104-world.gif (2288 bytes)

posted: 15.10.04

DUNG DƯỠNG, BƯNG BÍT
VÀ BAO CHE CÁC TU SĨ HỦ HÓA

Nguyễn Mạnh Quang

Chủ đề của Chương 17 là nói về mục đích và quan niệm đi tu của giáo dân trước khi dấn thân vào cuộc đời tu hành ở trong đạo Kitô La Mã. Một trong những tiểu mục trong chương sách này nói về sự khác bỉệt về chủ đích và quan niệm tu hành giữa hai giới tu sĩ Phật Giáo và Gia-tô Giáo trước khi họ dấn thân vào cuộc đời tu hành. Kế đến là nói đến việc Giáo Hội La Mã có chủ trương dung dưỡng và bao che cho cá tu sĩ hủ hóa hóa của Giáo Hội La Mã.

Để tránh những hiểu lầm về ý nghĩa của cuộc đời tu hành của người đi tu, thiết tưởng nên hiểu rõ định nghĩa của từ "tu sĩ".

ĐỊNH NGHĨA CỦA TỪ TU SĨ

Theo Việt Nam Tự Điển của học giả Lê Văn Đức thì "tu sĩ là thày tu, người tu hành". Theo Hán Việt Từ Điển của học giả Đào Duy Anh thì "tu sĩ là người tu hành (religieux) - Người quân tử theo đạo".

Trong Anh ngữ, từ "tu sĩ" được hiểu là "cleric" hay "clergyman". Từ "clergy" được hiểu là "giai cấp tăng lữ". Theo Việt Nam Tự Điển của học giả Lê Văn Đức "tăng lữ" là "thày tu (không phân biệt đạo giáo)", và "giai cấp tăng lữ" là "giai cấp thày tu (tiếng dùng vào thời đại phong kiến ở Âu Châu), một giai cấp được biệt đãi ngang với giai cấp quý tộc".

Hy vọng rằng những định nghĩa trên đây về từ "tu sĩ" giúp cho độc giả có cái nhìn rõ hơn về địa vị nguyên thủy của người "tu sĩ" Gia-tô trong xã hội Gia-tô giáo vào thời Trung Cổ.

Ngòai từ "tu sĩ", ngôn ngữ Việt Nam còn có từ "đạo sĩ" và "giáo sĩ".

Theo Việt Nam Tự Điển của ông Lê Văn Đức thì "đạo sĩ là thầy tu theo đạo thần tiên, theo đạo Lão", và "giáo sĩ là người đi truyền giáo". Theo Hán Việt Từ Điển của học giả Đào Duy Anh thì "đạo sĩ là là người theo đạo giáo - thuật sĩ (taoiste, magician)".

Căn cứ vào những vai trò của các ông tu sĩ và chức sắc mang chức thánh của Giáo Hội mà chúng tôi đã trình bày ở Chương 7, thì họ không phải là "tu sĩ" vì rằng trong suốt cuộc đời từ khi có ý định nộp đơn xin nhập học nghề linh mục tới khi tốt nghiệp được thụ phong chức linh mục, rồi ra hành nghề cho đến khi nhắm mắt lìa đời, họ chỉ biết hết sức cố gắng bằng mọi cách làm tròn trách nhiệm của một cán bộ đối viứ Giáo Hội La Mã (tức Đế Quốc Vatican) bất kể gì là những việc làm đó bất chính, phi nhân, dã man và tàn độc đến đâu đi nữa, .kể cả việc muối mặt làm nội gián bán đứng quê hương đất tổ cho Giao Hội La Mã để tỏ lòng tuyệt đối trung thành với mẫu quốc Vatican. Nói cho rõ hơn, họ chỉ là những tên phản quốc nắm giữ vai trò một ông quan thực dân cực kỳ phong kiến của một đế quốc thực dân xâm lược có danh xưng là "Đế Quốc Vatican" được tàng hình bằng danh xưng tôn giáo là "Giáo Hội La Mã". Vì thế, chúng ta nên gọi tập thể của họ là "giai cấp hay giới tăng lữ" (theo đúng nghĩa nguyên thủy trong thời Trung Cổ) và khi dùng để chỉ từng cá nhân trong bọn họ thì nên gọi là "giáo sĩ" hay "thuật sĩ" thì mới hợp lý hơn.

SỰ KHÁC NHAU VỀ CHỦ ĐÍCH ĐI TU GIỮA CÁC NHÀ TU HÀNH PHẬT GIÁO VÀ CÁC ÔNG TU SĨ GIA TÔ

Nói đến các nhà tu hành là một điều tế nhị và cần phải minh định cho rõ ràng. Nhân loại ngày nay có rất nhiều tôn giáo và có rất nhiều tu sĩ theo các giáo phái khác nhau. Theo sự hiểu biết của người viết, chỉ có Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo La Mã, tức đạo Kitô La Mã hay đạo Gia-tô mới có quy luật đòi hỏi tu sĩ phải sống độc thân.

A.- VỀ PHÍA PHẠT GIÁO:

Người viết không đặt vấn đề này và không kể vào nội dung bài viết vì những lý do sau đây:Tôn giáo này tách rời chính quyền, không có tổ chức chặt chẽ hàng dọc, không có dã tâm tìm cách lấn chiếm tiếm đọat chính quyền để thiết lập chế độ đạo phiệt Phật Giáo, nắm quyền kiểm sóat tất cả mọi sinh họat đời sống con người nhằm biến con người thành những bầy nô lệ phục vụ cho nhà Phật. Do đó, tôn giáo này:

1.- Không có quyền lực đối với tín đồ và cũng không có quyền hành gì ở ngoài xã hội.

2.- Không dựa vào chính quyềncũng không cấu kết với chính quyền để dựa hơi chính quyền mở rộng ảnh hưởng của nhà Phật.

3.- Không có quyền lực cưỡng bách nhân dân trong vùng phải đóng thuế hay đóng góp tiền bạc bằng hình thức này hay hình thức khác.

4.-Không ban hành tín điều hay giáo luật cưỡng bách những người khác tôn giáo muốn lập gia đình với tín đồ phải từ bỏ tôn giáo truyền thống của gia đình để theo đạo Phật rồi mới được tiến hành làm lễ thành hôn. Nhà Phật không chủ trương dựa vào chính quyền để cướpc đọat tài nguyên quốc gia để là của riêng của nhà Phật.

5.- Không thể giúp cho tín đồ có chức vụ trong chính quyền, tức là không thể đem lại danh và lợi cho bất cứ người nào.

Như vậy, ở bên Phật Giáo, đi tu là đem thân nương bóng của Phật để thoát tục, không chạy theo cửa quyền, không màng tới công danh, không nghĩ tới một chức vụ nào trong chính quyền cũng như ở ngoài xã hội. Hàng ngày, bậc chân tu trong giới tu hành Phật Giáo chỉ có mảnh áo nâu hay áo vàng khoác lên thân thể và phải ăn uống đạm bạc. Căn bản của miếng ăn là cơm, cà, dưa muối, rau luộc, đậu phụ (tàu hũ) và trái cây. Căn bản nước uống là trà và nước lã, tuyệt đối không được phép uống rượu. Các nhà tu hành Phật giáo phải thực sự sống đời trong trắng, phải tự giác, tự hãm mình, không được có quan hệ tình cảm với phụ nữ.

Bất kỷ kẻ nào đã khoác áo tu hành mà còn láng cháng sờ mó với nữ tín đồ hay có liên hệ tình cảm với phụ nữ thì lập tực bị tín đồ và nhân dân địa phững lên án là "sư hổ mang"" rồi có thể bị nhân dânm tẩy chay và nếu có người tố cáo thì lập thức bị chính quyền truy tố và trừng trị thẳng tay. Ở vào trường hợp này, tội nhânkhông được một thế lực nào hay Giáo Hội Phật Giáo dung dưỡng và bao che như chúng ta đã thấy đã xẩy ra ở bên đạo Gia-tô từ thế kỷ 4 cho đến ngày nay, và rõ rết nhất ở Hoa Kỳ khởi đầu từ Giáo Phận Boston từ đầu năm 2002 cho tới nay vẫn còn tiếp tục.

Cuộc đời tu hành ở bên Phật giáo khổ hạnh như vậy, và ai cũng biết như vậy. Nếu bằng lòng và chịu đựng được như vậy thì dấn thân vào cửa Phật để vui với kiếp sống gõ mõ tụng kinh cho được an thân tu tâm dưỡng tĩnh hay là để xa lánh cuộc đời tục lụy ở ngoài xã hội. Nếu lỡ đã bước vào kiếp sống như vậy mà không chịu đựng được cảnh sống đạm bạc và thiếu vắng con gái đàn bà thì cứ tự động rút lui, không có đấng bề trên hoặc thế lực nào cấm cản hay cưỡng bức phải ở lại tiếp tục sống kiếp tu hành khổ hạnh như vậy. Lẽ đương nhiên, không thiếu những người lợi dụng cửa Phật để làm những chuyện không tốt. Nhưng vì không có tổ chức và không có quyền lực, những người mượn lớp áo tu hành của đạo Phật để mưu đồ bất chánh hay mượn danh đạo tạo danh đời KHÔNG THỂ NÀO gây nên mối đại họa cho xã hội , cho đât nước và cho nhân lọai được. Cũng vì thế mà trong lịch sử chưa bao giờ có chuyện đạo Phật gây chiến với các tôn giáo khác.

Vì thực trạng bản chất tu hành ở bên Phật giáo là như vậy, cho nên trong tập sách này, người viết không đề cập đến các nhà tu hành của Phật giáo. Xun đừng hiểu lầm hay ngộ nhận và đừng xuyên tạc..

B.- VỀ PHÍA ĐẠO GIA TÔ:

Khác với các đạo giáo cổ truyền ở Đông Phương, đạo Kitô La Mã không phải là một tôn giáo thuần túy, không phải là một hệ thống triết lý nặng về trí tuệ với chủ trương dạy đời hướng về nội tâm (hướng nội) để sửa mình cho thánh thiện giống như đạo Phật. Như đã trình bày ở các Chương 2, 3 và 4, Thánh Kinh và tín điều của đạo Kitô La Mã gồm toàn những chuyện hoang đường, kèm theo những tín điều nghịch lý, phi nhân bản, phản khoa học, thiếu logic, nặng tính cách lừa bịp và những giáo luật nặng tính cách chuyên chế, áp bức, vơ vào, bốc hốt và bóc lột. Vì những lý do này mà Giáo Hội La Mã cần phải dựa vào chính quyền hay tiếm đọat chính quyền để có thể sử dụng quyền lực nhà nước cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải tin theo tín bịp bơkm quái đản va giáo luật nặng tính các áp bức và bóc lột của Giáo Hội.. Cũng vì thế mà chỉ có những người vì thói quen, vì tập quán, vì hoàn cảnh gia đình, hoặc vì được giữ một chức vụ trong các hoạt động của đạo (ông trùm, ban trị sự, thày dạy giáo lý, ca đoàn, đạo binh Đức Mẹ, đạo binh Thánh Giá, đạo binh xanh, hội các bà mẹ, ...) cho nên mới nhắm mắt bước đi theo con đường quen thuộc. Những người bình thường không thể tin được những tín lý đày tính chất hoang đường và bịp bợm của Giáo Hội, và cũng không thể nào cúi đầu tuân hành những giáo luật phi nhân nặng tính cách chuyên chính vơ vào của Giáo Hội, ngoại trừ những người không biết sử dụng lý trí (không biết động não) hay những hạng người ngu dốt như con cừu.. Đây cũng là nguyên nhân khiến cho Giáo Hội La Mã chủ chương thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ để kìm hãm tín đồ và nhân dân dưới quyền ở trong tình trạng ngu dốt. Có như thê thì Giáo Hội mới có tín đồ. Điều này chứng tỏ Giáo Hội La Mã thực sự là một đế quốc thực dân xâm lược thâm độc nhất và dã man nhất với bộ máy cái trị bằng cảnh sát, công an và mật vụ nằm dưới quyền chỉ đạo tối cao của một nhóm thiểu số tăng lữ (tu sĩ). Với một bộ máy cai trị bao trùm tất cả các thuộc địa (hay cựu thuộc địa) của các đế quốc Bồ Đào Nha, Tây Ban và Pháp, tất nhiên là Giáo Hội phải có chủ trương nhất quán về sách lược tuyển dụng nhân sự làm tu sĩ để nắm giữ những vai trò trong chính quyền. mà chúng tôi đã trình bày ở trong Chương 7.

Trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã, đi tu làm linh mục, tức là ra làm quan với nhiều quyền lực bao trùm lên cả quyền lực của các nhà chức trách địa phương, và làm ông thày tế lễ nắm quyền chủ tế trong các buổi lễ tại các nơi thờ tự thiêng liêng trong vùng quản nhiệm. Ngoài những quyền lực và quyền uy cao trọng như vậy, các ông tu sĩ Gia-tô thường thường được ăn uống thả giàn, tha hồ ăn những thứ cao lương mỹ vi, của ngon vật lạ, uống toàn những thứ rượu thượng hảo hạng sản xuất từ Ý và Pháp. Vì thế mà cơ thể của họ lúc nào cũng sung sức, căng đầy nhựa sống khiến cho nhu cầu đòi hỏi giải quyết vấn đề sinh lý càng mãnh liệt hơn tất cả những giới người khác trong xã hội. Ấy thế mà, theo nguyên tắc, họ lại không được công khai nói lên những lời yêu thương hay những cử chỉ tình tứ với người khác phái gíup cho họ làm dịu bớt cái dục tính lúc nào cũng cuồn cuộn dâng lên và muốn trào ra để giải thoát. Vốn đã ở trong tình trạng bị dồn ép như vậy mà hàng ngày, họ lại thường xuyên giao dịch tiếp xúc với nữ tín đồ đủ lọai tuổi từ tuổi xuân vừa chớm nở cho đến các bà xồn xồn. Nếu những người đang ở trong tình trạng đói lòng thì ăn cơm gạo hẩm với rau luộc chấm nước tương cũng cảm thấy ngon miệng thì các Ngài tu sĩ Gia-tô nhìn thấy nữ tín đồ nào cũng đều hấp dẫn và gợi tình. Ở trong trạng thái này thì LÀM SAO các ngài linh mục LẠI KHÔNG nhìn nữ tín đồ giống như con cọp đói nhịn ăn lâu ngày nhìn đàn nai tơ chờn vờn trước măt. Trong hòan cảnh như vậy, tất nhiên là cái gì có thể xẩy ra phải xẩy ra.

