july_gold_mb.gif (4348 bytes)
          posted: 21.7.2006

         Phần ba : “Chiến dịch Nước Lũ” làm đắm chìm luôn Dinh Độc Lập

10

Mme Nhu

       Trong trời sẩm tối và ánh sáng dần phai của một tháng Tám êm ả, các toà nhà cất bằng đá cẩm thạch đẽo của Đại học Cornell tại Ithaca, New York nhuốm đầy vẻ cổ kính và thiêng liêng.  Những đầu hồi cao kiểu tân-gôtic chuồi các kẽ nứt mờ mờ ra bên trên sân cỏ bốn phía được viền rào dậu thẳng tắp hiệp với tiếng chim âm thầm rền rĩ láy đi láy lại chuẩn bị vào đêm làm sâu lắng thêm bầu không khí êm đềm tịch mịch của khu đại học trong thời gian nghỉ hè vắng vẻ.

      Không gian tĩnh lặng ấy hình như chỉ xao động đôi chút bởi hình dáng đang soãi bước của Joseph Sherman khi anh nhô mình ra khỏi cổng chính của Uris Hall, nơi từ năm 1950 tới nay đã thành trụ sở của Chương trình Đông Nam Á thuộc Phân khoa Nghiên cứu Viễn Đông.  Joseph vừa kết thúc buổi hướng dẫn cuộc thảo luận chuyên đề của học kỳ hè; trong khi đi ngang những bãi cỏ lốm đốm sáng để tới toà nhà cư xá của phân khoa, trong bước anh đi có điều gì bồn chồn ray rứt như tỏ cho thấy anh không bao giờ có thể hoà mình trọn vẹn vào lối sống bình lặng và trầm tư của thế giới hàn lâm đại học.

      Dù tuổi đã ngoài năm mươi, mái tóc vàng hoe của Joseph chỉ hơi điểm bạc.   Thân thể gọn ghẽ, hai vai rộng và lưng thẳng, anh vẫn giữ được vóc dáng của một người thuở thanh niên từng là vận động viên, nhưng nét trầm ngâm quen thuộc với khoé miệng thường mím lại gợi cho thấy những căng thẳng sâu bên dưới bề mặt thể xác cường tráng ấy. 

      Tới trước lô phòng dành cho mình, hai lông mày của Joseph chợt nhíu lại sâu hơn khi ánh mắt anh rơi trên ấn bản mới nhất của tờ New York Times.  Được dàn ngang và trải rộng bốn cột nơi trang đầu với kiểu chữ in đậm dành cho những tin tức có tầm quan trọng lớn, tiêu đề chính của bản tin ghi rõ: “Khủng Hoảng Tại Nam Việt Nam Sâu Sắc Thêm — Lực Lượng Diệm Tấn Công Chùa Chiền”.  Anh lật đật cầm tờ báo lên, vừa mở cửa vừa đọc kỹ bản tin.

      Vào hẳn bên trong, tâm trí Joseph tạm thời xao lãng bởi một phong thư mà người quét dọn để sẵn trên mặt bàn nơi hành lang.  Gờ bao thư viền sọc xanh đỏ của loại thư gởi theo đường hàng không.  Chữ viết tay và con dấu bưu điện Sàigòn báo ngay cho anh biết đó là thư của Gary, con trai mình.  Anh ngừng đọc bản tin một chút, đủ mấy giây để nhét phong thư vào túi bên trong áo vét-tông, rồi lửng thửng đi vào phòng khách được bày biện đặc biệt với những đồ đạc phương đông.

      Sàn phòng trải thảm Trung Hoa, vách treo tranh sơn mài khảm xà cừ, các cuộn thư họa xuất xứ từ cố đô Huế và vài bức bình phong họa tiết con rồng An Nam năm móng dựng xen kẽ giữa các trường kỷ với những dãi gấm thêu kim tuyến từng có thời làm tăng phần vinh dự cho tư thất của các thượng quan nội triều Bắc Kinh.  Trên mỗi bàn và trong mỗi tủ trà đều có các nhóm đồ gốm Việt Nam, các bức tượng nhỏ bằng cẩm thạch, các bức tượng bồ tát thiếp vàng, lư hương sơn son hoặc nhiều hình nhân bằng sứ, lớn ngang người thật, mắt to đen nhánh, đang khoác lên mình bộ sưu tập y bào cung đình của Đông Dương hoặc Thái Lan màu sắc rực rỡ.

      Đứng giữa phòng, cầm tờ báo trên tay, Joseph dường như chỉ khuây khỏa trong chốc lát với các tác phẩm nghệ thuật mà anh đã bỏ nhiều công phu sưu tầm và tuyển chọn trong những năm dài ở Viễn Đông.   Theo tin tức của một cơ quan thông tấn đánh đi từ Sàigòn, ghi ngày 21 tháng Tám, thì đêm qua, hàng trăm binh sĩ và cảnh sát vũ trang, theo chiến dịch “Nước Lũ”, đã tràn vào chùa Xá Lợi và hàng trăm chùa chiền Phật giáo khác trên khắp miền nam. 

      Joseph lắc đầu không tin nổi khi đọc các chi tiết cho biết người ta tin rằng có mấy nhà sư bị sát hại, hàng trăm người bị đẩy vào nhà tù và tổng thống Ngô Đình Diệm tuyên bố tình trạng thiết quân luật.   Tin điện tường thuật còn cho biết xe tăng và xe thiết giáp đang án ngữ các vị trí giao lộ chính ở Sàigòn, Huế, và binh sĩ tuần hành khắp các đường phố.  Trong một lời tuyên bố chính thức, Ngô Đình Nhu, người em của tổng thống Diệm, đã mô tả các nhà sư là “Bọn đỏ đội lốt cà sa vàng” và cáo giác các thủ lãnh Phật giáo đang âm mưu tổ chức đảo chánh.

      Đọc xong bản tin, Joseph lầm bầm nguyền rủa, liệng tờ báo qua một bên.  Vì trong phòng đang tối dần, anh bật ngọn đèn có chụp bằng lụa rồi rút phong thư của Gary ra khỏi túi áo. 

      Giống hệt con người mình, chữ viết tay của Gary trên bao thư đều đặn, rõ nét, mang vẻ nhà binh.  Những trang thư bên trong được viết bằng bút máy trên giấy có ghi trọng lượng cân theo thư tín hàng không và tiêu đề Khách sạn Caravelle.  Joseph ngồi xuống bên ngọn đèn, đọc thư, cân nhắc cẩn thận từng dòng chữ với vẻ bồn chồn lộ rõ trên mặt, như thể đang sợ các trang thư ấy chứa đựng những thông tin mà anh khắc khoải ao ước mắt mình sẽ không bao giờ bắt gặp.

      Lá thư bắt đầu bằng ba chữ : “Bố thương mến,

      “Thật cũng khá ngạc nhiên cho con khi nhận được thư của bố sau nhiều năm hai bố con mình không viết cho nhau và cũng chẳng nói gì với nhau.  Con phải thừa nhận rằng phản ứng đầu tiên của con là ‘bối rối’ — vì những lý do mà con vẫn cảm thấy rất nhức nhối khi đi vào chi tiết. 

