104-world.gif (2288 bytes)

posted: 15.10.04

NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ CỦA VIỆC
CƯỠNG BÁCH TU SĨ   PHI SỐNG ĐỘC THÂN

Nguyễn Mạnh Quang

Giáo Hội La Mã vừa khai thác những chuyện hoang đường đã có sẵn trong Cựu Ước Kinh, vừa sửa lại những chuyện huyễn hoặc trong Tân Uớc Kinh cho thích hợp với những thủ đọan mới nghĩ ra, vừa bịa đặt thêm những tín lý bịp bợm khác nhằm khai thác lòng mê tín dị đoan của tín đô để kinh tài. Tất cả các chuyện hoang đường, huyễn hoặc, tín lý bịp bợm trên đây được gọi là tín điều trong hệ thống thần học của đạo Kitô La Mã. Ngòai ra, Giáo Hội còn đặt ra không biết bao nhiêu là giáo luật nặng tính cách chuyên chinh và áp chế với mục địch duy nhất là kìm kẹp và bóc lột tín đồ. Tất cả các tín lý hoang đường và những giáo luật chuyên chính trên đây được coi như là những "quy tắc đạo lý" trong đạo Kitô La Mã. Tất cả mọi người trong xã hội Kitô La Mã bắt buộc phải sống theo và tin tưởng tuyệt đối vào sự linh nghiệm của tín lý Gia-tô quái đản, triệt để tuân hành những giáo luật này và lúc nào cũng phải tận lòng trung thành với Giáo Hội La Mã.

Thấy rằng nếu không có quyền lực chuyên chính thì sẽ không có cách gì cưỡng bách người dân phải tin theo tín lý thần học Kitô. Như vây, Giáo Hội sẽ không có tín đồ, (ngọai trừ những người còn ở trong trạng thái vẫn còn tin tưởng vào chuyện tổ tiên loài người là một cặp vợ chồng được nặn ra bằng đất sét và con tin vào chuyện một người đàn bà đã có chồng và có cả bầy con cái mà vẫn còn gọi là "đồng trinh"), Giáo Hội bèn đưa ra chủ thuyết "thần quyền chỉ đạo thế quyền" để tiếm đọat quyền lực chính trị. Khi đã có quyền lực chính ở trong tay rồi, Giáo Hội sẽ có cả trăm phương ngàn kế để lùa người dân dưới quyền vào cái tròng Gia-tô (Catholic loop): Tùy theo hoàn cảnh của từng quốc gia, Giáo Hội sẽ có thể:

1.- Dùng bạo lực của nhà nước đẻ cưỡng bách hay chèn ép nhân dân dưới quyền phải theo đạo,

2.- Dùng chức vụ và lợi lộc trong chính quyền như những miếng mồi để câu nhử những phường tham quyền, háo danh và háo lợi chạy theo, giống như đàn cá tra trong hồ khi thấy những đồ phế thải có mùi nồng nặc liệng xuống. Cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Cựu Tướng Lâm Văn Phát, Hùynh Hữu Nghĩa và rất nhiều người khác ở miền Nam theo đạo Gia-tô để được hưởng những đặc quyền đặc lợi của hai chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diêm và quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu ban phán co đều ở trong trường hợp này. i

3.-.Đem giáo luật và tín lý nhập nhằng trộn lộn làm thành luật pháp quốc gia rồi cho ban hành và cưỡng bách nhân dân phải tuân hành giống như luật 10/59 và Luật Gia Đình trong thời chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm (1954-1963) ở miền Nam Việt Nam..

Chủ trương "thần quyền chỉ đạo thế quyền",và việc ban hành các thánh chỉ như đã trình bày ở Chương 4 chứng tỏ rằng Giáo Hội có tham vọng muốn trở thành một đế quốc với dã tâm nắm độc quyền tôn giáo, độc quyền bịa đặt ra những tín điều, độc quyền sản xuất nhưng nghi lễ cúng tế, độc quyền chính trị, và độc quyền kiểm sóat hết tất cả mọi sinh họat trong đời sống của người dân. Sự kiện này cũng được cựu giáo-sĩ Malachi Martin ghi nhận ở trong cuốn Rich Church, Poor Church với nguyên văn như sau.

“Trong các vấn đề tôn giáo, trước khi Kitô giáo ra đời, các tôn giáo trên thế giới đều có đặc tính khoan dung. Một trong những thông điệp của Delphic Oracle là “Mọi người đều đúng cả. Chẳng có ai quấy.” Nguyên tắc của người La Mã thời bấy giờ là "Tôn giáo ở trong vùng (nơi bạn cư ngụ) là tôn giáo của bạn." Trong tâm trí và trong cách ứng xử của người đời thời bấy giờ là không có sự liên hệ gì giữa tôn giáo và chân lý. Tôn giáo không được coi như là một sự vật có thật. Vì thế cho nên, trước khi có đạo Kitô, không có chiến tranh tôn giáo, không có chuyện bách hại tôn giáo, và cũng không có người nào gọi là tử đạo cho niềm tin tôn giáo của họ. Lúc bấy giờ, không có ai cố gắng áp đặt tôn giáo hay cưỡng bách người khác phải theo tôn giáo của mình. Chỉ có những người Kitô giáo mới sản xuất ra chiến tranh tôn giáo, gây nên những vụ bách hại tôn giáo và tạo nên những người tử đạo.

Ngay từ lúc đầu, người Kitô giáo khăng khăng cho rằng tôn giáo của họ là chân lý, rằng tôn giáo của họ nói về thực tế. Họ đưa ra lập luận rằng tôn giáo của họ là một chân lý toàn cầu, rằng chỉ có Kitô giáo mới là tôn giáo đích thực. Vì thế cho nên mọi hệ thống triết lý khác và mọi hệ thống kiến thức khác - bất kỳ ngành họat động nào của con người có liên hệ với chân lý – đều phải hài hòa với tôn giáo đích thực là Kitô giáo. Trái lại, đó chỉ là một hệ thống triết lý giả, một kiến thức giả. Tất nhiên là mọi tính cách đạo đức đều từ Kitô giáo mà ra. Kitô giáo thấm nhập vào tất cả mọi lãnh vực trong đời sống thế tục từ kinh tế, chính trị, tài chánh, nghệ thuật, giáo dục cho đến các cơ cấu khác trong xã hội. Tôn giáo và chính trị, tôn giáo và tài sản, tôn giáo và chính quyền, tôn giáo và nghệ thuật, tôn giáo và sự học hỏi – giữa những liên hệ cơ cấu này, không có sự chống đối nào mà không hòa giải được. Những cơ cấu này không thể tách rời được và cũng không thể giữ nó ở trong tình trạng tách rời nhau. Các vấn đề như quân sự, chính trị, tài sản, nghệ thuật và chính quyền, tất cả đều phải bị tôn giáo thống trị tuốt luốt."

["In religious matters, the pre-Christian world was ecumenical tolerant. "Everybody is right. Nobody is wrong," was one message of the Delphic Oracle, "Whatever be the region of the earth where you find youself," went the Roman principle, "that region’s religion is your religion." In men‘s minds and in the way they conducted their affairs, there was no connection between religion and truth. Religion was not considered a true thing. Hence, prior Christianity, there was no religious wars and no religious persecutions. There was no religious martyrs for their faith. No one tried to impose religion as such on anyone else. Only Christians produced such wars, persecutions and martyrs.

From their beginnings, Christians insisted that their religion was true, that it did speak about reality. They drew the logical conclusion from that: that it was universally true. That there could be only one true religion. Theirs. Hence all philosophy and all knowledge - any branch of human activity that dealt with the truth – had to be, would be reconcilable with the true religion, Christianity. Otherwise, it was a false philosophy, a false knowledge. Automatically, an all embracing morality from this Christianity. It permeated all aspects of temporal life:economics, politics, finance, the arts, education, social structures. Religion and politics, religion and wealth, religion and government, religion and art, religion and learning – between these there was no irreconcilable opposition. They were not separate or to be kept separate. Military matters, matters of politics, wealth, art, government – all became dominated by religion.") ii

Vì lòng tham lam ôm đồm nắm quyền kiểm sóat hết tất cả mọi họat động trong xã hội, bàn tay thu vơ của Giáo Hội có thể vươn tới bất kỳ nơi nào và trong bất kỳ phạm vi sinh họat nào trong nhân dân để bóc hốt. Nhờ vậy mà Giáo Hội đã trở thành một thế lực giầu có đệ nhất cổ kim. Khốn nỗi, vì bản chất ích kỷ, bần tiện và đa nghi, Giáo Hội sợ rằng, nếu giới tăng lữ có vợ con thì họ sẽ chuyển những khối tài sản khổng lồ của Giáo Hội (do họ quản lý trong phạm vi quản nhiệm của họ) cho vợ con của họ. Đây là nguyên nhân khiến cho Giáo Hội phải dùng thủ đoạn cưỡng bách họ phải "sông đời độc thân". Bị cưỡng bách phải "sống đời độc thân", gíới tăng lữ, từ ông giáo hòang và các vị chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatican cho đến các ông hồng y, giám mục và linh mục tại các địa phương rơi vào tình trạng bị dồn ép về tâm lý và sinh lý. Tình trạng này đã khiến cho họ mất hết lý trí, mất hết lương tâm, để rồi hành xử theo dục vọng giống như lòai dã thú, lao vào vực thẳm của tội ác loạn luân, dâm loàn, làm băng hoại nếp sống văn minh của nhân loại. Phần trình bày của chuơng sách này sẽ cho chúng ta thấy rõ sự kiện này.

ĐỚI SỐNG GIỚI TĂNG LỮ TRƯỚC KHI GIÁO HỘI KITÔ LỘT XÁC THÀNH GIÁO HỘI LA MÃ

Trước năm 325, thời kỳ chưa lột xác thành Giáo Hội La Mã, Giáo Hội Kitô Do Thái hoàn toàn nằm trong giai cấp bị trị, và giới giáo sĩ tu sĩ vốn dĩ vẫn sống đời sống bình thường, có vợ, có con, và nhiều giáo sĩ hay tu sĩ có có cả một bầy con. Vì nằm trong giai cấp bị trị, cho nên lúc đó Giáo Hội Kitô (Do Thái) lúc đó không có quyền lực, cho nên không có một tu sĩ hay tín đồ Ki-tô nào có một chức vụ gì trong chính quyền. Cũng vì thế mà thời đó, Giáo Hội Ki-tô Do Thái cũng như giới tu sĩ và tín đồ Ki-tô đều không có danh lợi gì để ban phát cho ai cả. Và cũng vì thế, lúc đó cũng không có một ông tu sĩ Kitô nào lăng xăng ra vào cửa quyền để lo lót xin xỏ công ăn việc cho tín đồ hoặc bao che cho tín đồ trốn lính hay chạy chọt cho tội phạm được lọt lưới pháp luật. Trong hòan cảnh như vậy, tất nhiên là thuở đó, Giáo Hội KHÔNG CÓ bổng lộc, và cũng KHÔNG CÓ những "khối tài sản của cải kếch sù của tín đồ hiến dâng và không có nhiều bất động sản" (rich endowments and plenty of real estate). Thuở đó, Giáo Hội nghèo xơ nghèo xác. Các ngôi giáo đường chỉ là một ngôi nhà nguyện nhỏ bé và cũng là trụ sở hội họp của một số tín đồ lèo tèo mấy người trong một khu vực địa phương.

Thuở đó, tất cả tu sĩ và tín đồ Kitô cùng bị áp bức, cùng bị bóc lột như nhau ,và cùng giống nhau ở một điểm là đều có gia đình và đều sống với vợ con dưới cùng một mái nhà trong cảnh nghèo nàn thiếu cơm, thiếu áo, nhưng hết lòng thương yêu và quấn quýt với nhau trong tình thương yêu gia đình. Vì có vợ con và sống với vợ con như người dân thế tục, cho nên thời đó không có nạn tu sĩ Kitô hủ hóa, sống đời phóng đãng lọan luân dâm lòan và cũng không có nạn các ông tu sĩ Gia-tô sờ mó con nít, sờ mó nữ tín đồ, làm hại đời con gái và phá nát hạnh phục gia đình của tin đồ như từ thời Trung Côr cho đến sau này. Vì thời đó Giáo Hội ở trong tình trạng nghèo nàn như vậy, cho nên không có vấn đề lo sợ các ông tu sĩ tẩu tán hay chuyển nhượng tài sản cho vợ con của họ, dù rằng họ thực sự có vợ con chính thức và sống công khai với vợ con. Nhờ vậy mà tu sĩ được sống đời sống bình thường giống như những người bình thường khác với đầy đủ nhân tính thất tình và lục dục; vợ con của họ không phải sống trong lo sợ bị ông chồng bỏ rơi vào những khi "được Chúa gọi mời" cho lên "mang chức thánh" để lo việc Chúa hay phục vụ Chúa.

Thế nhưng, kể từ khi Giáo Hội Kitô (The Jewish Christianity) lột xác thành Giáo Hội La Mã (The Roman Catholic Church ) thì cái hạnh phúc lứa đôi và tình thương yêu gia đình của các ông tu sĩ Gia-tô không còn nữa! Tất cả đã bị Giáo Hội thẳng tay hủy diệt một cách vô cùng tàn bạo và hết sức man rợ. Việc làm dã man này của Giáo Hội đưa đến một chuỗi hậu quả giây chuyển trong xã hội Kitô giáo với những thảm trạng:

1.- Giới tu sĩ bị rơi vào tình trạng bất bình thường về tâm lý và sinh lý (bị dồn ép) khiến cho họ sống đời sa đọa, hoang đàng, phóng đãng, lọan luân dâm loàn,

2.- Chị em phụ nữ bị khinh rẻ được coi như là món đồ chơi cho giới tu sĩ và những người có quyền thế.