Các ông tu sĩ Gia-tô là những người được trao phó cho nắm giữ các chức vụ quan trọng trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã, nhất là tại các quốc gia mà chính quyền thế tục chỉ là một thứ chính quyền nổi (formal government) làm tay sai cho Hội Đồng Giám Mục địa phương [chính quyền chìm (informal government) ở hậu trường nắm quyền chỉ đạo] giống như ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975. Có chức vụ quan trọng tất nhiên là có quyền hành và quyền lợi. Tại miền Nam, trong thời gian từ tháng 7/1954 cho đến tháng 4/1975, quyền lực của các vị chức sắc cao cấp trong Hội Đồng Giám Mục cũng như các ông linh mục quản nhiệm các họ đạo bao trùm lên trên cả quyền hành của các nhà chức trách địa phương. Tại các tỉnh ở địa phương như Quảng Tri, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Qui Nhơn, Tuy Hòa, Đà Lạt, Lâm Đồng, Bình Thuận, Phước Tuy, Kiên Giang, An Giang, An Xuyên, v.v..., các ông tướng tư lệnh vùng, các ông tỉnh trưởng và quận trưởng khi đến nhậm chức nếu không đến chầu chực trình diện đức Cha Ngô Đình Thục hay Phạm Ngọc Chi hay vị giám mục quản nhiệm giáo khu sở tại hoặc vị linh mục quản nhiệm họ đạo tai địa phương để tỏ lòng "biết điều", "biết ơn Chúa" và "biết ơn Đức Cha", "biết ơn Cha" thì kể như con đường công danh đi vào ngõ cụt. Các ông tỉnh trưởng Kiên Giang (Rạch Giá) và các quận thuộc tỉnh này mỗi khi đến nhậm chức cũng phải trình diện và tỏ lòng "biết điều", "biết ơn" Linh-mục Nguyễn Bá Lộc ở Cái Sắn. Tương tự như vậy, các ông tỉnh trưởng Long Khánh và quận trưởng trong tình này cũng phải đến trình diện Linh-mục Trần Đình Vận ở Dốc Mơ để làm những gì cần phải làm ngay khi vừa nhận được lệnh bổ nhiệm. Người ta gọi các ngài là bọn lãnh chúa áo đen. Những lãnh chúa áo đen khét tiếng thời bấy giờ là Mai Ngọc Khuê (Tân Sa Châu, Tân Sơn Hòa, Tân Bình, Gia Định), Đinh Xuân Hải (Phú Thọ Hòa, Tân Bình, Gia Định), Tô Đình Sơn (Phú Yên), Nguyễn Lạc Hóa (Biệt Khu Hải Yến, Cà Mâu), Linh Mục Tông (Chương Thiện), Linh Mục Trịệu (Bến Dinh, Châu Đốc), Linh-mục Vũ Thạch Nghị (Bình Thủy, Phong Dinh), Trần Đình Vận (Dốc Mơ, Long Khánh), v.v...

Gái tham tài, trai tham sắc. Ở vào hoàn cảnh oai quyền và vương giả như trên, các ngài quả thật đã trở thành tất cả những gì cho các bà các cô mơ ước:

Một đêm quân tử nằm kề,
Còn hơn thằng mán vỗ về quanh năm.

Tư tưởng biến thành hành động. Thế rồi, các bà, các cô cố gắng nại ra đủ mọi lý do để có thể lân la đến với các ngài.Tình trạng này khiến cho các ngài vốn thường xuyên đã bị những cơn dục tình thôi thúc (libido) hành hạ làm cho mờ mắt, lại càng thêm mờ mắt để rồi không còn biết gì đến liêm sỉ và sẽ hành động y như loài súc sinh. Chính vì vậy mới có tình trạng:

"Năm 1064, một giáo sĩ xứ Orange ở Pháp đã thông dâm với người vợ thứ hai của thân phụ ông ta. Hai năm sau, một giáo sĩ ở Padua thú nhận là đã loạn luân với người mẹ ruột. ["A priest of Orange in France committed aldultery with his father's second wife in the year 1064. Two years later, a priest from Padua confessed to incest with his mother." i

Trong khi đó thì giáo dân lại luôn luôn vừa kính trọng vừa run sợ đối với các ông linh mục, giám mục, hồng y và giáo hoàng. Sự kiện này được ông Gia-tô Nguyễn Mậu thốt ra trong một bài viết đăng trên tờ Chính Nghĩa Bộ Mới Só 251 ngày 03/12/1994, phát hành tại San Jose, California với nguyên văn như sau:

"Vấn đề được nêu lên ở đây với tất cả mạo muội và run sợ vì có thể bị xem như là vô lễ phạm thượng. Chúng tôi trông vào sự độ lượng của hàng giáo phẩm cũng như hy vọng rằng sự trưởng thành của giáo dân ở thời đại này sẽ giúp thật nhiều cho sự thể hiện lý tưởng Ki tô hữu". ii

Hơn nữa, cái nguyên nhân hay động lực khiến cho tín đồ Gia-tô dấn thân vào cuộc đời tu hành là mong muốn có được quyền lực và danh vọng và lợi lộc vật chất thiết thực đáp ứng cho tham vọng "tình, tiền, quyền thế, và danh vọng" mà người đời vẫn thường chạy theo đeo đuổi. Sự kiện này được nhà văn Gia-tô J. Ngọc nói lên rõ ràng trong cuốn "Cõi Phúc Và Giây Oan" với nguyên văn như sau:

"Những người con trai thơ dại mong được đào tạo trở thành linh mục sau này. Tôi mồn một nhớ về tâm trạng thơ dại qua những ngô nghê tuổi khờ. Mẹ tôi dắt tôi, bàn tay người không rời, nắm chặt như một quả quyết toàn vẹn. Tôi biết, và ngay lúc đó tôi hiểu rằng bố mẹ tôi đã nắm một phần rất quan trọng trong lần chuyển đời này của tôi, vì với tôi , ý nghĩ đi tu chỉ vấn vương qua những hình ảnh vật chất và uy quyền hàng ngày. Tôi đã so sánh và nhìn sự cả nể của các linh mục, sự tôn kính từ giáo dân, nhất là với tôi, các linh mục, tu sĩ đã như những tuyệt đối nhất của bất kỳ phương diện nào. Giáo dân tùng phục, giáo dân khiếp sợ, giáo dân cầu lụy và muôn ngàn hình ảnh khác." iii

Nói về quyền lực của các ông linh mục làm cho giáo dân phải khiếp sợ và thèm khát có được những thứ quyền lực này, Giáo-sư Nguyễn Văn Trung ghi nhận giống như nhà văn Gia-tô J. Ngọc trên đây. Dưới đây là nguyên văn lời Giáo-sư Nguyễn Văn Trung:

"Các Ngài được đào tạo để làm quan đạo, làm vua đạo, và chưa bao giờ được đào tạo để phục vụ anh em đồng đạo, đồng bào, mà chỉ được đào tạo để cai trị và để được hầu hạ, ăn trên ngồi trước, kể từ khi bước chân vào chủng viện. Việc đào tạo này được xuất phát từ yêu cầu của một tầng lớp xã hội và để phục vụ tầng lớp xã hội ấy.  iv

Viết đến đây, người viết lại nhớ tới đại văn hào Victor (1802-1885) đã nhận xét về vai trò của ông linh mục trong một làng đạo như sau:

"Trong mỗi làng đều có một ngọn đuốc soi sáng: Ông thày giáo, và một kẻ làm tắt bó đuốc đó: Ông linh mục xứ. (Linh-mục quản nhiệm họ đạo)".  v

Những sự kiện nêu lên ở trên cho chúng ta thấy rằng động lực khiến cho thanh thiếu niên Gia-tô dấn thân vào học nghề làm linh mục là lòng thèm khát quyền lực, háo danh và tham lợi. Đây là một sự thật hiển nhiên và bằng chứng rõ rệt cho sự kiện này là chính những vai trò mà chính họ đảm nhiệm (đã được trình bày ở Chương 7) và những việc làm cũng những cung cách hành xử hàng ngay của họ.

Trong thực tế, không phải Giáo Hội chỉ sử dụng miếng mồi danh và lợi để câu nhử và lôi cuốn giáo dân tham quyền, háo danh, hám lợi dấn thân vào cái nghiệp tu hành làm tay sai cho Giáo Hội. Chính sách này vốn dĩ đã được Giáo Hội áp dụng để dụ khị và lôi cuốn bọn hạ lưu tham lam xu thời vào đạo như đã nói rõ ở trong Chương 10 và Chương 13. Ngay cả khi phát động cuộc Chiến Thập Tự Lần Thứ Nhất vào năm 1095, Giáo Hoàng Urban II (1088-1099) cũng sử dụng miếng mồi danh và lợi để câu nhử tín đồ gia nhập các đao quân thập tự viễn chinh đi cướp đọat của cải cho chính bản thân họ và đánh chiếm đất đai cho Giáo Hội. Sự kiện này được sách sử ghi lại rõ ràng như sau:

"Người ta gia nhập vào các Đoàn Quân Thập Ác này vì nhiều lý do. Giáo Hoàng hứa hẹn sẽ ban thưởng cho họ vừa lên thiên đường vừa được hưởng những phần thưởng vật chất thiết thực ở nơi trần thế. Mọi tội lỗi của nguời lính Thập Ác đều được tha thứ. Tài sản và gia đình của họ được Giáo Hội bảo đảm, trông nom săn sóc trong thời gian họ xa nhà đi chiến đấu. Những ai còn mang nợ sẽ được xóa bỏ hết nợ nần và những tội đồ sẽ được xóa bỏ hết tội ác, miễn bị triừng phạt nếu họ gia nhập vào đoàn quân Thập Ác của Giáo Hội. Nhiều ông hiệp sĩ chóa mắt vì những miếng mồi quyến rũ về những đất đai và của cải mà họ hy vọng sẽ ăn cướp được ở vùng Cận Đông giầu có. Các thương gia thì thấy đây là cơ hội bằng vàng cho họ kiếm được những món lời lớn trong việc kinh doanh. Các cuộc viễn chinh của Đoàn Quân Thập Ác này một phần mang tính cách tôn giáo, nhưng cũng là một cuộc chiến tranh khích động lòng yêu thích phiêu lưu của con người, lòng hám lợi và khát vọng trốn thoát khỏi cảnh nợ nần, tù tội và buồn chán." ("Men joined the Crusades for many different reasons. The pope promised both heavenly and earthly rewards. All the sins of a crusader were forgiven. His property and family were guaranteed protection by the Church during his absence. A debtor who took the cross had his debts canceled; a criminal was relieved of punishement. Knights were dazzled by the lure of lands and plunder in the rich Near East. Merchants saw a chance for commercial gain. The Crusades were partly religious expeditions, but they also appealed to men's love of adventure, hope of gain, and desire to escape debts, punishment, or boredom.")  vi

Kinh nghiệm cho thấy rằng, ở trên cõi đời này, trong "cái lợi" vốn dĩ đã có "cái hại" hay "bất lợi" nằm ở trong đó. Dùng miếng mồi danh và lợi để câu nhử, dụ khị bọn hạ lưu xu thời vào đạo (thí dụ như ông Hùynh Hữu Nghĩa, Lâm L Tr., Tôn Th, Th., cựu Tướng Lâm Văn Phát, cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, cựu Tướng Đặng Văn Qu., ông nhạc sĩ bài hát "no name", v.v...), hay lôi cuốn giáo dân tham quyền háo danh dấn thân đi học nghề linh mục làm tay sai cho Giáo Hội thì tất nhiên cũng có những "bất lợi" cho hệ thống quyền lực của Giáo Hội và cho xã hội Gia-tô Giáo. Những điểm bất lợi đó là:

1.-Tâm lý của những người thèm khát quyền hành, háo danh, hám lợi, luôn luôn là ở trong tình trạng "được voi đòi tiên", được một lại muốn có hai, được hai rồi lại muốn có ba, v.v...Khi mới dấn thân vào cuộc đời đi tu, họ chỉ mong tới ngày mãn khóa để được thụ phong làm linh mục. Làm linh mục được ít lâu thi họ lại ước ao khao khát được thăng lên chức giám mục. Vì lòng ao ước thèm muốn này; họ tìm đủ mọi cách để làm hài lòng các ông giám mục bề trên với hy vọng được nâng đỡ hay đề nghị cho thăng lên chức giám-mục. Khi được thăng lên giám mục rồi thì họ lại mong được thăng lên chức tổng giám mục. Sau đó, họ lại mong được thăng lên tước vị hồng y. Cũng vì thế, họ lại tìm mọi cách luồn lọt nịnh bợ để làm hài lòng các đáng bề trên ở trong Tòa Thánh Vatican hy vọng có tên trong bảng thăng thưởng lên chức hồng y.

2.- Ngoài ra, những người thèm khát quyền lực hay háo danh và hám lợi lại còn có bản chất ganh ghét, đố kị, tị hiểm và phản trắc. Vì mang sẵn cái bản chất xấu xa này, cho nên khi lên chức giám mục rồi, sớm hay muộn, họ cũng quay ra kèn cựa và ganh ghét với những ông giám mục khác (có thể có cả vị giám mục mà trước đó đã nâng đỡ họ) cùng trong giáo phận và trong cùng một quốc gia với họ để cho cá nhân họ nổi bật hơn. Tình trạng này đã được Giáo-sư Nguyễn Văn Trung trình bày đầy đủ trong bài viết "Một Số Tình Hình Đặc Biệt Của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam" dài tới 6 trang đánh máy khổ chữ nhỏ mà chúng tôi đã ghi lại ở dưới trong phần Phụ Bản ở dưới.