      “Trong một hai ngày, con đã thề với mình là dứt khoát không trả lời thư bố, nhưng sau khi đọc lại vài lần, con nghĩ mình bắt đầu nhận ra rằng lý ra con nên vui mừng vì bố đã có lòng lo lắng mà viết thư cho con sau những gì con đã phát biểu với bố trong cuộc gặp gỡ lần chót và đầy chua xót giữa hai bố con tại nhà bảo tàng.  Đồng thời, con cũng bắt đầu nhận ra rằng thật là ngu ngốc nếu con cứ quay lưng với một người am hiểu sâu xa về xứ sở này như bố — đặc biệt khi con bắt đầu cảm thấy mình chẳng thể nào hiểu nổi những cái kỳ cục đang diễn ra lòng vòng ở đây.

      “Vì thế, khi được một chuyến nghỉ phép cuối tuần tại Sàigòn sau nhiều lần bị trì hoản, con mang theo thư của bố để con có thể góp phần xua tan tình trạng băng giá giữa hai bố con.  Con cũng đã quyết định rằng, ít ra trong lúc này, con nên để yên những khúc mắc — như bố đã khôn ngoan làm như vậy trong thư của bố — và tránh không đề cập tới vấn đề tế nhị giữa bố với mẹ và quá khứ.  Con chỉ muốn nói rằng, với thời gian trôi qua, con bắt đầu cảm thấy có phần nào ân hận rằng con đã nhẫn tâm khi đề cập tới một số vấn đề, trong tất cả những gì con phát biểu với bố tại nhà bảo tàng.  Khi lớn khôn thêm, con bắt đầu nhận ra rằng không ai hoàn toàn xấu cũng chẳng ai hoàn toàn tốt, và mọi vấn đề thì hầu như lúc nào cũng có hai mặt. 

      “Lúc này, loại bỏ hẳn chuyện đó ra khỏi tâm tư, con sắp vận dụng hết trí óc của mình để đặt ra cho bố một vài câu hỏi ngớ ngẩn và kể cho bố nghe cuộc đời lính tráng ở nơi này nó khắc nghiệt và khốn nạn tới ngần nào.

      “Để phòng xa, con cũng sẽ bỏ bức thư này vào một thùng thư vô danh trên đường phố chứ không gởi nó qua đường dây quân bưu bình thường có kiểm duyệt.  Dĩ nhiên ngay thời buổi này mà có cơ hội làm được một việc như thế thì cũng có vẻ giống như đang ở trên thiên đường!  Những lạc thú văn minh của thành phố ngoại lai này được chào đón tận tình sau một đợt sáu tuần lễ lặn lội miệt mài trong các thửa ruộng để săn đuổi bọn Việt Cộng khốn nạn.  Con đã nghĩ rằng chân tay mình sẽ đen ngòm không rửa sạch nổi vì bùn sình nhưng lúc này, một ly bia lạnh vặt vãnh cũng có thể làm được những điều kỳ diệu, để phục hồi tinh thần của con — và để không nói gì tới những thiếu nữ Việt Nam đẹp tuyệt vời trong bộ quần áo mỏng manh bó sát cơ thể họ...

      “Và trong khi chúng ta đang đề cập tới vấn đề ấy thì xin bố đừng ngạc nhiên nếu một ngày nào đó con trở về nhà với một cô gái mắt xếch trong vòng tay.  Như bố hẳn đã biết, các thiếu nữ ở đây là một cảnh tượng dễ chịu dù con có thể bảo đảm với bố một điều duy nhất — rằng sẽ không có cô nào giống như kẻ ‘được-gọi-là-đệ-nhất-phu-nhân-của-ông-tổng-thống’, Madame Ngô Đình Nhu.  Bà ta có lẽ là đẹp không chịu nổi, nhưng lòng vòng ở đây, bà nổi tiếng là ‘Rồng Cái’ vì bà vừa mới hạ lệnh cấm vũ trường, nhạc twist, mãi dâm, li dị, ngừa thai, phá thai, đá gà... thực tế là cấm tất cả những gì làm cho một người Việt Nam trung bình cảm thấy cuộc đời này đáng sống.  Người ta đồn rằng sở dĩ bà làm như vậy là do bởi một đại sứ ngoại quốc từng là người tình của bà đã bỏ rơi bà vì chiếu cố một vũ nữ, và theo đúng nguyên tắc ‘giận cá chém thớt’, bà đóng cửa hết thảy các vũ trường như một hành động trả hận. Còn việc ông anh tổng thống khổ hạnh của bà ấy bảo vệ thuần phong mỹ tục trong phim ảnh thì kỹ lưỡng không chê vào đâu được.  Cách đây mấy tuần, con với mấy người bạn lò mò vào rạp Rex xem một cuốn phim của cô đào đợt sóng mới Brigitte Bardot.  Cứ tới đoạn nào người đẹp nước Pháp sắp đưa đôi môi văm ấy ra hôn thì bị cắt mất.  Anh bạn bác sĩ quân y cùng đi với con nói rằng cắt mấy cảnh ấy đi là phải, vì theo chỗ anh ta biết, các ông cụ bà cụ người Việt khi yêu nhau chỉ có hít chứ không có hôn!

      “Bố ạ, con hẳn không nói loanh quanh một chuyện như thế nếu nó không dẫn tới câu hỏi ngớ ngẩn thứ nhất của con là: tại làm sao chúng ta lại quyết định đi tiên phong ra mặt trận đánh giặc cho một chính quyền bị cầm đầu bởi những kẻ giống như bà ‘Rồng Cái’, ông chồng của bà ta và ông anh chồng của bà ta?   Thí dụ, cách thức họ đối phó với người Phật giáo khiến cho chúng ta hoàn toàn bị trở ngại.   Trong khi chúng con trải qua hàng tuần lễ bê bết từ đầu tới đuôi trong bùn sình nơi châu thổ sông Cửu Long, ra sức thắng cho được trận giặc này, thì họ cứ nhất quyết tiếp tục thua cho bằng được trận giặc này tại Sàigòn và các thành phố khác. 

      “Binh sĩ Nam Việt Nam trong đơn vị con đều đeo một mảnh vải nhỏ màu vàng mà người ta cho là đã cắt ra từ mấy chiếc áo cà sa dùng để di chuyển thi hài của nhà sư tự thiêu tới chết.  Họ bảo với con rằng mảnh vải ấy nói lên thái độ họ ủng hộ các Phật tử đang ra sức lật đổ cái chính quyền mà họ đang chiến đấu cho nó!  Còn nữa, các sĩ quan Phật giáo và Công giáo không chịu ngồi ăn chung bàn với nhau — bố có thể nói được ý nghĩa của việc đó không? Con thì dứt khoát là không nói được rồi!  Một sĩ quan Nam Việt Nam mà con kính trọng, vào một ngày nọ, đã nói với con rằng người Phật giáo rất đáng nghi ngờ là đang chịu ảnh hưởng của cộng sản — nhưng cái khốn nạn là hầu hết dân chúng tại Nam Việt Nam, trừ gia đình của Diệm, hình như đều là Phật tử, thế thì nói có Chúa chứng giám, chúng ta đang làm cái quái gì ở xứ sở này? (Cho tới lúc này, đó là câu hỏi ngớ ngẩn chót hết, con xin hứa.)

