1104-logo.gif (2163 bytes)

Posted:5.11.04

NƯỚC CHẢY QUA CẦU

Bút ký.

Trần Thị Bông Giấy

III

Ardennes (Belgique). Tuyết rơi suốt cả ngày. Trời lạnh khủng khiếp, nhiệt kế xuống đến 17 độ dưới zéro độ. Cuộc biểu diễn vòng quanh vương quốc Bỉ vẫn chưa được tiếp tục bởi vì Jean-Luc, người chơi piano trong ban nhạc, bị cảm chưa khỏi.

Đứng nhìn tuyết rơi qua cửa kính khách sạn, tôi nghe lòng thật buồn. Giờ đây đã không còn nữa sự thích thú ước mơ của thời tuổi nhỏ mỗi khi nhìn những tấm thiệp Giáng Sinh gửi về từ những vòm trời Âu Châu xa tít. Cũng không còn chiêm ngưỡng cái màu sáng chói ngời trải ra trên  khắp cánh đồng mà ngậm ngùi cho mối tình đau khổ của Lara và bác sĩ Zhivago. Không còn nữa những cảm xúc nghệ sĩ khi nhìn màu trắng tuyệt vời nhưng băng giá ấy.... Mà chỉ là nỗi sợ hãi khi liên tưởng đến những đêm trở về từ quán cà-phê, đôi vai rụt hẳn lại trong cổ áo dạ để tránh những hạt tuyết tàn bạo tới tấp đổ xuống trên người.

Sự gì cũng đều bị thời gian làm cho lần mòn tiêu hủy. Luôn cả sợi dây nhậy cảm nhất trong cái tâm hồn yêu chuộng thiên nhiên của tôi cũng không ra ngoài được với sự tàn phá của thời gian.

Tháng 12/1978. Trở về Sàigòn.

Một nỗi vui rộn ràng lan khắp châu thân khi chiếc xe đoàn băng qua cầu Phan Thanh Giản, bon bon trên con đường Đinh Tiên Hoàng, tiếp đến Hiền Vương, rẽ trái Lê Văn Duyệt, quẹo phải Hồng Thập Tự và đậu lại trước cửa rạp Olympic, bến đỗ của đoàn.

Phải nhận rằng tôi yêu Sàigòn sâu sắc, hơn tất cả mọi thành phố đã đi qua. Xứ Huế mơ màng với giòng sông Hương thương nhớ chỉ là niềm kiêu hãnh còn lưu lại trong máu huyết. Dalat mây giăng thấp và buồn ngàn đời lại chỉ tượng trưng cho kỷ niệm một thời của tuổi đôi mươi.

Riêng Sàigòn lại khác. Tôi yêu từng góc phố của Sàigòn qua từng mỗi giai đoạn sống. Yêu cái tuổi thơ vẫn cùng chúng bạn tranh nhau từng quả me dốt rơi trong sân trường Âm Nhạc. Yêu những tàng cây cao trên con đường Nguyễn Du khi tâm hồn bắt đầu biết rung động vì màu xám của không gian. Yêu cửa sổ lớp nhìn ra sân trường đại học có những chiếc lá vàng bay lả tả vào một chiều thu tím. Yêu thật nhiều ly cà-phê của quán Hân trên con phố Đinh Tiên Hoàng mỗi lần tự tưởng tượng mình đang là một “triết gia!”

Và rồi trong cái tâm hồn đang chuyển dần sang màu xám, tôi vẫn cứ yêu Sàigòn ngây ngất. Sàigòn lúc ấy không còn cô đọng trong tay vói, trong mắt nhìn; mà chính là ảo ảnh êm đềm để nhớ về từ không gian xa xôi của các tỉnh lỵ; là cái nôi thương yêu để úp mặt khi đôi cánh giang hồ rỉ máu; là hạnh phúc và khổ đau trộn lẫn khi tôi vừa muốn rức rảy từ bỏ, lại cũng vừa tha thiết nhớ thương.

Sàigòn vẫn chỉ giữ ngôi vị độc tôn khi mọi ước mơ trong trái tim tôi đã hoàn toàn biến mất. Chế độ càng gắt gao, luật lệ được ban ra càng nhiều bao nhiêu thì người dân Sàigòn càng tha thiết muốn bảo tồn những cái gì đã mất hay đang mất. Những quán rượu lộ thiên mọc lên như nấm. Những quán cóc cà-phê nhan nhản khắp các góc phố, lề đường. Các khu chợ trời đông hơn hội Tết; người mua kẻ bán bâu quanh các món hàng trong cái vẻ giành giật, âu lo.

