diện với một tình huống là không có một người lãnh đạo Tây Tạng nào khác để hợp tác đối chọi, trong khi Đức Đạt Lai Lạt Ma mỗi lúc mỗi nổi bật trên trường quốc tế.

Cái chết của Lạt Ma Lanchen để lại cho người dân Tây Tạng một niềm mất mát sâu thẳm, nhân lên và rộng ra sự tin tưởng cái chết của Ngài là một nguyên nhân bất thường, chuyên chở thêm những cuộc nổi dậy. Đầu tháng 3, 1989, những cuộc biểu tình khổng lồ tương tự như những cuộc tổng nổi dậy của hàng ngàn người dân Tây Tạng, chiếm lấy đường phố, họ rào cản các khu vực riêng biệt của người Tây Tạng ở Lasha, và đổ vào cướp phá những cửa hàng của Tàu. Ước chừng 40 đến 130 người Tây Tạng bị Cảnh sát Nhân Dân Vũ Trang bắn chết trong thời gian ba ngày, trong lúc quân Tàu tìm cách tái chiếm đóng các khu phố. Cảnh sát bắn bừa bãi vào các khu dân cư này, không chỉ giết những người biểu tình mà còn giết chết những người dân ẩn núp trong nhà họ. Trong một buổi phát thanh vào ngày 20 tháng 4, 1989, Hồ tuyên bố những cuộc biểu tình ấy là “hậu quả nghiêm trọng” trong tiến trình 40 năm chiếm đóng, ngang với cuộc nổi dậy của dân Tây Tạng vào tháng 3, 1959 đòi “cải cách dân chủ”, và cuộc chiến tranh Ấn-Hoa vào năm 1962.

Giữa đêm 7 tháng 3, sau khi điện đàm xin chỉ thị ở Bắc Kinh, Hồ Cẩm Đào đột ngột ban hành thiết quân luật ở Lasha, sau hơn một thập niên “giải phóng” Tây Tạng. Hồ giám sát một cuộc đổ quân hơn 2.000 lính Quân đội Giải phóng Nhân Dân để chiếm đóng thủ đô Lasha, bắt giữ hàng trăm người Tây Tạng. Trong những năm tiếp sau thiết quân luật, nhiều nhà tù thiết lập tràn ngập tù nhân, và những người bị giam cầm bị đối xử một cách tàn ác và kinh hoàng -theo tường trình đặc biệt về tra tấn của Tổ chức Liên Hiệp Quốc.

Vào mùa hè 1989, khi thiết quân luật đang thi hành ở Bắc Kinh sau vụ nổi loạn ở Công trường Thiên An Môn, đã tức thời ảnh hưởng đến Lasha và nhiều tháng sau đó.  Vào lúc đó, Hồ Cẩm Đào gởi điện tín hổ trợ và chúc mừng “chính sách đàn áp” thành công.

Có nhiều người cho rằng, hành động của Hồ Cẩm Đào ở Tây Tạng xảy ra là bởi ông không còn sự chọn lựa nào khác. Giáo sư Joseph Fewsmith, một chuyên viên về Tàu tại Đại học Boston, nói :  “Không nghi ngờ là Hồ Cẩm Đào đã thi hành nhiệm vụ của ông một cách có hiệu quả, nhưng chỉ là lý do rất nhỏ buộc ông phải chịu trách nhiệm khi quyết định những chính sách này. Ông chỉ có 45 tuổi, tân bổ nhiệm Bí Thư Đảng, một chức vụ dân sự đầu tiên ở Tây Tạng, bị bao vây chung quanh toàn những nhân vật của QĐND (PLA) về hưu tóc đã hoa râm, chắc hẳn phải có những ý kiến riêng tư làm thế nào để thực thi một chính sách cho người Tây Tạng. Và một sự thực không thể nghi ngờ rằng, nếu Hồ đóng vai trò “mềm yếu” để đương cự với những cuộc bất ổn dân sự, chắc chắn ông đã bị thay thế bằng sự bổ nhiệm khác rồi.”

Liệu có phải do tình huống đã buộc Hồ Cẩm Đào phải hành động như ở VTTT; với chức vụ cao nhất, ông đã chấp thuận và thi áp đặt những chính sách bạo-hành và phải chịu trách nhiệm với các hành động đó. Ít nhất là có 25 tù nhân chính trị ở nhà tù Drapchi vẫn còn bị tù tội trong thời gian ông cai trị; trong số họ có những trường hợp thể hiện chính sách lộ liễu nhất chống lại dân tộc tính Tây Tạng.  Cũng trong giai đoạn này, phương thức đối phó với các tù nhân chính trị thay đổi bằng cách dùng tới các công cụ trả thù như cô lập hóa những tù nhân bị cho là hay gây sự và đánh đập tù nhân tập thể và gia tăng thời hạn ở tù của họ.