3.- Những người mang căn bệnh thèm khát quyền lực và danh lợi chính là những hạng người tiểu nhân có đắc tính "đội trên đạp dưới". Đối với người có quyền thế hơn mình thì họ tỏ ra băng xăng, xun xoe, nịnh bợ, khúm núm, hèn hạ đến độ không còn một chút liêm sỉ. Đối với những người dưới quyền và những người lép vế thế cô thì họ làm oai làm phách, hách dịch đến độ lợm giọng. Thái độ và cung cách hành xử của anh em ông Ngô Đình Diệm mà nhân dân miền Nam trong những năm 1954-1963 đã kinh qua hay chứng kiến là bằng chứng cho sự kiện này.

Kinh nghiệm còn cho thấy rằng những kẻ "thèm khát quyền lực" hay "háo danh và hám lợi" luôn luôn tìm cách chạy theo những thế lực mạnh hay những người quyền thế có thể ban phát hay mang lại quyền lực và danh lợi cho họ. Thế nhưng, lòng tham của con người không có đáy và không có thế lực hay cá nhân nào tồn tại mãi mãi hay có quyền thế mãi mãi. Đến một thời điểm nào đó, thế lực hay nhân vật đã ban phát hay mang lại quyền lực và danh lợi cho họ bị suy yếu hay không còn nữa, thì họ tìm cách băng xăng chạy theo thế lực hay nhân vật mới đang lên để nịnh bợ o bế với hy vọng được chút "quyền hành và danh lợi". Để tỏ ra đắc lực và lập công, họ bất chấp tất cả mọi thủ đọan, trong đó có cả việc làm phản lại cả thế lực hay chủ cũ của họ. Nói cho rõ hơn, những người mang căn bệnh thèm khát quyền lực, háo danh hám lợi đều là hạng người mang bản chất phản trắc. Chuyện ông vua trở cở Talleyrand đã trình bầy nơi Chương 16 trong bộ sách Thực Chất Của Giáo Hội La Mã (Tacoma, WA, TXN, 1999), và chuyện anh em ông Ngô Đình Diệm phản người Pháp mưu đồ đi với Nhật hồi đầu thập niên 1940, phản ông Bảo Đại vào đầu năm 1955 và phản lại người Hoa Kỳ vào mùa hè năm 1963 là bằng chứng nói lên sự thật này. Để kiểm chứng, độc giả có thể quan sát trong các cuộc bầu bán và sinh họat của những người tranh giành những chức vụ trong các "hội đồng chuột" tại các địa phương trong cộng đồng người Việt hải ngọai ở Bắc Mỹ này, quý vị sẽ thấy rõ những hiện tượng băng xăng chạy theo thế mạnh, tráo trở, lật lọng và phản trắc này.

4- Một điểm quan trọng đáng ghi nhớ nữa là những người xu thời, thêm khát quyền lực hay háo danh hám lợi thường là những người có bản chất tàn nguợc, độc ác, mất hết nhân tính, và ưa thích sử dụng bạo lực để cưỡng bách những người khác phải khuất phục, và nếu cần họ sẵn sàng sử dụng cả vũ khí nguyên tử, khinh khí, hạch nhân, vi trùng và hóa học để đạt được mục tiêu. Những việc làm của Giáo Hội La Mã từ thế kỷ thư 4 cho đến ngày nay để cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải vào đạo Gia-tô, để tiếm đọat quyền lực chính trị, việc Giáo Hoàng Pius XII (1939-1958) đề nghị Hoa Kỳ sử dụng bom nguyên tử để giải vây cho cứ điểm Điện Biên Phủ của liên quân Pháp - Vatican vào mùa xuân năm 1954, việc những tín đồ Gia-tô người Việt thương tiếc chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm trách cứ Hoa Kỳ không tiếp tục đánh bom hạng nặng để tàn phá Bắc Việt vào cuối tháng chạp năm 1972 là những bằng chứng rõ ràng nhất cho sự kiện này.

5.- Còn một điểm nữa cũng cần phải nên nói là những người thèm khát quyền lực háo danh và hám lợi thường hay có bản chản chất quanh co, quay quắt, lắt lẹo, lươn lẹo và lật lọng. Sự kiện này đã được trình bày khá đầy đủ ởi Chương 11

Năm đặc tính xấu xa trên đây móc nối với nhau như trong hệ luận của tâm lý giống như những chiếc mắt xịch trong sợ dây xích của chiếc xe đạp hauy những cái vòng khoen trong một sợi dây chuyền..

Sự kính trọng và quý mến của giáo dân đối với các linh mục đã khiến cho nhiều giáo dân dốc lòng xúi giục con cái họ dấn thấn vào cuộc đời đi làm linh mục, và đây cũng là động lực thúc đẩy thanh thiếu niên Gia-tô đi vào cái nghề với hy vọng sẽ trở thành một ông lãnh chúa áo đen, áo tím rồi áo hồng. Sự kiện này chứng tỏ rằng những người trong hang ngũ giáo sĩ Gia-tô đều là những kẻ thèm khát quyền lực, háo danh và hám lợi. Có một số người nói rằng họ dấn thân vào học cái nghề làm linh mục là vì lý tưởng phục vụ Chúa.

(Nói như vậy là họ không biết động não (sử dụng lý trí) để đặt vấn đề là "Chúa toàn năng, toàn thiện và có mặt ở khắp mọi nơi" hà tất cần phải được phục vụ?. Cho nên ta có thể nói rằng, những kẻ nói rằng "dấn thân đi học nghề làm linh mục là để được phục vụ Chúa" là những kẻ ngu xuẩn (không biết động não), nếu không phải là những quân lưu manh, đã sử dụng thuật ngữ "quanh co và lươn lẹo" để che giấu cái bản chất tham quyền, háo danh và hám lợi của họ.)

Đây là nguyên nhân TAI SAO mà các ông giáo hoàng cũng như các vị chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatican và các ông tu sĩ trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã thường:

a.- Có những hành động ngang ngược, quan liêu và hống hách như một ông lãnh chúa trong một chế độ quân chủ trung ương tập quyền trong thời Trung Cổ,

b.- Kèn cựa với đồng liêu, rồi đi đến đấu đá, chém giết tàn sát lẫn nhau để tranh giành quyền lực như đã xẩy ra trong lịch sử mà chúng tôi đã trình bày ở Chương 15

c.- Hủ hóa và hành xử giống như những bọn ma cô, du thủy du thực, ăn chơi đàng điếm, sống đời phóng đãng, lọan luân dâm loàn như đã được trình bày ở Chương 15 ở trên.

Ba đặc tính trên đây chỉ là một vài trong những yếu tố nhỏ nhoi khiến cho Giáo Hội đã gây nên những rặng núi tội ác trùng trùng như Hy Ma Lạp Sơn để rồi từ năm 1992 đến nay, Giáo Hoàng John Paul II đi đến đâu cũng xin lỗi lia lịa các dân tộc nạn nhân của Giáo Hội. Và cuối cùng Giáo Hội phải tổ chức buổi đại lễ vô cùng long trọng tại Quảng Trường Peter vào ngày Chủ Nhật 12/3/ 2000 để chính Ngài và giáo triều Vatican đứng ra cáo thú. Đây cũng chỉ là một cách trình diễn bề ngoài để lạc dẫn người đời lầm tưởng rằng Giáo Hội đã thực sự thống hối về những rặng núi tội ác của Giáo Hội.

"SỐNG ĐỘC THÂN" KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ KHÔNG CÓ LIÊN HỆ TÌNH CẢM VÀ TÌNH DỤC VỚI NHỮNG NGƯỜI KHÁC PHÁI

Là một tổ chức chính trị có kinh nghiệm lão luyện trong việc sử dụng thuật ngữ, Giáo Hội La Mã chỉ đòi hỏi giới tu sĩ của Giáo Hội phải "sống độc thân", chứ trong thâm tâm không hề có chủ đích đòi hỏi họ phải "sống trinh bạch", dù là Tòa Thánh Vatican luôn luôn cao rao là giới tu sĩ phải tuân hành ba điều:

1.- Tuyệt đối vâng lời các đấng bề trên,

2.- Phải sống nghèo khó,

3.- Phải sống trinh bạch

Trước hết, chúng tôi xin trình bày rõ ràng về định nghĩa của hai "trinh bạch" và cụm từ "sống độc thân" rồi sau đó sẽ bàn đến vấn đề Giáo Hội đòi hỏi giới tu sĩ phải "sống độc thân".

Trinh bạch .- Theo Hán Việt Từ Điển của ông Đào Duy Anh thì "trinh bạch là tiết tháo trong sạch" (chaste, pur). Theo Việt Nam Tự Điển của ông Lê Văn Đức thì "trinh bạch là trinh trắng, trong sạch, trọn tiết". Căn cứ vào hai định nghĩa trên đây, chúng ta có thể nói là "những người sống trinh bạch là những người không bao giờ có liên hệ tình cảm với người khác phái một cách không chính đáng". Nói cho rõ hơn, người "sống trinh bạch" vẫn có thể có liên hệ tình cảm và tình dục với một người khác phái, nhưng mối liên hệ này phải chính đáng đúng với "quy tắc đạo lý hay văn hóa" trong xã hội mà họ sinh ra, lớn lên và trưởng thành ở trong đó.

Độc thân.- Cũng theo Hán Việt Tự Điển của ông Đào Duy Anh thì "độc thân là đứng một mình, không kết hôn". Cũng theo Việt Nam Tự Điển của ông Lê Văn Đức thì "độc thân là một mình, không lấy vợ hay lấy chồng. Ở độc thân, sống độc thân". Như vậy, người sống thân là người sống một mình, không chính thức thành hôn, nghĩa là không chính thức sống chung với một người khác phái. Nói cho rõ hơn, trên giấy tờ hộ tịch, người sống độc thân là người không có hôn thú chứng tỏ người đó là chồng hay là vợ của một người nào, và trong thực tế, người đó vẫn có thể ăn ở chung với một người khác phái và có cả một đàn con. Người độc thân trong thực tế có thể có cả hàng chục tình nhân và hàng mấy chục đứa con, nhưng trên giấy tờ hộ tịch hay trên phương diện pháp lý, người đó vẫn là độc thân.

Qua việc cưỡng bách các ông tu sĩ phải bỏ vợ con, chúng ta thấy rõ hai sự kiện:

Sự kiện Thứ nhât là cái quy luật "quyền hành sinh lợi lộc và sinh ra tội ác, rồi tội ác lại sinh ra tội ác". Ở vào bất kỳ thời đại nào quy luật này cũng có giá trị và ở trong bất kỳ phạm vi hoạt động nào trong xã hội quy luật này cũng xẩy ra, nhất là trong xã hội sống dưới ách thống trị của chế độ đạo phiệt Gia-tô thì nó lại càng rõ rệt hơn cả. Chúng tôi sẽ bàn thêm vấn đề này ở phần sau.

Sự kiện thứ hai là Giáo Hội La Mã đã để lộ ra bộ mặt thật ích kỷ và dã man đến độ không còn một chút gì gọi là "nhân tính", chỉ biết khư khư chạy theo lợi lộc vật chất ở trên thế gian này, chứ không còn có chút gì gọi là lương tâm và nhân ái, và cũng không biết gì đến giá trị tinh thần của con người trong xã hội văn minh hay giá trị thiêng liêng trong thế giới thần linh mà Giáo Hội vẫn thường cao rao.

GIÁO HỘI LA MÃ VÀ VẤN ĐỀ TRINH BẠCH

Mặc dù chữ "trinh bạch" luôn luôn được Giáo Hội cao rao, nhưng trong thực tế lại hoàn toàn không đúng như vậy. Tìm hiểu đời sống riêng tư của các vị chức sắc cao cấp trong hàng ngũ lãnh đạo Giáo Hội từ năm 325 cho đến ngày nay, tìm hiểu đời sống, việc làm của giới tu sĩ Gia-tô trong lịch sử, quan sát đời sống hàng ngày và cung cách cư xử của họ đối với mọi người xung quanh, chúng ta thấy rằng:

Đối với giới tu sĩ, trong 3 điều trên đây, Giáo Hội chỉ đòi hỏi họ phải tuân hành có điều 1 (tuyệt đối vâng lời các đấng bề trên) mà thôi. Điều 2, chữ "sống nghèo" (lời 2) để dành an ủi những linh mục lúc về già, không còn khả năng làm việc, bị Giáo Hội bỏ rơi, không còn làm lễ để kiếm tiền được nữa, và Giáo Hội cũng chẳng ngó ngàng đến họ. Còn điều 3 (sống tring bạch) sẽ được bàn ở đoạn sau.

Đối với giáo dân, Giáo Hội cũng đòi hỏi họ phải tuyệt đối tuân hành điều 1 như trên. về điều 2 (phải sống nghèo), Giáo Hội chỉ dùng nó như một lời khuyên với mục đích làm cho tín đồ an tâm sống nghèo mà đem tiền của đóng góp cho Giáo Hội. Nhưng khi muốn sử dụng họ làm con thiêu thân đi đánh phá các nhóm dân thuộc các tôn giáo khác thì Giáo Hội lại dùng miếng mồi vật chất (tiền của) tức là chiến lợi phẩm để câu nhử, dụ khi hay lôi cuốn họ đi làm bia đỡ đạn cho Giáo Hội. Bản văn sử nói về lời kêu giáo dân tham gia các đạo quân Thập Tự vào cuối năm 1095 của Giáo Hoàng Urban II (1088-1099) trong ý đồ phát động Thập Tự Chiến (như đã nói ở trên) nói lên sự thật này:

Đó là đối với giáo dân. Còn về phía quý vị chức sắc cao cấp và giới giáo sĩ trong Giao Hôi thì các ngài quả thật chẳng "sống nghèo khó" bao giờ cả, ngọai trừ một vài trường hợp của một số linh mục cùng đinh ở trong những xóm đạo nghèo nàn tại các quốc gia mà chính quyền không phải là tay sai của Giáo Hội. Cứ nhìn vào Tòa Thánh Vatican và các tòa giám mục, chúng ta sẽ thấy ở bất kỳ quốc gia nào và bất kỳ thời đại nào, các ngài cũng sống trong lâu đài điện ngọc, ăn toàn những thứ sơn hào hải vị, uống toàn những thứ rượu thượng hảo hạng sản xuất ở Pháp và ở Ý.