3.- Các dòng nữ tu trở thành những trung tâm du hí và giải trí cho nam tu sĩ,

4.- Trẻ sơ sinh do các dì phước trong các nữ tu viện sinh ra bị sát hại,

5.- Nạn con hoang hay con rơi của các ông tu sĩ lan tràn khắp trong các giáo xứ của Giáo Hội.

Những sự kiện này đều được sách sử ghi lại đầy đủ. Phần trình bày dưới đây sẽ giúp cho quý vị có cái nhìn các vấn đề trên đây rõ ràng hơn.

A.- NGUYÊN NHÂN ĐƯA ĐÉN CHÍNH SÁCH CƯỠNG BÁCH TU SĨ PHẢI SỐNG ĐỘC THÂN

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng các thế lực chính trị càng có nhiều quyền lực thì càng có nhiều phương tiện để áp bức nhân dân, mức độ áp bức càng lên cao, phương cách bóc lột nhân dân càng tinh vi và càng siêu việt.. Sự kiện này đã trở thành quy lụật của lịch sử. Là một đế quốc thực dân xâm lược đội lốt tôn giáo, tất nhiên Giáo Hội La Mã cũng không thoát khỏi quy luật này. Vì thế mà chúng ta không lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy Giáo Hội dùng cả trăm phương ngàn kế để vừa mê hoặc và lừa bịp tín đồ, vừa củng cố và duy trì quyền lực, vừa dồn hết nỗ lực vào các dịch vụ kinh tài, vơ vét tiền bạc, của cải của tín đồ và của các dân tộc bị trị để gửi về làm giầu cho chính quốc Vatican. Đặc biệt nhất là Giáo Hội là trung tâm ban phát quyền lực và ân huệ ở đời sau cũng như ở trong cõi đời này,ế cho nên có rất nhiều người chạy đến cầu khẩn van xin được ban cho ân huệ và họ sẽ được Giáo Hội "NHẬM LỜI" chiều theo ý muốn NẾU họ tỏ ra BIẾT ĐIỀU tuân hành quy luật "Có đi có lại mới toại lòng nhau" hay "Provide help, create hope" và "cao lễ dễ thưa".". Độc đáo hơn nữa, việc "nhậm lời" cầu xin của tín đồ và việc "ban phước lành" còn được tính theo tỉ lệ với lễ vật dâng lên cho nhà Chúa đã trở thành thành ngữ "High money, high Mass; low money, low Mass; no money, no Mass" (Nhiều tiền lễ lớn, ít tiền lễ nhỏ, không tiền không lễ) trong xã hội Gia-tô giáo. (Xin xem lại Chuyện Nơi Luyện Ngục trong Chương 4. Ngòai ra, Giáo Hội lại có quyền lực cưỡng bách nhân dân trong vùng phải đóng thuế thập phân (tithe) nữa. Tinh vi hơn nữa, Giáo Hội còn bịa đặt ra hàng mấy chục ngàn lần "Đức Mẹ hiện ra" rồi thêm mắm thêm muối với hàng ngàn chuyện "ban phép lành trị bệnh" cho những ai đem lễ vât để tận chỗ Đực Mẹ hiện ra để dâng cúng và cầu xin. Về phía tín đồ, một phần vì bi mê hoặc bởi bộ máy tuyền truyền của Giáo Hội, một phần vì vốn đã có máu tham quyền, háo danh, hám lợi, lòng tham nổi lên khiến cho họ đổ xô đến hành hương ở chỗ "Đức Mẹ hiên ra" đem tiền bạc đến dâng lễ để cầu xin, để mua những "thánh tích" và" thánh vật". Thế là Giáo Hội cứ việc thò bàn tay ra thu vơ tóm lấy những của dâng lễ này cho vào túi tham của Giáo Hội.Tất cả những thủ đọan làm tiền trên đây cũng đã được trình bày ở các Chương 12, 13 và 14. Sách Living World History cho chúng ta biết sơ qua về một vài phương cách mà Giáo Hội sử dụng để bóc lột nhân dân và sự giầu có của Giáo Hội như sau:

"Giáo Hội đã trở nên vô cùng giầu có. Lợi tức hàng năm của Giáo Hội còn nhiều hơn cả lợi tức của tất cả các nhà cầm quyền thế tục (Âu Châu) gom lại. Giáo Hội thường xuyên tiếp nhận nhũng khối tài sản lớn lao về đất đai (của các thế lực chính trị hay của các nhà giầu có dâng cúng). Ngoài ra, Giáo Hội còn thu thuế 10 phần trăm lợi tức của mỗi người dân bắt buộc phải đóng cho Giáo Hội." ("The Church had also grown immensely wealthy, its income exceeding that of all the important lay rulers put together. It was constant receipient of large gifts of land in addition to the tithe, or tenth part of income, that each member was required to pay to the Church.") iii

Sách Cách Mạng và Hành Động viết:

"Còn như đối với quý tộc và tu sĩ, lẽ dĩ nhiên là người nông dân phải chịu bao nhiêu thứ bóc lột. Muốn xay lúa mì cũng phải thuế, muốn nướng bánh mì cũng phải thuế, muốn hái nho làm rượu cũng phải thuế, muốn qua cầu qua đò cũng phải thuế, muốn cất một ngôi nhà cũng phải thuế! Người nông dân đóng thuế cho vua rồi, không lẽ còn phải nai lưng ra đóng thuế cho chúa nữa? Do đó, họ dần dần nhận thấy những quyền hành của chúa là vô lý, và phôi thai những hoài vọng giải phóng." iv

Bản Tuyên Cáo 6 của Học Hội Đức Giêsu Kitô Phục Sinh được công bố ngày 15/-6/1999, trong đó có một đoạn viết như sau:

"Vào thế kỷ 15 và 16, không kể đất đai cát cứ, chỉ nguyên bất động sản thuộc loại kiến trúc của Giáo Hội trên khắp cõi Âu Châu và Địa Trung Hải, nếu đặt gần nhau, chiều dài bằng (hay) dài hơn "Vạn Lý Trường Thành" của nhà Tần bên Trung Quốc, nhưng bề dầy thì dầy hơn kiến trúc của nhà Tần gấp nhiều lần. Nông nô hay tá điền, lao nô hay công nhân phục vụ cho Giáo Hội có thời, có nơi lên đến 1/3 dân số đất nước của các vua chúa thời phong kiến. Ngoài ra, Giáo Hội còn thiết lập một hệ thống thuế vụ riêng, một hệ thống pháp đình riêng, cả hai độc lập, ngoài quyền kiểm soát của các ông hoàng đế và các ông vua. Khối lượng "mammom" (tài sản) của Giáo Hội là khối tài sản thủ đắc khổng lồ, vô địch thiên hạ cổ kim. Một Giáo Hội "kinh bang tế thế" thành công vẻ vang huy hoàng như thế, người ta không thể nói đến dân chủ."  v

Trong bức tâm thư của Học Hội Đức Giêsu Kitô Phục Sinh gửi các linh mục Việt Nam vào tháng 5/1999, trong đó có một đoạn nói rõ những khối tài sản khổng lồ mà Giáo Hội đã cướp đoạt được tại một số quốc gia Âu Châu. Nguyên văn đoạn này như sau:

Giáo Hội tự định nghĩa mình là "Một Mầu Nhiệm", tự gọi mình là "Hiền Thê của Thiên Chúa Làm Người"...Nhưng tài sản của Giáo Hội trước thời cải cách Luther – Erasmus, tại Đức là 1/5 cả nước, tại Pháp là 1/7 cả nước, tại Tây Ban Nha là 1/6 cả nước, tại Ý là 1/4 cả nước... Đó là quyền lực của mammon (mamona) mà Đức Giêsu Kitô giảng dạy trong Tin Mừng: "Người là tôi tớ cho mamon (của cải) vào nước Trời khó hơn lạc đà chui qua lỗ chôn kim", thế mà "hiền thê của Đức Kitô" liên tiếp trong mười mấy thế kỷ giầu nhất thiên hạ Đông Tây.vi

Giáo Hội quả thật là một thế lực giầu có đệ nhất trên thế giới trong lịch sử loài người. Kiểm điểm lại những nguyên nhân khiến cho Giáo Hội trở thành giầu có:

1.- Giáo Hội sử dụng quyền lực cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải đóng thuế thập phân (tithe) như nói ở trên.

2.- Giáo Hội bịa đặt ra hàng ngàn tín lý và lễ vụ bịp bợm để móc túi tín đồ (Xem Chương 13)

3.- Giáo Hội dựa vào các chính quyền đạo phiệt Gia-tô tay sai để kinh tài bất chính (cácChương 12, 13 và 15).

4.- Giáo Hội đem quân thập tự đi chinh phục đất đai để giết người đọat của (đã được trình bày trong Vatican Thú Tội và Xin Lỗi? (Garden Grove, California, 2000) và bày ở Chương 5 - Phần hủy diệt nền văn minh nhân lọai.

5.- Hầu hết các ông giáo sĩ hay tu sĩ Gia-tô đều lao vào việc làm tiền, làm tiền bất chính và làm tiền một cách trắng trợn nếu họ có cơ hội. Sự kiện này được Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi lại như sau:

"Tóm lại, lý do mà tất cả mọi người, linh mục, giám mục, tu sĩ nam nữ nói đến nhiều hơn hết là tiền bạc. Chúng tôi thiếu vốn, chúng tôi thiếu sự giúp đỡ, thiếu của viện trợ, v.v... Điều còn tệ hại hơn nữa là những trường hợp lừa đảo.... Người ta có cảm giác rằng, Giáo Hội mắc phải chứng "bệnh xây cất và kiếm tiền" và có thể quả quyết rằng., trong cảnh nghèo đói chung và cơn khủng hoảng kinh tế hiện nay, Giáo Hội là cơ quan duy nhất có tầm cỡ quốc gia, vẫn tiếp tục xây cất mở mang, có những phương tiện lớn lao và những con người được chuân bị cho việc đó.."  vii

Vì tham lam vừa ôm đồm qua nhiều quyền lực vừa chủ trương nắm độc quyền kiểm sóat tất cả mọi sinh họat trong đời sống con người, Giáo Hội cần phải có một bộ máy cai trị với những cán bộ (được gọi là tu sĩ) vừa trung thành và tận tụy làm việc cho Giáo Hội, vừa có khả năng đảm nhiệm được nhiều vai trò khác nhau, trong đó có vai trò kinh tài và quản thủ tài sản trong địa hạt quản nhiệm của họ. Không những đã tham lam, Giáo Hội lại còn vừa keo kiệt vừa mang chứng bệnh đa nghi. Vì keo kiệt cho nên Giáo Hội mới đòi hỏi một tu sĩ (cán bộ) phải nắm giữ nhiều vai trò cùng một lúc. (Xin xem lại Chương 7). Vì mang chứng bệnh đa nghi, Giáo Hội mới lo sợ các ông cán bộ của Giáo Hội rất có thể biển thủ của cải mà họ chính họ phụ trách công việc thu vơ lợi nhuận và quản thủ. Do đó, Giáo Hội mới tìm cách đề phòng và ngăn chặn, không để cho họ có thể biển thủ hay ăn cắp tài sản của Giáo Hội, theo đúng triết lý "phòng bệnh hơn là chữa bệnh". Biện pháp đề phòng này là nguyên nhân đưa đến việc cưỡng bách giới tu sĩ phải sống độc thân. Sự kiện này được sách Vicars of Christ ghi lại như sau:

"Vào thế kỷ thứ 4, sự việc còn trở nên tồi tệ hơn nữa. Lúc đó, Giáo Hội được nể trọng với những khối tài sản của cải kếch sù và đầy dẫy những bất động sản do nhân dân dâng hiến. Giáo Hội không muốn khối tài sản này sẽ bị các ông giáo sĩ hay tu sĩ có gia đình làm di chúc chuyển nhượng cho vợ con của họ.. ."Khi trở thành Giáo Hoàng vào năm 366, Damasus I (366-384) nêu gương từ bỏ vợ con, tiêu biểu cho một loại lạm dụng khác. Tình trạng này khiến cho các bà phải thận trọng tìm hiểu người mà các bà trao thân gửi phận. Năm 867, khi được lên ngôi giáo hoàng, Adrian II (867- 872) cũng chính thức từ bỏ người vợ tên là Stefania và người con gái của ông ta.. " (Thíngs became still worse at the end of the fourth century. The church was then respectable, with rich endowments and plenty of real estate. She did not want a married priest bequeathing it to his wife and children... Damasus, who became pontiff in the year 366, exemplified a different sort of abuse. He renounced his wife and family. On those days, women had to be careful whom they married. Adrian II (867-872) was another, who in 867, gave up his wife Stefania and his daughter when he ascended Peter's chair.")  viii

"Giáo Hội dễ dàng chấp nhận để cho các tu sĩ sống với những người vợ không có hôn thú hơn là để cho họ chính thức thành hôn vì một lý do thông thường và thực tế là: các bà vơ không có hôn thú và con cái của họ không thể đòi chiếm hữu tài sản của Giáo Hội (do các ông chồng không chính thức của họ quản lý - NMQ) khi người chồng không có hôn thú của họ qua đời." ["The church more easily condoned concubinage than marriage for the usual practical reason: concubines could not claim church property as a right for themselves and their offspring when their priest lovers died."  ix

Vạn sự khởi đầu nan. Đòi hỏi giáo dân trước khi dấn thân vào cuộc đời đi tu phải sống độc thân thì dễ dàng mặc dù là chưa biết cái điều kiện sống độc thân này gây trở ngại cho vấn đề sinh lý và tâm lý trong đời sống hàng ngày của người đi tu hay không. Chuyện này sẽ được trình bày ở Chương 17. Vấn đề khó khăn là làm cách nào để cưỡng bách các ông tu sĩ vốn đã có vợ con và có nhiều người đã có cả đàn con phải chính thức từ bỏ vợ con của họ để "sống độc thân" đúng theo đòi hỏi của Giáo Hội vì rằng từ khi Giáo Hội Kitô Do Thái ra đời (vào cuối thế kỷ 1) rồi lột xác biến thành Giáo Hội La Mã vào giữa thập niên 310 cho đến 1123 giáo sĩc hay tu sĩ Gia-tô thường có vợ con và sống với gia đình như những người dân bình thường, không phải là tu sĩ. Mãi tới năm 1123, Giáo Hội mới quyết đình đòi hỏi tu sĩ phải sống độc thân. Quyết định này được Giáo Hội tái xác định bằng một thánh lệnh được ban hành vào năm 1215 (sẽ được trình bày rõ ràng ở dưới).