      “Bọn chúng con ở đây có cảm tưởng khá tồi tệ rằng hiện nay người Mỹ đang chết cho một chính quyền chỉ quan tâm tới việc bám víu vào quyền lực hơn là việc đánh Việt Cộng.   Chúng ta đang hy sinh số lượng to tát đô-la và mạng sống của người Mỹ còn người Việt thì chẳng tỏ dấu hiệu biết ơn nào mà còn hoàn toàn ngược lại.  Đông đảo quân nhân QĐQGVN đối tác thường tỏ vẻ hết sức ngạo mạn đối với chúng con.   Trong số họ, có rất nhiều người tạo cho con cái cảm tưởng là họ không chút nào muốn chúng con ở đây.  

      “Con không hiểu tại sao chúng ta không nhấc bàn toạ của mình lên và có thái độ cứng rắn đối với họ.  Con thử căn vặn chú Guy về vấn đề ấy vào hôm qua khi con gặp chú để cùng nhau uống rượu tại khách sạn Continental nhưng chú ấy cũng chẳng nói điều gì rõ rệt.  Chú ấy ngụ ý, hoặc nhiều hoặc ít, rằng vấn đề đó rất phức tạp, không hoàn toàn giải thích hết được với một trung úy nhà binh nhỏ nhít.  Chú chỉ ở với con được chừng năm phút rồi lật đật chạy lo việc chính trị vặt vãnh và bí ẩn nào đó mà chú cũng ngụ ý là tối mật và rất quan trọng.  Không khí ở đây, như bố đọc thấy rõ ràng trên báo chí, lúc này đầy dẫy các lời đồn về đảo chánh và phản đảo chánh.

      “Nhưng bất chấp mọi sự hoang mang và không hài lòng ấy, thật đáng ngạc nhiên là một số sĩ quan Hoa Kỳ ở đây đang quả thật càng ngày càng càng cảm thấy gắn bó, một cách mạnh mẽ và gần như có tính cách nghĩa vụ.  Dường như rừng rú, những cánh đồng lúa bất tận và những người bản xứ khó hiểu đều đang bỏ một loại bùa mê quái dị nào đó một số người trong chúng con.  Việc tình nguyện phục vụ thêm một nhiệm kỳ thứ hai không còn là hành động hoàn toàn bất thường, và con không chắc, như lời người ta thường nói, những thửa ruộng kia có bắt đầu quyến rũ con phần nào không.   Có lẽ vì càng không thể thăm dò thấu đáo nên người ta càng cảm thấy sự quyến rũ khác thường của Việt Nam.   Nhưng hơn mọi sự khác, bất cứ người Mỹ nào đến cái xứ sở nhỏ bé và đầy khích động này trong thời gian này đều chắc chắn phải kinh hoàng bởi tấn thảm kịch mà hằng ngày anh ta mắc vào đó — và hình như nó không bao giờ hạ màn.  Mỗi sĩ quan mà con trò chuyện đều có lối diễn tả riêng của từng người, người này thì về kinh nghiệm, người kia thì về sự đau khổ hãi hùng, và gần như ai nấy lúc nào cũng chấp nhận một cách thụ động.

      “Đã có điều gì đó xảy ra với con ở Mộc Linh, một cuộc phục kích mà có lẽ bố đã đọc về nó trên báo.  Người sĩ quan QĐQGVN đối tác với con dường như là một thanh niên tử tế khác thường — ngay trước khi Việt Cộng tấn công chúng con, anh nói rằng anh cực kỳ căm thù cộng sản vì chúng đã hành hạ và giết chết cha của anh trong cuộc chiến tranh Việt Pháp.  Vài phút sau đó, cả hai chân anh trúng mìn bay mất và sau đó, con khám phá ra Việt Cộng đã bắn một viên đạn vào thái dương bên trái anh như một phát súng ân huệ.  Có thể đó là vì anh ấy cùng tuổi và cùng cấp bậc với con, nhưng dù sao đi nữa, chính anh là người đã cá nhân hóa cuộc chiến cho con hiểu, khiến con lại quyết tâm buộc cộng sản phải trả giá, bằng một cách nào đó, trong lần kế tiếp mà chúng con tìm thấy bọn chúng.

      “Con thành thật xin lỗi vì đã kết thúc bức thư này với nốt nhạc u buồn như thế nhưng con không muốn bố đọc xong thư mà có cảm tưởng rằng cuộc chiến này khá tẻ nhạt.  Con nghĩ rằng đó cũng chính là cái khiến cho con muốn viết — trong khi suy nghĩ mà nếu con để nó lâu thêm nữa thì có thể con sẽ không bao giờ viết ra.  Vậy bố ạ, con xin nói rằng con rất vui về lá thư của bố và con sẽ cố hồi âm, xin Chúa phù hộ cho bố nếu bố muốn viết thư cho con lần nữa.  Nay thì đã tới lúc một hai ly bia lạnh trong quán cà phê trên vĩa hè đầy bóng mát đang mời gọi con, vậy con ngừng bút ở đây.

      “Con thân yêu của bố,

      “Gary.”

         Thả bàn tay đang cầm bức thư rơi thỏng xuống đùi, Joseph đưa mắt nhìn trống rỗng vào vũng tối bên kia vòng tròn ánh sáng toả ra từ ngọn đèn.   Trong một chốc bắp thịt trên mặt anh săn cứng như thể đang trải qua một cơn đau, kế đó, vẻ mặt dịu lại và anh nhắm mắt, dựa lưng vào thành trường kỷ. 

      Vẳng tới tai Joseph tiếng cửa trước mở ra rồi khép lại và tiếp theo, tiếng bước chân nhè nhẹ ngoài hành lang nhưng anh không quay mặt nhìn ra hoặc nhớm người lên.  Khoảnh khắc sau, hình háng lờ mờ của một thiếu nữ á đông với mái tóc đen mượt mà xoả ngang hông xuất hiện trên ngưỡng cửa.  Vì ban đêm trời nóng nên nàng mặc quần đùi ngắn, áo thun sát nách và chân không mang vớ, đi bằng đôi xăng-đan buộc dây da.

      - Joseph, anh không việc gì chứ?

      Giọng lo âu của người nữ ấy làm Joseph mở mắt và khi nàng lật đật băng qua phòng bước về phía anh, hai đùi trần lóng lánh màu hổ phách ngời lên dưới ánh đèn mờ đục.  Nàng dừng bước bên trường kỷ, đặt tay lên vai Joseph dò hỏi và vầng trán mịn màng của nàng cau lại với vẻ lo lắng:

      - Anh yên lặng quá và trong nhà vắng vẻ quá!

