104-world.gif (2288 bytes)

posted: 05.10.04

NHỮNG VẤN NẠN CỦA TÍN ĐỒ KI-TÔ
Hay
NÓI VỚI NHỮNG NGƯỜI KI-TÔ VIỆT NAM

Trần Chung Ngọc

Cách đây hơn 250 năm, Benjamin Franklin có đưa ra một nhận xét:

Nói năng chống Tôn Giáo là tháo mở xiềng xích một con Hổ; Con dã thú được thả ra có thể làm cho người giải thoát nó lo lắng.

(Talking against Religion is unchaining a Tiger; The Beast let loose may worry his Deliver.) [Benjamin Franklin, Poor Richard’s Almanack, 1751]

Tôn giáo nào? Franklin muốn nói đến Ki-tô giáo, và nhận xét trên nói về những phản ứng của Ki-tô giáo đối với những người nói ra sự thật về Ki-tô giáo, nhưng Ki-tô giáo đã quy kết là "chống tôn giáo", và dùng thần quyền dựa thế thế quyền để bạo hành những người không đồng ý với những lời "giáo hội dạy rằng...".

Tôi nghĩ, xã hội của chúng ta ngày nay không còn chịu những cảnh man rợ của Ki-tô giáo cách đây trên 250 năm ở Âu Châu và Mỹ Châu. Ngày nay, nói năng chống Ki-tô giáo, hay đúng hơn, nói lên những sự thật về Ki-tô giáo, không còn là một điều cấm kỵ và phải chịu đựng những sự bạo hành của Ki-tô giáo như trước. Đối với giới trí thức, đây là một bổn phận của những con người hiểu biết để giải hoặc quần chúng, giữ cho xã hội được lành mạnh. Sự xuất hiện của hàng ngàn tác phẩm mà Ki-tô giáo và những tín đồ cuồng tín liệt vào loại "chống Ki-tô giáo" là một bằng chứng cụ thể nhất về sự tiến bộ trí thức của nhân loại. Tác giả những cuốn sách này, trong đó có những giới cao cấp trong Ki-tô giáo, những giáo sư đại học, học giả, chuyên gia về tôn giáo v..v.. là những người đã nhận lãnh trách nhiệm dẫn dắt quần chúng thoát ra khỏi những mê hoặc và xiềng xích trí tuệ cũng như vật chất của Ki-tô giáo. Sự hiện hữu của những tác phẩm này trong những xã hội Ki-tô mà không gây ra một sự bất hòa, hỗn loạn nào trong xã hội vì lý do tôn giáo là một bằng chứng khác về sự tiến bộ trí thức của nhân loại, ít ra là ở trong những xã hội văn minh tân tiến. Đây là một trong những lý do để tôi viết bài này.

Thưa các bạn! [Xin được gọi như vậy, vì tôi không coi ai là kẻ thù và luôn luôn chủ trương "hòa nhi bất đồng"] Với tất cả những bằng chứng khoa học, những sự kiện lịch sử, và trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại đến trình độ ngày nay, vấn đề Ki-tô đã trở nên rõ ràng: đó là Ki-tô giáo nói chung đã giới thiệu với các bạn một bông hoa tươi đẹp, và một miếng mồi to lớn. Rồi các giáo hội Ki-tô hứa hẹn với các bạn là các bạn có thể bắt được cái bóng của miếng mồi, hái được bông hoa trong kính. Bởi vì miếng mồi to lớn là cái "ơn cứu rỗi" của Giê-su, nhưng thực ra đó chỉ là cái bóng của một ảo tưởng mà nền thần học Ki-tô giáo đã dựng ra. Bông hoa thật ở ngoài đời là bông Hoa Tâm, nhưng người ta đã dạy các bạn chỉ đi tìm nó ở ngoài, ở trong kính. Có thể nói, đây là tóm tắt tất cả những gì mà những bộ óc siêu việt trong Ki-tô giáo đã nghĩ ra đủ mọi cách, đủ mọi thủ đoạn, kể cả những thủ đoạn tàn bạo và vô đạo đức tôn giáo như lịch sử Ki-tô giáo đã ghi rõ, để đưa các bạn vào trong vòng ngự trị của một người: giáo hoàng Ca-tô mà các tín đồ coi như là "Thánh Giáo Chủ, Thiên Thu Vạn Đại, Nhất Thống Giang Hồ" . ["Thánh giáo chủ" vì Ngài là đại diện của Giáo chủ Kờ-rít trên trần (Vicar of Christ), thừa kế chức Giáo chủ của Kờ-rít mà các tín đồ thương xưng tụng Ngài là "Đức Thánh Cha"; Giáo chủ Kờ-rít "hằng sống" nên tất nhiên phải là "Thiên thu vạn đại"; và Giáo chủ Kờ-rít là Thiên Chúa toàn năng toàn trí do đó đương nhiên phải là "nhất thống giang hồ"]; của một tập đoàn kiểm soát, nắm giữ tâm linh các bạn: giới giáo sĩ Ca-tô tự ban cho mình cái quyền "cha cũng như Chúa"; và của một cuốn sách: Kinh Thánh mà Tin Lành coi như đích thật là những lời mạc khải của Thượng đế nên không thể sai lầm, do đó phải tin và tuân theo từng chữ một. Ngoài ra, chúng ta cũng không thể không biết đến những mục đích thế tục, vơ vét tiền bạc, vật chất của các giáo hội Ki-tô. Hãy nhìn vào tài sản của các giáo xứ, ở ngay trong những nước nghèo khổ ở Nam Mỹ, Phi Châu và Á Châu là chúng ta có thể thấy rõ thực chất của Ki Tô Giáo: buôn thần bán thánh.