Theo sự hiểu biết của người viết, các nhà lãnh đạo của Giáo Hội đã có ý nghĩ cưỡng bách giới tu sĩ (đã có vợ con) phải chính thức từ bỏ vợ con của họ từ thế kỷ thứ 4, và chỉ nêu ra khẩu lệnh hay đưa ra "lời kêu gọi" rồi trông cậy vào sự vâng lời và lòng tự nguyện của giới tu sĩ. Nhiưng vì cái lệnh này bất nhân quá, cho nên chẳng có ai nghe theo, ngoại trừ những kẻ không còn nhân tính như trường hợp Giáo Hoàng Damasus I (366-384) là người đầu tiên. Cho mãi tới 5 thế kỷ sau, mới có Giáo Hoàng Adrian II (867-872) theo gương Giáo Hoàng Damasus I làm cái chuyện dã man, bất nhân và bất nghĩa này. Điều khôi hài là cả hai nhân vật làm cái chuyện "đại nghịch bất đạo" "trời không dung, đất không tha" này lại là hai nhân vật lãnh đạo số 1 của Giáo Hội. Ai cũng biết rằng, đối với xã hội Gia-tô giáo, Giáo Hoàng là hòang đế của các ông hòang đế và uy quyền còn lớn hơn cả uy quyền của Tần Thủy Hoàng trong đời nhà Tần ở nước Trung Hoa. Lịch sử cho thấy rằng, bọn vua chúa ở bất quốc gia nào (còn theo chế độ quân chủ chuyên chính) vẫn thường chính thức từ bỏ vợ con một cách rất hợp pháp và rất dã man, nhưng không có gì bảo đảm được rằng sau khi chính thức từ bỏ vợ con rồi, bọn người này sẽ không có quan hệ tình cảm với bất kỳ một người phụ nữ nào cả. Người viết không biết hai ông Giáo Hoàng Damasus I và Giáo Hoàng Adrian II có như vậy hay không.

Thấy rằng nếu cứ để cho các tu sĩ tự nguyện tuân hành "lời kêu gọi" "chính thức từ bỏ vợ con" để làm tròn nghĩa vụ của "người mang chức thánh" đối với Giáo Hội, thì chẳng có ai tuân hành cả. Vì thế, vào năm 1123, Giáo Hội mới quyết định triệu tập Hội Nghị Lateran để hội nghị này dùng biện pháp mạnh bằng một quyết định cưỡng bách giới tu sĩ đã có gia đình phải dứt khóat từ bỏ vợ con để sống độc thân một cách chính thức. Biện pháp này quả thật là một việc làm tội ác hết sức bất nhân và vô cùng dã man. Sự kiện này được sách Vicars of Christ trình bày rõ ràng như sau:

"Ngay cả những tín đồ Gia-tô ngày nay đôi khi cũng lầm tưởng rằng việc tu sĩ Gia-tô phải sống độc thân là đã có từ thế kỷ 12. Đây là sự lầm lẫn thông thường. Tuy nhiên, việc cưỡng bách các ông tu sĩ phải sống độc thân đã xẩy ra từ nhiều thế kỷ trước đó. Nhưng một biến cố lớn có liên hệ đến tình trạng này đã xẩy ra trong thời Giáo Hoàng Callistus II (1119-1124). Ông giáo hoàng này cho triệu tập Đại Hội Đồng đầu tiên ở Tây Phương vào năm 1123, thường được biết là Đệ Nhất Hội Đồng Lateran. Tại hội đồng này, hàng ngàn giám mục ra lệnh rằng mọi tu sĩ có gia đình phải chính thức bỏ rơi vợ con và những người vợ của họ phải ăn năn sám hối, vì rằng hôn nhân của họ đã trở thành vô hiệu lực. Đây là lần đầu tiên việc cưỡng bách các tu sĩ phải sống độc thân trở thành một thực tế tinh thần mạnh nhất." ["Even Catholics are sometimes under the illusion that clerical celibacy was introduced in the twelfth century. This is a common mistake. Celibacy, however badly kept is several hundred years older than that. But something momentous did occur under Pope Callistus II. He summoned the first General Council of the West in the year 1123, known as the first Lateran. A thousand prelates decreed that clerical marriages shoud be broken up and the spouses made to do penance because these marriages were invalid. For the first time, celibacy was proclaimed to be the strongest spiritual reality")  x

"Không như Giáo Hoàng Gregory VIII (1187) trước kia, đối với Giáo Hoàng Innocent III (1198-1216) sự trinh bạch trong trắng của tu sĩ không phải là mối quan tâm chính nữa. Ông (Giáo Hoàng Innocent) muốn tu sĩ phải là những người độc thân điều hành hệ thống quyền lực chuyên chính của Giáo Hội. Tuy các tu sĩ có gia đình (chính thức) là những người thánh thiện, nhưng họ không trung thành với Giáo Hội như các tu sĩ độc thân dù những người này là những hạng người lọan luân và dâm loàn." ["It has to be said that chastity of priests was not Innocent's prime concern, any more than it had been Gregory VIII's. He wanted an unmarried priesthood to operate Gregory's clerical and absolutist system. Priests, however holy, who married were not so loyal to the system as celibate priests who were forniacators and adulterers on a grand scale.") xi

B.- HẬU QUẢ TRỰC TIẾP CỦA CHÍNH SÁCH CƯỠNG BÁCH TU SĨ PHẢI SỐNG ĐỘC THÂN ĐỐI VỚI CHÍNH BẢN THÂN HỌ VÀ GIA ĐÌNH

Chính sách cưỡng bách giới tu sĩ (một giới người có nhiều quyền lực, danh vọng và tiền bạc) phải sống độc thân gây nên những hậu quả giây chuyền mà khởi đầu là tác hại vào tình trạng sinh lý và tâm lý của nạn nhân (khiến cho họ trở thành những người mất hết lương tâm, mất hết nhân tính, sống đời lọan luân dâm loàn), kế đến là gia đình của họ cũng trở thành nạn nhân, rồi đến những hậu quả khác gây nguy hiểm cho xã hội Gia-tô giáo, làm ô nhiễm cả môi sinh nhân lọai, gieo mầm mống hủy họai nếp sống văn minh của lòai người. Phần trình bày dưới đây cho thấy rõ những tác hại giây chuyền do chính sách dã man này gây ra.

1.- HẬU QUẢ ĐỐI VỚI GIỚI TU SĨ

Không biết trước khi đưa ra quyết định dã man này, các nhà lãnh đạo Giáo Hội có suy tư hoặc điều nghiên về thất tình và lục dục cùng các cơ năng trong thân thể con người hay không? Không biết họ có điều nghiên những "nhân tính" như "lòng bác ái", "tình thương", "tình thương yêu gia đình", "tình thương yêu giữa vợ chồng" và "tình thương yêu giữa người cha với đàn con" hay không? Điều này người viết hoàn toàn không biết. Nhưng sự kiện cưỡng bách các ông tu sĩ (đã có vợ con) phải chính thức từ bỏ vợ con để làm tròn nghĩa vụ "mang chức thánh" của họ đối với Giáo Hội cho chúng ta thấy rõ Giáo Hội quả thật là bạo ngược, tàn độc và không còn một chút gì gọi là nhân tính. Việc làm này của Giáo Hội cho ta thấy rõ dã tâm của Giáo Hội La Mã là cưỡng bách con người làm nô lệ và hy sinh tất cả những nhân tính để phục vụ cho quyền lợi của Giáo Hội (được ngụy trang bằng danh xưng "phục vụ Chúa"). Quả thật là Giáo Hội đã biến con người thành loài súc sinh trong xã hội loài người. Nạn nhân đầu tiên của chính sách này dã man này là giới tu sĩ (đã có vợ con) của Giáo Hội.

Tình yêu lứa đôi giữa trai và gái phát sinh tự nhiên và là lẽ tất yếu của "quy luật âm dương kết hợp". Trong thiên nhiên, hầu như tất cả mọi sinh linh đều được chia ra lam hai loại đối nghịch nhau, nhưng lại có sức hấp dẫn thu hút nhau. Các nhà sinh vật học gọi hai trạng thái đối nghịch nhau này là "đực" (male) và "cái" (female), các nhà vật lý học gọi là "dương" (positive) và "âm" (negative). Hai trạng thái đực và cái hay dương và âm khác nhau như ngày với đêm hay trắng với đen. Tuy là khác nhau, nhưng dương (nam) và âm (nữ) lại có hấp lực thu hút lẫn nhau và quấn quyện lấy nhau, tức là cần phải có nhau và hòa hợp với nhau thì sinh lý và tình cảm mới được quân bình. Có như vậy thì cuộc sống mới có thể tồn tại và chủng tộc mới có thể lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Nếu vì bất cứ vì lý do gì mà một chủng lọai rơi vào tình trạng "dương" (nam) không có "âm" (nữ) hay "âm" không có "dương" để kết hợp sinh con đẻ cái thì chủng loại đó sớm muộn cũng sẻ rơi vào tình trạng "tuyệt chủng". Trong xã hội loài người, ngoài trừ một số rất nhỏ quá say mê vì lý tuởng cao đẹp (chắc chắn không phải là những hạng người thèm khát quyền lực, háo danh và hám lợi), nếu nam không có nữ hay ngược lại nữ không có nam, thì người đó hoặc là ở vào tình trạng "bất bình thường" hoặc là sẽ rơi vào tình trạng ủ rũ, héo hon, còm cõi, rồi tàn lụi sớm hơn thường lệ.

Có thể vì thế mà tạo hóa đã sinh ra muôn loài, lại cũng sinh ra dương hay nam và âm hay nữ đối nghịch nhau nhưng kết dính vơi nhau từng cặp để sinh tồn và phát triển hay sinh sôi nẩy nở. Nói cho rõ hơn, có âm thì phải có dương, và ngược lại. Đây là một quy luật, và quy luật này hầu như được áp dụng cho tất cả mọi sinh linh. Lẽ tất nhiên là cái gì cũng có ngoại lê. Tuy nhiên, loài người hiển nhiên là không nằm trong ngoại lệ này, và nếu có thì là do một nhóm người tự đặt ra để chống lại vì một mục đích riêng nào đó mà thôi.

Quan sát những gia súc như trâu, bò, chó, lợn (heo) và gia cầm như gà, vịt, v.v..., chúng ta thấy quy luật này được thể hiện ra rõ rệt. Quan sát kỹ hơn nữa, chúng ta sẽ thấy, tuy rằng các loài cầm thú này sống theo quy luật "âm dương kết hợp" chỉ là đáp ứng cho nhu cầu sinh lý thuần túy để cho các bộ phận trong cơ thể được vận chuyển đều hòa, không bị rối loạn, nhưng chúng không có tình cảm đặc biệt dành cho nhau, ngòai trừ loài chim bồ câu, loài khỉ và một vài loài khác. Có lẽ cũng vì thế mà sau khi đã giải quyết xong vấn đề "sinh lý", con đực không có một chút gì trách nhiệm đối với con mái (cái) và cũng không có trách nhiệm gì với đàn con do chính con nó đã sinh ra, để mặc cho con mái chăm lo.

Theo hai định nghĩa của "trinh bạch" và "độc thân" mà chúng tôi sẽ trình bày trong Chuơng 17 thì các loại gia cầm và gia thú trên đây "sống độc thân" nhưng không có đức "trinh bạch"..Như đã nói trên, loài chim bồ câu, loài khỉ và có thể một vài loài vật khác nữa không phải chỉ có nhu cầu giải quyết "sinh lý", mà lại còn có tình cảm đặc biệt "trung thành" đối với nhau và cùng có trách nhiệm nuôi dưỡng và truyền dạy cho đàn con của chúng những phương cách kiếm sống để sinh tồn. Như vậy là trên phương diện nào đó về đạo lý, một vài loại cầm thú này đã có đức " trinh bạch" theo quy luật "âm dương kết hợp" giống như con người trong xã hội văn minh và có đạo đức theo đúng nghĩa của đạo đức.

Loài người đã tiến đến trình độ văn minh cao nhất trong muôn loài. Bỏ ra ngoài các phạm vi khác, ở đây xin giới hạn trong phạm vi tình cảm. Có thể nói rằng tình cảm con người đối với con người và đối với thiên nhiên là nguyên ủy đưa đến những tiến bộ về văn chương và văn hóa, rằng văn chương và văn hóa là nền tảng cho đời sống tinh thần trong xã hội được gọi là văn minh, rằng văn minh là những gì của văn chương và văn hóa kết tinh lại hay đúc kết thành những gì cụ thể giúp ích cho cuộc sống thiết thực của con người. Văn mịnh nhân loại là sự tích lũy những tinh hoa tốt đẹp về văn chương, đạo lý, khoa học, kỹ thuật, hệ thống luật pháp nhân bản, phương pháp quản trị nhân dân, phương pháp chẩn bệnh và trị bệnh trong ngành y khoa, các công trình kiến trúc cùng các sách sử ghi lại những sự việc đã xẩy ra trong quá khứ. Do đó, ta có thể nói, phá nát tình người là bước khởi đầu của việc hủy diệt văn minh nhân loại.