Dư luận rộng rãi tin Hồ Cẩm Đào không thật sự bỏ sức làm việc ở VTTT. Không giống như những sự bổ nhiệm Đảng trước đó ở các thị trấn Gansu và Guizou, họ thường thăm viếng dân liên tục, Hồ trái lại rất ít khi dám mạo hiểm đi về các vùng thôn quê. Vào lúc mà Hồ Cẩm Đào được bổ nhiệm Bí Thư ở VTTT, Hồ đang ngóng mắt về Bắc Kinh để chuẩn bị được giữ vai trò quan trọng hơn.

Nhà quan sát về Trung Quốc Jonathan Mirsky kiểm điểm các sự kiện thời sự đã chứng minh Hồ không hề tin cậy người Tây Tạng. Mirsky viết cho tờ “Người Bảo vệ” (the Guardian) như sau: “Tôi có cơ hội gặp gỡ Hồ. Vì không biết tôi là ký giả, ông ta đã bộc lộ thái độ không ưa nền văn hóa, khí hậu và cao độ của Tây Tạng. Ông để vợ con ở Bắc Kinh, ông cho biết vì sợ rằng nếu người Tây Tạng nổi dậy chống lại Trung Hoa, thì không một người Tây Tạng nào muốn bảo vệ ông ta cả.”

Ánh sáng chính trị đến với Hồ Cẩm Đào bắt đầu vào mùa hè 1990, khi Triệu Tử Dương tổ chức một cuộc viếng thăm nhằm mang đến cho Hồ một sự tự tin. Không lâu sau đó, Hồ được bổ nhiệm làm Tổng Bí thư Ủy Ban Quân Ủy Đảng CS Tây Tạng. Tuy thế, vào tháng 10, 1990 chưa tới 2 năm sau ngày bổ nhiệm, Hồ từ giã Lasha và trở về Bắc Kinh. Vào lúc đó, nhiều nguồn tin cho rằng Hồ bị vấn đề sức khỏe, do độ cao của Tây Tạng, nhưng điều đó có đúng sự thật hay không, chưa ai biết rõ.  Trong một tiểu sử chính thức về ông thì ghi rằng, ông là người “can đảm trong điều kiện khí hậu thiên nhiên của vùng cao nguyên đầy khắc nghiệt, kể cả việc sống môi trường thiếu dưỡng khí.”

Hai năm tiếp theo sau đó, Hồ vẫn còn tiếp tục giữ vai trò Bí thư VVTT, nhưng lần này, sự cai trị được chỉ đạo trực tiếp từ Bắc Kinh.

Tháng 10, 1992 Hồ được thăng chức vào Ủy ban Thường trực Trung ương Đảng CS Trung quốc, tạo cho ông một thế đứng đầy quyền lực vào hàng thứ 7 ở Trung Quốc. Trong tháng Giêng 1992, Chen Kulyuan được bổ nhiệm làm Phó Bí thư Đảng ở Tây Tạng, một thay đổi chuẩn bị để thay thế Hồ Cẩm Đào vào cuối năm đó.

Có thể đó là dấu hiệu khá hơn của ý thức hệ và khuynh hướng về cái gọi là chính sách “người thiểu số” trong những năm trước đó của Hồ ở Lasha, cũng có thể để Hồ ủng hộ Chen kéo dài một chính sách khắc nghiệt hơn nữa về tôn giáo, văn hóa và vấn đề của Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Dân Tây Tạng bắt đầu quan tâm đến Chen Kuiyuan, một trong những người cai trị Tàu nghiệt ngã nhất kể từ cuộc Cách Mạng Văn Hóa; nhiều cán bộ cao cấp Tây Tạng viết thư về Bắc Kinh phàn nàn về chính sách khắc nghiệt của Chen. Những lời van nài đó đã không được quan tâm và người ta tin chắc rằng chính Hồ Cẩm Đào ở Bắc Kinh đã hổ trợ Chen trong chính sách khắc nghiệt đối với Tây Tạng. (Giữa và cuối năm 1990,  số cán bộ cấp cao khác hổ trợ chính sách của Chen ở Tây Tạng còn có thêm -Li Ruihuan, Chủ tịch Ủy ban Dân tộc của Ủy ban Tư vấn Chính trị Nhân dân Trung quốc.)

Chính sách về Tây Tạng của chính quyền Trung quốc được xác định qua 04 cuộc hội nghị; kể từ 1980. Trong hội nghị lần thứ ba, được tổ chức ở Bắc Kinh tháng 7, 1994, đem ra tái duyệt để áp dụng rộng rãi hơn nữa, dù vậy, vai trò qua sự hiện diện của Hồ Cẩm Đào trong hội nghị không được rõ ràng.