Thực tế là, ngày nay, chỉ có những người thuộc loại, hoặc trí tuệ kém cỏi, hoặc bị điều kiện hóa từ khi còn nhỏ, hoặc tân tòng trong những hoàn cảnh khủng khoảng về tinh thần và vật chất v..v.. mới hi vọng có thể bắt được cái bóng của một huyền thoại, hay hái hoa trong kính, hay nói theo Mục sư Ernie Bringas, ăn một cái bánh vẽ [cứu rỗi] trên trời (A pie-in-the-sky). Tôi không kể đến những giới chức Ki-tô giáo đã biết rõ sự thật nhưng vì quyền lợi bản thân, vì thiếu sự lương thiện trí thức, nên vẫn tiếp tục dối trá, che dấu sự thật trước đám tín đồ ngây ngô vô tội, tiếp tục giam giữ họ trong bóng tối của ngu si vô trí. [Trong bài này, tôi dùng từ "ngu si" theo nghĩa trong thuật ngữ của Phật giáo: Không biết rõ sự thật, không chấp nhận sự thật trước những bằng chứng hiển nhiên, và tiếp tục nhận giả làm chân]. Thật vậy, đúng như Russell Shorto đã viết trong cuốn Sự Thật Phúc Âm (Gospel Truth), trang 14:

Điều quan trọng nhất là, tác động của quan điểm khoa học ngày nay đã khiến cho các học giả, ngay cả những người được giáo hội Ca-Tô bảo thủ cho phép nghiên cứu, cũng phải đồng ý là phần lớn những điều chúng ta biết về Dê-su chỉ là huyền thoại... Các học giả đã biết rõ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Dê-su chẳng gì khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng – họ đã dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư. Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô bình thường. 1

Như vậy, chúng ta thấy rõ, những kẻ ngày nay còn tin Dê-su Kờ-rít (Jesus Christ) là Thiên Chúa có quyền năng tha thứ tội lỗi và "cứu rỗi" thực ra chỉ là những kẻ còn sống trong bóng tối của ngu si, không bao giờ dám dùng đến đầu óc suy tư của mình, nếu họ có một đầu óc có khả năng suy tư. Đây là điều hết sức hiển nhiên đối với giới hiểu biết. Nghiên cứu khoa học mới nhất của một bác sĩ cho rằng những người tin God là có "gen" của God [sản phẩm tưởng tượng của con người], trong óc có một chất hóa học (chemical) đặc biệt (Chương trình ABC Good Morning America sáng ngày 22 tháng 9, 2004).

Nếu các bạn tin, như Mel Gibson hay đa số người Ki-tô đã tin, rằng tất cả đều do “Thượng đế của Ki-tô-giáo” an bài (everything is ordained by God), thì cái quý báu nhất mà "Thượng đế của các bạn”, nếu có một Thượng đế, ban cho các bạn là một đầu óc lành mạnh, biết suy tư, chứ không phải là đầu óc của một con chiên, một con cừu, người ta dắt đi đâu thì đi đó, người ta bảo sao thì nghe vậy. Các bạn cần phải nhận thức rõ điều này và tận dụng khả năng của đầu óc các bạn, đừng vì bất cứ lý do gì mà tự hạ mình xuống hàng súc vật. Trong thời đại này, các bạn không thể tiếp tục nhắc lại như con vẹt những điều vô nghĩa các bạn được dạy trong nhà thờ, hay được đọc trong Kinh Thánh, rồi muốn mọi người đều phải tin vào những điều đã không còn một giá trị nào trong cộng đồng tiến bộ của nhân loại, mà không đưa ra một luận cứ nào để bảo vệ. Ngày nay, giải thích Kinh Thánh không còn là độc quyền của giới giáo sĩ trong Ki Tô Giáo. Và lẽ dĩ nhiên, không ai, trừ những kẻ ngu si vô trí cuồng tín, còn có thể nói: "Kinh Thánh viết rằng..." để bảo vệ cho luận cứ của mình, hàm ý những điều viết trong Kinh Thánh tất nhiên phải đúng và có một giá trị tuyệt đối. Thời đại đen tối trí thức đã qua. Và thời đại ngự trị của "Thánh Giáo Chủ, Thiên Thu Vạn Đại, Nhất Thống Giang Hồ" ở Âu Châu hay của Kinh Thánh ở trong các xã hội Ki-tô cũng đã qua từ mấy thế kỷ nay rồi, chỉ còn sót lại trong đầu óc của đám người thấp kém, cho nên chưa thoát ra khỏi thân phận tôi tớ, tỳ nữ như họ thường tự nhận.

Tôi viết bài này không ngoài mục đích đặt trước các bạn một số vấn đề để các bạn suy nghĩ, để các bạn có thể tận dụng khả năng quý báu nhất của mình mà "Thượng đế của các bạn” đã ban cho các bạn: khả năng phán đoán và suy luận trí thức. Vậy các bạn hãy coi đây là những lời chân thành của một người bạn, không phải của một kẻ thù.

Đối tượng của tôi là những bạn đã có một trình độ hiểu biết thông thường, một đầu óc biết suy nghĩ, và có một sự lương thiện trí thức tối thiểu, nghĩa là phải chấp nhận sự thực, dù sự thực đó làm cho chúng ta đau lòng, chứ không phải là những người, dù có học nhưng thuộc loại ngu si vô trí, cho rằng "Tin là một cách sống chết, không cần biết, không cần hiểu" như ông Đỗ Mạnh Tri đã viết trong cuốn "Ngón Tay và Mặt Trăng".