Tình cảm con người có tất cả bẩy thứ mà ta thường gọi là thất tình. Thất tình hay bảy thứ tinh cảm này là "ái, ố, hỉ, nộ, lạc, bi, và thuơng". Tất cả đều là bẩm sinh mà ai cũng có. Người nào không có cả đủ bảy thứ tình cảm này hoặc là người "bất bình thường" hoặc là "người máy (robot), bởi vỉ chỉ có "người máy" mới không có tình cảm. Một khi đã có đủ bảy thứ tình cảm này thì tất nhiên là phải có cảm xúc và lòng yêu thương đối với con người và sự vật ở chung quanh. Cảm xúc và lòng yêu thương của con người đối với nhau và đối với sự vật chung quanh cũng là những thứ tình cảm tự phát qua sự chung đụng hay giao tiếp với nhau mà nẩy sinh ra.

Bỏ ra ngoài những mối cảm xúc khác, chỉ nói riêng về lòng thương yêu, lòng thương yêu của con người đối với những người thân cận nhất (cha mẹ anh em trong gia đình) là tiên khởi. Cũng vì thế mà nó chiếm địa vị cao trọng nhất, đáng quý nhất, mãnh liệt nhất và thiêng liêng nhất nếu so với tất cả các thứ tình cảm khác của con người. Không phải chỉ riêng con người mới có thứ tình cảm hay lòng yêu thương này. Nhiều giống cầm thú cũng có thứ tình cảm này mà điển hình nhất là loài khỉ, loài chó, loài voi, loài chim, và nhiều loài vật khác. Con người mà không có thứ tình cảm này thì quả thật là không bằng những loài cầm thú trên đây.

Lớn lên, vào tuổi dậy thì, một thứ tình cảm khác được phát sinh. Thứ tình cảm này được gọi là tình yêu lứa đôi trai gái. Tình thương yêu này bộc phát tự nhiên và rất hồn nhiên. Từ chỗ hồn nhiên sẽ tiến đến mãnh liệt, rồi thiết tha, rồi lưu luyến và quấn quyện với nhau. Khi hai người khác phái đã thực sự thương yêu nhau thì họ sẽ quyết tâm sống chết với nhau cho đến trọn đời trọn kiếp và liều chết bảo vệ nhau. Đây là một thứ tình yêu cần phải có để cho con người được quân bình hay thăng bằng cả về tâm lý lẫn về sinh lý. Nói cho rõ hơn, thứ tình yêu này cũng là một thứ nhu cầu thiết yếu của con người vế cả tâm lý và sinh lý.

Như vậy, tình yêu lứa đôi trai gái là nhu cầu về tâm lý và sinh lý cần phải có. Loài người càng tiến bộ thì thứ tình yêu thiêng liêng và cao quý này càng được thơ mộng hóa và thi vị hóa, rồi thăng hoa để biến thành tình yêu vợ chồng và tình yêu gia đình. Cũng nhờ có tình yêu vợ chồng và tình yêu gia đình mà nhân loại ngày càng trở nên văn minh hơn, tiến bộ hơn và biết trân quý tình người hơn. Không có tình yêu vợ chồng và tình yêu gia đình thì loài người chẳng khác gì loài súc sinh hay dã thú sống ở giữa rừng hoang.

Ngoại trừ rơi vào tình trạng bất lực, những người khỏe mạnh với tất cả thất tình lục dục ở trong trạng thái bình thường mà vì lý do gì (kém tài không kiếm được, hay bị cuỡng bách) không thể có được thứ tình yêu này để đáp ứng cho nhu cầu tâm lý và sinh lý thì sẽ trở thành một loại người bất bình thường. Những người ở vào trường hợp này, cả tâm lý lẫn sinh lý đều bị rơi vào tình trạng bí bích hoặc bế tắc hay bị dồn ép. Đây cũng và một lọai người "bất bình thường".

Sinh ra ở đời, từ khi mới chào đời cho đến tuổi biết yêu, ai cũng ước ao khao khát tìm được một người bạn lòng (heartmate) và hy vọng sẽ cùng người đó thành vợ thành chồng, rồi sinh ra cả một bầy con. Ước vọng này ai cũng có và chính nó đã trở thành nền tảng của mái ấm gia đình với tình thương yêu thiêng liêng và trách nhiệm cao trọng của vợ chồng đối với nhau và của cha mẹ đối với con cái. Đây là thứ tình yêu thương vô cùng trân quý, vô cùng vĩ đại, không có gì có thể so sánh được. Chính vì vậy, cho nên khi bị mất đi hay bị tước đọat mất thì không có gì đau đớn cho bằng! Tình cảnh đau đớn này được Giáo Hội giáng lên các ông tu sĩ Gia-tô đã có gia đình khi bị Giáo Hội cưỡng bách phải chính thức từ bỏ vợ con.

2.- THẢM TRẠNG CỦA CÁC BÀ VỢ VÀ CON CÁI KHI BỊ NGƯỜI CHỒNG TU SĨ BỎ RƠI

Nạn nhân trực tiếp thứ hai của chính sách dã man này của Giáo Hội là vợ con của các ông tu sĩ nạn nhân. Khi bị bị bỏ rơi như vây, họ lâm vào tình trạng điêu linh khốn khổ cả về vật chất lẫn tâm lý và mang nỗi tủi nhục và uất hận ở trong lòng. Nhiều người có cả một đàn con thơ nhỏ dại nheo nhóc, tay xách nách mang, lang thang lếch thếch, không nơi nương tựa, không nơi trú ngụ. Ở vào tình trạng này, họ lấy gì để sinh sống, lấy ai lo việc dạy bảo đàn con bé nhỏ dại khờ, bơ vơ giữa chợ đời. Khỏi cần phải nói, ai cũng có thể nhìn thấy rõ tình cảnh điêu đứng và đau thương của những người vợ và những đứa trẻ thơ bị cha bỏ rơi để làm tròn nghĩa vụ đối với "Nhà Chúa". Là người dân sống trong một quốc gia đã trải qua hơn 30 chiến tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, chúng ta đã từng chứng kiến không biết bao nhiêu thảm cảnh của những người vợ mất chồng và những đứa con mất cha. Nhưng những nạn nhân này còn ôm ấp trong lòng niềm hãnh diện về tình thương tha thiết giữa chồng vợ hay cha con và hãnh diện về cái chết oai hùng đền nợ nước của người chồng, người cha của họ. Thà rằng, ở vào hoàn cảnh không may cha mẹ chết sớm khiến cho chúng trở thành côi cút, thì cũng đành cam phận cuộc đời bất hạnh của chúng. Trong thâm tâm, những đứa trẻ mồ côi này vẫn còn có thể tưởng tượng ra một hình ảnh tốt đẹp của cha mẹ chúng với niềm kính thương và quý trọng, có khi còn hơn cả những đứa nhỏ may mắn có cha có mẹ và được cha mẹ chăm lo săn sóc cho đến khi trưởng thành hay thành gia thất. Thế nhưng tình cảnh của những bà vợ có chồng là các ông tu sĩ Gia-tô bỏ rơi phải sống trong cảnh "không chồng", và những trẻ em có cha "mang chức thánh" của Giáo Hội bị bỏ rơi phải sống trong cảnh "không cha" thì lại hoàn toàn khác hẳn và tất nhiên là mang mối hận bất tận khôn nguôi. Thật là hết sức trớ trêu, hết sức tủi nhục: Trong khi người chồng của họ được kính mến, được trọng vọng như là những bậc tôn quý nhất trong cộng đống tín hữu Kitô thì những người vợ của họ bị bỏ rơi bị Giáo Hội đem bán cho người ta dùng làm nô lệ (sẽ nói rõ ở phần sau), bị khinh rẻ và đày đọa? Cai đạo lý bác ái của Giáo Hội La Mã khốn nạn như thế đó! Những đứa trẻ có bố là linh mục mang chức thánh của Giáo Hội bị bố bỏ rơi (để làm tròn nghĩa vụ của người "mang chức thánh" của Giáo Hội) phải kéo lê kiếp sống côi cút lang thang ở giữa chợ đời vừa bị đời khinh rẻ là những "đứa con hoang" vừa phải đi ăn xin hay lăn lộn vào đời đi làm đầy tớ nô lệ cho người ta để kiếm ăn độ nhật thì còn gi đau tủi cho bằng! Giáo Hội thường cao rao là "Hội Thánh duy nhât, thánh thiện, công giáo và tông truyền", là "Hiền Thê của Thiên Chúa Là Người" mà SAO LẠI có những hành đống bạo ngược, tàn nhẫn và dã man Những đứa trẻ do các ông giáo sĩ và chức sắc trong hàng giáo phẩm Gia-tô sinh đẻ ra rồi nhẫn tâm bỏ rơi khiến cho chúng sống trong một trong những tình trạng dưới đây:

1.- Hoặc là sẽ trở thành những đứa con hoang, bơ vơ côi cút, không nơi nương tựa, phải lăn xả vào đời, sống chung với những đứa trẻ đồng cảnh ngộ để mưu sinh bằng tất cả những gì mà khả năng của chúng có thể làm được như là đi ăn xin, móc túi, ăn trộm, ăn cắp, ăn cướp, cướp giật; nếu là con gái thì làm điếm hay xin vào một nhà dòng nữ tu để làm nô lệ Giáo Hội, trong đó có cả những việc làm ghê tởm là cung ứng nhu cầu sinh lý cho các ngài "mang chức thánh" trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội.

2.- Hoặc là chúng sẽ bị Giáo Hội đem bán cho người ta làm nộ lệ. Đọan văn sử dưới đây là bằng chứng cho sự kiện này:

"(Tòa Thánh) La Mã khăng khăng nhấn mạnh rằng để cho các giáo sĩ chính thức có gia đình còn tội lỗi hơn là để cho họ sống chung với tình nhân (vợ không có hôn thú chính thức) vì rằng để cho họ có gia đình chính thức là đưa đến (gợi ra) dị giáo và là một sư vi phạm giáo luật. Sư kiện này giải thích được một vài quyết định của Giáo Hoàng Alexander II (1061-1073)." làm cho nhiều người ngạc nhiên ." ("Rome went on insisting it was more sinful to marry than to keep a concubine because it savoured of heresy and was a transgression of the law of the church. This explains some surprising decisions of Alexander II (1061-1073)") xii

"Cuối cùng, vào năm 1095, vấn đề này được Giáo Hoàng Urban II (1088-1099) giải quyết tại Piacenza. Vào năm này, tại một hội nghị thứ hai, 400 tu sĩ và 30 ngàn giáo dân dứt khoát kết tội việc tu sĩ chính thức có gia đình (đã thành hôn chính thức). Để chứng tỏ biện pháp này là động lực từ phúc âm, họ bán các bà vợ chính thức của các tu sĩ cho người ta làm nô lê," (The matter was finally settled by Urban II (1088-1099) at Piacenza in the year 1095. A second council of 400 clerics and 30,000 laity condemned clerical marriages once and for all. To prove the evangelical impulse of this measure, they sold priests' wives into salvery.") xiii

3.- Hoặc là được người cha lén lút "ăn gian tiền nhà chung" đem về nuôi dưỡng, nhưng cũng chỉ được phần vật chất, còn về phần tinh thần thì thật là ê chề và tủi nhục.

Dù là ở trường hợp nào trong những trường hợp trên đây, vịệc làm phi nhân này vừa nói lên bộ mặt thật dã man của Giáo Hội La Mã vừa cho chúng ta thấy rõ tình cảnh khốn cùng của vợ con của các ông tu sĩ nạn nhân bị Giáo Hội cưỡng bách phải chính thức bỏ rơi. Giáo Hội La Mã dã man là như vây! Ấy thế mà Giáo Hội vẫn thường cao rao rằng Đạo Gia-tô là "đạo bác ái", rằng Giáo Hội là "Hội Thánh duy nhất thánh thiện, công giáo và tông truyền", và "Hiền Thê Của Thiên Chúa Làm Người". Thì ra đối với Giáo Hội La Mã và tín đồ Gia-tô, cái nghĩa đích thực của "bác ái" và "thánh thiện" là như vậy.

3.- PHÁT SINH HẠNG NGƯỜI BẤT BÌNH THƯƠNG NHƯNG LẠI NẮM GIỮ QUYỀN LỰC

Những nạn nhân trực tiếp khác của chính sách dã man này là các ông tu sĩ nạn nhân và gia đình họ. Ở vào trường hợp này, các tu sĩ nạn nhân , về phương diện tâm lý, nếu còn có lương tâm, tất nhiên là họ phải sống trong tình trạng bị lương tâm cắn rứt và ở vào cái thế lưỡng nan giữa một bên là trách nhiệm đối với vợ con, và một bên là "đức vâng lời hay tuyệt đối tuân hành lệnh truyền của các đấng bề trên" và "lòng trung thành với Giáo Hội". Khi đã phải tuân lệnh các đáng bề trên mà từ bỏ vợ con thì về phương diện sinh lý, họ "bị dồn ép" khiến cho tình cảm mất quân bình và bản thân họ trở thành hạng người bất bình thường. Vì sự đòi hỏi của sinh lý và mất quân bình về tâm lý, những người bất bình thường thuộc lọai này mất hết lý trí và liều lĩnh làm những chuyện phi nhân, thất đức, không còn một chút gì là nhân tính và liêm sỉ nữa. (Sẽ được nói rõ ở Chương 15).