Sàigòn càng được yêu nhiều hơn trong ánh nhìn từ một góc xấu nhất. Những cái lều vải lụp xụp căng ra dọc theo các khu Nguyễn Hoàng, An Đông... làm nơi tạm trú của các người dân trở về từ vùng kinh tế mới chẳng thể làm cho Sàigòn tan biến đi nỗi dịu dàng bất chợt của thời gian gần Tết. Những người hành khất dẫy đầy nơi các phố vẫn không làm mất đi màu xanh tuyệt vời của lá trên các con đường có nhiều cây cao.

Sàigòn càng khổ sở lại càng đẹp! Cái đẹp não nùng đau đớn như giọt nước mắt lăn trên đôi má nhăn nheo của người mẹ già một ngày nhận tin con mình đã chết. Sàigòn càng bi thương càng thêm quyến rũ; y hệt một cô gái đẹp mặc chiếc áo rách mà những chỗ hở lại chỉ làm cho khách đa tình phải đắm, phải say.

...

Có những đêm rất khuya, đạp xe trở về từ rạp hát, ghé qua dốc cầu Trương Minh Giảng trước cửa trường đại học Vạn Hạnh, ngồi uống ly cà-phê đen, nhìn dòng đời rơi rớt lại trên một vài sinh hoạt muộn trễ, tôi biết mình vẫn chỉ yêu Sàigòn trên hết. Sàigòn với ngọn gió mang mang của trời tháng Chạp, với các buổi chợ đêm những ngày cận Tết vẫn còn làm tâm tư lao xao trong một nỗi niềm man mác nhớ nhung. (Gió tháng Chạp thì không bao giờ biến thể cho dù thời gian có trôi, xã hội có đổi). Và Sàigòn vẫn ngất ngưỡng ngự trị trong tôi với buổi chiều cuối năm, phố phường bỗng dưng lạnh vắng, không gian như khóc và thời gian như nuối tiếc, thở dài!

Tuy nhiên, trên hết, Sàigòn không có gì thay thế được với cái đêm Ba Mươi kỳ ảo. (Nửa đời người, trong tôi, có lẽ chỉ tình yêu cho mẹ già và đêm cuối năm Âm lịch của Sàigòn là không bao giờ thay đổi). Ngồi nơi một chiếc ghế thấp của một quán cà-phê nào đó bên vệ đường thành phố, tôi chờ đón giao thừa. Những chiếc xe đạp rộn ràng xuôi ngược. Những đôi chân tất tả trở về. Những con người vội vàng tranh thủ thời gian để kịp bước với một tuổi già sẽ đến đêm nay trên đầu họ. Những mâm hoa quả được bày ra trước các cánh cửa với nghi ngút khói nhang. Và rồi tiếng pháo nổ lên, thoạt đầu lẻ tẻ vài phong, sau đột nhiên nổ dòn đồng loạt. Các tia ánh sáng bắn ra tung toé. Lũ trẻ con giành nhau từng viên pháo tịt. Thỉnh thoảng, một tiếng “đùng” thật lớn của viên pháo đại dội lên và lũ trẻ lại ùa nhau chạy sang một góc phố khác...

Giao thừa đang đến. Năm mới lại về. Nàng Xuân e ấp dịu dàng trên các chậu mai vàng trước ngõ. Và tâm hồn khách cà-phê cũng rung động dạt dào theo tiếng pháo của đêm Ba Mươi!

[]

Ardennes (Belgique). Tôi hỏi Daniel: “Anh có nghĩ  rằng trong đầu tôi có một sợi dây thần kinh nào đó đang bị lệch?” Anh gật đầu. Tự dưng, tôi thấy kinh ngạc khi nhìn cái gật đầu của anh bao hàm không biết bao là thôn g cảm. Anh là vị trưởng ban tốt theo cái nghĩa của một tâm hồn nghệ sĩ thực sự. Sau khi qua cuộc tuyển với bốn người nhạc sĩ Âu Châu khác, chỉ tôi và một nhạc sĩ người Pháp gốc Đức là được chọn. Daniel sau đó đã nói cùng tôi: “Tôi sung sướng được làm việc với cô. Sự đau khổ của dân tộc cô khiến tôi thật lòng kính trọng và ngưỡng mộ. Tôi nghĩ, đó là một đặc ân không phải quốc gia nào cũng có được. Cái vốn liếng đau khổ quý giá ấy chính là giá trị làm nên lịch sử sáng ngời cho đất nước cô.”