      Giọng nhỏ dần rồi im hẳn, nàng nhìn xuống bức thư anh vẫn cầm trong tay:

      - Có phải người đưa thư mang tới tin tức không được vui?

      Joseph lắc đầu, bỏ bức thư qua một bên rồi đứng lên:

      - Không.   Emerald ạ, anh không sao.  Chỉ là thư của Gary, con trai anh, gởi từ Việt Nam.

      - Thế thì em tới đây không uổng công.

      Emerald Bích Ngọc vừa nói vừa nghiêng đầu qua một bên và mỉm cười.   Đứng bên Joseph, nàng có vẻ nhỏ nhắn như một cô bé, đầu chỉ cao ngang ngực anh.  Nàng đưa xấp bản thảo dấu sẵn sau lưng ra:

      - Đây là chương thứ mười một của cái mà em hy vọng sau cùng giáo sư Sherman sẽ kết luận là một luận án tiến sĩ xuất sắc về “Loạn Thái Bình Thiên Quốc” — em đem theo đây để xin lời nhận xét của anh.

      Giọng Mỹ miền tây của Emerald không mang chút dấu vết nào cho thấy tổ tiên là người Hoa nhưng phong thái cũng như kiểu nói thì nhã nhặn thùy mị, rõ ràng có tính cách á đông, và Joseph buộc lòng phải nở nụ cười khi cầm xấp giấy từ tay nàng.

      Emerald dịu dàng vùi mặt vào ngực áo Joseph và choàng đôi cánh tay trần quanh hông anh:

      - Joseph ạ, anh nên cười nhiều hơn một chút.  Trông anh quá nghiêm nghị và xa cách, như thể suốt đời anh chưa lần nào có hạnh phúc.

      Trong một hai giây, Joseph nhìn xuống tập bản thảo rồi với nụ cười xin lỗi, anh đặt nó xuống mặt kỷ trà sơn son:

      - Emerald, anh xin lỗi, để nó đó anh đọc sau.  Lúc này anh không tập trung nổi đầu óc.  Đã bảy năm nay, bức thư đó là những lời đầu tiên con trai lớn của anh nói với anh — có lẽ nó làm cho tâm trí anh khó có thể để ý tới cái gì khác.

      Emerald rời Joseph và nắm tay anh, kéo anh cùng ngồi xuống bên nàng trên trường kỷ:

      - Có phải lá thư ấy làm anh rất phiền muộn?  Anh có muốn kể cho em nghe về nó không?

      Joseph ngồi tần ngần và đăm chiêu nhìn lá thư.  Emerald dịu dàng thúc giục:

      - Anh chưa lần nào kể cho em nghe về Gary hoặc cậu con trai kia của anh.   Joseph ạ, có phải cả hai anh em đều rất giống anh?

      Giọng Joseph nặng trỉu vẻ cam đành, anh nói mà không nhìn Emerald:

      - Anh chưa bao giờ nói tới Gary vì nó hai mươi lăm tuổi — cùng tuổi với em.

      Emerald thì thầm:        

      - Nhưng cái đó thì có gì quan trọng đâu.  Tuổi tác của anh đâu có làm thay đổi cách em cảm thấy về anh.    Nếu chuyện Gary đối với anh là quan trọng thì anh nói cho em nghe đi.

      Joseph nói, giọng trầm hẳn:

      - Anh cảm thấy hết sức khó khăn khi nói tới hai đứa con trai vì anh nhận thấy mình chịu hầu hết trách nhiệm về tình trạng oán hận nhau thậm tệ giữa ba cha con anh.  Ngay cả trong thời gian chúng lớn lên bên anh, anh cũng không dành nhiều thời giờ cho chúng vì anh bận rộn xê dịch khắp á đông.  Chúng về lại Mỹ rồi đi học tại đây, còn anh thì dường như để hết tâm trí vào công việc hơn là vào gia đình.   Kế đó anh rời bỏ mẹ của chúng và hoàn toàn biến mất khỏi cuộc đời của hai đứa kể từ lúc chúng chỉ mới mười mấy tuổi, và đó cũng là thời kỳ chúng bắt đầu có những suy nghĩ và dự phóng cho tương lai.   Phải mất tới một hai năm anh mới nhận ra mình quá lơ là và tệ bạc với con cái.   Rồi tới một ngày nọ, anh nhận được thư mẹ của chúng báo tin Gary quyết định vào trường võ bị West Point và Mark bắt đầu suy nghĩ tới chuyện trở thành phi công không lực — và anh thấy máu chạy rần rật lên đầu mình.

      - Tại sao như vậy?

      Joseph khích động, tay xoa xoa khắp mặt:

      - Vì đó chính là cái sau chót, cái cực chẳng đã mà anh muốn cho hai con trai mình.  Lúc anh ở vào tuổi của chúng, cha anh đã cố thuyết phục anh theo đuổi binh nghiệp.    Anh phải chống trả quyết liệt mới được đi theo con đường riêng của mình.  Sau khi vợ chồng anh li dị, mẹ chúng nó nhanh chóng thành hôn với một đại tá hiện dịch tại Lầu Năm Góc — và bỗng nhiên anh nhận ra rằng ảnh hưởng của ông ấy, hoặc có thể kể cả ảnh hưởng của cha anh, đã thay thế cho ảnh hưởng của anh.

      - Vậy lúc đó phản ứng của anh ra sao?

      - Anh viết thư cho Gary lẫn Mark, yêu cầu gặp hai anh em thật gấp.  Mark thẳng thừng từ chối.  Cả hai xem việc anh rời bỏ mẹ chúng là khá tồi tệ và Mark hoàn toàn không dung thứ.  Cuối cùng Gary đồng ý nói chuyện và nhân ngày nghỉ cuối tuần, anh bay về Washington gặp nó.

      - Rồi như vậy có lấp được phần nào lỗ hổng ấy không?

      Joseph lắc đầu thật mạnh:

      - Còn ngược lại nữa là khác — hai cha con rất thù nghịch nhau.  Cuối cùng, trong một chuyến về thăm nhà bảo tàng của dòng họ, Gary nặng lời đề cập đến vài sự thật chạnh lòng mà hễ nghĩ tới là anh lại cảm thấy nhức nhối.

      - Và có phải bức thư hôm nay cũng làm anh cảm thấy bị thương tổn?

      Joseph thở dài thêm lần nữa:

      - Không hẳn như vậy.  Anh đánh liều viết trước cho nó cách đây mấy tháng — sau khi các Phật tử ở Việt Nam bắt đầu làm cho mọi việc ra phức tạp.  Nó bị thuyên chuyển qua xứ đó đầu năm nay, và anh cứ suy nghĩ mãi, rằng trong hoàn cảnh như thế hẳn nó cảm thấy vô cùng hoang mang.  Anh chỉ đưa ra vài cái nhìn mà anh hy vọng có thể giúp nó cảm thấy đỡ lúng túng — và thành thật mà nói, anh cũng trông mong rằng biết đâu lá thư đó có thể là một đòn bẩy giúp anh có cách ăn nói dễ dàng hơn với nó.  Có lúc anh đã tưởng nó không thèm trả lời...