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng, phần lớn nhứng hạng người "bất bình thường" như trên thường trở nên những người ác độc và dã man. Những hạng người này có tâm lý hận đời. Mang tâm trạng hận đời, họ muốn phá đổ hết tất cả những hạnh phúc gia đình của những người khác nếu có cơ hội. Như vậy, họ rất có thể trở thành những hạng người gây hại cho xã hội.. Mức độ gây nguy hại cho xã hội càng lớn khi mà loại người này có sẵn phương tiện trong tay, đặc biệt là có quyền lực chính trị, và quyền lực càng lớn thì khả năng gây hại cho xã hội càng nhiều, càng ghê gớm và càng ác liệt. Đây chính là trường hợp các ông tu sĩ Gia-tô trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã và trong các quốc gia bị áp đặt phải sống dưới chế độ đao phiệt Gia-tô như trường hợp miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975. Bất kỳ người dân Việt nào đã từng sống ở miền Nam trong thời kỳ này đều có thể kiểm chứng được sự kiện này, ngọai trừ những tín đồ Gia-tô "sống đạo theo đức tin Kitô" và những người nằm trong giai cấp thống trị hay được hưởng những đặc quyền đặc lợi của chế độ. Chúng ta nhớ lại tại miền Nam trong những năn 1954-1963, quyền lực chính trị hoàn toàn nằm gọn trong tay những người bất bình thường thuộc lọai này: Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Cẩn, và tất cả các ông tu sĩ Gia-tô trong chính quyền chìm (informal government) của cả hai chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu với những khuôn mặt quen thuộc như Giám-mục Phạm Ngọc Chi, Giám Mục Nguyễn Văn Thụân, các linh mục như Raymond de Jaegher, Mai Ngọc Khuê, Nguyễn Lạc Hóa, Tô Đình Sơn, Nguyễn Bá Lôc, Đinh Xuân Hải, Cao Văn Luận, Bửu Dưỡng, v.v.. Tất cả những người này đều là những hạng người "bất bình thường" và đều nắm quyền sinh sát trong tay đói với người dân dưới quyền. Vi vậy dân ta mới có câu "Nhất đĩ nhi Cha..."(Cha đây là các ngài "mang chức thánh" trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã).

Trong lịch sử Trung Hoa, bọn quan họan cũng là hạng người "bất bình thường" thuộc loại này. Những người thấu hiểu lịch sử Trung Hoa đều biết rằng trong các triều đại Tần, Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh vào những thời suy vi, những khi quyền chính lọt vào tay bọn quan hoạn là xẩy ra thảm cảnh triều cương đổ nát, trung thần bị hãm hại và nhân dân khốn khổ. Đây là cái nạn "quan họan" trong lịch sử Trung Hoa. Triệu Cao trong đời nhà Tần sau khi Tần Thủy Hòang qua đời là một bằng chứng. Các nhà viết sử đều có cùng một nhận xét là một khi những hạng người "bất bình thường" thuộc loại này nhẩy lên bàn độc thao túng chính quyền thì nhân dân sẽ điêu đứng, lầm than và khốn khổ trăm bề.

Giáo Hội La Mã là một đế quốc thực dân xâm lược mà tất cả những người lãnh đạo từ ông Giáo Hòang và các vị chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatican cho đến các ông hồng y, tổng giám mục, giám mục, và linh mục tại các địa phương đều là những người vốn dĩ có bản chất tham quyền, háo danh, hám lợi, đi tu với chủ tâm là "đi vào cửa quyền" để thỏa mãn giấc mộng "công hầu khanh tướng, tranh bá đồ vương (quyền lực)" (Chương 15 kế tiếp sẽ nói rõ hơn) và lại là những người 'bất bình thường" thuộc lọai này. (Một trong những bằng chứng rõ rệt nhất cho cái bản chất tham quyền của những người trong giới giáo sĩ và chức sắc trong Giáo Họi La Mã là việc Giáo Hoàng John Paul II hiện nay (năm 2004) đã 84 tuổi rồi mà vẫn còn bám chặt lấy ngôi vị giáo hòang, nhất định không từ chức dù rằng đã có rất nhiều tu sĩ và giáo dân đặt ra vấn đề này với Ngài. Những ai đã từng theo dõi tín tức thời cuộc trong mấy năm gần đây đều biết rõ sự thật này.

Thử hỏi, với tình trạng như vậy thì làm sao Giáo Hội La Mã lại không gây nên những rặng núi tội ác trùng trùng như Hy Mã Lạp Sơn được?

Cũng vì thế mà chúng ta không lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy rằng từ thế kỷ thứ 4 đến thập niên 1990, Giấo Hội La Mã đã tàn sát tới gần 300 triệu nạn nhân, và nhân dân thế giới đều quyết tâm chống lại Giáo Hội tới cùng, ngọai trừù những tín đồ Gia-tô cuồng tín. (Xin xem lại Phần Dẫn Nhập).

4.- NHỮNG HẬU QUẢ DÂY CHUYỀN

Chính sách cưỡng bách giới tu sĩ phải sống độc thân không những gây nên những hậu quả tác hại vào tâm lý nạn nhân và xô đẩy vợ con của nạn nhân vào cảnh đọa đầy thảm thương với niềm cay đắng tủi hờn uất hận bất tận khôn nguôi, mà còn tạo nên hậu quả nguy hiểm cho xã hội theo quy luật "tác hại dây chuyền" khiến cho những gì cao đẹp và thiêng liêng trong đời sống tinh thần như tình cảm, đạo đức, văn chương, văn hóa, văn minh đều bị băng họai. Rút cuộc, trong xã hội Kitô giáo chỉ còn lại những gì là xấu xa như tham quyền, háo danh, háo lợi, hám thắng, háo sát, lố bịch, trịch thượng, v.v... Tình trạng này đã khiến cho con người trong xã hội Gia-tô đối xử với nhau theo quy luật "cá lớn nuốt cá bé" và "đội trên đạp dưới", khom lưng, uốn gối, gục mặt xuống "hôn nhẫn" và "hôn hít giầy dép" các đáng bề trên, và sống theo tinh thần "Tòa Thánh đánh rắm cũng khen thơm" đúng như Giáo-sư Nguyễn Văn Trung đa mô tả trong bài viết "Một Số Tình Hình Đặc Biệt Của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam". Tất cả những căn bệnh xấu xa đê tiện này quấn quyện, đan kết và móc dính chằng chịt với nhau trong tâm hồn của những người "sống đạo theo đức tin Kitô" từ thế kỷ thứ 4 cho đến ngày nay.

Trên đây là nói về một vài nét tổng quát trong xã hội người Ki-tô Giáo ở Việt Nam mà người viết đã kinh qua và biết được qua kinh nghiệm sống trong các trại dịnh cư Tân Lập (Bình Trưng, Thủ Đức, Gia Định) từ tháng 3/1955 cho đến tháng 10/1955, trai dị cư Dốc Mơ (Kiệm Tân, Long Khánh) từ 1961-1975), qua voệc tiiửm hiểu trong sách sử và những ấn phẩm do các tác giả là các nhà trí thức Gia-tô ghi lại.

Dưới đây là phần trình bày về những tác hại dây chuyền ở trong xã hội Ki-tô giáo do chính sách cưỡng bách giới tu sĩ phải sống độc thân gây ra. Những tác hại đó là:

1.- Nạn loạn luân và dâm loàn trong giới tu sĩ Gia-tô,

2.- Các dòng nữ tu Gia-tô trở thành trung tâm cho các ngài tu sĩ áo đen" đến giải quyết vấn đề sinh lý,

3.- Nạn trẻ hoang sơ sinh (con rơi của các ngài mang chức thánh") bị giết hại.

4.- Nạn "con rơi, con hoang" tràn ngập trong xã hội.

Những thảm trạng trên đây được cựu Giáo-sĩ Peter đe Rosa ghi lại trong cuốn Vicars of Christ, nguyên văn như sau:

"Tình trạng nam nữ chung chạ bừa bãi lan tràn trong khắp các nam và nữ tu viện. (Thánh) Ivo Chartre (1040-1115) cho biết toàn thể các nữ tu viện chỉ là những nữ tù nhân mang danh là "các dì phước" mà thôi. Họ thường là những đứa trẻ bị gia đình bỏ rơi và thực sư đã trở thành những cô gái điếm." ["Promiscuity was rife in monasteries and convents. The great Ivo of Chartres (1040-1115) tells of whole convents with inmmates who were nuns only in name. They had often abandoned by their families and were really prostitutes." xiv

"Trong thế kỷ thứ 9, nhiều tu viện là những sào huyệt của những người đồng tình luyến ái; nhiều nữ tu viện là những ổ điếm (nhà thổ) nơi mà những trẻ sơ sinh đều bị giết rồi đem chôn ở ngay trong đó. Các sử gia nói rằng từ khi Đế Quốc La Mã sụp đổ, Tây Phương không giết các trẻ sơ sinh nhiều như vậy, ngoại trừ ở trong các nữ tu viện. Hội Nghị nhóm họp ở Aix- la- Chapelle vào năm 836 đã công khai thú nhận điều này. Về phần các ông tu sĩ Gia-tô thèm khát làm tình (giải quyết vấn đề sinh lý), họ thường bị tố cáo về tội ác loạn luân đến nỗi rằng họ bị cấm không được ở cùng nhà với mẹ, cô hay dì và chị em gái của họ. Những trẻ sơ sinh do hậu quả của các vụ loạn luân thường bị chính các ông tu sĩ giết chết. Con số này rất nhiều và đã được một vị giám mục người Pháp ghi vào hồ sơ. tài liệu." ("In the ninth century, many monasteries were the haunts of homosexuals, many convents were brothels in which babies were killed and buried. Since the end of the Roman Empire, historians say that infanticide was probably not practised in the West on any great scale - except in convents. The Council of Aix-la-Chapelle in the year 836 openly admitted it. As to sex-starved secular clergy, they were so often accused of incest that they were at length forbidden even to have mothers, aunts or sisters living in their house. Children, the fruits of incest, were killed by the clergy, as many a French prelate put on record."xv

"Năm 1064, một giáo sĩ xứ Orange ở Pháp đã thông dâm với người vợ thứ hai của thân phụ ông ta. Giáo Hoàng Alexander (1061-1073), không những đã không bãi chức của giáo sĩ này, mà vẫn còn để cho ông ta tiếp tục rước lễ. Ngài cho rằng ông giáo sĩ này đã không phạm tội có gia đình chính thức. Hai năm sau, một giáo sĩ ở Padua thú nhận là đã loạn luân với người mẹ ruột. Giáo Hoàng (Alexander) đã đối xử rất tử tế với ông giáo sĩ này và để mặc cho ông giám mục quản nhiệm địa phương tùy ý quyết định nên hay không nên để cho ông ta tiếp tục phụng vụ. Đối với Giáo Hoàng Alexander II (1061-1073), thông dâm hay loạn luân vẫn còn thích hơn là có một giáo sĩ chính thức có gia đình." ("A priest of Orange in France committed aldultery with his father's second wife in the year 1064, Pope Alexander (1061-1073), instead of dismissing him, refused even to deprive him of holy communion. Liniency was called for because he had not committed matrimony. Two years later, a priest from Padua confessed to incest with his mother. The pope deal very kindly to him and left it to his bishop to decide whether he should continue in the ministry or not. For Pope Alexander II (1061-1073)], adultery even incest was preferable to a priest marrying.")  xvi

Mấy đoạn văn sử trên đây cho chúng thấy được những hậu quả tác hại xã hội gây ra bởi việc Tòa Thánh Vatican cưỡng bách giới tu sĩ phải sống độc thân. Đồng thời, những đọan văn sử này cũng cho chúng ta một cái nhìn rõ hơn về bộ mặt ghê tởm của Giáo Hội La Mã với chủ trương "thông dâm hay loạn luân vẫn còn thích hơn là có một giáo sĩ chính thức có gia đình". Ghê tởm như vậy mà Giáo Hội vẫn trâng tráo cao rao tự phong là "Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, ..." và là "Hiền Thê Của Thiên Chúa Làm Người". Trời ôi! "Hiền Thê của Thiên Chúa Làm Người" mà sao lại độc ác, dã man, khốn nạn và vô liêm sỉ đến như vậy! Cũng trong cuốn sách Vicars of Christ, cựu giáo sĩ Peter de Rosa cho chúng ta biết thêm:

"Trong bẩy (7) thế kỷ kế tiếp, người ta thấy Giáo Hội theo đuổi chính sách giằng co, khi thì cứng rắn dữ dằn khi thì buông lơi để mặc cho các tu sĩ được sống với vợ con một cách thoải mái. Giáo Hoàng Leo I (440-461) nói rằng "các giám-mục và các tu sĩ đã có gia đình phải đối xử với các bà vợ của họ như là những người chị em gái." Trong khi đó ở nước Ý, đầy dãy những giáo sĩ có gia đình và có nhiều con mà hầu hết không bị trừng phạt cả. Sự thật, trong thực tế chức vụ giáo sĩ là chức vụ thế tập (cha truyền con nối). Nhiều ông giáo hoàng là con của các ông giáo sĩ và giám mục. Trong số này, có các giáo hoàng như Boniface I (418-422), Gelasius (492-496), Agapitus (535-536), Sylverius (536-537) and Theodore (642-649). Nổi bật nhất là Giáo Hoàng Sylverius (536-537), nhờ có cha ruột là Gíao Hoàng Hormisdas (514-523) mà nổi lên như diều, từ một chức phó tế được đưa lên làm giáo hoàng." (The next 7 centuries witnessed an incredible see-saw of harshness and relaxation of discipline. Pope Leo I (440-461) said married bishops and priests were to treat "their wives as sisters". Meanwhile, Italy was full of clerics with very large families, most of whom went unpunished. The truth is that the priesthood istself was practically hereditary. Many popes were the sons of priests and bishops. Among them were Boniface I (418-422), Gelasius (492-496), Agapitus (535-536), Sylverius (536-537) and Theodore (642-649). Sylverius rocketed to stardom since he was only a subdeacon when he was chosen as pontiff but, it was admitted, he had a head start: His father was Pope Hormisdas (514-523). xvii