Trên một điểm nào đó trong cái nhìn của người nghệ sĩ về cái Đẹp, Đông và Tây cũng đã gặp nhau.

Cầu Tre, tháng 12/1978.

Đoàn hát ở Cầu Tre, trạm cuối cùng lưu lại thành phố trước khi mở đầu cuộc lưu diễn dài Miền Tây.

Địa danh Cầu Tre thuộc quận 6, phía tây thành phố Hồ Chí Minh, cách Sàigòn khoảng 15 cây số về hướng Phú Lâm. Vậy mà so với Sàigòn, Cầu Tre lại thật vô cùng khác biệt. Nơi đây, sau biến cố 75, nhà cửa xiêu vẹo, cái còn cái mất. Dân chúng trông lam lũ chật vật. Đường xá nhiều ổ gà, bẩn thỉu. Và trước khi đến rạp, phải băng qua một cây cầu gỗ từ đường cái dẫn vào; anh em đoàn thường đọc giễu “cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi!”

Mỗi lần hát ở đây, đêm khuya về, cả đám chúng tôi đều sợ phải băng ngang qua khu Minh Phụng, nghĩa địa Phú Thọ nổi tiếng với nhiều vụ giết người, cướp bóc. Dẫu vậy, dân đi xem hát thật đông. Chỉ điều này mới làm khích lệ anh em đoàn khi tin chắc rằng rồi đêm lương sẽ đưộc lãnh!

Tội nghiệp chúng tôi, những con người thương vay khóc mướn; mà cũng tội nghiệp cho tất cả những người dân Việt Nam sau cuộc đổi đời quan trọng. Kể từ tháng 5/1975, gần như các môn giải trí trong Miền Nam đều ngưng hoạt động. Sách báo chế độ cũ bị tịch thu; thay vào đó là các loại sách báo khô khan đầy tính tuyên truyền cho chủ nghĩa. Tất cả vũ trường phải đóng cửa. Các hàng quán lịch sự đều bị quốc doanh hóa. Các rạp hát được cho chiếu toàn những phim của thế giới bên kia bức màn sắt còn rất xa lạ với dân chúng Miền Nam.

Tuy nhiên, các quán cà-phê và quán rượu lề đường lại mọc lên như nấm. Cái hiện tượng “quán cóc” và “dân  ngồi quán cóc” lan tràn khắp xứ. Chỉ cần 25 xu tiền mới cho một ly cà-phê “xây chừng” là có thể tiêu được một buổi tối vô vị. Chỉ cần một xị rượu thuốc 50 xu với một đĩa đậu phọng khiêm nhường 10 xu là cũng có thể lãng quên được mọi nỗi khổ đau chung quanh.

Ngoài ra, không chỉ cà-phê hay rượu mà còn bạn   bè nữa. Điều này mới thật là quý trong một xã hội thiếu thốn đủ mọi thứ vật chất. Thật vậy, trong các phần đất của quê hương nghèo khổ, cái gì cũng thiếu, nhưng tình người thì không bao giờ thiếu. Nhất là tình bạn. Nhu cầu bạn hữu vượt cao hơn mọi nhu cầu khá trong đời sống. Người ta dễ dàng mời nhau một ly cà-phê “xây chừng” từ lúc không quen để rồi trở thành bạn thân ngay sau đó. Người ta gặp nhau hằng ngày không biết chán chỉ để nói cho nhau nghe tất cả mọi nỗi niềm thống khổ đang đè ập trên xã hội chung; những điều thật khó lòng thổ lộ với các người thân vì không muốn họ cùng lo lắng hay đau khổ.

Thú tiêu khiển thứ hai sau ácc quán cóc của dân   Miền Nam là đi xem hát Cải Lương. Với điều này thì dù thành thị hay thôn quê đâu cũng đều giống nhau ở mức độ thưởng thức. Người ta có thể đứng nối đuôi nhau hằng giờ để chỉ chờ cánh cửa sổ nhỏ xíu nơi ghi-sê phòng vé mở ra; có thể chen lấn, xô đẩy nhau đến rách cả áo để giành mua chỉ một cái vé trong số rất giới hạn những vé được bán. Số còn lại tất nhiên là chui ra chợ đen.