      - Nhưng cậu ấy đã trả lời; như vậy lúc này mọi sự giữa hai cha con anh có khá hơn không?

      - Có lẽ khá hơn một chút — nhưng rõ ràng thái độ của nó vẫn còn tương đối hạn chế.

      - Joseph ạ, để em kiếm cái gì mình uống — anh đang cần khuây khoả.

      Emerald bóp bàn tay Joseph rồi tuột xăng-đan và chạy chân trần vào bếp.   Thoáng sau, anh nghe có tiếng rượu rót róc rách, rồi ánh mắt anh lại rơi trên hàng chữ đầu đề về cuộtấn công chùa chiền và thêm lần nữa, anh cầm tờ báo lên.  Khi Emerald quay lại với hai ly rượu martini, Joseph vừa lãng đãng nhắp rượu vừa đọc những tường thuật về các phản ứng choáng váng tại Washington, và không để ý chút nào lúc Emerald mở hai hạt nút áo sơ-mi của anh, bắt đầu đưa tay mơn trớn ngực anh.

      Lướt môi trên thùy tai Joseph, Emerald thì thầm:

      - Joseph ạ, ngồi tại Cornell này mà lo âu thì chẳng thay đổi được gì ở phần đất bên kia địa cầu.  Xin anh hãy tạm thời quên hết chuyện đó.  Em nôn nóng suốt ngày chờ gặp anh — lúc này, mình vô giường nhé!

      Joseph miễn cưỡng đặt tờ báo xuống và uống cạn ly rượu. Emerald giúp anh cởi áo vét-tông rồi anh để nàng cầm tay dẫn vào phòng ngủ.    Khi cả hai đã bỏ hết quần áo, Joseph đặt lưng xuống, duỗi mình trên mặt giường lót bằng gỗ tếch và nằm nhìn lên trần nhà trong khi nàng tiếp tục ve vuốt bộ ngực trần của anh.  Dần dà cử động của nàng càng lúc càng gấp gáp hơn và các đầu ngón tay bắt đầu mơn trớn hai đùi anh.

      Emerald rúc người sát vào anh hơn, thì thầm:

      - Joseph ạ, anh có một thân thể trẻ trung hơn anh rất nhiều.  Em không nghĩ ra được là tại sao anh lại bận tâm tới việc Gary cùng tuổi với em.

      Cầm bàn tay Joseph kéo xuống giữa hai đùi mình, hơi thở nàng dồn dập:

      - Hẳn lúc này Kim Bình Mai nói với chúng ta là không nên lo lắng về đường bay mang điềm gỡ của lũ quạ, đúng không?  Một khi Kim Trụ của Thiên Long đã sẵn sàng nhập vào Ngọc Đình thì có phải cuốn sách khôn ngoan ấy nói rằng chúng ta chớ nên nghĩ tới điều gì khác?

      Emerald thở dồn dập và nâng thân thể nàng lên người của Joseph.   Sau cùng, khi anh siết chặt vòng tay quanh Emerald, nàng nhắm mắt và đáp ứng đầy khao khát những chuyển động của anh.  Nhưng trong Joseph sóng đam mê chưa kịp tràn bờ thì đã rút xuống và Emerald mở mắt, thấy anh đăm đăm nhìn mình đầy vẻ xa vắng:

      - Emerald, anh không thể — anh xin lỗi...

      Joseph đột ngột nói lời xin lỗi và lăn người sang một bên, kéo mền đắp lên phần dưới cơ thể mình.  Giọng Emerald bỗng ướt nước mắt phụng phịu:

      - Joseph, anh sao vậy?  Đôi khi mắt anh ngó em mà khiến cho em nghĩ rằng có vẻ như anh nhìn xuyên qua người em.   Như thể không có em trước mặt anh — như thể anh thật ra chẳng chút nào nhìn em.

      Nàng tiếp tục nhìn hai vai trần của Joseph với ánh mắt băn khoăn và hờn dỗi nhưng Joseph không quay mình lại đối mặt nàng, cũng không mở miệng nói ra câu trả lời nào.

11

       Hôm đó là một ngày hè ngột ngạt ở Washington với nhiệt độ lơ lửng trên ba mươi độ và những đám mây thật thấp, đục xám và ẩm ướt như những miếng giẻ rách nhớp nháp úp chụp lên thành phố.    Giờ đây, nằm thao thức trên giường gỗ tếch bên cạnh Emerald đang say ngủ, Joseph thấy mình vẫn có thể nhớ lại cái cảm giác sền sệt khi áo sơ-mi dán chặt da lưng dù từ ngày đó tới nay đã bảy năm.  Thậm chí anh còn bất giác nhớ rõ mồn một cái đỉnh tháp bút Đài Tưởng niệm Washington liệm kín trong mây khi xe tắc-xi chở anh từ sân bay tới bên ngoài Nhà Bảo tàng Ngành Vạn vật học Sherman ở Khu Thương mãi. 

      Thể theo lời đề nghị của Gary, Joseph đồng ý tới địa điểm đó để tránh việc hai cha con gặp nhau tại ngôi nhà ở Maryland nơi Gary và Mark sống chung với Tempe và người chồng mới của nàng hoặc những nhiêu khê không thể tránh do sự có mặt của thượng nghị sĩ Nathaniel và mẹ của Joseph tại toà nhà gia tộc ở Georgetown.

      Hai cha con gặp nhau vào thời gian nhà bảo tàng tạm thời đóng cửa để tân trang.  Gary lịch sự chào đón cha bên trong lối vào mặt tiền và Joseph còn nhớ bước chân con trai mình vang lên lạnh lùng trong các phòng trưng bày vắng vẻ phủ kín vải.  Nét mặt Gary bắt đầu để lộ điều gì đó bối rối mà cậu đang cảm thấy về việc một mình nói chuyện với cha sau nhiều năm dài đăng đẵng không liên lạc với nhau.  Bên ly cà-phê trong phòng dành cho công chúng vẫn mở cửa để thợ trang hoàng sử dụng, hai cha con trao đổi vài lời rời rạc, kế đó, Gary đề nghị đưa cha đi quanh xem những chỗ trưng bày mới được sửa sang lại.

      Chính ngay lúc cùng rảo bước vào khu vực tưởng niệm dành cho Chuck, Joseph bỗng nhận ra rằng bất cứ cơ hội mong manh nào mà hai cha con gặp nhau cũng đều có thể đưa tới kết quả hoàn toàn trái ngược bởi nền tảng của nó đã bị đục ruỗng trầm trọng vì những nhận xét thiếu thận trọng mà anh đưa ra thuở trước.

      - Gary ạ, đã mười lăm năm nay bố không ghé qua đây...

      Joseph nói như thể để mở đầu câu chuyện — rồi lập tức hối tiếc rằng mình đã nói ra câu đó.

      - Tại sao không ghé?

      Anh lưỡng lự, nhận thấy lời giải thích thành thật của mình chưa hẳn đã giúp được gì cho lý do hai cha con gặp gỡ nhau.