GIÁO HỘI CÓ TÔN TRỌNG SỰ TRINH BẠCH HAY KHÔNG?

Trở lại vấn đề Giáo Hội La Mã đòi hỏi giới tu sĩ của Giáo Hội "phải sống trinh bạch". Sự thực, đây chỉ là một thuật ngữ, một lối sử dụng "hoa ngôn" và "mỹ ngữ" để nhập nhằng và lộn sòng nhằm che đậy việc cưỡng bách họ phải "sống độc thân" (nhưng vẫn có thể sống chung với người khác phái mà không có hôn thú). Làm như vậy, chủ ý của Giáo Hội là ngăn ngừa, không để cho giới tu sĩ chuyển nhượng cho vợ con những khối tài sản kếch sù của Giáo Hội mà họ quản lý ở trong họ đạo hay giáo phận của họ. Sự kiện này đã được trình bày đầy đủ ở Chương 16.

Điều kiện phải sống trinh bạch đối với các tu sĩ: Đây chỉ là lời nói đầu môi chót lưỡi. Sự thật như thế nào, lịch sử đã nói rất nhiều về đời sống bê bối thối tha của những vị chức sắc cao cấp nhất trong Giáo Hội mà chúng tôi đã trình bầy tương đối khá đầy đủ ở Chương 15. Độc giả cũng có thể theo dõi tin tức do các cơ quan truyền thông Hoa Kỳ và các nước khác loan truyền từ đầu năm 2002 nói về các ông tu sĩ Gia-tô ở Hoa Kỳ liên hệ và can tội lọan dâm sờ mó trẻ em nam nữ một cách bất bình thường. Nếu cần, độc giả cũng có thể làm một chuyến đi "thăm dân cho biết sự tình", đến cộng đồng giáo dân Gia-tô ở thành phố Portland, (Oregon) một thành phố lớn đừng hàng thứ nhì ở miền Tây Bắc Hoa Kỷ, hỏi thăm về đời sống "trinh bạch" của ngài mang chức thánh người Việt họ Cao tên M và hỏi tại sao Ngài lại bỏ Chúa, bỏ nhà thờ, âm thầm lặng lẽ ra đi không một lời từ giã con chiên của Ngài. Sau đó, quý vị quá bộ xuống Houston, Texas hỏi thăm giáo dân người Việt tạonơi đây về đời sống "trinh bạch" của hai ngài mang chức thánh họ Đào, tên Ch và Nguyễn Hũu. D. Sau đó, xin mời quý vị nên đến thành phố Chicago (Illinois) để tìm hiểu về nếp sống "trinh bạch" của ngài mang chức thánh họ Trịnh tên H. xem ra sao. Nếu có rộng thì giờ, xin quý vị làm một chuyến viễn du tơi Orange County, California, ghé thăm linh-mục Trần Công Nghi để nhờ ngài giảng về hai chữ "trinh bạch" và "sống nghèo khó". Sau những chuyến viêng thăm này, nếu cón thì giờ quý vị cứ tiếp xúc với bất kỳ linh mục nào trong số những các ngài mà Linh-mục Nguyễn Thanh Sơn đã nêu đích danh trong cuốn Tận Thế Số Ra Mắt, ngày 5 Tháng Sáu 2002 và Tận Thê Sơ 2, ngày 15 Tháng 7 2002 (Xin xem lại Chương 15) để biết rõ "đời sống trinh bạch" của các ngài "mang chức thánh" của Giáo Hội La Mã..

Đối với giáo dân: Trong thực tế, Giáo Hội và các chính quyền đạo phiệt tay sai của Giáo Hội chẳng bao giờ tôn trọng "trinh tiết" hay sự "trinh bạch" của nữ giới. Các tài liệu lịch sử nói về đời sống bê bối thối tha trong giáo triều Vatican cũng như những vụ tai tiếng về loạn dâm bùng nổ ở Hoa Kỳ từ tháng 1/2002 cho đến nay là bằng chứng rõ rệt cho sự kiện này.

Tiện lợi nhất là chúng ta hãy chọn chính quyền đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm làm tiêu biểu cho việc kiểm nghiệm này. Trước hết, chúng ta hãy giả thử hoặc tưởng tượng trong một nước dân chủ tự do như ở Hoa Kỳ này, nếu có một sĩ quan an ninh mặc quân phục và dùng xe chính phủ đi bắt vợ của một nghi can (bất kể tội gì) đem về sở thẩm vấn rồi chính vị sĩ quan đó hay một nhân viên khác trong chính quyền cưỡng dâm nạn nhân và sống công khai với nạn nhân như vợ chồng để phá nát hạnh phúc gia đình của nghi can đó, thì viên sĩ quan an ninh đó sẽ bị pháp luật trừng trị như thế nào? Các cơ quan truyền thông và dư luận quần chúng sẽ phản ảnh như thế nào? Nhà lãnh đạo chính quyền (thí dụ như Tổng Thống Bush hiện nay) hay cấp trên của viên sĩ quan này sẽ phải nhận lãnh trách nhiệm như thế nào đối với tội ác trời không dung đất không tha này? Ấy thế mà mấy vị sĩ quan an ninh thủ phạm những tội ác dã man như vậy (đối vời bà viự của Đại Tá Nguyền Chánh Thi và bà vợ Đại Úy Phan Lạc Tuyên mà chúng tôi đã trình bày đầy đủ ở Chương 9) không hề bị trừng trị. Ngược lại, những tên ác ôn cồn đồ này rất có thể còn được thăng chức nữa. Từ đó, quý vị suy ra mà nhận thức đượ mức độ dã man của Giáo Hội La Mã trong việc chà đạp lên đời sống "tiết hạnh và trinh tiết" của phụ nữ và hạnh phúc của nhân dân. Hành động dã man này là một nếp sống trong nền văn hóa Gia-tô vì rằng ở đâu có chính quyền đạo phiệt Gia-tô là ở đó có những hành động dã man như vậy. (Xem lại các Chương 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10).

Theo sự tìm hiểu của người viết, nhân loại đã trải qua không biết bao nhiêu là chế độ chính trị trong đó có rất nhiều chế độ độc tài chuyên chính, mà gần đây nhất là Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp, Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Nhật, Đức Quốc Xã, Phát Xít Ý, Cộng Sản, nhưng không có chế độ độc tài chuyên chính nào lại bạo ngược và dã man như Giáo Hội La Mã và các chế độ đạo phiệt Gia-tô tay sai của "cái tôn giáo ác ôn" này.

GIÁO HỘI LA MA LÀ TỔ QUỐC CỦA CÁC ÔNG TU SĨ GIA TÔ

Việc tuyển dụng tu sĩ của Giáo Hội La Mã gặp phải những trở ngại khăn là do việc hai điều kiện đặt ra đòi hỏi cho người tín đồ Gia-tô dấn thân vào học nghề làm linh linh mục. Hai điều kiện đó là:

A.- Phải cam kết sống độc thân trọn đời.Tính cảm thiêng liêng cao qúy của trời phú cho con người là tình yêu lứa đôi trai gái (khi thăng hoa thành tình yêu vợ chồng, nguồn gốc của tình yêu gia đình). Đòi hỏi hay ứng viên học nghề làm linh mục tức là đòi hỏi họ phải dứt bỏ cái nguồn gốc của tình yêu gia đình. Đây là điều kiện rất khó cho một người bình thường có thể tuân hành được vì nó đi ngược với quy luật "âm dương kết hợp" bẩm sinh của con người và một số loại sinh vật ở trên cõi đời này. Điều kiện này lại càng khó thực hiện hơn đối với những người đã được thụ phong linh mục hay đã được gọi là "mang chức thánh" trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã, vì rằng họ là những người do lòng thèm khát quyền lực, háo danh và hám lợi mà dấn thân vào học nghề làm linh mục; sau khi được thụ phong linh mục rồi thì quyền lực bao trùm lên cả thế quyền tại địa phương. Từ đó trở về sau, họ bước vào cuộc đời quyền uy, danh vọng, tiền bạc, giầu sang oai phong lẫm liệt, hét ra lửa mửa ra khói không khác gì một ông lãnh chúa trong thời chế độ phong kiến còn cực thịnh. Dưới đây là bằng chứng:

1.- Những hình ảnh của các ông linh mục Việt Nam trong thời 1862-1945 như Trần Lục (Phát Diệm), Cố Ân (Hà Nội, Cố Antôn, cố Giăng, cố Anvarê Cao, v.v... Sự kiện này được Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi lại qua câu chuyện nói về Cố Antôn và Cố Giăng dưới đay là bằng chứng bất khả phản bác.

"Phải nói rằng các cố thừa sai, do mầu da và chiếc áo chùng thâm của họ, họ đứng ở một vị trí rất cao trên chiếc thang xã hội. Người ta phải cung kính họ ngang với các quan đầu tỉnh (gọi là công sứ tại hai miền Trung và miền Bắc). Và nhiều ông đã lợi dụng vị trí của họ như thế để cai quản theo kiểu bạo chúa. Một vài thí dụ, Cố Antôn đi qua một làng lương, trên người mang áo chùng thâm và các áo phép. Một số thiếu niên người lương thấy cố ăn mặc kỳ cục thì cười diễu, có vài trẻ dám chửi rủa cố. Trở về nhà cố tức giận, tập hợp giáo dân lại, ra lệnh cho họ đi ruồng qua làng lương kia, trừng phạt đích đáng mấy đứa có tội, nghĩa là đánh đập tất cả những người họ bắt gặp ngoài đường. Họ tung hoành trong làng ấy như đối với quân thù vậy. Các cụ bô lão trong làng lương bèn gửi đơn khiếu nại lên huyện. Và thật là ngỡ ngàng khi thấy quan huyện bắt họ phải mua lễ vật, theo phong tục Việt Nam mà đến sắp mình lạy trước mặt cố, xin tha thứ cho những gì đã xúc phạm cố. Quan huyện còn nói thêm: Đó là bản án còn nhẹ đấy, bởi đây là lần đầu tiên dân tụi bay đã phạm lỗi như thế. Chớ quên rằng, nếu còn tái phạm, thì bô lão sẽ vào tù, còn phạm nhân thì sẽ bị tử hình".

"Cố Giăng, nằm trong một cái cáng do 2 giáo dân khiêng đi tới một thành phố cách nhà 18 kilomet. Vừa ra khỏi xứ đạo, một trong hai người khiêng cáng thưa rằng mình bị bệnh, xin cố kiếm ai thay thế. Cố bảo: Cứ bắt được ai thì bắt! Có một người đi qua, cố kêu: Bớ anh kia, đến khiêng ta đi tỉnh! Người kia lắc đầu: "Không, tôi không thể và tôi không muốn". - Thằng xấc láo, mày không muốn hả? Thằng giặc! Người kia vẫn không chịu khiêng: "Tôi là lý trưởng, tôi không thể khiêng được". Đứng trước sự khước từ dứt khoát như thế, ông cố xuống khỏi cáng, cầm gậy nhẩy bổ tới đánh đập viên lý trưởng, miệng nguyền rủa:… "Lý với không lý, liệu mà khiêng cáng cho tao. À thằng giặc Cộng Sản! Mày sẽ biết tay tao!"

Hôm đó, cố Tây đến nhà quan đầu tỉnh và tố cáo rằng làng bên lương cạnh xứ đạo của ông đang nổi loạn mà chính tên lý trưởng cầm đầu. Qua ngày hôm sau, viên lý trưởng bị cách chức và bị tống vào ngục. Không hiểu cố Tây có tạ ơn Chúa cho mình chiến thắng tên ngoại đạo kia chăng, nhưng chắc cố phải rất thích thú thấy rằng phong trào chống giáo sĩ bên chính quốc Pháp chưa được du nhập sang các vùng thuộc địa.vii

2.- Trong thời Kháng Chiến 1945-1954, tình trạng này còn ghế gớm hơn nữa. Xin xem lại Chương 7 trong bộ sách này và Chương 5 trong cuống Nói Chuyện Với Tổ Chức Viêt Nam Cộng Hòa Foundation (Houston: TX: 2004).

3.- Trong thời chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm (1954-1963) và quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệyu (1966-1975) là càng ghê gớm hơn nữa với những hình ảnh của Giám-mục Ngô Đình Thục (Vĩnh Long và Huế), Phạm Ngọc Chi (Quy Nhơn), và các linh mục Hoàng Quỳnh (Chợ Lớn), Mai Ngọc Khuê (Tân Sa Châu, Tân Bình, Gia Định), Đinh Xuân Hải (Phú Thọ Hòa, Tân Bình Gia Định), Tô Đình Sơn (Phú Yên), Trần Đình Vận (Dốc Mơ, Long Khánh), Cha Triệu (Bến Dinh, Châu Đốc), Cha Tông (Chương Thiện), Cha Nguyễn Lạc Hóa (Biệt Khu Hải Yếi Cần Thơ, v.v... Những hành động tác oai tác quái của các ngài lãnh chúa áo đên và áo tím còn để lại dấu ấn trong xã hội miền Nam Việt Nam trong thời kỳ này bằng một câu vè:

"Nhất đĩ, nhì cha, tam sư, tứ tướng".