Nạn chợ đen cũng là một hiện tượng gần gũi trong xã hội hiện tại. Chợ đen trở nên là một cái “nghề” kiếm ra nhiều tiền cho một số người. Chợ đen trong đủ mọi môi trường, mọi giới. Riêng môi trường ca hát thì so với các ngành nghề khác, tính theo tỷ lệ, hiện tượng này cao đến 90 phần trăm.

Trong đoàn hát, tổ Phòng Vé vẫn được chúng tôi gọi là tổ “giàu” nhất. Tuy nhiên, không chỉ riêng tổ Phòng Vé mà còn có đến hơn hai phần ba nhân viên đoàn tham dự vào cái nạn chợ đen. Mỗi người, từ ban quản trị trở xuống, đề được quyền mua hai vé mỗi đêm theo giá chính thức. Đa số các vé loại này tức tốc được các tay đầu nậu vé mua ngay với giá cao hơn, nhiều hay ít là tùy theo tuồng, rạp và đêm hát. Hôm sau, vé được sang tay cho khán giả với giá gấp ba hay bốn lần đã mua của nhân viên đoàn hát. Rốt lại, chỉ có khán giả là đáng tội nghiệp hơn hết mỗi lần muốn thưởng thức nghệ thuật cải lương!

[]

IV

Liège (Belgique). Có một điều rằng, từ ngày ra đi khỏi xứ, tôi chẳng hề có lấy một người bạn Việt Nam nào thân thiết. Dù rằng tôi vẫn giao thiệp, vẫn gặp mặt nhiều người Việt Nam tại Paris, nhưng cái ý nghĩ tìm được một người nào đó để kết thành bạn thiết, quả thật xa vời.

Dạo mới ra đi, có đôi lần tôi tự hỏi, người Việt Nam nơi xứ người đổi thay nhiều quá, hay chính tình cảm tôi đặt cho vai trò “một người bạn” còn cao quá đã khiến tôi không thể có bạn? Thì cả hai điều đều đúng trong kết luận khi ấy của tôi. Tôi không thể nào còn tìm được một người bạn để cùng chia một mẩu tâm sự, chia những cảm xúc của một buổi chiều khi hoàng hôn đang xuống. Sự cô đơn và thiếu thốn tình bạn, tôi nghĩ, là thực trạng chung của nhiều người Việt xa quê hương.

Bốn năm sau, cái nhìn tôi đã thay đổi. Một câu luận đề được làm từ khi còn bé cứ trở đi trở lại hoài trong óc: “Ta sẽ không bao giờ có được tâm hồn ta của buổi chiều hôm nay” (Jamais, nous n’aurons l’âme de ce soir). Câu văn thấm thía lạ lùng. Không phải rằng tôi hay những người Việt Nam khác thay đổi, mà chính là tất cả đã bị thời gian làm cho đổi thay đi.

Tháng 12/1978, hát Tân An, tỉnh Long An.

Lại một chuyến lưu diễn Miền Tây, mở đầu là năm ngày ở Tân An.

Những chuyến đi làm rạc gầy thân thể, rớt rơi vật chất, nhưng kinh nghiệm và hiểu biết về quê hương trong tôi đã trở nên dồi dào, phong phú. Phải nhận là một may mắn lớn khi tôi gắn một phần đời mình vào cuộc sống Cải Lương. Những chuyến đi góc bể chân trời, những vùng đất xa xôi hẻo lánh, những bến xe, bến đò đầu ghềnh cuối bãi... từ đó đã giữ một vị trí quan trọng trong kỷ niệm tôi để không bao giờ còn quên lãng được.

Long An là tỉnh thứ nhất của miền đồng bằng Nam Bộ, hiện nay gồm tỉnh Tân An cũ, một phần tỉnh Chợ Lớn cũ và tỉnh Hậu Nghĩa gom chung lại; bắc giáp tỉnh Tây Ninh; tây giáp tỉnh Đồng Tháp; đông giáp thành phố Hồ Chí Minh, nam giáp tỉnh Tiền Giang.