Tôi hiểu rằng người đời thường bám chặt vào niềm tin của mình, nhất là khi niềm tin này đã được cấy vào trong đầu óc từ khi còn nhỏ, chưa đủ khả năng để phán đoán, suy luận, hoặc niềm tin đã được cấy vào để an ủi một người đang ở trong tình trạng khủng khoảng tinh thần, đầu óc bấn loạn... như tân tòng Tin Dữ Nguyễn Huệ Nhật. Tôi nghĩ nhắc lại vài chi tiết lịch sử kể cũng không phải là vô ích, may ra còn có thể giúp các bạn nhận rõ thêm vấn đề. Vấn đề của các bạn ngày nay là phải nhận thức được rằng, từ xưa tới nay, những niềm tin dựa vào sự không thể sai lầm của Kinh Thánh Ki-tô giáo, hay vào những lời "Giáo hội Ca-tô thánh thiện tông truyền dạy rằng..." đã nhiều lần phải thay đổi vì không phù hợp với thực tế và đã được chứng minh là sai lầm. Điều này chứng tỏ Kinh Thánh không có gì đáng tin cậy, và ngày nay, khoa học và thực tế càng ngày càng chứng tỏ như vậy. Tôi xin lấy vài thí dụ điển hình.

Suốt nhiều thế kỷ, trong những xã hội Ki-tô, người ta tin vào một trái đất phẳng và dẹt, có bốn góc, và trời là một vòm bằng đồng thau, có những cánh cửa để cho các thiên thần của Thiên Chúa ngồi trên đó làm cho mưa rơi, và tối tối mang những ngôi sao ra treo như những ngọn đèn, như được viết trong Kinh Thánh. Nhưng rồi người ta biết rằng thế giới không phải như vậy, trái đất có hình cầu và những mô tả thế giới trong Kinh Thánh chỉ là sản phẩm của một thời đại ngu si, đầy mê tín. Con người bắt buộc phải chấp nhận sự thật này, nhưng giáo hội Ca-tô thì không. Giáo hội chưa bao giờ chính thức thú nhận là trong Kinh Thánh có nhiều điều sai lầm về thần học cũng như khoa học. Người ta đã tìm cách giải thích lại một cách ngụy biện, thí dụ như Kinh Thánh không có mục đích nói về khoa học, hoặc lờ đi không nhắc đến những sai lầm trong Kinh Thánh, để cho thời gian trôi qua, do đó, từ thế hệ này sang thế hệ khác, tuyệt đại đa số tín đồ Ki-tô thường không đọc Kinh Thánh nên vẫn sống trong bóng tồi của sự ngu si, tin tất cả những gì được người ta cấy vào đầu từ khi còn nhỏ, và cho rằng Kinh Thánh chỉ có vậy. Chưa có một ông linh mục hay mục sư nào dám giảng trong nhà thờ là Kinh Thánh có nhiều điều viết sai, về thần học cũng như về khoa học, và khuyên con chiên phải tận dụng khả năng suy luận phán đoán của mình khi đọc Kinh Thánh. Trái lại họ còn không muốn cho con chiên đọc Kinh Thánh, và đưa ra những sách bổn để nhồi sọ đầu óc con chiên.

Đã một thời toàn bộ nền thần học Ki-tô giáo, đúng ra là Ca-tô giáo Rô-ma, được xây dựng xung quanh quan niệm là toàn thể hệ thống mặt trời và các hành tinh quay xung quanh trái đất, trái đất là trung tâm của vũ trụ. Khi Copernicus đưa ra bằng chứng là quan niệm trên sai, sự thực chính là trái đất quay xung quanh mặt trời, trái đất không phải là trung tâm vũ trụ, và ngoài thế giới của chúng ta còn có nhiều thế giới khác trong vũ trụ, thì ông ta bị lên án là phỉ báng thiên chúa, phỉ báng giáo hội, phỉ báng những nhà thần học thông thái của giáo hội đã sáng tạo ra một nền thần học xoay quanh quan niệm sai lầm trên. Đến khi Galileo công khai đồng ý với những khám phá của Copernicus, ông ta cũng bị giáo hội lên án là lạc đạo, bị ép buộc phải tự thú là những khám phá của mình sai, và bị giam tại gia cho đến khi chết. Phải đến 359 năm sau, đến cuối thế kỷ 20, “Giáo hội Ca-tô Rô-ma thánh thiện nhất” (The most holy Roman Catholic Church) mới chính thức công nhận sự sai lầm của giáo hội trong vụ xử án Galileo, và "xá cho Galileo cái tội đã nói lên sự thật, khai sáng những đầu óc tối tăm của tập đoàn giáo sĩ, nhà thần học trong Ki-tô giáo".

Từ năm 1981, tòa thánh Vatican đã mời một số chuyên gia đến để cố vấn cho tòa thánh về vũ trụ học. Cuối cuộc hội thảo, các chuyên gia được giáo hoàng John Paul II tiếp kiến. Ông ta nói với các khoa học gia là "cứ tự nhiên nghiên cứu sự tiến hóa của vũ trụ sau sự nổ lớn (big bang), nhưng không nên tìm hiểu về chính lúc nổ vì đó là lúc sáng tạo, do đó là tác phẩm của Thượng đế.” (Stephen Hawking, A Brief History of Time, p. 116: He told us that it was all right to study the evolution of the universe after the big bang, but we should not inquire into the big bang itself because that was the moment of Creation and therefore the work of God). Chúng ta nên để ý, Big Bang là hiện tượng nổ bùng của một dị điểm (singularity) vô cùng đặc, vô cùng nóng, nguồn gốc của vũ trụ ngày nay, và đã xảy ra cách đây khoảng 15 tỷ năm chứ không phải là chỉ có từ 6000-10000 năm do sự “sáng tạo” (sic) của Thượng đế Ki-tô giáo như được viết trong Kinh Thánh, được coi như những lời không thể sai lầm của Thượng đế. Và giáo hoàng nói câu trên chẳng qua chỉ để vớt vát phần nào mặt mũi của Thượng đế, một mặt mũi đã không còn chỗ đứng trong thế giới tiến bộ trí thức và khoa học của nhân loại.