      - Bố rất không đồng ý với ông nội của con về việc có khôn ngoan hay không khi dựng lên một hoạt cảnh trưng bày ở đây...

      - Phải chăng bố có ý nói tới những con vật mà bác Chuck bắn được?

      Giọng Gary hờ hửng xa vắng và lúc đó Joseph tự hỏi biết đâu mình đừng giải thích thêm là một việc làm khôn ngoan.  Hai cha con đi ngang hoạt cảnh trong lồng kính trưng bày những con thú khổng lồ bị giết trong chuyến đi săn dài ngày tại Nam kỳ hơn ba mươi năm trước, và Joseph giật mình thấy rằng nhờ được chăm sóc tỉ mỉ và bảo quản kỹ lưỡng, con min xúi quẩy và con trâu đực ấy trông vẫn có vẻ vô cùng linh hoạt và mượt mà như khi chúng còn sống, còn lang thang trong các đồng cỏ bên ngoài Sàigòn.  Bộ khung và cảnh trí chung quanh chúng mới được tô vẽ lại cũng khiến cho hoạt cảnh có cái vẻ tươi mát mới mẻ tới độ choáng váng, và Joseph lại cảm thấy trong lòng mình nổi lên thêm một cơn kinh hãi khi nhìn cặp sừng sát nhân của con min khổng lồ có bướu từng húc Chuck tới chết. 

      Ngước mắt lên, Joseph thấy con trai đang chăm chú quan sát mình.  Gary trầm giọng hỏi, như thể chợt cảm nhận được cơn bối rối của cha:

      - Tại sao bố cho rằng trưng bày những hoạt cảnh này là sai lầm?

      - Gary ạ, ở tuổi đó, bố không thích nổ súng.  Bố nghĩ rằng hoạt cảnh này luôn luôn được nhìn như một đài tưởng niệm cho lòng kiêu hãnh không đúng chỗ của dòng họ Sherman.   Có trời mới biết hầu như tất cả chúng ta đều làm mồi cho những khía cạnh tồi tệ nhất trong bản tính của mình.  Chúng ta rất thường bị lôi cuốn bởi ý muốn chiến thắng bằng bất cứ giá nào — việc lo lắng rằng người ta hoài nghi tính cương cường khốn nạn nam nhi của mình đã dẫn chúng ta tới đủ loại quá đáng.  Hoạt cảnh này chỉ là một nhắc nhở đầy đau đớn tới tất cả những gì mà bố hết sức quan tâm.

      Gary im lặng nghe, cặp lông mày nhíu lại kinh ngạc:

      - Và bố nói cho ông nội nghe tất cả ý kiến đó — nói ngay trước mặt ông nội?

      - Không, có thể bố đã không nói hết những điều đó trước mặt ông nội.   Có lẽ con cũng biết là bố chưa bao giờ thân thiết với ông nội.

      Tới đây, Gary quay đầu lại và một bầu không khí im lặng dễ sợ bao trùm lên hai cha con.  Tuy vậy, có điều gì đó giữ cho cả hai đứng chôn chân trước hoạt cảnh và bỗng nhiên anh nhận ra rằng hẳn Gary đang nghĩ ngợi.  Nay thì không còn cách gì ngăn Gary đừng thấy cái lằn ranh giống nhau giữa sự oán hận của anh và con với mối bất hoà của anh và thượng nghị sĩ; trong tuyệt vọng, anh đành lòng phải chấp nhận việc ấy.  Joseph nói thật điềm tĩnh:

      - Gary ạ, hai bố con mình đều biết rõ lý do bố yêu cầu được nói chuyện với con.  Khi nghe tin con quyết định vào học West Point, bố không thể không nhớ rằng lúc bố ở vào tuổi con bây giờ, ông nội của con đã cố thúc ép bố chọn binh nghiệp.  Bố cưỡng lại vì bố biết chắc chắn rằng binh nghiệp không phải là nghề của bố — và bố nghĩ vì đã nhiều năm bố con mình không gặp nhau nên bố lo rằng có thể con bị ảnh hưởng của ông nội thượng nghị sĩ — hoặc của người cha kế.  Gary ạ, con có quả thật đã suy nghĩ kỹ về chọn lựa đó chưa?  Bố nghĩ con xứng đáng với cái gì đó tốt hơn — quân đội không phải là nơi bố muốn cho con trong thời bình này.

      Joseph không che giấu nổi âm điệu khẩn nài trong lời mình nói, và anh quan sát, với cảm giác càng lúc càng vô vọng khi thấy vẻ chán ghét tỏa khắp bộ mặt thường ngày trẻ thơ và vui nhộn của con.  Gary trả lời:

      - Bố, con không giống như bố, con không che đậy cảm xúc của mình.   Vậy để con hỏi bố một câu, rằng bố nghĩ bố có quyền gì mà tới đây để can thiệp vào cuộc đời của con?   Hãy nhớ rằng bố bỏ đi vì những lý do ích kỷ của riêng bố; bố bỏ mặc mẹ và chúng con tự ra sức lo liệu cuộc đời mình.  Lúc đó, bố quá bận rộn lo cho các thê thiếp phương đông của bố hơn là lo cho con hoặc Mark — thế thì tại sao lúc này bỗng dưng bố lại tỏ ra quan tâm?

      - Mẹ con đã kể với con nhiều tới mức nào về việc đó?

      - Không nhiều lắm — nhưng cũng đủ để khiến Mark và con đánh giá bố không cao lắm vì những gì bố đã làm cho mẹ.  Mẹ nói bố không bao giờ là người có đầu óc thực tế — và mẹ có lý.  Con muốn có một người cha mà cặp mắt không có cái thứ ánh mắt đờ đẩn khi con nói chuyện với ông ta.  Bằng cách này hoặc cách khác, bố lúc nào cũng khiến cho con và Mark có cảm giác rằng thật ra chúng con không đáng để bố phí phạm thời giờ quí báu của bố.   

      - Có bao giờ con cân nhắc rằng có thể bố đã và đang thay đổi — rằng có thể bố đã và đang hối hận việc mình đã làm?

      Lúc ấy Gary bật cười.  Tiếng cười của nó dội lại trống rỗng khắp phòng trưng bày vắng vẻ:

      - Đó là chuyện không tin nổi, thật sự không tin nổi!  Bố chẳng thay đổi chút nào — bố vẫn rất ích kỷ nên không thể thấy rằng điều quan trọng là cái con muốn làm trong cuộc đời của con chứ không phải là cái bố muốn con phải làm.

      - Chuyện trò theo kiểu này là con biến mọi sự thành khắc nghiệt thêm cho bố.   Có thể một ngày nào đó, con sẽ sống với niềm ao ước được làm cái gì đó hoàn toàn khác.

      Gary lạnh lẽo đáp trả:

      - Nếu lúc này bố kết luận rằng bố đã chọn lựa sai lầm thì điều đó chỉ làm tệ hại thêm mà thôi.  Và bố đừng trông mong thiện cảm nào của chúng con.  Mark có lý — nói chuyện với bố chỉ phiền phức và bố không đáng với sự phiền phức đó.