Mặc dù qua những tường trình về vai trò Bí thư của họ Hồ ở VTTT, dân chúng Tây Tạng vẫn hy vọng ông ta sẽ đóng vai trò tích cực cho tương lai Tây Tạng. Những nhà lãnh đạo uy tín Tây Tạng hiện đang phục vụ ở VTTT và các khu vực khác, tin tưởng Hồ có kinh nghiệm trực tiếp về cảm thức của người Tây Tạng, ông ta có thể đáp ứng cho quyền lợi của người Tây Tạng hơn bất cứ nhà lãnh đạo nào trong quá khứ. Vào ngày 9 tháng 11, 2001, Hồ đã trả lời với các phóng viên báo chí ở Bá Linh, “Tôi đã ở Tây Tạng gần bốn năm, và tôi rất thành thuộc hoàn cảnh ở đó.”

Vài nhà phân tích thời sự tin, Hồ Cẩm Đào có kinh nghiệm khi làm việc ở các tỉnh Gansu, Guishou, và Vùng TTT; ông ta mang nhiều ưu điểm để thay đổi những chính sách về “người thiểu số” ở Tây Tạng hơn hẳn những nhà cai trị về trước.

Hồ Cẩm Đào trãi qua nhiều giai đoạn gắn liền với người dân Tây Tạng. Trong những cuộc họp hàng năm của Quốc hội Nhân dân Trung Hoa (NPC) ở Bắc Kinh, thường có truyền thống các nhà lãnh đạo quốc gia thường gặp gỡ các ủy viên miền, Hồ là người đã đích thân gặp gỡ phái đoàn Tây Tạng. Vào ngày 5 tháng 3, 2002, Hồ đã tuyên hứa với phái bộ Tây Tạng trong hội nghị NPC lần thứ 9 rằng, gia tăng phát triển kinh tế, đẩy mạnh cải cách và cải thiện tiêu chuẩn đời sống của nhân dân là một nhiệm vụ trung tâm của Tây Tạng trong kỷ nguyên lịch sử mới và sẽ giải quyết hết mọi vấn đề then chốt ở đây.

Những nhà lãnh đạo Tây Tạng làm việc thân cận với Hồ Cẩm Đào có, Dorjee Tsering, Bộ trưởng Dân sự vụ ở Bắc Kinh, và cựu Chủ tịch chính quyền VTTT; Tenzin, cựu Phó Bí thư Đảng Cộng sản Trung Hoa VTTT (TAR CCP); Ragdi và Passang, đồng Phó Bí thư TAR CCP; và Dorjee Tseten, một cựu Chủ tịch khác của chính quyền VTTT. Cái chết của Panchen Lạt Ma đã làm bế tắc khó khăn để tìm những giải pháp, bởi đó là nhà tu sĩ có uy lực vào hàng thứ hai trong xã hội Tây Tạng. ( Với cương vị của một Chủ tịch nước Trung Hoa, Hồ phải có trách nhiệm về số phận của Panchen Lạt Ma, và Gedhun Choekyi Nyima –được biết là bị giam giữ ở ngoài Bắc Kinh.)

Hơn nữa, sự quan tâm của dư luận với Hồ Cẩm Đào đối với vấn đề Tây Tạng và ngài Đạt Lai Lạt Ma, sẽ không thể xóa nhòa bằng những lời tuyên bố. Ngày 19 tháng 7, 2001 ở Lasha, Hồ đã đọc một bài diễn văn nhân chào mừng sinh nhật thứ 50 “giải phóng hòa bình Tây Tạng”; ông ta nói, “Vấn đề nòng cốt là chiến đấu hai mặt chống lại những hoạt động phân ly của bè lũ Đạt Lai và lực lượng chống-Tàu trên khắp thế giới…”

Tuy vậy, vào ngày 7 tháng 3, 2002 ông Lodi Gyari, Đặc Sứ của Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhà thương thảo được chỉ định của Ngài đến thảo luận với Trung quốc, đã tuyên bố trong một cuộc điều trần trước quốc hội (nhân dân) rằng, yếu tố cụ thể nhất là Hồ Cẩm Đào hiểu biết hoàn cảnh Tây Tạng từ kinh nghiệm đầu tay. Trong một diễn văn mới đây của Hồ trong cuộc họp báo ở Bá Linh vào tháng 11, 2001, Hồ nói rằng : “sẽ thương thảo với Đạt Lai Lạt Ma khi nào ngài tuyên bố Tây Tạng và Đài Loan là những phần không thể tách rời của Trung quốc.”  Đó là một thứ công thức cứng nhắc, phù hợp với văn phong kém ci của Hồ, và cũng có thể là dấu hiệu báo trước lý lẽ của một trận tuyến mới.

 

© Copyright 2006 giaodiem.com

In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com