Năm 1996, giáo hoàng John Paul II đã thú nhận trước thế giới là "thân xác con người có thể không phải là một sự sáng tạo tức thời của Thượng đế, mà là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần". Ngài nói: "những kiến thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận thuyết tiến hóa hơn là một giả thuyết". (Pope John Paul II has put the teaching authority of the Roman Catholic Church firmly behind the view that "the human body may not have been the immediate creation of God, but is the product of a gradual process of evolution.. The pope said that "fresh knowledge leads to recognition of the theory of evolution as more than just a hypothesis").

Chấp nhận thuyết Big Bang, thuyết tiến hóa, chấp nhận con người không phải là do Thượng đế tạo ra tức thời mà chính là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần và lâu dài, giáo hoàng đã phá tan huyền thoại về Adam và Eve là tổ tông loài người do Thượng đế tạo dựng từ đất sét, và kéo theo không làm gì có chuyện Adam và Eve sa ngã tạo thành tội tổ tông. Do đó, vai trò "chuộc tội" và "cứu rỗi" của Dê-su Kờ-rít (Jesus Christ) chỉ là những luận điệu thần học lừa dối của giới giáo sĩ Ki Tô Giáo khi xưa, được tiếp tục đưa ra không ngoài mục đích khai thác lòng mê tín của một số người, huyễn hoặc và khuyến dụ họ tin vào những điều không thực.

Tháng 7 năm 1999, trước những khám phá xác tín nhất của khoa vũ trụ học, và trước những hiểu biết của con người ngày nay về cấu trúc của trái đất, Giáo Hoàng đã bắt buộc phải tuyên bố: "thiên đường không phải là một nơi trừu tượng mà cũng chẳng phải là một nơi cụ thể ở trên các tầng mây" (Heaven is neither an abstraction nor a physical place in the clouds), và "Hỏa ngục không phải là sự trừng phạt áp đặt từ bên ngoài bởi Thượng đế, mà là trạng thái hậu quả của những thái độ và hành động mà con người đã làm trong đời này" (Hell is not a punishment imposed externally by God, but the condition resulting from attitudes and actions which people adopt in this life). Như vậy là Giáo Hoàng đã bác bỏ đức tin quan trọng nhất trong Ki-tô giáo: Quyền năng “cứu rỗi” của Dê-su Kờ-rít, và hi vọng của các tín đồ Ki-tô về một cuộc sống đời đời trên thiên đường cùng Dê-su Kờ-rít, và sự luận phạt của Dê-su Kờ-rít đối với những người không tin ông ta.

Tôi tự hỏi, có bao nhiêu tín đồ Ki-tô, Ca-tô cũng như Tin Lành, biết đến những thay đổi trong nội bộ các giáo hội Ki-tô về căn bản tín ngưỡng trong Ki-tô Giáo, biết đến những sự kiện lịch sử này, và biết đến những quan niệm sai lầm bắt nguồn từ Kinh Thánh? Tôi nghĩ đa số chưa bao giờ nghe đến tên Copernicus hay Galileo, chưa bao giờ nghe đến những lời tuyên bố trước thế giới của giáo hoàng John Paul II. Tôi cũng nghĩ tuyệt đại đa số tín đồ Ki-tô chưa từng đọc đến Kinh Thánh và lẽ dĩ nhiên không có một kiến thức nào, dù là tối thiểu, về những tiến bộ của khoa học và đầu óc con người trên thế giới.

Điều tôi muốn nêu lên ở đây là, con người thường bám chặt vào những niềm tin của mình, dù tất cả những bằng chứng hiển nhiên đã chứng tỏ đó là những niềm tin sai lầm. Nói cách khác, con người thường có khuynh hướng đóng sập cửa vào mặt chân lý khi chân lý đích thân đến gõ cửa. Tại sao vậy? Vì họ thuộc loại người bệnh hoạn hoặc về vật chất hoặc về tinh thần, luôn luôn cần một cái phao thần linh để bám víu vào, buông ra sợ mình chết chìm, hoặc luôn luôn cần đến một cặp nạng thần linh để lê lết trên cuộc đời mà họ được tẩy não là tạm bợ, vô nghĩa, tội lỗi, đầy bất hạnh, hoặc đã bị cấy vào đầu óc từ khi còn nhỏ những sự mê tín mà khi đó họ chưa đủ khả năng trí tuệ để suy tư. Do đó, không những cố bám vào những niềm tin đã lỗi thời, họ còn đưa ra mọi lý luận, thường không phải là lý luận, để bác bỏ những sự thật trái với niềm tin của họ. Điều này chúng ta thấy rõ trong những bài viết hoặc sách đã xuất bản của những tín đồ Ki-tô, Ca-tô cũng như Tin Lành, điển hình là của một số linh mục, mục sư cũng như một số gọi là trí thức trong Ki-tô giáo. Điều này rõ rệt nhất trong những bài viết của vài tín đồ Tin Lành như Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng, Nguyễn Huệ Nhật v..v... Thí dụ, trong khi chính giáo hoàng John Paul II và một số trí thức Ca-tô đã phải chấp nhận thuyết Tiến Hóa, do đó đã phủ nhận thuyết Sáng Tạo trong Kinh Thánh, thì Tin Lành Lê Anh Huy, Khuất Minh v..v.. vẫn đưa những luận điệu ngụy biện đã lỗi thời để bác bỏ thuyết Tiến Hóa, và Tin Lành Huỳnh Thiên Hồng, Nguyễn Huệ Nhật, Phan Như Ngọc vẫn coi thuyết Sáng Tạo như là nguồn gốc không thể sai lầm của vũ trụ và con người. Tôi sẽ viết về mấy tân tòng Tin Lành này trong một bài khác.