"Ở khắp mọi nơi, luật sống độc thân đều gây tác hại cho đức tính trinh bạch và trong trắng. Những cố gắng của các ông Jerome (340-420), Ambrose (340-397) và Augustine (354-430) chỉ tạo nên những hậu quả cay đắng hơn. Thánh Jerome thú nhận rằng ông thường thấy nhiều giáo sĩ sống cả đời với bạn gái cùng với nhiều phụ nữ nô lệ xinh đẹp vây quanh, và đời sống của họ chỉ khác những người có gia đình chính thức trên danh nghĩa và trách nhiệm mà thôi. Trong suốt chiều dài lịch sử của Giáo Hội, tình trạng này đều giống như vậy cả. Một ông giám mục lương thiện cảm thấy lo buồn về tình trạng các ông giáo sĩ sống chung hỗn độn với đàn bà mà ông đành phải giả đui khi nhìn thấy các ông giáo sĩ có vợ. Về phần các giáo sĩ, họ bị cưỡng bách phải chọn lựa hoặc là được chính thức lập gia đình thì không được làm giáo sĩ, hoặc là được làm giáo sĩ thì không được chính thức lập gia đình. Cách chọn lựa hay nhất là làm giáo sĩ và sống chung với bạn gái mà không cần phải có hôn thú." ("Every where the rule of celibacy triumphed at the expense chastity. The efforts of Jerome, Ambrose and Augustine were to produce ever bitter fruit. Jerome was not afraid to admit that he regularly saw clerics who passed their entire lives in female company, surrounded by beautiful girl slaves and living a life that differed from marriage only in name and lack of responsibility. His observations were to be repeated throughout church history. Many an honest bishop became so worried at the promiscuousness of his priests that he turned a blind eye if they had wives. It kept them out of worse mischief. For their part, priests were forced to choose between having a wife and having a carreer. The middle course was to choose a concubine.")  xviii

"Tại Avignon, Giáo Hoàng tham lam John XII (955-963) cho phép các giáo sĩ được giữ tình nhân với điều kiện phải đóng một khoản tiền thuế cho Giáo Hội. Ngay cả một vài giáo sĩ trong trắng cũng phải nộp khoản tiền thuế này trong trường hợp họ rơi vào trong vòng tay của một người đàn bà." ("In Avignon, the avaricious John XXII (955-963) allowed priests to keep their mistresses on payment of a tax. Even the few chaste priests had to pay up just in case they, too, fell into the arms of a woman.")   xix

"Một bản thống kê cho biết: một xứ có 900 ngàn dân mà có tới 3 ngàn tu sĩ; và cứ 2 trong 5 (40%) đứa con hoang là con của các ông tu sĩ." ("One amazing statistic emerges: in a country of 900,000 people, there were 3,000 clergy; and yet two out of five bastards were born to the clergy.") xx

"Năm 1535, Anh Hoàng Henry VIII (1509-1547), lúc đó đang nổi xung với Giáo Hoàng [Paul III (1534-1549)], ra lệnh cho Thomas Cromwell điều tra các tu viện kín. Một trong những nhân viên của Thomas Cromwell là Dr Leighton đến thanh tra tu viện Langdon ở Kent. Khi tông cửa vào phòng của tu viện trưởng, Leighton thấy ông ta đang nằm trên giường với tình nhân. Bộ quần áo để hoá trang làm đàn ông của người tình của ông ta vẫn còn máng trên tủ chén. Toàn bộ bản báo cáo nói rằng 144 căn nhà của Giáo Hội đều khủng khiếp như là thành phố Sodom (một thành phố cổ xưa ở Palestine); vô số các nữ tu viện với những người tự nhận là dâm đãng, lúc nhúc những trẻ thơ; các giáo sĩ, từ tu viện trưởng đến các thày dòng đang dan díu níu kéo cả những con điếm và các bà đã có chồng. So sánh với bản điều tra vào thời Tổng Giám Mục Morton cả nửa thế kỷ trước đó thì vẫn không có gì khác. Khi nhận được bản báo cáo của Cromwell và cũng là khi Giáo Hoàng Paul III rút phép thông công Anh Hoàng Henry VIII, Quốc Hội Anh bắt đầu đàn áp các tu viện." ["In the year 1535, Henry, now furious with the pope, ordered Thomas Cromwell to look into life in cloister. One of Cromwell's men, Dr Leighton, visited the abbey of Langdon in Kent. Breaking down the abbot's door, Leighton found him in bed with his mistress. The woman's male attire, a disguise, was hanging up in a cupboard. The overall report said that 144 religious houses were equal in viciousness to Sodom; countless convents, served by lews confessors', were full of children, clergy - abbots, monks and friars - were carrying on not merely with whores but with married women. Nothing had changed since Archbishop Morton's inquiry half a century before. After receiving Cromwell's dossier and in the wake of Henry' s excommunication by Pope Paul III, Parliament began suppress the monasteries." xxi

Một trong mấy đoạn văn trên đây cho chúng ta biết "cứ 2 trong 5 (40%) đứa con hoang là con của các ông tu sĩ." (two out of five bastards were born to the clergy ). Không biết tại sao sử gia Peter de Rosa lại gọi những đứa trẻ này là "con hoang" (bastards). Người viết thiết nghĩ rằng phải nên gọi chúng nó là "những đứa con của các ngài mang chức thánh" hay là "những ông thánh con" của Giáo Hội La Mã. Nói theo ngôn từ của Bà Hồ Xuân Hương, thì "ông thánh con" này chính là những đàn cá "thồng rồng" của các ngài "mang chức thánh" mang đến thả vào "những cái giếng thánh tân" của nữ tín đồ Gia-tô.

Theo tài liệu trên đây và căn cứ vào tỉ lệ 2 trong 5 đứa con hoang (dĩ nhiên là trong giáo xứ Gia-tô mà thôi) là con của các Ngài "mang chức thánh". Xin quý vi tín đồ Gia-tô người Việt dựa theo tỉ lệ này để làm con tính trong giáo xứ của quý vị xem tỉ lệ này đúng hay sai. Nếu sai, thì tỉ lệ này cao hơn hay thấp hơn? Mong được tiếp nhận lời giải đáp của quý vị

Có một điều hết sức ngạc nhiên là cho đến ngày nay (năm 2002), Giáo Hội vẫn còn có chủ trương coi các nữ tu viện là nơi cho các ngài "mang chức thánh" đến giải quyết sinh lý, và vẫn còn áp dụng chính sách phá thai và sát hại "những đứa con hoang" do những cuộc làm tình của các Ngài tu sĩ với các dì phước trong các nữ tu viện của Giáo Hội. Sự kiện này được Giáo-sư Trần Chung Ngọc ghi lại như sau:

"Có lẽ ta cũng không nên quên rằng, mới tháng 3 năm ngoái, báo chí thế giới đã phanh phui ra những vụ "Cha cũng như Chúa" cưỡng hiếp một số "sơ" trong 27 quốc gia kể cả ở Mỹ, Ý, Ái Nhĩ Lan, Ấn Độ, Phi Luật Tân, Ba Tây, v.v... và cưỡng bách họ phải vào các nhà thương Công Giáo để phá thai khi họ mang thai. Tòa Thánh đã phải lên tiếng thú nhận có vấn đề ô nhục này nhưng vẫn lừa dối dư luận quần chúng với luận điệu: "Chuyện chỉ xẩy ra trong một vùng địa dư mà thôi". Tờ Orange County Register ra ngày 31 tháng 3 năm 2001 có bài của Chris Hedoes thuộc New York Times trong đó có vài chi tiết như sau: Ở Malawi, trong một giáo xứ có tới 29 "sơ" bị các ông linh-mục làm cho mang thai. Khi bà sơ bề trên than phiền với ông Tổng Giám Mục thì bà ta và các "sơ" mang bầu bị đổi đi nơi khác. (... In Malawi. where 29 sisters in a single congregation "became pregnant by priests in the diocese". When the sisters' superieur general complained to the archbishop, she and the sisters were replaced.); "... linh mục khuyên các "sơ' nên uống thuốc ngừa thai, nói dối họ là để đề phòng sự truyền nhiễm bệnh AIDS." (priest "recommending that sisters take a contraceptive, misleading them that the pill will prevent transmission of HIV). Chúng ta cũng nên nhớ rằng, Giáo Hoàng Gioan PhaoLô II cấm tín đồ tuyệt đối không được dùng thuốc ngừa thai. Nhưng chúng ta cũng lại biết rằng Vatican có nhiều cổ phần trong công ty chế tạo thuốc ngừa thai, phải chăng chỉ để dành riêng cho các "sơ" dùng theo sự khuyên bảo của linh mục bề trên..." xxii

5.- NHỮNG TÁC HẠI TỚI ĐẠO ĐỨC

Qua những đoạn văn lịch sử trên đây, chúng ta nhận thấy rằng Giáo Hội La Mã đã tạo nên một xã hội của thời bán khai với bản chất loạn luân và vô luân. Xin tóm lược những chủ trương và bản chất của Giáo Hội La Mã như sau:

1.- Duy trì một xã hội trong thời bán khai: Giáo Hội chỉ muốn tạo nên một xã hội bán khai như thời ông Moses hay thời ông Jesus ở Do Thái (chứ không phải như ở Đông Phương). Lý do rất đơn giản là Giáo Hội thừa biết rằng người ta càng ở trong tình trạng bán khai (hay càng ngu dốt) thì càng tin tưởng vào những chuyện hoang đường huyễn hoặc, điển hình nhất là những chuyện láo khoét như chuyện "tội tổ tông", chuyện "loài người là con cháu của cặp vợ chồng được làm bằng đất sét", chuyện "một con gái còn trinh được thánh thần từ trên chín từng mây hiện xuống làm tình rồi mang bầu đẻ ra ông Thượng Đế con", chuyện "một người đàn bà đã có chồng và có cả đàn con mà vẫn gọi là đồng trinh", chuyện "ông Jesus có khả năng biến hóa 5 ổ bánh mì và hai con cá thành cả khối lượng bánh mì và cá cho cả 5 ngàn người ăn mà vẫn không hết" (Matthew, 14:15-21), nhưng lại "không có khả năng làm cho cây vả có trái để cho ông ta ăn đỡ khi đói lòng khiến cho ông ta căm thù cây vả này rồi làm cho nó khô héo không sinh trái được nữa" (Matthew, 21:18-21), vân vân.

Khi người tín hữu tin được những huyền thọai này, họ không còn nhìn thấy những mâu thuẫn đến nực cười trong các tín điều mà Giáo Hội đã "săp đặt" sẵn cho họ. Điều cười đầu tiên là một mặt Giáo Hội rao truyền rằng ông Jesus "toàn thiện", nhưng mặt khác, trong thánh kinh của Giáo Hội lại nói ông Jesus nhỏ nhen và độc ác (làm cho cây vả khô héo, không sinh trái). Điều nực cười thứ hai là Giáo Hội rao truyền ông Jesus "toàn năng, " có khả năng "biến hóa 5 ổ bánh mì và hai con cá thành cả khối lượng bánh mì và cá cho cả 5 ngàn người ăn mà vẫn không hết" nhưng lại bất lực không làm sao hóa phép làm cho cây vả có trái (vào lúc trái mùa) để cho ông ăn trong đói lòng! Chỉ vì cây vả (sung) không có trái vào đúng lúc Chúa Jesus muốn ăn cho vào lúc đói lòng mà Chúa lại nỡ làm cho nó khô héo đi. Hành động độc ác như vậy mà Giáo Hội lại bảo là "Chúa toàn thiện". Rõ ràng là Giáo Hội nói láo!

Không những thế, ông Jesus lại còn bất lực, không làm sao tự cứu thoát khỏi bàn tay của bạo quyền La Mã, cho nên mới bị tóm cổ và bị hành hình như một tên tội đồ thường phạm và bị đóng đinh trên cái giá chữ thập rồi đem cắm ở Núi Sọ phơi nắng phơi mưa cho đến chết. Giáo Hội cho rằng, Jesus có thể thoat ra khỏi tai nạn đó, nhưng vì muốn chuộc tội cho nhân loại nên đành cam phận chịu nạn. Điều khôi hài là lời giải thích này lại đưa đến một sự mâu thuẫn khác. Đó là sau khi Chúa Jesus chịu chết đẻ chuộc tội cho loài người rồi, mà loài người cứ phải làm cái việc "đền tội" mãi, cứ phải đóng góp cho Giáo Hội để được Chúa cho lên "Thiêng Đàng", và loài người cứ phải gánh chịu những thảm họa chiến tranh triền miên cho đến ngày nay

Sự kiện này cho chúng ta thấy rõ là tác giả viết những chuyện hoang đường này trong thánh kinh có chủ ý bốc thơm ông Jesus lên tận mây xanh về tài năng biến hóa" "biến thành không, biến không thành có" để lòe đời hầu thủ lợi. Những vì các tác giả là những ngươi ít học và thiếu thông minh, không biết sử dụng lý trí để xếp đặt câu chuyện cho thuận lý, cho nên mới rơi vào tình trạng "giấu đầu hở đuôi", đọan văn sau đá ngược đọan văn trước và câu chuyện sau đá ngược câu chuyên trước. Vì thế mà cái đuôi cáo của họ mới lòi ra cả mấy thước để cho người đời nhìn thấy!