Xin xem thêm Chương 2 sách Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation của người viết ( Houston, TX: Đa Nguyên, 2004)

4.- Ngay cả ở hải ngoại rừ tháng 4 năm 1975 cho đến ngày nay (2004), sống trong chế độ tự do dân chủ như ở Bắc Mỹ này mà các ngài lãnh chúa áo đen vẫn còn lộng hành gì chẳng kém gì như khi các ngài còn ở miền Nam Việt Nam trước ngày 30/4/1975. Cuộc hành động ghê tởm củai của các ngài như Nguyễn Hữu Việt .C, (Louisiana), Cao Đ. M., (Oregon), Trần C Ngh., (California) Trịnh Th. H. (Chicago, Illinois), Nguyễn Hữu Dụ, (Texas), Đào Q. Ch. (Texas), Nguyễn Đức T. (California) và tất cả các ngài được Linh -mục Nguyễn Thanh Sơn nêu đích danh nơi các trang 27-28 trong tờ Tận Thế Số Ra Mắt, ngày 15/6/2002, và nơi các trang 31-32 trong tờ Tận Thế Số 2, ngày 15/7/2002 là bằng chứng bất khả phản bác cho sự kiện này. (Địa chỉ của Tòa Sọan tờ báo này là : P. O. Box 8394, Fountain Valley, CA 92728 USA)

B.- Phải tuyệt đối tỏ lòng tin tưởng và trung thành với Giáo Hội La Mã . Đây chỉ là một lối sử dụng thuật ngữ để tránh né khỏi phải nói thẳng ra rằng "linh-mục bản địa phải tuyệt đối tuân hành lệnh của Giáo Hội để chiến đấu ở ngay trong đất nước họ chống lại bất kỳ chính quyền không phải là tay sai của Giáo Hội và chống lại những nhóm dân không phải là tín đồ của Giáo Hội." Như vậy, rõ ràng là cụm từ "Phải tuyệt đối trung thành với Giáo Hội La Mã" tức là "phải dứt khoát từ bỏ tình yêu đối với quê hương và dân tộc để hướng trọn tâm linh vào việc tôn thờ và phục vụ cho Giáo Hội La Mã". Sự kiện này được thể hiện ra qua lời tâm sự của Linh-muc Trịnh Văn Phát trong bài viết "Cảm Nghĩ Một Chuyến Đi " đăng trong tờ Liên Lạc Số 2 với nguyên văn như sau:

"Trong suốt thời gian tôi ở Việt Nam, tôi đã suy nghĩ và tự hỏi mình phải làm gì cho quê hương và Giáo Hội. Giúp quê hương không phải là bổn phận của tôi, nhưng tôi có bổn phận với Giáo Hội vì tôi là người của Giáo Hội và được đào tạo để sau này phục vụ cho Giáo Hội. Có nhiều anh em yêu cầu tôi về giúp cho địa phận, tôi thẳng thắn trả lời là tôi không có tự do chọn lựa, tôi được huấn luyện để phục vụ theo nhu cầu của Giáo Hội.viii

Ai cũng biết rằng, trong thực tế, Giáo Hội La Mã chỉ là một danh xưng bề ngoài của Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Vatican. Như vậy là "Phải tuyệt đối trung thành với Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Vatican". Đã tuyệt đối trung thành với một đế quốc thực dân xâm lược thì khi đế quốc này phát động cuộc chiến xâm chiếm quốc gia của đương sự thì đương sự phải đứng về phía đế quốc đó để chống lại đất nước của mình. Sư kiện này cho chúng ta thấy rõ những người dân thân vào học nghề làm lịnh mục cho Giáo Hội La Mã, NẾU tuân hành đúng điều kiện này thì họ đương nhiên thành hạng người VONG BẢN, PHẢN QUỐC. Sự kiện này đã thể hiện ra bằng những hành động của họ trong suốt chiều lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại,. Cho đến ngày nay (2004), cái bản chất vong bản phản quê hương, phản dân tộc của họ vẫn còn nguyên vẹn như vậy.

Như vậy là trên lý thuyết (trong tư tưởng và suy tư) cũng như trong thực tế (trong hành động và cung cách hành xử), họ phải từ bỏ tình yêu đối và nghĩa vụ với tổ quốc, từ bỏ tình yêu và nghĩa vụ đối với dân tộc để hết lòng trung thành và phục vụ cho Giáo Hội. Nhưng thực chất Giáo Hội La Mã là Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Vatican với chủ trương bất di bất dịch là sử dụng bạo lực đem quân đi đánh chiếm đất đai làm thuộc địa để cưỡng bách các dân tộc nạn nhân phải theo đạo và làm nô lệ cho Giáo Hội. Việc ban hành thánh chỉ Romanus Pontifex vào ngày 8 tháng 1 năm 1454 trong thời Giáo Hoàng Nichola s V (1447-1455) và các thánh chỉ kế tiếp sau đó trong thời các Giáo Hoàng Callistus III (1455-1458), Sixtus IV (1471-1484) và Alexander VI (1492-1503) là bằng chứng cho sự kiện này. (Xem lại Chương 4). Trong lịch sử, Giáo Hội thực sự đã là một trong hai thành phần đem quân xâm lăng đánh chiếm Việt Nam từ cuối thập niên 1850 và đã thiết lập được hệ thống quyền lực ở Việt Nam cả hơn một thế kỷ, mãi cho đến ngày 30/4/1975 hệ thốnhg quyền lực của Giáo Hội mới bị phá vỡ, nhưng vẫn còn cố gắng giẫy dụa tác hại cho dân tộc Việt Nam ta bằng cách này hay bằng cách khác. Những tàn dư của thế lực này vẫn còn ở lại Việt Nam và co lại thành những đạo quân thứ 5 dưới danh nghĩa là các giáo xứ, giáo khu và địa phận giáo dân. Như vậy, rõ ràng dân tộc Việt Nam là nạn nhân của quân xâm lăng Vatican tức Giáo Hội La Mã. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy răng, Giáo Hội La Mã là quân cướp ngoại thù nguy hiểm nhất, thâm độc nhất và dã man nhất so với các đế quốc xâm lănh Tầu, Pháp và Nhật mà dân tộc ta đã kinh qua. Thực tế lịch sử đã cho thấy rõ sự thật là như vậy.

Ây thế mà họ (những người hành nghề linh mục và tất cả các tín đồ Gia-tô được Giáo Hội coi là ngoan đạo mà chúng ta gọi là cuồng tín) phải coi Giáo Hội như là tổ quốc đích thực của họ, phải tuyệt đối trung thành với Giáo Hội và phải làm tất cả những việc làm chống lại tổ quốc, chống lại truyền thống của gia đình và truyền thống dân tộc. Sự kiện này đã được thể hiện ra bằng những suy tư, thái độ và hành động của hầu hết những tu sĩ Gia-tô và tín đồ Gia-tô ngoan đạo người Việt trong suốt chiều dài lịch sử từ khi đạo Gia-tô được truyền vào Việt Nam vào giữa thế kỷ thứ 16 cho đến nay. Như vậy, rõ ràng là họ đã trở thành những quân vong bản, phản quê hương, phản dân tộc.

MỘT THỨ GIAO KÈO THUÊ NHÂN CÔNG

Bất kỳ công ty kỹ nghệ chế biến hàng hóa nào cũng cần phải có những chuyên viên điều hành các công việc chuyên môn trong công ty. Những chuyên viên này được tuyển dụng theo một giao kèo trong đó có những điểu khoản mà cả công ty (ông chủ) và chuyên viên được thuê mướn đều có thể chấp nhận được. Tùy theo khả năng chuyên môn của mỗi người, công ty phải trả tiền lương hàng tháng hay hàng năm cho họ và một số quyền lợi vật chất khác. Ngược lại, chuyên viên được thuê mướn phải đem hết sức lao động và kinh nghiệm chuyên môn của mình để phục vụ cho công ty.

Một đế quốc thực dân xâm lược với một bộ máy cai trị cả chính quốc và các thuộc địa cũng cần có những ông quan cai trị giỏi vừa phải tuyệt đối trung thành với chính quyền trung ương vừa phải triệt để chấp hành mệnh lệnh từ trên ban xuống, vừa phải biết trị an và bóc lột nhân dân tối đa để có thể đem thật nhiều lợi nhuận về làm giầu cho chính quốc. Những ông quan cai trị này cũng được tuyển dụng theo một giao kèo trong đó nhà nước đế quốc vừa phải trả lương cho họ một cách hậu hĩ vừa ban cấp cho họ những quyền hành giống như một ông vua con hay một ông lãnh chúa trong địa hạt trấn nhậm.

Giáo Hội La Mã vừa là đế quốc thực dân xâm lược có quyền lực bao trùm từ giáo triều Vatican (curia) cho tới các thuộc địa (giáo phận) ở khắp mọi nơi trên toàn cầu vừa là công ty kinh doanh khai thác kỹ nghệ nắm độc quyền sản xuất những chuyện hoang đường, tín lý nhảm nhí, chế tạo thánh, thánh tích v.v..., tất nhiên, Giáo Hội cũng phải cần có khối nhân sự vừa là ông quan cai trị với những đức tính và chức vụ giống như một ông quan phong kiến của một đế quốc thực dân xâm lược vừa là nhân viên có khả năng chuyên môn có tài nói láo để tô vẽ và quảng bá những sản phẩm hoang đường huyễn hoặc của Giáo Hội đã tung ra thị trường tiêu thụ. Những ông quan phong kiến trong bộ máy cai trị của Giáo Hội La Mã cũng được tuyển dụng theo một giao kèo giống như ông quan trong bộ máy cai trị của bất kỳ một đế quốc thực dân xâm lươc nào khác, nhưng ông quan phong kiến trong Giáo Hội La Mã có nhiều quyền lực hơn (vì rằng Giáo Hội theo đuổi chủ trương "thần quyền chi đạo thế quyền"), được tôn vinh là "giáo sĩ" và "tu sĩ" (một giới người được xếp vào hàng thượng đẳng trong xã hội trong thời ông Moses) để chỉ đạo nhà cầm quyền thế tục. Chính vì các ông giáo sĩ hay tu sĩ Gia-tô có nhiều quyền lực hơn một ông quan trong một đế quốc xâm lược hay trong một nước theo quân chủ phong kiến chuyên chế, cho nên có rất nhiều nam tín đồ mong muốn trở thành tu sĩ của Giáo Hội.

Thói đời, "có đi, có lại thì mới tọai lòng nhau", hay "ông mất cái giò, bà thò nậm rượu". Quyền lực và danh lợi mà giới tu sĩ Gia-tô chạy theo đeo đuổi và có được là do Giáo Hội La Mã ban cho và được phỉnh nịnh bằng mỹ từ "Chúa chọn" hay "ơn Chúa" (nặng tính bịp bợm). Ngược lại, họ phải hy sinh cả cuộc đời cho Giáo Hội trong đó có cả (a) việc phải hy sinh tình yêu lứa đôi trai gái, phải sống độc thân trọn đời, đặc biệt và ghê gớm hơn nữa là (b) việc phải từ bỏ tình yêu và nghĩa vụ đối với tổ quốc và đối với dân tộc, (c) phải tỏ lòng tuyệt đối trung thành đối với Giáo Hội (được ngụy trang băng mỹ từ "trung thành với Chúa".

Trên đây là ba đặc tính nổi bật nhất của người tu sĩ Gia-tô. Không có ba đặc tính này hay thiếu một trong ba đặc tính này thì họ không còn là "tu sĩ Gia-tô" đúng như Giáo Hội La Mã mong muốn, và sẽ bị Giáo Hội cho là "rối đạo". Đây là trường hợp Linh-muc Trần Tam Tỉnh, tác giả cuốn Thập Gía Và Lưỡi Gươm (Paris, Sudestasie, 1978).

Riêng về tín đồ Gia-tô, Giáo Hội chỉ đòi hỏi họ phải tuyệt đối tin tưởng vào tất cả tín lý thần học Kitô, phải triệt để tuân hành tất cả giáo luật, và tuyệt đối vâng lời dạy dỗ của Giáo Hôi, vâng lời các đấng bề trên. Làm đúng như vậy thì mới được gọi là tín đồ "ngoan đạo". Nhưng nếu làm đúng như vậy, thì họ lại trở thành người vong bản, phản quê hương, phản dân tộc. Nếu không tin tưởng vào tin lý thần học Ki-tô, hay không vâng lời dạy dỗ của các đáng bề trên, thì họ sẽ bị Giáo Hội và tín đồ Gia-tô "ngoan đạo" sẽ coi như là "phản đạo" hay "Chống Chúa" và có thể bị vạ "tuyệt thông" (excommunicated). Đây là trường hợp các ông Charlie Nguyễn (tác giả cuốn sách Công Giáo Huyên Thọai Và Tội Ác, Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm, Thực Chất Đạo Công Giáo Và Các Đạo Chúa), ông Phạm Hữu Tạo (chủ bút tờ Đông Dương Thời Báo ở Houston, Texas), và tất cả những tín đồ Gioa-tpp đã phản tỉnh, nhìn ra bộ mặt thật ghê tởm của Giáo Hội La Mã....

Cũng xin nhắc lại rằng, đối với Giáo Hội La Mã, sống độc thân phải được hiểu ngầm là không được chính thức lâp gia đình, nhưng không có nghĩa là "sống đời trinh bạch", dù rằng Giáo Hội vẫn luôn luôn nêu lên và cao rao hai chữ "trinh bạch" đối với tu sĩ. Những người hiểu rõ lịch sử Giáo Hội đều đồng ý câu nói, "Đừng tín những gì Giáo Hội nói, hãy nhìn những gì Giáo Hội đã và đang làm".Điều này đã được trình bầy ở Chương 11.

NHỮNG BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT NẠN KHAN HIẾM NGƯỜI ĐI TU

Những điều kiện đòi hỏi trên đây đối với những người dấn thân vào học nghề làm linh mục đã trở thành những trở ngại lớn lao cho công việc tuyển dụng nhân sự (tu sĩ) làm việc cho Giáo Hội. Để vượt qua những trở ngại lớn lao này, Giáo Hội bèn đưa các biện pháp dưới đây để giải quyết. Các biện pháp đó là:

1.- Sử dụng miếng mồi quyền lực và danh lợi để lôi cuốn người đi tu.