Các tín đồ Ki-tô Giáo, Ca-tô cũng như Tin Lành, có hai vấn nạn lớn. Đó là, tin tất cả vào Kinh Thánh, cho rằng Kinh Thánh chứa đựng những lời của Thượng đế cho nên không thể sai lầm, và rồi tin vào sự hiện hữu của một Thượng đế Cha hay Con trong Kinh Thánh mà thực chất chỉ là một vị Thần của người Do Thái, hay nói đúng hơn, niềm hi vọng của người Do Thái được giải thoát khỏi những nghịch cảnh lịch sử đau khổ triền miên của Do Thái. Sau cùng, mê hoặc bởi một cái gọi là "ơn cứu rỗi" của một người Do Thái chết cách đây đã gần 2000 năm do nền thần học Ki-tô dựng lên bất kể là cái vai trò cứu rỗi này hoàn toàn mâu thuẫn với chính lý tưởng của Dê-su như được viết rõ trong Kinh Thánh [tin rằng ngày tận thế đã gần kề] và do đó đã bị bác bỏ bởi một số người tiến bộ trong Ki Tô Giáo như Linh Mục James Kavanaugh hay Giám mục John Shelby Spong [Xin đọc bài "Huyền Thoại Cứu Rỗi" của Linh mục James Kavanaugh và bài "Dê-su Như Là Đấng Cứu Thế: Một Hình Ảnh Cần Phải Dẹp Bỏ" của Giám mục John Shelby Spong trên trang nhà Giao Điểm trước đây] và của rất nhiều học giả Tây phương. Chính là những niềm tin này đã khiến những tín đồ Ki-tô trở thành những người xa lạ trong những xã hội văn minh tiến bộ hoặc trong những quốc gia dân tộc có nền văn hóa truyền thống khác với nền văn hóa Ki-tô.

Nhưng thật ra, vấn đề không phải là tin vào Thượng đế của người Do Thái, vì ai cũng có quyền tin vào một Thượng đế mà mình muốn tin, cũng như ai cũng có quyền tin vào một chú Cuội ngồi ở gốc cây đa trên cung Hằng, hay tin "con Cóc là cậu Chúa Trời", "Thần cây đa", "Thần bình vôi" v..v... Trong thế giới ngày nay, chúng ta thấy có cả trăm Thượng đế khác nhau, và về bản chất, mọi Thượng đế và mọi đối tượng tín ngưỡng đều như nhau, nếu chỉ là thuần túy đối tượng của một đức tin không cần biết, không cần hiểu. Vấn đề chính là tin như thế nào, và những hành động tôn giáo bắt nguồn từ đức tin của mình có thật sự làm sáng danh Thượng đế mà mình tin hay không, hay ngược lại chỉ kéo Thượng đế của mình xuống vòng ô nhục. Thảm thay, đây chính lại là điều các tín đồ Ki-tô thường làm, tưởng rằng để vinh danh Thiên Chúa nhưng thực ra lại hạ thấp Thiên Chúa của mình xuống hàng tệ mạt nhất trong nhân loại, qua những hành động tàn bạo, ác ôn nhất trong lịch sử nhân loại. Có phải là kỳ lạ không khi chúng ta tin vào Thần cây đa, Thần bình vôi v... v..., chúng ta không hề gây hại cho ai, trong khi tin vào Thần của Ki Tô Giáo thì lại gây ra bao thảm cảnh cho nhân loại. Vậy về phương diện xã hội, những niềm tin nào đã gây hại cho xã hội. Các tín đồ Ki-tô có bao giờ nghĩ đến điều này không?

Sau đây tôi sẽ đưa ra vài điều để các bạn suy nghĩ và thấy rằng không phải tôi viết bừa mà không có căn cứ.