      Nói xong, Gary quay gót bước ra khỏi nhà bảo tàng, để lại Joseph đứng một mình trước hoạt cảnh, cô độc nhìn xuống cặp sừng cong vòng dữ dằn của con min.  Con vật mắt thủy tinh và hung tợn ấy làm Joseph có cảm giác nhà bảo tàng trống rỗng như một ngôi mộ quỉ ma ám ảnh, và Joseph thêm lần nữa bước đi lang thang trong cái nóng ngột ngạt của Khu Thương mãi, cảm thấy tim mình phiền muộn và buốt nhói.

       Ký ức về khoảnh khắc trơ vơ đó bị bức thư của Gary mang trở lại tâm trí Joseph một cách sống động làm phát sinh trong anh cảm giác khích động tới độ anh cảm thấy mình không thể nằm yên được nữa.   Rón rén ngồi lên khỏi mặt giường gỗ tếch để khỏi khua động Emerald, anh khoác lên mình chiếc áo ngủ bằng lụa kiểu kimono và nhón gót nhẹ bước ra khỏi phòng ngủ.

      Cầm lên bức thư của Gary mà trước đó đã thả trên kỷ trà, Joseph đi tới mé cuối phòng khách dài bày biện nhiều đồ đạc á đông, được dùng làm phòng đọc sách, rồi ngồi xuống đằng sau án thư sơn mài theo kiểu Tàu.  Khi Joseph bật ngọn đèn nhỏ trên bàn, chiếc đồng hồ nhỏ dưới chân đèn cho thấy ba giờ sáng.  Anh mệt mỏi dụi hai mắt, đưa tay vuốt ngược mái tóc rồi rút bức thư ra khỏi phong bì.  Sau khi đọc thật lẹ bức thư thêm lần nữa, Joseph lấy một tập giấy, cây bút và khởi sự viết.

      Anh bắt đầu: “Gary thương mến của bố,

          “Bố không thể nào kể hết với con là bố vui sướng biết mấy khi nhận được bức thư của con hôm nay.  Đã nhiều năm trôi qua, bố cảm thấy càng lúc càng tệ hại về sự xa lạ cùng ghẻ lạnh giữa bố với con và Mark, và bố mong ước có lại một hình thức cảm thông nào đó với hai anh em con, còn hơn mong ước mọi sự khác trên đời này.  Bố có nhiều thời gian để cho sự hối tiếc và ăn năn hành hạ bố, nhưng như con đã nói, bố nghĩ rằng trang thư không phải là nơi thích hợp để chúng ta cởi bỏ gánh nặng liên quan tới vấn đề ấy.  Bố chỉ muốn nói với con rằng lúc này bố triền miên suy nghĩ tới con — và lại càng suy nghĩ nhiều hơn nữa vì bức thư của con tới đây cùng lúc với ấn bản báo New York Times loan tin cuộc tấn công vào chùa chiền Phật giáo.  Bố choáng váng vô cùng vì biến cố đó và quá đổi xúc động vì một số điều con đã nói về việc con càng ngày càng ràng buộc vào Việt Nam, tới độ kể từ lúc đọc báo và đọc thư, bố không thể ngủ hoặc nghĩ tới chuyện nào khác.  Quả thật, lúc này, giữa đêm khuya, bố vừa chỗi dậy để viết cho con...

         Bàn tay của Joseph đưa thoăn thoắt trên mặt giấy và vì anh cúi đầu chăm chú viết thư nên không để ý hình dáng khoả thân của Emerald âm thầm xuất hiện trên ngưỡng cửa phòng ngủ đằng sau anh.  Trong một thoáng, nàng đưa mắt ngái ngủ ngó Joseph, rồi bắt đầu đi lang thang nơi vùng bóng tối sâu lắng trong phòng, thỉnh thoảng dừng bước, sờ vào một đồ vật bằng ngọc hoặc sứ hay đưa tay vuốt ve tay áo bào của một ông quan với hoa văn thêu tinh xảo và tuyệt đẹp.

       “Bố nghĩ rằng lúc này bố có phần nào lúng túng không biết phải nói với con những gì, nhưng hãy bắt đầu bằng cái gì đó vô hình chung — câu trả lời cho thắc mắc của con về lý do ‘tại làm sao chúng ta lại quyết định đi tiên phong ra mặt trận đánh giặc’, như con diễn tả nó, ‘cho gia đình họ Ngô’.  Đó là một câu chuyện buồn bã và đáng tiếc — và bố biết rõ như vậy vì bố từng có thời can dự rất mật thiết. 

      “Như con đã biết, có vài việc xảy ra cùng một lúc trong khoảng thời gian bố xa rời mẹ con.  Có thể tới một ngày nào đó bố sẽ kể nhiều hơn, nhưng hậu quả của việc đó là bố đã quyết định, một cách khá khinh suất, là ngay trong năm đó bỏ nghề phóng viên báo chí và trở về quê nhà để hoàn toàn xa lánh á đông, bằng cách vùi mình vào cảnh giới hàn lâm đại học thầm lặng hơn.  Nhưng rũ bỏ phần đời ấy của mình là việc gian nan hơn bố tưởng, và thoạt đầu bố không thể ngồi yên tại Đại học Cornell. 

      “Vào năm 1956, khi tiểu bang Michigan mời bố tham gia một chương trình do chính phủ tài trợ nhằm thiết lập một cấu trúc chính quyền mang tính hiện đại cho Diệm, bố trở lại Sàigòn với tinh thần phấn chấn, cố gắng đóng góp một cái gì đó.  Nhưng chưa được bao lâu thì ảo tưởng ấy tan vỡ...”

         Joseph ngừng viết, ngữa người ra ghế, chìm mình trong suy tưởng.  Anh biết rằng một trong những lý do trực tiếp gây nên sự tan vỡ ảo tưởng riêng tư và sâu xa của mình là việc suốt sáu tháng sống ở Sàigòn lúc đó, anh không tìm ra dấu vết nào của Tuyết, con gái của anh.  Bằng vào những lời chỉ trích của Gary tại nhà bảo tàng, Joseph hầu như chắc chắn rằng Tempe chưa bao giờ kể cho hai con trai nghe về sự có mặt của Tuyết ở trên đời, còn anh, anh lúc nào cũng biết rõ rằng chính nỗi khao khát tìm con thêm lần nữa đã góp phần vào việc anh quyết định quay lại Sàigòn.  

      Khi trở lại thành phố ấy, Joseph hoàn toàn mất tinh thần vì khám phá ra Tuyết, chỉ nội một đêm năm 1954, đã biến mất không để lại dấu vết.    Sau khi báo tin cho Tâm và gia đình rằng mình sẽ kết hôn với một phần tử Việt Minh, Tuyết lặn sâu vào “thế giới ngầm” và từ đó, hầu như Tuyết không còn hiện hữu trên đời. 