Sự thật về cuộc đời ông Jesus đơn giản là như đã trình bày Chương 2. Chẳng bao giờ có chuyện "biến hóa 5 ổ bánh mì và hai con cá thành cả khối lượng bánh mì và cá cho cả 5 ngàn người ăn mà vẫn không hết" và cũng chẳng bao giờ có chuyện ông Jesus "làm cho cây và khô héo vì nó không có trái cho ông ăn vào lúc ông đói lòng". Sự thật là ông Jesus KHÔNG "toàn năng" và cũng KHÔNG nhỏ nhen và độc ác đến độ làm cho cây vả khô héo, không sinh trái như đã ghi trong Thánh Kinh. Ấy thế mà sau khi ông chết được gần 4 thê kỷ, bàn tay phù thủy của Giáo Hội La Mã đã biến ông thành ông Chúa con, con của ông Chúa Cha Jehovah ở trên trời và được sai xuống hóa thân làm người với đủ tất cả mọi thứ quyền năng biến hóa "rờ tay vào trán người mang bệnh cùi là người cùi hết bệnh", trong cơn tức giận thì "làm cho cây vả phải khô héo chỉ vì nó không có trái cho ông ăn đỡ lúc đói lòng", v.v... , rồi ông chịu chết chuộc tội (tội láo khoét do chính Giáo Hội bịa đặt ra) cho loài người. Tiếu lâm hơn nữa là Giáo Hội còn bịa đặt ra chuyện sau khi chết được ba ngày, ông Chúa con này lại tự nhiên mọc cánh bay lên trời, rồi ngồi ở bên phải ông Chúa Cha Jehovah cực kỳ tàn ngược và thâm độc đến cùng độ của thâm độc. Vấn đề đặt ra về vấn đề này như sau:

1.- Ông Chúa Con Jesus ngồi ở phía bên phải ông Chúa Cha Jehovah để làm gì? (Phải chăng là để bàn những phương cách trừng trị những người nào dám to gan lớn mật không tin rằng ông Chúa Con Jesus có quyền năng biến hóa và sau khi chết đã bay lên trời như Giáo Hội đã bịa đặt ra?)

2.- Ngồi ở đó mấy tiếng đồng hồ trong một ngày? Và mấy ngày trong một tuần?

3.- Có được nghỉ phép đau ốm (sick leaves) và nghỉ phép hàng năm (annual leaves) hay không?

4.- Giáo Hội La Mã hay các Đức Thánh Cha của Tòa Thánh Vatican đã lên trên trời lần nào chưa?

5.- Chính mắt các ngài có nhìn thấy ông Jesus ngồi bên cạnh ông Chúa Cha Jehovah không?

6.- Mặt mũi Đức Chúa Cha Jehovah như thế nào?

7.- Thuộc chủng tộc da trắng, da đen hay da vàng?

5.- Cao lênh khênh như ông Charles de Gaulle (1890-1970) hay lùn tịt như các ông Bonaparte Napoléon (1769-1821) Tề Án Anh và Đặng Tiểu Bình?

6.- Hiền lành như ông Bụt, nhân từ như vua Lý Nhân Tông (1072-1127) hay hung ác, bạo ngược giống như những tên bạo chúa lừng danh trong lịch sử loài người như Nero ([Lucius Domitius Ahenobarbus] (37-66), hoàng đế thứ 5 của Đế Quốc La Mã), Tần Thủy Hoàng ở Trung Hoa, Bloody Mary (1516-1558) ở Anh trong những năm 1553-1558, Ante Pavelich ở xứ Croatia trong những năm 1939-1945, Pol Pot của nước Cao Mên trong thập niên 1970, Ngô Đình Diệm, Ngô Dình Nhu và Ngô Đình Cẩn ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1963?

Căn cứ vào Cựu Ước, sách Leviticus (26: 1-18) thì ông Chúa Cha Jehovah là một tên siêu bạo chúa còn độc ác hơn tất cả những tên bạo chúa lừng danh trong lịch sử nhân loại trên đây cả ngàn lần. Ấy thế mà Giáo Hội lại gán cho ông Jesus là con của tên siêu bạo chúa khốn nạn này thì có tội nghiệp cho ông Jesus không?

Căn cứ vào những lời rao giảng của các ngài mang chức thánh thì ông Jesus thực sự là con ông Chúa Cha Jehovah với những quyền năng biến hóa vô biên, đang ngồi bên phải ông Chúa Cha Jehovah ở trên trời, và sẽ mở lòng thương đưa lên nước trời những ai bằng lòng làm tín đồ của Giáo Hội và răm rắp tuân hành tất cả những lệnh truyền của Giáo Hội. Điểm độc đáo là các ngài nói những điều trên đây với tất cả giọng điệu và dáng bộ y như là chính các ngài đã chứng kiến và nhìn thấy tận mắt những điều mà các ngài nói. Các ngài quả thật là những tên đại bịp chuyên nghiệp!

Xin hỏi nhỏ các ngài, các ngài nói như vậy, có phải là các ngài đã có chủ tâm nói láo để lòe đời hầu thủ lợi hay không? Người viết xin hết lòng bái phục cái tài nói láo của các ngài, đồng thời cũng ghê tởm và khinh bỉ các ngài đế cùng độ của ghê tởm và khinh bỉ..

Những điều trình bày trên đây cho chúng ta thấy rõ Giáo Hội La Mã là một thế lực đại bịp, và đạo Giao-tô hat Thiến Chúa Giáo La Mã là "đạo bịp". Dĩ nhiên là chỉ có những người còn ở trong tình trạng bán khai mới có thể tin được những chuyện hoang đường nhảm nhí đầy tính cách bịp bợm trên đây.

2.- Bản chất lọan luân và vô luân: Bản chất lọan luân và vô luân bắt nguồn từ trong Cựu Uớc và trong hàng ngũ lãnh đạo của Giáo Hội

A.- Bắt nguồn từ thánh kinh là chuyện thằng Cain cưới vợ và cha con ông già Lot.

1- Trước hết xin nói về chuyện thằng Cain cưới vợ, Xã hội loài người lúc bấy giờ chỉ có ông Adam và người vợ của ông ta là bà Eve (một người đàn bà độc nhất lúc bấy giờ). Cặp vợ chồng này mới sinh ra có thằng Cain và thằng Abel (Genesis, 4:1-18). Ấy thế mà lại có chuyên thằng Cain cưới vợ. Xin hỏi Giáo Hội La Mã hay tất cả các ông tu sĩ Gia-tô từ Giáo Hòang John Paul Il tới các ông hồng ý, tổng giám mục, giám mục và linh mục rằng thằng Cain này cưới người đàn bà nào làm vợ, nếu không phải là cưới mẹ nó?

2.- Về chuyện loạn luân của cha con ông gìa Lot, sách Genesis (19: 30-38) kể rằng hai cô gái chuốc ruợu ông bố ruột tên là Lot, rồi thay phiên nhau làm tình với bố. Kết quả là cả hai đều mang bầu và đều sinh con với bố .

B. Bắt ngưồn từ hàng ngũ lãnh đạo là các ông giáo hoàng cùng các vị chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatican, và sau đó là giai cấp cán bộ, tức là giới tu sĩ, rồi lan truyền ra trong các họ đạo hay giáo xứ. Những bằng chứng cho sự kiện này chính là những sự thật lịch sử đã được cựu giáo sĩ Peter de Rosa ghi lại trong sách Vicars of Christ và đã được trích dẫn ở trên. Xin ghi lại dưới đây để quý vị dễ dàng nhận ra:

"Khi trở thành Giáo Hoàng vào năm 366, Damasus nêu gương từ bỏ vợ con", "Năm 867, khi được lên ngôi giáo hoàng, Adrian II (867- 872) cũng bỏ người vợ tên là Stefania và ngườ con gái của ông ta.", "Hàng ngàn giám mục ra lệnh rằng mọi tu sĩ có gia đình chính thức phải bỏ rơi vợ con và những người vợ của họ phải ăn năn sám hối, vì rằng hôn nhân của họ đã trở thành vô hiệu lực.", "; nhiều nữ tu viện là những ổ điếm (nhà thổ) nơi mà những trẻ sơ sinh đều bị giết rồi đem chôn ở ngay trong đó.". "Về phần các ông tu sĩ Gia-tô thèm khát làm tình (giải quyết vấn đề sinh lý), họ thường bị tố cáo về tội ác loạn luân đến nỗi rằng họ bị cấm không được ở cùng nhà với mẹ, cô hay dì và chị em gái của họ.", " một giáo sĩ xứ Orange ở Pháp đã thông dâm với người vợ thứ hai của thân phụ ông ta", "144 căn nhà của Giáo Hội đều khủng khiếp như là thành phố Sodom (một thành phố cở xưa ở Palestine); vô số các nữ tu viện với những người tự nhân là dâm đãng, lúc nhúc những trẻ thơ; Các giáo sĩ, từ tu viện trưởng đến và thày dòng đang dan díu níu và tán tỉnh cả những con điếm và các bà đã có chồng.", " một giáo sĩ ở Padua thú nhận là đã loạn luân với người mẹ ruột.", v.v..." (Xem lại đọan văn ở trên trong chương sách này).

Kinh nghiệm cho thấy rằng người đời thường được dạy bảo hay khuyên răn phải theo gương tốt của tiền nhân hay các bậc đàn anh hoặc của bất kỳ người nào trong xã hội đương thời để làm những việc tốt mà kết quả vẫn có rất ít người làm được. Nhưng nếu những người lãnh đạo hay các đấng bề trên nêu gương xấu rồi ngầm khuyến khích các cấp thừa hành và những người dân dưới quyền theo đó mà hành xử thì sẽ có rất nhiều người làm theo. Trong xã hội của những người Gia-tô, Giáo Hội dạy giáo dân "phải sống theo tinh thần thánh kinh", "phải tuyệt đối vâng lời Giáo Hoàng và các Đấng Bề Trên", "Phúc cho ai không thấy mà tin", và "Vâng lời qúy hơn của lễ". Sự kiện này được ông Gia-tô Nguyễn Văn Chức long trọng xác nhận với Giáo Hoàng John Paul II tại Denver, Colorado vào ngày 13/8/1993 với nguyên văn như sau:

"...Bổn phận của chúng ta, người công giáo tỵ nạn, đối với Giáo Hội và quê hương... Vì vậy, nếu trong công cuộc loại trừ bạo quyền Cộng Sản, tôn giáo tại Việt Nam là động lực vận hành và thúc đẩy, thì trong công cuộc phục hưng con người sau khi xóa bỏ chế độ Cộng Sản, tôn giáo tại Việt Nam sẽ là nhân tố chủ đạo, chỉ đạo và quyết định. Riêng về phía Thiên Chúa Giáo, quyền Thánh Kinh sẽ là cẩm nang trong sứ mạng phục hưng con người và đạo lý ) tại Việt Nam" xxiii

Với thực trạng như vậy, tất nhiên là giáo dân phải triệt để tuân hành tất cả những lời dạy dỗ và cung cách hành xử hàng ngày của các đấng bể trên trong đó có những bài dạy loạn luân, vô luân, dâm loàn ở trong Thánh Kinh cũng như những tấm gương ở trong cuộc sống hàng ngày của các ông giáo hoàng cùng các đấng về trên khác trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội. Như vậy là ở đâu có quyền lực của Giáo Hội La Mã vươn tới thì ở đó có tinh trạng loạn luân, vô luân, dâm loàn, nạn con hoang của các ngài "mang chức thánh" để lại, và người nào cũng được khích lệ sống theo tinh thần "Tòa Thánh đánh rắm cũng khen thơm". Vơi chủ trương tạo nên một xã hội như vậy, rõ ràng là Giáo Hội La Mã có chủ trương hủy diệt nền đạo lý và nếp sống văn minh của nhân loại.

Nhân tiện đây, nói về giáo luât của Giáo Hội cướng bách những sĩ tu sĩ (đúng hơn là "đạo sĩ") đã có gia đình phải chính thức từ bỏ vợ con (được quyết định và ban hành vào năm 1123 và 1215) như đã nói trên, người viết xin đặt ra ba vấn đề:.

Thứ nhất.- Nếu các ông tu sĩ (đạo sĩ) nạn nhân là những người thực sự "sống đạo theo đức tin Kitô", thì họ phải "tuyệt đối vâng lời các Đấng Bề Trên", tuân hành đúng theo cái lệnh dã man trên đây, không sai một dấu phẩy hay dấu chấm, và nếu họ làm đúng như vậy, theo lý lẽ thông thường (common sense), chúng ta phải xếp họ vào loại người như thế nào?

Trả lời: 1.- Phường bất nhân, 2.- Quân dã man, 3.- Đồ súc sinh, 4.- Cả ba đặc tính trên đây.

Thứ hai.- Nếu bề ngoài họ vẫn làm ra vẻ như là tuyệt đối vâng lời các đấng bề trên, làm ra vẻ tuân hành đúng theo lệnh dã man này của Giáo Hội, nhưng trong thực tế, vì trách nhiệm lương tâm đối với vợ con, vì nhu cầu tâm lý và sinh lý, họ vẫn lén lút về sống với vợ con, vẫn gian lận hay biển thủ hoặc thụt két tiền bạc mà họ quản lý trong phạm vi phần nhiệm của họ đem về nuôi sống vợ con của họ. Trong trường hợp này, cũng theo lý lẽ thông thường, chúng ta phải xếp họ vào hạng người như thế nào?:

Trả lời: 1.- Đạo đức giả, 2.- Gian dối, 3.- Tham nhũng, 4.- Gian dâm, 5.- Ngoan đạo, 6.- Tu sĩ tốt 7.- Có tất cả những đặc tính trên đây.