  • Các bạn tin vào một Thiên Chúa toàn năng [nghĩa là làm gì cũng được], sáng tạo ra cả vũ trụ và muôn loài trong đó. Nhưng các bạn lại tin rằng Thiên Chúa phải cần đến những con người thế tục, đầy tội lỗi như các bạn để đi kiếm thêm linh hồn cho Thiên Chúa của các bạn. Chẳng vậy mà các bạn rình mò xem có người quen nào sắp chết, nhân lúc gia đình vắng mặt, đến ban tên thánh cho người sắp chết, hoặc dùng mọi thủ đoạn để kéo người ngọai đạo vào trong niềm tin của các bạn. Vậy thực ra các bạn đang vinh danh Thiên Chúa hay đang mạ lỵ Thiên Chúa của các bạn? Các bạn đã không tin ở thuộc tính toàn năng của Thiên Chúa, không tin ở khả năng sáng tạo của Thiên Chúa, không tin ở khả năng thực hiện tất cả những gì mà Thiên Chúa muốn. Các bạn tin rằng Thiên Chúa có nhiều nhu cầu, thí dụ như nhu cầu độc tài, không ai được thờ Thần khác, hoặc nhu cầu về sự yêu thương hết lòng hết sức của những con người do chính Thiên Chúa tạo ra, hoặc nhu cầu cần được người trần vinh danh v..v.. và Thiên Chúa lại phải nhờ đến các bạn để cung cấp những nhu cầu ấy cho Thiên Chúa? Vậy thực chất Thiên Chúa của các bạn là cái gì, có khác gì người thường không? Các bạn đã mang những tính xấu trần tục của con người để áp đặt lên Thượng đế của các bạn.
  • Các bạn tin lời giải thích của giáo hội hay của chính giáo hoàng John Paul II gần đây ở Lourdes, là mọi bất hạnh, tật nguyền xảy tới với các bạn là nằm trong "kế hoạch kỳ diệu" của Thiên Chúa (God’s wondrous plan). Các bạn không hiểu tại sao những bất hạnh đó lại đến với các bạn, và để tự an ủi các bạn đã tin vào lời giải thích như trên. Cũng như khi xưa, người dân Do Thái được các thầy tu hay tiên tri Do Thái giải thích là những đau khổ triền miên xảy ra cho dân Do Thái là do sự trừng phạt của Thiên Chúa vì dân Do Thái đầy tội lỗi, không theo đúng luật của Thiên Chúa. Một ngày nào đó, Thiên Chúa sẽ hồi tâm, mang nước thiên đường, nghĩa là một Jerusalem mới tràn đầy sữa và mật cho người Do Thái. Vậy thật ra các bạn đã tin vào một Thiên Chúa chuyên làm ác, gây ra bao đau khổ và bất hạnh cho nhân loại chỉ vì Thiên Chúa không vừa ý [ai biết ý Chúa ra sao?]. Điều này đối ngược hẳn với niềm tin của các bạn về một Thiên Chúa "quá thương yêu thế gian". Có niềm tin nào có thể hạ thấp Thiên Chúa của các bạn xuống hàng ác ôn hơn không?
  • Trong nhiều thế kỷ, các giáo hội Ki-tô đã gây ra bao thảm họa cho nhân loại qua những cuộc Thánh chiến, những cuộc săn lùng phù thủy, thiêu sống con người, những tòa án xử dị giáo với những cuộc tra tấn khủng khiếp con người, những cuộc cưỡng ép cải đạo khắp năm châu v..v.. mà tất cả đều được biện minh là làm theo ý Chúa (God’s will it = Motto trong cuộc thánh chiến đầu tiên). Như vậy là các bạn đã tin và chấp nhận một Thiên Chúa toàn năng chủ trương giết chóc, tra tấn, thiêu sống và cưỡng bách cải đạo v..v... Một Thiên Chúa như vậy thì có giá trị gì cho nhân loại, hay thực chất chỉ là một tên ác ôn khát máu?
  • Đã một thời, và ngày nay vẫn còn nhiều người tin, là những thiên tai như động đất, bão lụt, bệnh dịch truyền nhiễm v..v.. đều là những biện pháp của Thiên Chúa để trừng phạt những người không tin theo Ngài. Và tất cả cũng đều là do ý Chúa. Nhưng thiên tai, bệnh tật có chừa ai đâu, đâu chỉ chọn người ngoại đạo để mà trừng phạt. Các bạn đã tin vào một Thiên Chúa, tác giả của những tai họa của nhân loại. Một Thiên Chúa như vậy có đáng để con người kính trọng không, khoan nói đến thờ phung?
  • Các bạn tin vào một ông Thiên Chúa đòi hỏi các bạn phải yêu ông ta hết sức hết lòng nếu không thì..., phải tin ông ta và tuân theo những luật lệ của ông ta dù những luật lệ đó đã trở thành lỗi thời, phản ánh một trình độ man rợ của thời chưa khai hóa, nếu không thì...., phải nhân ơn tha thứ của ông ta nếu không thì..., phải tin rằng ông ta có khả năng “cứu rỗi” nếu không thì.... Chỉ có một Thiên Chúa dùng sự đe dọa và sợ hãi để bắt con người phải tin vào mình mới có những đòi hỏi như vậy. Một Thiên Chúa nhân từ, đầy lòng thương yêu không bao giờ có thể đòi hỏi như vậy. Thật ra các bạn không hiểu các bạn là ai, không hiểu Thiên Chúa là cái gì, không hiểu sự vận hành của thiên nhiên, của vũ trụ, của thế giới mà chúng ta đang sống trên đó. Do đó các bạn không hiểu tình yêu là căn bản của mọi sự sống, cũng như không hiểu tình yêu của một Thiên Chúa, theo đúng nghĩa của nó, phải là một tình yêu không có điều kiện, không có sự phân biệt.

Trên đây chỉ là vài nhận xét điển hình về những niềm tin vào một Thiên Chúa trong Ki-tô Giáo, những niềm tin sai lầm trong suốt bao nhiêu thế kỷ của những người không có mấy đầu óc, không biết rằng chính vì những niềm tin này, và hành động theo những niềm tin này, mà nhân loại đã phải gánh chịu bao nhiêu thảm cảnh do Ki-tô giáo gây ra. Do đó, vấn nạn chính của các tín đồ Ki-tô giáo tin vào sự hiện hữu của một Thượng đế và nhân loại cần đến Thượng đế đó, không phải là những tín đồ Ki-tô hành động khác với điều họ thường nói: “Thượng đế muốn họ làm như vậy", mà là do những tín đồ làm đúng theo lời họ nói: “Thượng đế muốn họ làm như vậy" vì thực tế là, để thực hiện những tham vọng trần tục họ đã dùng cái bình phong Thượng đế, nhân danh Thượng đế, để biện minh cho những hành động xấu ác của họ.

Thật vậy, trong cuốn Những Tân Khải Thị (The New Revelations, Atria Books, New York, 2002) Neale Donald Walsch đã viết, trang 62:

“Hầu hết những sự giết chóc, thống trị, đàn áp, những sự kinh hoàng trên hành tinh của chúng ta đã được gây ra dưới lá cờ chiều hướng tư tưởng của tổ chức tôn giáo và nhân danh Chúa. 200 năm của những cuộc Thánh chiến Ki-tô là một thí dụ điển hình, trong thời gian này, con người bị tàn sát nhân danh Chúa Ki Tô.

Tháng 11, 2001, Tổng Thống Bill Clinton phát biều: “Trong cuộc Thánh chiến đầu tiên [mà giáo hoàng đương thời tuyên bố đó là ý Chúa], khi những binh sĩ Ki-tô chiếm thành Jerusalem, họ thiêu rụi một giáo đường trong đó có 300 người Do Thái, rồi đi giết mọi đàn bà, trẻ con Hồi giáo trên núi có Đền. Tôi có thể nói với quý vị là câu chuyện đó ngày nay vẫn được kể ở Trung Đông, và chúng ta vẫn còn phải trả cái nợ đó." 2

Vấn nạn lớn thứ hai của các tín đồ Ki-tô, nhất là Tin Lành, là tin vào cuốn Kinh Thánh, hay nói đúng hơn, tin vào vài điều vụn vặt trong Kinh Thánh, hoàn toàn không biết đến toàn bộ Kinh Thánh viết những gì.. Lẽ dĩ nhiên, họ chưa bao biết ai là những người viết Kinh Thánh, chưa bao giờ đọc những tác phẩm nghiên cứu về Kinh Thánh, phân tích Kinh Thánh từng câu từng chữ, và tuyệt đối không bao giờ để ý đến tính cách nhất quán, một tính cách không thể không có trong một cuốn sách có thể gọi là có phần nào giá trị. Tính cách nhất quán này không hề có trong Kinh Thánh. Do đó, bất kể là họ tin như thế nào, cuốn Kinh Thánh cũng chỉ là một sản phẩm hạ đẳng của thời bán khai vì chứa rất nhiều điều độc ác, vô đạo đức, phi luân lý, phản khoa học, phi lôgic, hoang đường v..v.. Chứng minh?