2.- Xoa dịu bằng cách phỉnh nịnh

3.- Tạo cơ hội cho tu sĩ hủ hóa rồi dung dưỡng cho họ hủ hóa, sống đời sa đọa lọan luân dâm loàn

4.- Bao che tu sĩ khi hành động tội ác ghê tởm này của họ bị phơi ra trước công luận và công lý

1.- Sử dụng miếng mồi quyền lực, danh và lợi để lối cuốn thanh tyhiếu niên dấn thân vào học nghề làm linh mục: Quan sát trong thiên nhiên, chúng ta thấy rằng, ngoại trừ trên đá và cát, ở đâu có đất mầu, có mưa, có nắng là ở đó cỏ hoang và cây cối thi nhau mọc lên hằng hà sa số. Các lọai cây quý và cỏ hiếm chỉ có thể mọc và nẩy nở ở những nơi có đất mầu và điều kiện thiên nhiên thích hợp với nó, và phát triển chậm chạp. Các lọai cây hoang và cỏ dại thường thường sinh sôi nẩy nở mau chóng. Tương tự như các loài cây cỏ trong thiên nhiên, xã hội loại người cũng có hai loại người. Đó là loại người quân tử giống như loài cây quý, cỏ hiếm, và loại người tiểu nhân giống như loài cây hoang và cỏ dại. Nói về hai loai người quân tử và tiểu nhân, sách Nho Giáo viết:

"Lúc đầu chữ quân tử là nói người có địa vị tôn quý, mà chữ tiểu nhân là nói người thường nhân, không có địa vị gì trong xã hội. Nghĩa ấy rất rõ ở những câu này: Khổng-tử nói rằng: "Quân tử học đạo tắc ái nhân, tiểu nhân học đạo tắc dị sử giã. (Người quân tử học đạo thì yêu người, tiểu nhân học đạo thì dễ khiến.)"....

Về sau dùng rộng nghĩa ra, gọi quân tử là người có đức hạnh tôn quí và gọi tiểu nhân là người có chí khí hèn hạ. Vậy người quân tử theo nghĩa rộng, thì dẫu bần cùng khổ sở cũng là quân tử, mà người tiểu nhân tuy có quyền tước sang trọng, cũng vẫn là tiểu nhân. Người đi học cũng vậy, có người nho quân tử, có người nho tiểu nhân. Khổng tử bảo thầy Tử Hạ rằng, "Nhữ vi quân tử nho, vô vi tiểu nhân nho (Nguơi là nho quân tử, không là nho tiểu nhân.)" (Luận ngữ:Ứng giả VI). Nho quân tử là người học đạo thánh hiền, để sửa mình thành người có phẩm giá tôn quý, dẫu bần cùng cũng không làm điều trái đạo. Nho tiểu nhân là người mượn tiếng học đạo thánh hiền để cầu danh, cầu lợi, miệng nói những điều đạo đức, mà bụng nghĩ làm những việc làm bất nhân bất nghĩa."

"Quân tử thượng đạt, tiểu nhân hạ đạt (quân tử đạt về cái lý cao minh, tiểu nhân đạt về cái lý đê hạ.)". Quân tử bao giờ cũng theo thiên lý, cho nên tâm tánh thanh minh, nghĩa lý sáng rõ, biết điều gì là càng ngày càng tinh thâm, làm việc gì càng ngày càng thuần thục, bởi vậy mới tiến lên chỗ cao minh.Tiểu nhân bao giờ cũng theo nhân dục, cho nên cái chí khí mờ tối, cứ bị vật dục sai khiến, biết cái gì càng ngày càng sai lầm, làm việc gì càng ngày càng càn rỡ, bởi vậy mà trụy lạc về đường đê ha."

"Quân tử dụ ư nghĩa, tiêu nhân dụ ư lợi" (Người quân tử hiểu rõ chưng nghĩa, tiểu nhân hiểu rõ chưng lợi." (Nghĩa là cái chính đáng của thiên lý, lợi là cái ham mê của nhân dục )" Người quân tử hiểu sâu việc nghĩa cho nên mới dốc lòng muốn làm việc nghĩa; kẻ tiểu nhân hiểu sâu việc lợi, cho nên mới dốc lòng lo làm việc lợi. Làm việc nghĩa có lợi là chính đáng, làm việc lợi mà quên việc nghĩa là trái lẽ."

"Quân tử cầu chư kỷ, tiểu nhân cầu chư nhân. (Người quân tử cầu ở mình, tiểu nhân cầu ở người)" (Luận Ngữ: Vê Linh Công, XV) Cầu ở mình là chỉ cầu cái thực có của mình, cầu ở người là chỉ cầu cái hư danh đối với người. Cầu ở mình thì cái đức càng ngày càng tiến lên, cầu ở người thì cái lòng muốn càng ngày càng buông xổng ra."

"Quân tử thái nhi bất kiêu, tiểu nhân kiêu nhi bất thái. (Quân tử thư thái mà không kiêu căng, tiểu nhân kiêu căng mà không thư thái.)" (Luận Ngữ: Tư Lộ, XIII). Cái bụng của người quân tử chỉ theo cái lý tự nhiên, cho nên lúc nào cũng an nhàn tự đắc, không có cái gì là căng kỷ ngoại vật. Cái bụng của kẻ tiểu nhân chỉ thích cái muốn của mình, cho nên khi đắc chí thì tỏ ra mặt khoe khoang kiêu ngạo, không có thái độ thung dung như người quân tử." ix

Giống như cây quý và cỏ hiếm trong thiên nhiên,số người quân tử luôn luôn là hiếm hoi và tỷ lệ so với những phường tiểu nhân thì hết sức là khiêm tốn. Kẻ tiểu nhân vì ham lợi, tất nhiên là háo danh. Nhưng danh và lợi thường do quyền hành mà có được. Biết rõ như vậy, Giáo Hội La Mã liền triệt để khai thác quy luật này bằng cách khơi động và nuôi dưỡng lòng ích kỷ và tham lam của con người rồi dùng cả danh và lợi làm miếng mồi câu nhử, dụ khị và lôi cuốn họ vào "cái tròng Gia-tô" (the Catholic loop) để làm tay sai cho Giáo Hội.

Vì cần một số nhân sự quá lớn để điều hành bộ máy cai trị, điều hành các dịch vụ kinh tài và quản lý những khối tài sản kếch sù tại các thuộc địa (giáo phận và giáo khi hay họ đạo) rải rác khắp năm châu bốn bể, Giáo Hội cần phải có những cán bộ làm việc đắc lực nhưng không thể biển thủ được tiền bạc hay tẩu tán tài sản mà Giáo Hội đã giao phó. Đó là việc thu vơ lợi nhuận trong lãnh địa quản nhiệm và quản thủ khối tài sản của cải đã thu vơ được. Vì thế, Giáo Hội phải đặt ra điều kiện là họ phải sống độc thân. Sống độc thân có nghĩa là không có vợ chính thức và tất nhiên là cũng không thể có con chính thức. Có như vậy thì khi được giao phó cho trách nhiệm điều hành các dịch vụ kinh tài, quản lý những khối tài sản kếch sù và khi tiếp nhận những lợi nhuận hàng tuần, tiền vào như nước, họ không có vợ con để chuyển nhượng hay tẩu tán. Nhưng khốn nỗi, họ lại bị bắt buộc phải sống độc thân tức là phải dứt bỏ cái tình cảm thiêng liêng nhất, cao quý nhất, có giá trị nhất, đầy tính người nhất, cái tình cảm đã làm cho con người cảm thấy cuộc sống ở đời ý có ý nghĩa nhất và sung sướng nhất. Mất đi niềm sung sướng này thì họ trở thành người bất bình thường, nếu không muốn nói là loài súc sinh. Chính vì điểm này mà ít có người muốn hy sinh cái tình cảm thiêng liêng cao quý để dấn thân vào họdc nghề linh mục để làm tay sai cho Giáo Hội.

Cũng vì thế mà Giáo Hội mới thi hành sách lược dùng "miếng mồi quyền lực và danh lợi" quăng ra để câu nhử đám thánh niên tham danh háo lợi, giống như người chủ hồ cá tra liệng "đồ phế thải trong cơ thể con người hay súc vật" xuống cho đàn cá trong hồ ào ào nhào tới tranh nhau mà đớp. Sự kiện này được nhà văn Gia-tô J. Ngọc kể lại trong cuốn "Cõi Phúc Và Giây Oan" bằng một câu văn rất là súc tích như đã ghi lại ở trên (chú thích 3 ).

Sự kiện này cho chúng ta thấy rõ cái tâm lý khiến cho thanh thiếu niên Gia-tô dấn thân vào cuộc đời làm linh mục thực sự chỉ là cái tâm lý của phường tiểu nhân thèm khát quyền lực, háo danh và hám lợi, chứ không phải đi tu với chủ đích theo đuổi một lý tưởng cao cả giúp ích cho con người ở trong cõi đời này.

Từ khi Giáo Hội được Hoàng Đế Constantine (280-337) cho ra đời vào khoảng giữa thập niên 310 cho đến ngày nay (2004), Giáo Hội La Mã luôn luôn dựa vào quyền lực và danh lợi để hành động, luôn luôn sử dụng chức vụ và quyền lực làm miếng mồi câu nhử tín đồ "đi tu" làm tay sai đắc lực cho Giáo Hội, và để dụ khi những người nhẹ dạ, cả tin, háo danh hám lợi chạy theo, rồi lọt vào cái tròng Gia-tô [Cathlolic loop] để cho của Giáo Hội xiết cổ.

Đối với Giáo Hội, những miếng mồi quyền lực và danh lợi này là những gì cụ thể và thiết thực được Giáo Hội ban cho mà Giáo Hội không mất mát gì cả, vì rằng tất cả những gì mà giới tu sĩ được ban cấp chỉ là những thứ mà Giáo Hội đã tiếm đọat, lừa bịp và ăn cướp được. Trong khi đó, ngay từ khi vừa mới trở thành tín đồ của Giáo Hội, tín hữu Gia-tô ít nhất mỗi tuần một lần đem tiền đến nhà thờ đóng góp cho Giáo Hội. Ấy là chưa kể hàng trăm thứ đóng góp khác, hàng trăm các buổi lễ khác đòi hỏi phải tham dự, và có tham dự là có đóng góp.Tín đồ đem mồ hôi, nước mắt (có khi cả xương máu nữa) và lòng trung thành tuyệt đối hiến dâng cho Giáo Hội để đổi lấy những lễ vụ tào lao nhảm nhí (do chính Giáo Hội bịa đặt ra) và những lời hứa hão huyền (bánh vẽ) của Giáo Hội. Dưới đây là một vài thứ bánh vẽ thông thường nhất mà Giáo Hội hàng ngày vẫn ra rả rao truyền và hứa hẹn ban cấp cho tín đồ: "sẽ được Chúa trả công", "sẽ được Chúa ngự vào nhà", "sẽ được Chúa cứu rỗi", "sẽ được lên thiên đường hưởng nhan Chúa đời đời", và "sẽ không bị Chúa đày xuống hỏa ngục" (cũng lại là lời hăm dọa láo khóet.)

Vì rằng, trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã, "đi tu" hay "làm linh mục" (rồi sau đó sẽ trở thành giám mục, tổng giám mục., hồng y, và rất có thể trở thành giáo hoàng) là ra "làm quan" (nhà cai trị) và là "thày tế lễ" (thày cúng, giống như các ông phù thủy), và sẽ tha hồ được tẩm bổ bằng những thứ cao lương mỹ vị cùng với những thứ rượu ngon thượng hảo hạng nhập cảng từ bên Ý, bên Pháp, cho nên có khá nhiều thanh thiêu niên Gia-tô, nhất là những hạng người thèm khát quyền lực, háo danh và hám lợi lăn xả vào học nghề làm linh mục.. Như vậy, trong xã hội Gia-tô giáo, đi tu làm linh mục quả thật là một cái nghề vô cùng béo bở. Chả thế mà:

"Một bản thống kê cho biết: một xứ có 900 ngàn dân mà có tới 3 ngàn tu sĩ; và cứ 2 trong 5 (40%) đứa con hoang là con của các ông tu sĩ." ("One amazing statistic emerges: in a country of 900,000 people, there were 3,000 clergy; and yet two out of five bastards were born to the clergy.")  x

"Về phần các giáo sĩ, họ bị cưỡng bách phải chọn lựa hoặc là được chính thức lập gia đình thì không được làm giáo sĩ, hoặc là được làm giáo sĩ thì không được chính thức lập gia đình. Cách chọn lựa hay nhất là làm giáo sĩ và sống chung với bạn gái mà không cần phải có hôn thú." (For their part, priests were forced to choose between having a wife and having a carreer. The middle course was to choose a concubine.")  xi

Dù rằng họ bị ràng buộc bởi điều kiện phải sống "độc thân", nhưng không có nghĩa là không có quan hệ tinh cảm và tình dục với phụ nữ, nghĩa là NẾU có tài "gạ gẫm" các nữ tín đồ thì cứ việc thả sức trổ tài.

2.- Xoa dịu bằng cách phỉnh nịnh.- Tình yêu lứa đôi trai gái và tình thương yêu vợ con là thiên bẩm, tự nhiên phát sinh. Vì thế cho nên bất cứ người nào khi đến tuổi yêu đuơng thì tất cả những thất tình lục dục tự nhiên trở thành sinh động, dồn hết nỗ lực vào việc đi tìm kiếm "người yêu" để cho con tim được hòa nhịp theo quy luật "âm dương kết hợp":

Đây là trạng thái tâm lý của những thanh thiên niên nam nữ mới lớn lên và cũng là tiến trình của tình yêu lứa đôi rồi thăng hoa thành tình yêu vợ chồng, tạo nên mái ấm gia đình. Tiến trình này là một sự tự nhiên không mấy ai là không trải qua. Đây là một thứ tình yêu vô cùng thiêng liêng và vô cùng trân quý. Vì hết sức thiêng liêng và trân quý như vậy, cho nên khi bị phá vỡ hay bị cưỡng bách phải từ bỏ thì tất nhiên là nạn nhân phải bất mãn và căm thù thủ phạm đã gây ra tai kiếp này. Giai cấp giáo sĩ hay tu sĩ Gia-tô cũng không đi ra ngoài cái tâm lý thèm khát yêu đương và tiến trình tâm lý tự nhiên rất thường tình này, và cũng không thoát khỏi tình trạng đau lòng khi bị tước bỏ mất nó.