      Sau khi khám phá ra điều đó, Joseph thấy rằng những ký ức đau đớn mà Sàigòn lưu giữ cho anh đang càng lúc càng đè nặng lên anh.  Trên tất cả mọi sự, anh chẳng bao giờ còn có thể đi ngang Khách sạn Continental Palace mà lòng không khỏi cảm thấy chới với khi tới gần khúc vĩa hè mà Lan và cha nàng đã tử thương nằm trong vũng máu đầm đìa ngay trước mắt anh, và rồi dần dà, càng ngày anh càng khao khát được rời Sàigòn ra đi và không một lần trở lại nữa.

      Có tiếng sột soạt làm gián đoạn dòng nghĩ tưởng của Joseph, anh quay ngoắt lại, thấy Emerald đang đưa tay cởi chiếc triều phục màu xanh nước biển trên một bức tượng bằng sứ lớn như người thật.   Biết mình gây chú ý cho Joseph, Emerald mỉm cười yếu ớt rồi chầm chậm ướm chiếc áo bào lên người và bằng cả hai tay, ôm lấy làn vải lụa sát vào da thịt trần truồng của nàng.

      - Joseph ạ, lắm khi em không thể không nghĩ rằng em chỉ là một vật phẩm được đưa thêm vào bộ sưu tập phương đông của anh.

      Emerald nói rầu rĩ với âm điệu nghe không có vẻ kết án chút nào nhưng đôi môi nàng run rẩy như chực trào nước mắt.  Với chiếc quan bào toả sáng lung linh, khuôn mặt Emerald dường như mang vẻ á đông cổ điển hơn, hai gò má dường như cao hơn.  Trong một lúc, Joseph nhìn Emerald chằm chặp, rồi lại quay về tâm tưởng mình, anh nói trầm giọng:

      - Em vào ngủ lại đi.  Anh phải viết cho xong cái này.

      - Chẳng có anh em không ngủ được.

      Joseph xoay mặt về bàn giấy.  Sau khi đăm đăm nhìn anh vài phút, Emerald lại phụng phịu, đi lang thang trong bóng tối.

      Joseph lại viết, và cây bút anh thêm lần nữa chạy thoăn thoắt trên mặt giấy:

         “Bố thấy ra rằng Nhóm Tiểu Bang Michigan hoàn toàn không giống như bố đã tưởng.  Nhóm có khoảng năm mươi giáo sư, một số làm công tác pháp chế về hiến pháp và cơ quan công quyền, nhưng phần lớn công việc của Nhóm là làm bình phong cho các phái viên tình báo, những kẻ chuyển súng ống, đạn dược, lựu đạn và hơi cay cho các đơn vị cảnh sát mật được huấn luyện để phục vụ Ngô Đình Diệm, giống như kiểu FBI  - [Federal Bureau of Investigation: Cục Điều Tra Liên Bang của Hoa kỳ.]  Đồng thời, Nhóm cũng xúc tiến thành lập một lực lượng cảnh sát bán quân sự; và việc đàn áp chính trị dường như đang trở thành mục tiêu cho các nỗ lực của Nhóm.   Chẳng bao lâu sự việc ấy làm lu mờ những nỗ lực mà bố cùng với một số người khác đang thực hiện nhằm xây dựng các định chế dân chủ, do đó, bố rút lui sau sáu tháng làm việc.

      “Bố không bao giờ thật sự có ác cảm hay thiện cảm với Diệm.  Ông không là kẻ thủ đoạn như người em tên Nhu của ông — thí dụ ông không hề quan tâm tới việc làm giàu cho bản thân, ông không muốn bổ nhiệm kẻ tham ô vào chức vụ chính quyền, nhưng để duy trì quyền lực, ông làm ngơ cho người em dung dưỡng các phần tử đó. Diệm năm nay 62 tuổi, người miền trung, gốc Quảng Bình, cùng quê với Võ Nguyên Giáp, 51 tuổi, và Thích Trí Quang, 39 tuổi, một nhà sư từ lâu muốn Phật giáo thống nhất và đóng vai trò tích cực để hòa giải với cộng sản.  Cùng với một số nhà sư từng theo học ở An Nam Phật Học Đường tại Huế, ông ấy tin rằng Phật giáo Việt Nam có khả năng dung hợp những người theo cộng sản Việt Nam.  Hẳn con cũng biết nhà sư ấy  — mà một thiền sư trẻ tuổi và là một nhà văn sâu sắc cùng gốc miền Trung với ông, đã mô tả là  ‘thông minh, nhưng có quá nhiều tự tín’ — hiện đóng vai trò chủ chốt trong cuộc đấu tranh của Phật giáo.

      “Thân phụ của Diệm là vị đại thần duy nhất cáo quan để phản đối việc người Pháp đày vua Thành Thái.  Bản thân Diệm năm 32 tuổi, sau ba tháng phụ trách ban cải cách nam triều và làm quan đầu triều thượng thư bộ Lại của Bảo Đại, vì nhà Nguyễn không lập tể tướng thì cũng từ chức vì phản đối sự can thiệp của Pháp trong việc lập pháp của nam triều.  Năm 1945, Diệm bị Việt Minh bắt đưa ra Hà Nội và mang đến gặp HCM.  Tại chỗ, không những Diệm từ chối lời mời hợp tác của Hồ mà còn nặng lời lên án Hồ là tội phạm, phá hoại đất nước, trở mặt và giết hại hàng trăm người, trong đó có hai cha con người anh ruột của Diệm; tuy thế, đáp lại lời thách giết của Diệm, Hồ lại thả lỏng để Diệm trốn thoát.    

      “Ngô Đình Diệm là người cứng nhắc và cách biệt lạ thường.  Một đằng ông tin rằng mình đang thực hiện sứ mệnh nguyên thủ quốc gia theo thánh ý và sự quan phòng của Chúa. Một đằng ông điều khiển chính quyền cộng hòa như một thượng quan phụ mẫu chi dân và xem thuộc hạ, kể cả các bộ trưởng và tướng lãnh, như con cháu trong nhà.  Anh em Ngô Đình không muốn sự hợp tác của các nhân sĩ người Việt để lập nên một chế độ tự do dân chủ vững mạnh làm căn bản chống cộng  mà chỉ muốn sự phục tòng, vì thế đánh mất những tình cảm ban đầu mà giới trí thức dành cho họ.  Trong gia đình, Diệm theo nguyên tắc hiếu đễ cứng nhắc của luân lý Khổng Mạnh nên không thể vứt bỏ sự trợ tá đầy nhũng nhiễu của các anh em và bà em dâu, những kẻ làm nhiễm độc mối quan hệ của ông với dân chúng.  Có lẽ cách giải thích tốt nhất dùng để đánh giá tổng thống Diệm: ông là nạn nhân sâu xa của cái gia đình thèm khát quyền lực và thô bạo ấy — nhưng đánh giá tử tế như thế có thể là quá đơn giản.

      “Theo bố cũng có thể là quá đơn giản khi đánh giá Madame Nhu là người lăng loàn và lộng quyền.  Gạt sang một bên những lời đồn không thể kiểm chứng, ta có thể nhìn theo khía cạnh tích cực, r