Chỉ cần mở cuốn Kinh Thánh ra và đọc với một đầu óc chưa bị nhiễm độc Ki-tô [từ của Mục sư Ernie Bringas], chúng ta thấy ngay tất cả những điều trên đều nằm trong cuốn gọi là Kinh Thánh. Nếu ngại công tìm kiếm những điều trên, có đầy trong Kinh thánh, tôi xin giới thiệu một số tác phẩm trong đó các tác giả đã trích dẫn sẵn những câu, những đoạn trong Kinh Thánh mà lẽ dĩ nhiên các tín đồ Ki Tô Giáo không bao giờ được nghe giảng trong nhà thờ:

  • "The X-Rated Bible: An Irreverent Survey of Sex in the Scripture" của Ben Edward Akerley: cuốn sách dày hơn 400 trang, liệt kê những chuyện tình dục dâm ô, loạn luân trong Kinh Thánh.
  • "All The Obscenities in the Bible" của Kasmar Gene: cuốn sách dày hơn 500 trang, liệt kê tất cả những chuyện tục tĩu, tàn bạo, giết người, loạn luân v..v.. (Human sacrifice, murder and violence, hatred, sex, incest, child cruelty etc..) trong Kinh Thánh.
  • "The Bible Handbook" của W. P. Ball, G.W.Foote, John Bowden, Richard M. Smith et...: Liệt kê những mâu thuẫn (contradictions), vô nghĩa (absurdities), bạo tàn (atrocities) v..v.. trong Kinh Thánh.
  • "The Born Again Skeptic’s Guide to the Bible" của Ruth Hurmence Green: Bình luận những chuyện tàn bạo, dâm ô, kỳ thị phái nữ trong Kinh Thánh.
  • "One Hundred Contradictions in the Bible" của Marshall J. Gauvin: Liệt kê 100 điều mâu thuẫn trong Kinh Thánh.
  • "The Bible Unmasked" của Joseph Lewis: Lột mặt nạ Kinh Thánh, đưa ra những sai lầm trong Kinh Thánh.
  • "Christianity Cross-Examined" của William Floyd: Phân tích từng quyển một trong Kinh Thánh.
  • "Christianity and Incest" của Annie Imbens & Ineke Jonker: Viết về Ki Tô Giáo và vấn đề loạn luân, những sự kiện về loạn luân và kỳ thị phái nữ bắt nguồn từ Kinh Thánh.

Lẽ dĩ nhiên, những tín đồ Tin Lành Việt Nam như Mục sư Nguyễn Hữu Ninh, tân tòng như Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng, Nguyễn Huệ Nhật, Khuất Minh, Phan Như Ngọc v..v.. và tất cả những "tôi tớ, tỳ nữ của Chúa" trên Mucsu.net không bao giờ biết đến những tác phẩm nghiên cứu Kinh Thánh về những khía cạnh này, và không biết rằng ngay từ đầu thế kỷ 20, giới lãnh đạo Tin Lành Mỹ đã hoang mang lo sợ vì phải đối diện với hai thực tế.

Thứ nhất, “Các học giả Âu Châu đã phân tích Kinh Thánh kỹ hơn bao giờ hết, và kết luận của họ là: Thánh Kinh không phải là cuốn sách do Thượng đế mạc khải mà viết ra, như các Ki Tô hữu đã tin, do đó không thể sai lầm. Thật ra, đó là, một hợp tuyển lộn xộn những huyền thoại cổ xưa, truyền thuyết, lịch sử, luật lệ, triết lý, bài giảng đạo, thi ca, chuyện giả tưởng, và một số ngụy tạo rất hiển nhiên." (European scholars were scrutinizing the Bible more closely than ever before. They had concluded that it (the Bible) was not, as Christians had long believed, a book dictated by God and therefore infallibly true. It was, instead, a disorderly anthology of ancient myths, legends, history, law, philosophy, sermons, poems, fiction, and some outright forgeries.).

Thứ nhì, chính là những tư tưởng trong thuyết Tiến Hóa của Charles Darwin. [Xin đọc bài Charles Darwin và Thuyết Tiến Hóa trên trang nhà Giao Điểm]

Cho nên ngày nay, những ai còn nói chuyện mạc khải, hà hơi, hay thẩm quyền của Kinh Thánh, thật ra chỉ là những người còn sống trong bóng tối của ngu si vô trí, lạc hậu ít ra là vài thế kỷ. Bởi vì, thực tế là, Kinh Thánh có được Thượng đế hay Thánh Linh mạc khải hay hà hơi hay không, trong Kinh Thánh (sic) loạn luân vẫn là loạn luân, độc ác vẫn là độc ác, giết người vẫn là giết người, phi lý phản khoa học vẫn là phi lý và phản khoa học v..v...

Vì không biết như vậy nên họ vẫn đưa ra vài điều trong Kinh Thánh mà họ cho là đúng và tin, không buồn để ý đến những điều trái ngược và mâu thuẫn cũng nằm ngay trong Kinh Thánh. Điều này chỉ chứng tỏ là niềm tin của họ thuộc loại mù lòa tin bướng tin càn.