Giai cấp giáo sĩ hay tu sĩ Gia-tô là những cán bộ nòng cốt trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội. Nếu cứ để họ tiếp tục bất mãn vì nguyên nhân trên đây thì sớm hay muộn rồi họ cũng sẽ liên kết với nhau thành một lực lượng chống lại Giáo Hội. Do đó, Giáo Hội phải tìm ra biện pháp xoa dịu lòng bất mãn này của họ bằng một sách lược vừa phỉnh nịnh cho họ thoả mãn lòng tự ái và lòng háo thắng, vừa làm cho họ hủ hóa.

Thấy rằng sử dụng miếng mồi quyền lực, danh và lợi cũng không đủ bù đắp những thiệt hại lớn lao cho giới tu sĩ do việc tước đọat mất cái tình cảm thiêng liêng vĩ đại nhất của con người là cái quyền được yêu, quyền được cùng với người yêu sinh con đẻ cái và sống với nhau trọn đời trọn kiếp, Giáo Hội bèn tìm cách tôn vinh họ bằng danh xưng "tu sĩ" và "giáo sĩ"(mà nghiệp vụ đích thực là các ông thày tế lễ hay thày tư tế và phủ thủy), và khoác thêm cho họ một tính cách thiêng liêng vào cái nghề thày cúng kiêm phù thủy này bằng cụm từ "người mang chức thánh", "đại diện Chúa", rồi cho rao truyền rằng chức vụ của họ có giá tri thiêng liêng và quyền năng như Chúa ở bất cứ nơi nào và bất cứ lúc nào, dù là ở trong gia định khi nói chuyên với cha mẹ của họ, họ cũng vẫn phải được coi như là người đại diện của Chúa. Đây là biện pháp phỉnh nịnh đưa họ lên tới tận mây xanh đề lợi dụng họ. Bảo rằng họ là "tu sĩ" và "mang chức thánh" mà thực sự có bao giờ họ nghĩ đến việc "tu tâm dưỡng tíinh" hay "sửa mình" để "chính tâm" cho lòng ngay thẳng, ngay thẳng với chính họ, ngay thẳng với tín đồ và ngay thẳng với những người khác tôn giáo bao giờ đâu! Sự thật về cuộc đời và cung cách hành sử của các ông "tu sĩ" của Giáo hội La Mã thật là vô cùng kinh tởm. Sự thật này đã được trình bày đầy đủ và rõ ràng trong các Chương 11, 12, 13, 14,15, 16 và 17 trong sách này. Sau khi đọc hết các chương sách này, quý vị sẽ thấy rõ về sự thật và bộ mặt thật của những người được Giáo Hôi tôn vinh gọi là "tu sĩ" và "mang chức thánh". Thực sự, họ chỉ là những tên hung thần và những con ác quỷ dâm dục. Thật là tội nghiệp cho những từ "tu sí", "thánh" và "thánh thiện" đã bị Giáo Hội La Mã hiếp dâm một cách vô cùng trắng trợn và hết sức dã man. Quả thật Giáo Hội La Mã đã chiếm giải vô địch trong lịch sử nhân loại về thành tích hiếp dâm ngôn ngữ.

3.- Tạo cơ hội cho giáo sĩ hay tu sĩ hủ hóa.-.- Dù rằng đã sử dụng miếng mồi quyền lực và danh lợi để lôi cuốn người đi học nghề linh-mục và sử dụng biện pháp phỉnh nịnh để xoa dịu lòng đau xót vì cái quyền làm người quan trọng nhất trong cuộc đời của họ bị tước đoạt, Giáo Hội cũng vẫn không tuyển dụng đủ cán bộ để cung ứng cho nhu cầu nhân sự điều khiển các cơ quan trong bộ máy cai trị tại chính quốc (State of the Vatican City) và tại các thuộc địa ở rải rác khắp nơi trên thế giới, dù rằng con số này vào những năm gần đây đã lên tới 400 ngàn người. Xin xem lại Chương 7. Lý do là vì Giáo Hội tham lam ôm đồm cả giáo quyền lẫn thế quyền vào trong tay. Vì lý do này mà Giáo Hội lại phải dùng đến biện pháp hấp dẫn hơn để lôi cuốn tín đồ dấn thân vào cuộc đời "linh mục" làm tay sai cho Giáo Hội suốt đời suốt kiếp. Đây là biện pháp tạo cơ hội cho họ (tu sĩ) để họ được tự do trổ tài hủ hóa và sống đời bê bối thối tha, sa đọa, loạn luân dâm loàn miễn là vẫn giữ được quy chế độc thân và tỏ lòng tuyết đối trung thành với Giáo Hội. Xin gọi biện pháp này là biện pháp giúp cho tu sĩ giải quyết vấn đề sinh lý bị dồn ép.

Biện pháp dã man này được cho ra đời vào thời điểm sau khi Giáo Hội đã điều nghiên tình trạng giới tu sĩ bị dồn ép về sinh lý, không có "nơi xả xú bắp" sẽ khiến cho họ có thể từ bỏ cuộc đời "hữu danh vô thực" "có tiếng mà không có miếng"(miếng đây cũng nghĩa là hường thụ thú vui nhục dục hay tình yêu lứa đôi trai gái) của họ, Tòa Thánh Vatican bèn tìm ra một biện pháp giúp cho họ giải quyết vấn đề "bị dồn ép" này bằng cách tạo cơ hội cho họ mặc sức trổ tài gạ gẫm nữ tín đồ dù rằng Giáo Hội đã biết rõ biện pháp này rất nguy hiểm cho hạnh phúc gia đình của tín đồ. Sự kiện này được cựu giáo sĩ Peter de Rosa ghi lại như sau:

"Đệ Tứ Hội Nghị Lateran vào năm 1215 quyết định buộc giáo dân phải xưng tội với giáo sĩ hàng năm. Cũng tại Hội Nghị này, Giáo Hoàng Innocent III (1198-1216) đưa ra quyết định chót về luật tu sĩ phải sống độc thân. Hai giáo luật này hợp lại làm nguy hại cho nền luân lý của cả giáo sĩ và giáo dân. Nó đưa đến tội lỗi mà giáo luật gọi là "gạ gẫm ", có nghĩa là một giáo sĩ lợi dụng lúc xưng tội để làm chuyện vô luân. Dĩ nhiên là Giáo Hội có những hình phạt vê tội lỗi này. Những hình phạt này dần dần trở nên nghiêm khắc hơn, nhưng không có bằng chứng nào cho thấy có sự giảm bớt về số lần các ông giáo sĩ lợi dụng chức vụ để gạ gẫm các nữ tín đồ đến xung tội." ("The Fourth Council of the Lateran in 1215 made it obligatory for lay people to confess annual to their priests. This was the same Council at which Innocent III gave celibacy its final form. The combination of these two rules was to prove harmful to the morals of both clergy and laity. It led to the sin known in canon law as "solicitation", that is a priest using confession for immoral purposes. Of course, penalties were imposed by the church. They became increasingly severe, but there is no evidence that they disminished the number of times priests took advantage of their position to make passes (tìm cách gạ gẫm) at their penitents.") xii

Việc sử dụng biện pháp dã man trên đây chứng tỏ Giáo Hội La Mã có dã tâm sử dụng nữ tín đồ như là miếng mồi dụ dỗ giới tu sĩ để lôi cuốn họ dấn thân vào hố sâu tội ác dâm loàn bất kể gì đến hạnh phúc gia đình của giáo dân. Sử dụng biện pháp này, tức là Giáo Hội đã cố tình tạo ra một môi trường thuận lợi để cho giới tu sĩ có cơ hội "gạ gẫm" và "tán tỉnh" nữ tín đồ đến một nơi vắng vẻ "cấm ngoại thủy không ai được biết". Trong hoàn cảnh đó, nữ tín đồ đến xưng tội, hiện lên giống như một con nai tơ chờn vờn trước mặt con cọp đói đã nhịn ăn lâu ngày. Không biết luật xưng tội quy định nơi "xưng tội" như thế nào, mà trong thực tế, nơi xưng tội nằm trong khuôn viên nhà thờ (có thể gọi là phòng xưng tội) được bố trí trong ánh sáng mờ mờ ảo ảo và trong hoàn cảnh "trai đơn gái chiếc", "chỉ có hai đứa mình thôi nhé", rất thích hợp cho các Ngài trổ tài ban "thánh ngôn" để "gạ gẫm", và nếu có tài thì cứ việc "bốc hốt" thả giàn tùy theo khả năng. Làm như vậy là làm cho tu sĩ cảm thấy có sinh thú trong cái nghề làm linh mục khiến cho họ bám chặt lấy Giáo Hội để được sử dụng chức "thánh" mà hưởng thụ "miễn phí" những gì mà tất cả những "đấng mày râu" thực sự là đàn ông đều ước ao khao khát. Nếu chẳng may bị nạn nhân hay giáo dân tố cáo thì Giáo Hội sẽ hết lòng bao che, giấu giếm và cưu mang cho đến cùng để cho các ngài cứ như thế mà hành xử và hưởng thụ. Những bản văn sử dưới đây do cựu Linh-mục Peter de Rosa viết trong cuốn Vicars of Christ cho chúng ta thấy rõ được phần nào trong chính sách dã man này của Giáo Hội:

"Sự lạm dụng tại phòng xưng tội đã trở thành quá thông thường ở khắp mọi nơi đến nỗi giáo dân phải nói với nhau rằng nếu giáo sĩ nghe xưng tội của họ mà đã có tai tiếng rồi thì khỏi cần phải xưng tội dâm đãng với ông ta. Sự cách biệt và kín như bưng của phòng xưng tội đã giúp cho các ông linh mục nghe xưng tội được gần gũi các bà hay các cô vào những lúc sơ hở nhất của họ, nghĩa là theo giáo luật đòi hỏi họ phải xưng thú cả những ý nghĩ thàm kín cũng như hành động và khát vọng tà dâm hay không được trong sáng. Nếu có một bà xưng thú rằng bà ta đã gian dâm hay ngoại tình thì ông linh mục nghe xưng tội có thể làm cho vấn đề trở thành trầm trọng ghê gớm nếu ông ta muốn lợi dụng trường hợp này để gạ gẫm. Vì không muốn mất thanh danh cho nên bà ta sẽ không đem những chuyện đã xẩy ra ở phòng xưng tội nói cho người khác biết." ... "Phải nên nhớ rằng sau thời Giáo Hoàng Innocent III (1198-1216) cả mấy thế kỷ, những người sám hối, lúc xưng tội hoặc là ngồi kế bên gíao sĩ nghe xưng tội, hoặc là qùy ngay tại chân của ông ta. Phòng xưng tội mới có từ giữa thế kỷ thứ 16, và mãi đến năm 1614 Bộ Nghi Lễ của Giáo Hội mới ra lệnh bắt buộc phải có phòng xưng tội. Dù là đã ra lệnh rồi, không phải ở đâu cũng sử dụng phòng xưng tội. Ở Tây Ban Nha, người ta sử dụng những dụng cụ thay thế đặc biệt. Có thể là một cái khung làm bằng nhiều thanh gỗ ghép lại, hoặc là một cái sàng, một cành cây hay một cái quạt để ngăn cách giữa giáo sĩ nghe xưng tội với người xưng tội. Hoàn cảnh vắng vẻ và tối om om ở trong nhà thờ rất thuận tiện cho việc gã gẫm của vị giáo sĩ nghe xưng tội. Như vậy, việc xưng tội thường là phương tiện cho giáo sĩ tán tỉnh và làm hư hỏng phụ nữ và cũng là giải thoát được tình trạng bị dồn ép của các ngài phải sống độc thân.... .

Khi nào có một linh mục bị một người xưng tội tố cáo thì tòa án của Giáo Hội có khuynh hướng là khoan hồng cho ông ta. Tháng Hai năm 1535, vị linh mục thuộc họ đạo Almodovar bị tố cáo nhiều tội cưỡng dâm và dâm đãng trong đó có cả những tội thường xuyên mò mẫm tới các ổ gái điếm và tội gạ gẫm các bà ở trong phòng xưng tội. Ông giáo sĩ này đòi một phụ nữ trẻ phải bằng lòng làm tình với ông ta rồi mới chịu ban phép xá tội cho bà ta. Ấy thế mà ông linh mục này chỉ bị phạt nhẹ và quản thúc tại gia có 30 ngày. Sau đó, chắc chắn là ông ta được tự do và tiếp tục hành xử như trước."

("So widespread was confessional) abuse that the laity were told that if their priests of evil repute they were dispensed from the need to confess their carnal sins to him. The privacy of the confessionial provided the clergy with ready access to women at their most vulnerable, that is, when they were obliged by canon law to confess every impure thought, deed and desire. If, say, a woman confessed to fornication or adultery, the priest made matters far worse if he solicitted her. But she was not keen to take this outside the seal of confession. She did not want to risk losing her reputation" ..."It has to be remembered that for centuries after Innocent III (1198-1216), penitents confessed either sitting next to the priest or kneeling at his feet. The confessional box or stall, now a fixture in churches, was not invented until the middle of the sixteenth century. Only from 1614 was it made compulsory by the Roman Ritual. Even then it was not widely used. In Spain any number of ad hoc substitutes were employed. It might be a grating that separated priest and penitent, or a hankerchief, a sieve, twigs or a fan. Soliciting under these circumstance in a dark and lonely church remained prevalent. Confession was thus often a means by which the clergy corrupted women eluded the demand of celibacy....