Thứ ba.- Nếu có những tu sĩ (đạo sĩ) nạn nhân bị chi phối bởi giáo luật dã man trên đây mà họ lại tỏ thái độ bất cần, không chịu tuân hành giáo luật quái đản này, liền cởi bỏ áo tu và từ giã luôn cả cái đạo quái đản này. Trong trường hợp này, Giáo Hội và những người "sống đạo theo đức tin Kitô" sẽ có cái nhìn đối với họ ra sao?:

Trả lời: 1.- Mang tội phản đạo, 2.- Rối đạo, 3.- Được nhân dân đời đời kính phục như trường hợp Linh-mục Martin Luther vào cuối thập niên 1510. 4.- tất cả 1, 2, 3 trên đây.

NHẬN XÉT

Đọc qua 12 đọan văn sử trích dẫn và ghi lại ở trên (từ số 10 đến số 21), chúng ta thấy có những vấn đề cần phải lưu ý và suy nghĩ về bộ mặt thật vô cùng ghê tởm của Giáo Hội La Mã:

Thứ nhất : Giáo Hội cưỡng bách "các tu sĩ (đạo sĩ) đã có gia đình phải đối xử với các bà vợ của họ như là những người chị em gái " tức là Giáo Hội chủ trương hủy diệt tình yêu thương vợ con của giới tăng lữ của Giáo Hội. Đây là bước đầu tiên của chính sách phá hủy nền tảng gia đình trong xã hội loài người. Việc làm dã man này chắc chắn là ông Jesus và Bà Maria (thân mẫu của ông Jesus) không chủ trương như vậy. Đây là tội phản Chúa và chống lại nhân loại.

Thứ hai : Hành động bắt các ông đạo sĩ phải chính thức từ bỏ vợ con đã là một việc làm hết sức dã man, rồi lại đem vợ của các tu sĩ bán cho người ta làm nô lệ thì quả thật là dã man đến cùng độ của dẫ man. Ấy thế mà Giáo Hội cứ bô bô nói rằng đạo Gia-tô là đạo "cứu rỗi" và "đạo bác ái" và tự phong là "đạo Chúa", là "Hội Thánh duy nhất thánh thiện, công giáo và tông truyền", là "Hiền Thê của Thiên Chúa Là Người", và gọi tín đồ của Giáo Hội là "dân Chúa"!. Xin hỏi TẠI SAO đạo Chúa và dân Chúa lại dã man như vây? Sự kiện này cho chúng ta thấy rõ bộ mặt thật lưu manh và gian dối của Tòa Thánh Vatican.

Thứ ba : Làm tu sĩ (đạo sĩ) cho Giáo Hội quả thật là một nghề béo bở. Béo bở đến nỗi "họ bị cưỡng bách phải chọn lựa hoặc là được chính thức lập gia đình thì không được làm giáo sĩ, hoặc là được làm giáo sĩ thì không được chính thức lập gia đình. Cách chọn lựa hay nhất là làm giáo sĩ và sống chung với bạn gái mà không cần phải có hôn thú ." và "Một xứ có 900 ngàn dân mà có tới 3 ngàn tu sĩ". (Cũng cần nên biết, vào thời đó, quyền lực của Giáo Hội rất là ghê gớm, nếu không tuân hành hay chống lại luật lệ hay lệnh truyền của Giáo Hội là có thể bị kết tội phản đạo hay tà giáo, sẽ bị trói vào một cái cọc, rồi chụm củi khô chung quanh và châm lửa thiêu sống cho chết.. Hơn nữa, tất cả các phương tiện sinh nhai hay kiếm sống của người dân gần như hoàn toàn nằm trong tay của Giáo Hội, như đã trình bày ở phần đầu chương này. Chỉ có làm tu sĩ (đạo sĩ) cho Giáo Hội mới có thể ngóc đầu lên nổi.).

Thứ tư : Giới tăng lữ mà Giáo Hội cao rao là sống trinh bạch và được Giáo Hội vinh danh là những người "mang chức thánh", thực sự chỉ là những tên ma cô, điếm đàng, phóng đãng. loạn luân, vô luân và dâm loàn. Bằng chứng là như trên đã nói rõ : "144 căn nhà của Giáo Hội đều khủng khiếp như là thành phố Sodom (một thành phố cổ xưa ở Palestine); vô số các nữ tu viện với những người tự nhận là dâm đãng, lúc nhúc những trẻ thơ; các giáo sĩ, từ tu viện trưởng đến thày dòng đang dan díu níu kéo cả những con điếm và các bà đã có chồng", "họ thường bị tố cáo về tội ác loạn luân đến nỗi rằng họ bị cấm không được ở cùng nhà với mẹ, cô hay dì và chị em gái của họ","một giáo sĩ xứ Orange ở Pháp đã thông dâm với người vợ thứ hai của thân phụ ông ta"," một giáo sĩ ở Padua thú nhận là đã loạn luân với người mẹ ruột".

Thứ năm : Các dòng nữ tu chỉ là "những ổ điếm trá hình" để cho các ngài "mang chức thánh" đến đó giải quyết sinh lý và cũng là nơi nuôi dưỡng những đứa con hoang của các ngài hay là mồ chôn của chúng. Bằng chứng là "nhiều nữ tu viện là những ổ điếm (nhà thổ) nơi mà những trẻ sơ sinh đều bị giết rồi đem chôn ở ngay trong đó ".(Xem lại hai đọan văn có ghi chú số 14 và 15 ở trên)

Thứ sáu : Giới tăng lữ của Giáo Hội đã sản xuất tới 40% trong tổng số con hoang trong xã hội. Bằng chứng là "cứ 2 trong 5 (40%) đứa con hoang là con của các ông tu sĩ (đạo sĩ)." Đây là con số chiếm kỷ lục trong lịch sử nhân loại. Giáo Hội La Mã quả thật là một thế lực chiếm giải quán quân về vân đề sản xuất con hoang trong xã hội.

Với tình trạng như vậy, tất nhiên là một lúc nào đó, những đứa con hoang này sẽ suy tư, nghĩ đến những nỗi cay đắng tủi nhục và cuộc đời khốn khổ của chúng, rồi đặt ra vấn đề ai là thủ phạm gây nên cho chúng thành những trẻ thơ có cha có mẹ mà trở thành côi cút, không người săn sóc, không nơi nương tựa, cả thời tuổi thơ sống trong cảnh gian truân đói lạnh, nhất là nỗi niềm đắng cay, tủi nhục, ray rứt ớn lao vì không có tình thương cha mẹ (một thứ tình thương thiêng liêng không có gì sánh bằng)?

Chúng ta hãy suy nghĩ cho kỹ để tìm ra lời giải đáp cho câu hỏi "Ai là thủ phạm" trên đây?

1.- Giáo Hội La Mã, 2.- Người cha ruột của nó là đạo sĩ của Giáo Hội,

3.- Tinh thần "sống đạo theo đức tin Kitô" của người cha đã sinh đẻ ra chúng nó. 4- Tất cả (1, 2, và 3).

Chắc chắn là lòng oán hận này đã làm cho chúng trở thành những phần tử sẵn sàng chống lại xã hội, chống lại công lý (common sense) và chống lại nền văn minh nhân loại. Sự chống đối này tùy theo khả năng của nó ở trong bất cứ hoàn cảnh nào. Mối nguy hiểm này càng trở nên nguy hiểm hơn nữa là khi những đứa "con hoang" này trở thành những người có quyền lực (nhờ dựa hơi vào Giáo Hội như trường hợp "Giáo Hoàng Sylverius, nhờ có cha ruột là Gíao Hoàng Hormisdas (514-523). mà một chức phó trợ tế được đưa lên làm giáo hoàng". Ngô Đình Khả chưa hẳn đã là một đứa con hoang, nhưng vì được dựa hơi Giáo Hội Lã Mã mà con cháu tên Việt gian vô lại khốn nạn họ Ngô này cũng đã múa may quay cuồng trên sân khấu chính tri tại miền Nam trong chín năm trời.

Thứ bảy : Chuyện các ông giáo sĩ bị cưỡng bách phải bỏ rơi vợ con vẫn thường hay lén lút về thăm gia đình mà vẫn không có ai tố cáo với Giáo Hội cũng là một vấn đề nên tìm hiểu. Không có ai tố với Giáo Hội việc họ lén lút về thăm vợ con có thể là cái "giáo luật quái đản" này của Giáo Hội bất nhân và dã man quá khiến cho hầu như tất cả mọi người đồng thuận với những việc làm của họ, cho nên không có ai thèm báo cáo với Giáo Hội. Thực ra, có tố cáo thì cũng vô ích vì chính các ông giáo sĩ lãnh đạo Giáo Hội và những vị chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatican cũng ở trong tình trạng như vậy. Vả lại Giáo Hội đều biết rõ những hành động lén lút sống với vợ con của các ông giáo sĩ sĩ nạn nhân này, nhưng Giáo Hội không cần quan tâm đến, bởi vì khi ban hành cái "giáo luật quái đản" này, chủ ý của Giáo Hội là muốn ngăn chặn, không cho các ngài giáo sĩ chuyển nhượng cho vợ con chính thức những khối tài sản kếch sù mà Giáo Hội đã ăn cướp và bóc lột nhân dân, chứ trong thâm tâm, Giáo Hội không hề quan tâm đến việc họ có liên hệ tình cảm với nữ giới.

Thứ tám : Vì "phải tuyệt đối vâng lời các đấng bề trên", sau khi các giáo sĩ nạn nhân chính thức bỏ rơi vợ con trên giấy tờ" thì những đứa con ruột của nạn nhân cũng trở thành nạn nhân, bị gọi là "những đứa con hoang" (bastards), và người vợ thân thương của họ trở thành một thứ "nhân ngãi không ra nhân ngãi" và "vợ cũng chẳng phải vợ", Tình trạng này, tiếng Anh lại gọi là "concubine". Cũng vì thế mà mới phát sinh ra động từ "fornicate" mà các nhà làm tự điển chuyển dịch sang tiếng Việt là "thông dâm". Chuyển dịch như vậy là không đúng, không nói lên đuợc sự thật về hành động của các ông giáo sĩ "âu yếm và làm tình" với người vợ thân thương yêu qúy đã bị Giáo Hội cưỡng bách phải bỏ rơi trên phương diện pháp lý (pháp lý theo quan niệm của Giáo Hội và trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội).

Thứ chín : Giáo Hội có chủ trường kỳ thị và khinh rẻ phụ nữ và tước bỏ mất cái hạnh phúc gia đình giới tăng lữ của Giáo Hội. Họ không có quyền được công khai tán vợ nịnh con, không có quyền nuôi nấng, săn sóc và dạy dỗ con cái. Tình trạng này đã giúp cho các ông giáo sĩ Gia-tô vốn có bản chất phóng đãng, có cơ hội và lý do để lén lút với nhiều bà khác, nhất là họ lại là những người vừa có quyền lực vừa có (nắm giữ) nhiều tiền bạc (dù là tiền bạc của Giáo Hội). Với tình trạng như vậy, trật tự và công lý (common sense) bị đảo lộn, tình người bị hủy diệt lần lần. Rút cuộc, trong xã hội Gia-tô, chỉ còn lại toàn là những người mang hình dáng người mà không còn một chút gì là tính người. Đây là một trong những thảm trạng gây ra bởi việc Giáo Hội cưỡng bách giới tu sĩ phải sống độc thân

Thứ mười : Trong thực tế, chính sách cưỡng bách các ông giáo sĩ phải sống độc thân đã biến họ thành những tên nô lệ được ưu đãi và được coi là thuộc về giai cấp thống trị trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã. Dù là được ưu đãi cho nằm trong giai cấp thống trị và nắm quyền sinh sát đối với nhân dân dưới quyền thì họ cũng vẫn là một loại người nô lệ làm việc không công cho Giáo Hội, và vợ con của họ rơi vào tình trạng thảm thương giống như thảm cảnh "vợ góa con côi". Trong khi đó thì người cha ruột của chúng lại là những người quyền cao chức trọng, hét ra lửa mửa ra khói ở ngay trong vùng chúng cư ngụ. (Đây cũng là trường hợp của người con của ông Linh-mục CĐ.M. (ở thành phô Portland, tiểu bang Oregon). Trong thời gian từ cuối năm 1975 cho đến giữa năm 2001, ông lãnh chúa áo đen này đã từng hét ra lửa mửa ra khói trong cộng đồng giáo dân Gia-tô tại một thành phố lớn vào bậc thứ nhì trong miền Tây Bắc Hoa Kỳ và cũng là trường hợp của đứa con của ông giáo sĩ áo đen Nguyễn Hữu D ở Houston, Texas mà chúng tôi đã nêu lên ở Chương 15). Đối với các bậc thức giả, cái giáo luật dã man này đã trở thành cơ sở và cũng là cứ điểm xuất phát cho những hành động tấn công hủy diệt cái tình cảm thiêng liêng và cao qúy nhất của con người (tình người trong xã hội văn minh).

Không ai chối cãi được đây là những quyết định của Giáo Hội La Mã và dù là nó thể hiện bằng giáo luật hay tín lý, hoặc tín điều gì đi nữa, thì nó cũng không phải là do Thượng Đế hoặc ông Chúa Cha Jehovah hay Chúa Con Jesus hoặc một đấng thần linh nào khác mặc