Chúng ta hãy bỏ qua những chuyện hoang đường như thuyết sáng tạo, chuyện Adam và Eve sa ngã tạo thành tội tổ tông, huyền thoại chuộc tội và cứu rỗi v..v.. mà ngày nay đã không còn giá trị, ít ra là trong giới hiểu biết, mà chỉ đặt vài vấn đề về niềm tin của các tín đồ Ki-tô đối với Thiên Chúa.

Các bạn luôn luôn mang Kinh Thánh ra để làm hậu thuẫn cho những ý kiến hay niềm tin của các bạn, thí dụ như: "Kinh Thánh viết rằng..” hay “Đọc Kinh Thánh tôi thấy...”. Nhưng nếu chúng tôi cũng mang Kinh Thánh ra để chứng minh ngược lại thì các bạn nghĩ sao, các bạn có chịu chấp nhận những điều đó hay không? Thí dụ, các bạn viện một câu nào đó trong Kinh Thánh và khẳng định về Tình Yêu của Chúa Dê-su đối với nhân loại. Nhưng nếu chúng tôi cũng viện ra nhiều câu nói, nhiều hành động của Dê-su như được viết trong Kinh Thánh để chứng tỏ ngược lại là không làm gì có chuyện "Tình Yêu của Chúa Dê-su" thì các bạn có chịu chấp nhận những điều này hay không? Các bạn có thể viện ra vài đoạn trong Kinh Thánh để khẳng định là Thiên Chúa rất nhân từ theo luận điệu thần học của Ki Tô Giáo. Nhưng nếu chúng tôi cũng viện dẫn nhưng câu, những hành động của Thiên Chúa chứng tỏ Ngài là một Thiên Chúa thiển cận, đầy lòng ghen tuông, độc ác, ưa trả thù v..v.. thì các bạn nghĩ sao? Các bạn có chịu chấp nhận những điều này trong Kinh Thánh không? Nếu vì lương thiện trí thức mà chấp nhận thì thực ra niềm tin về Thiên Chúa của các bạn là niềm tin về một Thiên Chúa như thế nào. Còn không thì tại sao không? Tại sao các bạn chỉ tin một vài điều trong Kinh Thánh mà không tin nhiều điều khác cũng ở trong Kinh Thánh? Đó là vấn nạn mà các bạn không sao giải quyết nổi mà không vấp phải những mâu thuẫn tự tại trong niềm tin của các bạn.

Nhưng không phải là những vấn nạn trên không thể giải quyết nổi, nếu các bạn có đủ lý trí, lòng tự tin, và sự lương thiện trí thức tối thiểu. Tất cả tùy thuộc các bạn. Các bạn chỉ có hai chọn lựa. Một là tiêp tục sống trong bóng tối của ngu si, an phận làm con chiên, con cừu, và không cần biết đến những sự tiến bộ tri thức của nhân loại. Hai là muốn thoát ra khỏi cảnh tối tăm trí thức? Thoát ra như thế nào. Mục sư Harry Wilson đề nghị: "Cất bỏ gánh nặng Thiên Chúa và Kinh Thánh trên vai." Riêng tôi, tôi có một đề nghị thiết thực hơn: Muốn gia nhập hàng ngũ của giới trí thức hiểu biết thì lẽ tất nhiên các bạn phải thay đổi những niềm tin về Thiên Chúa và Kinh Thánh. Tôi không có ý nói là phải bỏ những niềm tin này mà là phải thay đổi những niềm tin này như thế nào để những hành động, lời ăn tiếng nói của các bạn không hạ thấp Thiên Chúa của mình xuống như các bạn thường làm trước đây, và cũng phải chấp nhận sự thực là Kinh Thánh không phải là do sự mạc khải của Thiên Chúa viết ra, mà chỉ là sản phẩm của một số người mà kiến thức của họ vào thời đó còn rất nhiều thiếu sót. Các bạn có thể tiếp tục tin vào vài điều đạo đức lạc lõng trong Kinh Thánh, nhưng những chuyện trẻ con như "sáng thế", "tội tổ tông", "Dê-su sinh ra từ một nữ trinh", "chuộc tội", "cứu rỗi", "xác chết sống lại" v..v.. thì đừng có bao giờ mang ra mà quảng cáo trên các diễn đàn công cộng. [Xin đọc cuốn Putting Away Childish Things của Nữ Giáo sư Thần Học Uta Ranke-Heinemann]

Nếu các bạn cứ tiếp tục tin vào một ông Thượng đế của người Do Thái, về sau được biến thành Thượng đế của Ki Tô Giáo, tiếp tục tin vào sự không thể sai lầm của Kinh Thánh, và không hề có một thắc mắc, nghi vấn nào, như các bạn đã tin, tôi e rằng các bạn sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi phải đối diện với những thắc mắc của thiên hạ về Thượng đế của Ki Tô Giáo hay về mức độ khả tín, chính xáx, không thể sai lầm của cuốn Kinh Thánh.

Đây chỉ là vài ý kiến chân thành của tôi, hi vọng có thể giúp các bạn trở về thân phận con người mà cái quý báu nhất là một đầu óc lành mạnh, có khả năng suy tư, phân biệt chân giả.

Notes:

1 Most important, the impact of the scientific perspective is having now that even scholars working under a conservative Catholic imprimatur agree that much of what we know of Jesus is myth.... Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger. So the only ones left in the dark are ordinary Christians.
 

2. Most of the killing and most of the domination and most of the suppression and most of the terror on our planet has been carried out under the banner of organized religion and in the name of God. The 200 years of the Christian crusades are a prime example, during which people were slaughtered in the name of Christ.

In November 2001, Bill Clinton stated: "In the first Crusade, when the Christian soldiers took Jerusalem they first burned a synagogue with 300 Jews in it, then proceeded to kill every woman and child who was a Muslim on the Temple Mount. I can tell you that story is till being told today in the Middle East, and we are still paying for it.
 

     

    


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com