Whenever a parish priest was denounced by a penitent, the ecclesiastical court bent over backwards to be linient to him. In February 1535 the parish priest of Almodovar was accused of numerous sexual offences, including frequenting brothels and soliciting in the confessional. He had refused to give a young woman absolution until she consented to have sex with him. He was given a small fine and confined to his house for thirty days. Afterwards he was doubtless free to continue as before.") xiii

"... Giáo Hoàng Paul IV (1555-1559) quyết định rằng gạ gẫm tán tỉnh nữ giáo dân đến xưng tội là đưa đến tà giáo.Việc này đã khiến cho ông ban quyền cho Tòa Án Dị Giáo những gì mà ông muốn. Quyết định này chứng tỏ rằng Giáo Hội quan tâm đến sự ngay thẳng thanh liêm trong việc xưng tội hơn là sự ngay thẳng thanh liêm của phụ nữ. Xuyên qua tất cả các vụ vi phạm phép bí tích này một cách liên tiếp, mối quan tâm chính của những người thẩm vấn của tòa án Giáo Hội không phải là phụ nữ mà là phép bí tích này đã bị lạm dụng. Thí dụ, nếu một linh mục có thể chứng minh ràng ông ta đã quyến rũ một người sám hối ở nơi phòng riêng của ông ta và không có liên hệ gì với việc xưng tội thì ông ta sẽ không bị trừng phạt. " (...Paul IV decided that soliciting implied heresy; this enabled him to grant the Inquistion what he wanted. This was a decision that proved the church was more interested in integrity of confession than in the integrity of women. Through all the subsequent violations of the sacrement, the chief concern of the interrogators was not that women but the sacrament had been abused. For example, if a priest was able to show that, though he had seduced a penitent, it was in his room and in no way related to confession, he walked away without penalty." ) xiv

"Các nhà luân lý còn làm cho vấn đề trở nên tồi tệ hơn khi họ đưa ra những lý lẽ ngụy biện. Họ đặt ra vấn đề là gạ gẫm bao gồm những cái gì? Sờ soạng, dùng bàn chân khều hay đụng nhẹ, vuốt ve và mân mê đôi gò bồng đảo của các bà, hay chuyển những bức thư tình cho họ? Ngôn ngữ phải như thế nào thì được gọi là dâm đãng trước khi nó cấu thành vấn đề trầm trọng? Một vài nhà đạo đức người Tây Ban Nha đưa ra một thí dụ nếu có một phụ nữ ngất xỉu trong khi xưng tội và ông linh-mục nghe xưng tội lợi dụng cơ hội này để hiếp bà ta, rồi kết luận rằng, như vậy thì không thể gọi là gạ gẫm hay tán tỉnh được. Rõ ràng là với tình trạng như vậy, người phụ nữ đó không có cách gì để đáp ứng (những lời gạ gẫm của ông linh mục này). Những cuốn sách thần học về bộ môn luân lý được các giáo sĩ tìm đọc hay tham khảo không phải là làm cho họ trở thành những ông linh mục nghe xưng tội khá hơn mà là làm cho họ có thêm những mánh mung để gạ gẫm phụ nữ trong phòng xưng tội mà tránh được những hình phạt quy định trong giáo luật.." ("Moralists made things worse by casuistry. What, they ask, did soliciting consist in? Would touching hands, or playing footsie, or fondling women's breasts, or passing love-letters? And how lewd did language have to be before it constituted grave matter? Some Spanish moralists came to the conclusion that if a woman fainted while confessing and the priest took the opportunity to rape her, this did not amount to soliciting. The woman was clearly in no condition to respond. Books on moral theology were consulted by priests, not to make them better confessors (linh mục nghe xưng tội), but to teach them how to manipulate women in confession without incurring the penalties of canon.")  xv

4.- Bao che tu sĩ khi hành động tội ác của họ bị phơi bày ra trước công luận và đưa ra trước công lý.- Như đã nói ở trên, tín đồ Gia-tô dấn thân đi học nghề linh mục không phải vì lý tưởng vị tha cao cả, mà hoàn toàn vì những tham vọng hay lòng thèm khát quyền lực, danh vọng và lợi lộc. Cái tâm lý này rất bình thường như tất cả những thanh thiếu niên bình thường khác mới lớn lên. Tất cả những người bình thường này thường thường đều có dự tính là lo học hành cho đến một mức nào đó, rồi chuyển vào trường chuyên nghiệp học lấy một nghề chuyên môn với hy vọng sau khi tốt nghiệp sẽ kiểm được môt việc làm ngon lành để tháng tháng có đồng lương khá sộp, tiền bạc rung rinh chi tiêu cho cuộc sống hàng ngày và hưởng thụ cho bõ những ngày còn phải miệt mài, lận đận với sách đèn và thi cử.

Nói đến hưởng thụ là phải nói tới những khát vọng mà người đời thường ước ao, khao khát chạy theo, đeo đuổi. Những khát vọng đó là "tình ái, tiền của, quyền thế, và danh vọng". Trong bốn thứ này, tình ái phát sinh trong con người mạnh nhất và sớm nhất. Nếu có một trong ba thứ còn lại là "tiến bạc, quyền thế và danh vọng" thì con đường đi đến lâu đài "tình ái" sẽ được mở rộng thênh thang. Một thanh niên bình thường, chỉ cần có một trong ba thứ trên đây cũng rất đễ dàng kiếm được người yêu, ngọai trừ một vài truờng hợp ngoại lệ. Một khi đã có một trong ba thứ này, có khi không cần phải mất công tìm kiếm cũng có nhiều cô gái trẻ đẹp xinh như mộng tìm đến làm quen để xin đuợc làm người tình hay trọn đời nâng khăn sửa túi. Một thanh niên bình thường mà còn như vậy, huống chi một ông linh mục có đủ cả ba thứ này và lại là một ông lãnh chúa với "những tuyệt đối nhất của bất kỳ phương diện nào. Giáo dân tùng phục, giáo dân khiếp sợ, giáo dân cầu lụy và muôn ngàn hình ảnh khác." ở trong một họ đạo! Ở vào địa vị như vậy, thì làm sao các ngài mang chức thánh thoát khỏi cái cảnh gái non mơn mởn xinh đẹp như thiên thần ríu ra ríu rít quấn quít bên mình? Và làm sao các ngài "mang chức thánh" lại không sa vào lưới tình để rồi hủ hóa và sa đọa?

Quản nhiệm một họ đạo, một vị linh mục đương nhiên trở thành một lãnh chúa trong lãnh địa trách nhiệm của ông ta. Bước đi một bước là có kẻ hầu người hạ bước theo, hô lên một tiếng là có hàng ngàn tiếng đáp lời, ra lệnh gì là giáo dân tuân theo răm rắp, ăn toàn những cao lương mỹ vị, uống toàn những thứ ruợu ngon thượng hảo hạng nhập cảng từ bên Pháp, bên Ý. Được ăn uống đầy đủ như vậy, thân hình các ngài trở nên tráng kiện với tất cả nam tính và dục tình toát ra qua ánh mắt, qua ngôn ngữ và qua từng tác động. Ấy thế mà các ngài lại ở vào cái cảnh bị "dồn nén" về sinh lý vì không được phép lập gia đình. Vì bị "tù hãm" lâu ngày, "tình dục" chứa chất trong người của các Ngài lúc nào cũng sôi sục như muốn trào ra qua cả ngũ giác quan mỗi khi gần bên nữ giới. Theo các nhà tâm lý học, những thanh niên sống trong quyền lực vương giả có thân hình tráng kiện mà độc thân đều là những hỏa diệm sơn lúc nào cũng bừng bừng phừng phực trong cơ thể. Trong khi đó thì gái non phơi phới nõn nà lúc nào cũng sấn sổ đến nói năng những lời dịu ngọt, âu yếm, mến thương, mắt nhìn đắm đuối, bịn rịn không muốn xa các Ngài. Trong hòan cảnh như vậy, làm sao lửa tình không bốc cháy mà phun trào tung tóe như hỏa diệm sơn? Làm sao các ngài cầm giữ được con heo lòng?

Giáo Hội La Mã và tín đồ Gia-tô cuồng tín cho rằng các ông linh-mục "mang chức thánh" và các ngài đã trở thành "thánh" rồi, tất nhiên là các ngài "thánh thiện", không thể xẩy ra như vậy được!

Xin thưa, điều này cho phép người viết nói thật, dù rằng nói thật sẽ làm mất lòng nhiều người. Giáo Hội nói như vậy là Giáo Hội nói láo để lừa bịp tín đồ và người đời. "Nhất tín bất tín, vạn sự bất khả tín" và "lấy quá khứ bảo đảm cho tương lai". Những việc làm bịp bợm của Giáo Hội trong quá khứ, phần trình bày trong Chương 9, và các chương kế tiếp trong tập sách này là những bằng chứng hùng hồn cho chúng ta thấy rằng những gì Giáo Hội nói đều là nói láo, quanh co, quay quắt, lắt léo và lươn lẹo. Giáo Hội quả thật là vua bịp và vua nói láo, chú cuội còn phải ngả nón chào thua Giáo Hội. Tín đồ Gia-tô nói như vậy là vì nhẹ dạ cả tin vào Giáo Hội, rồi nói theo phản ứng Pavlov mà thôi.

Trong lịch sử nhân loại, kể từ khi có chữ viết (có sử) cho đến ngày nay (năm 2004), hầu hết những người có cả ba thứ "tiền bạc, quyền thế và danh vọng" là những người dễ dàng bị cám dỗ lao vào hố sâu tội ác. Ấy thế mà các Ngài "mang chức thánh" của Giáo Hội La Mã có đầy đủ cả ba thứ trên đây mà lại cao rao rằng họ là những bậc thánh "sống đời độc thân và trình bạch, không dây dưa đến ái tình" thì tự nó đã là gian dối và lừa gạt người đời rồi.

Kinh nghiệm cho thấy rằng những hạng người thèm khát quyền lực, háo danh và hám lợi" mà có đủ ba thứ "tiền bạc, quyền hành và danh vọng" không thể nào sống đời trinh bạch được, nhất là những người còn đang thời kỳ tráng niên, tuổi đời chưa tới 75. Đây là những sự thật đã xẩy ra ở trong giới tu sĩ của Giáo Hội La Mã. Bằng chứng là Giám Mục Emmanuel Milingo ở xứ Zambia (Phi Châu) đã 71 tuổi còn cưới bà Sung Myung Moon mới 41 tuổi (xin xem lại Chương 9) và sự kiện Linh-mục Nguyễn Hữu Dụ đã 75 tuổi (ở Houston, Texas) rồi mà còn làm tình với nữ tín đồ Vui Nguyễn ở ngoài công viên giữa thanh thiên bạch nhật bị cảnh sát thộp cổ đưa ra tòa về tội "làm tình không đúng chỗ" (Xin xem lại Chương 15). Những vụ loạn dâm được các cơ quan truyền thông ở Hoa Kỳ và khắp nơi trên thế giới loan tải từ đầu năm 2002 cho đến nay, và phần trình bày dưới đây trong tập sách này là những bằng chứng nói lên sự thật này. Tất cả đã cho thiên hạ thấy rõ những người được Giáo Hội La Mã và tín đồ Gia-tô thường kính trọng gọi là "Cha", "Đức Cha", "Đức Thánh Cha" và rất nhiều người "mang chức thánh" khác chẳng có gì là "thánh thiện" như họ thường nói.

Thực ra, ngoại trừ các ông giáo hoàng mà chúng tôi nêu đích danh trong tập sách này, những người "mang chức thánh" khác mà bị vướng mắc vào những tội ác liên hệ đến đàn bà, con gái hay sờ mó con nít chỉ là nạn nhân của chính sách vừa đòi hỏi giới tu sĩ phải sống độc thân vừa đặt họ vào địa vị của một ông lãnh chúa với đầy đủ cả quyền hành, danh vọng và tiền bạc tại địa phương họ quản nhiệm. Ở trong tình trạng này, các ngài "mang chức thánh" của Giáo Hội đứng nhìn đàn con chiên nữ trẻ đẹp lượn quanh ríu rít bên mình chẳng khác gì những con cọp đói đứng nhìn đàn nai tơ nõn nà mơn mởn, nhởn nhơ liượn quanh nơi trước mặt.. Đây là một sự thật, chẳng cần phải là các bậc trí giả, mà bất kỳ một người nào có trình độ thông minh trung bình cũng có thể nhận thức được điều này. Chẳng lẽ Giáo Hội lại không biết hay sao?

Chẳng lẽ Giáo Hội lại không biết rằng "quyền hành, danh vọng và tiền bạc" là những phương tiện giúp cho họ lao vào hố sâu vực thẳm của tội ác? Điển hình nhất là những tội ác như sa đọa, sống đời phóng đãng, bất chấp cả luân thường đạo lý, thậm chí làm đến cả những chuyện lọan luân dâm loàn giống như các ông giáo hoàng trong thời Trung Cổ mà chúng tôi đã nêu đĩch danh ở Chương 15 trong cuốn sách này.

NGUYÊN NHÂN GIÁO HỘI PHẢI DUNG DƯỠNG CHO
TU SÍ SỐNG ĐỜI PHÓNG ĐÃNG, LỌAN LUAN DÂM LÒAN

Giáo Hội La Mã theo đuổi chủ nghĩa bá quyền với dã tâm thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân loại về cả thể xác lẫn tâm linh bằng chủ thuyết "thần quyền chỉ đạo thế quyền" và chính sách "bất khoan dung đối với các tôn giáo và văn hóa khác" để thỏa mãn tham vọng đê hèn về "tiền bạc, quyền thế, danh vọng và tình dục". Để đạt được mục đích này, Giáo Hội phải sử dụng sách lược tiếm đọat chính quyền ở các vùng mục tiêu bằng bất cứ giá nào hầu thiết lập chế độ đao phiệt Gia