Đời nhà Nguyễn, Long An được gội là phủ Tân An gồm các huyện Cửu An và Phước Lộc, thuộc tỉnh Gia Định.

Khi Pháp mới đặt chân vao đất Nam Kỳ, dân chúng Long An chống trả quyết liệt dưới sự lãnh đạo của nhà anh hùng Nguyễn Trung Trực. Trận đánh tàu Espérance của Pháp là một chiến công hiển hách. Vào giữa trưa ngày 11/12/1861, Nguyễn Trung Trực cùng 150 chiến hữu bày mưu xông vào đốt chiến thuyền Espérance do Trung tướng Parfait chỉ huy tại Rạch Vàm Cỏ bên làng Nhật Tảo. Chiến công táo bạo này được dân chúng miền đồng bằng Nam Bộ lưu lại trong hai câu thơ:

Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa

Kiếm bạc Kiên Giang khấp quỷ thần.

Tân An là thị xã chính của quận Thủ Thừa, tỉnh Long An, nằm trên bờ hữu sông Vàm Cỏ Tây. Từ   Sài gòn đổ về Mỹ Tho, qua khỏi cầu Bến Lức là thuộc tỉnh Long An. Nơi đây nổi tiếng về quả khóm (còn   gọi là quả thơm), trái to, dài, cơm ngọt lịm. Có quả nặng đến 3, 4kg. Miền Nam có nhiều trái lành cây ngọt, nhưng hễ nói đến khóm là người ta nghĩ ngay đến khóm Bến Lức.

Trong Long An còn có trường Sư Phạm và lăng mộ cụ Nguyễn Huỳnh Đức, một vị công thần nhà Nguyễn và cũng là Tổng trấn Gia Định thời vua Gia Long (1816). Cả hai đều nằm trên đường Quốc Lộ 4 hướng tay phải từ Sàigòn đổ xuống Miền Tây.

Cứ mỗi điểm hát, ban ngoại vụ đoàn có nhiệm   vụ liên lạc, sắp xếp chỗ ở cho nhân viên. Vì vậy, cả tổ Tân Nhạc được chỉ định lưu lại trong ngôi nhà ngói của hai ông bà già đã gần bảy mươi tuổi. Tâm tình người dân ở đây khác hẳn dân Sàigòn dù rằng hai nơi chỉ cách xa nhau chừng 45 cây số. Trầm lặng, hiếu khách và rất hiền hòa, hai ông bà đã tạo được rất nhiều dễ chịu cho chúng tôi. Đêm khuya về, chúng tôi vẫn được bà cụ nấu sẵn cho nồi cháo lòng lót dạ. Ban ngày không hát, các người bạn  keó nhau đi câu cá tra trong một cái hồ rộng phía sau hè. Còn tôi lại mệ cái bếp củi nên cứ quanh quẩn với bà cụ già nơi đó. Sự ấm áp tỏa ra từ ánh lửa, hòa lẫn với nỗi dịu dàng trên đôi mắt bà cụ làm cho tôi không muốn rời xa. Những chùm tỏi khô treo lủng lẳng trên thành vách tạo nên một hình ảnh êm đềm thân mật. Không khí gia đình phô bày rõ nét qua màu đen ám khói của những cái chão, cái nồi. Và trước ánh lửa chập chờn, tôi ngồi nghe bà kể không biết bao nhiêu là chuyện... Từ chuyện anh con trai độc nhất của hai ông bà chết trận mười năm cũ, đến chuyện con heo nái sau chuồng vừa mới đẻ một lứa sáu heo nhỏ đêm qua...

Ngồi trong căn bếp nhìn ra sau hè cả một bầu trời buồn tênh ảm đạm, tôi nghe lòng mình rung cảm mệnh mang. Loài dân du mục nào cũng ôm trong tim một niềm ước mơ thật lớn, mong tìm đến những vùng đất hứa, nơi con người lâu ngày lãng du, thèm khát một mái nhà cỏ, một bóng mát để thương nhau. Điều quan trọng là phải từng sống qua cuộc đời du mục. Đoàn lữ hành lượt thượt băng qua dãy sa mạc tưởng chừng không bao giờ dứt. Những trận bão cát làm kinh hãi cả vật lẫn người.

Với tôi, qua suốt mười năm phiêu bạt, ở những lúc tình cờ bất chợt, tôi vẫn mê nhìn cái bếp lửa hồng có ngọn củi gầy bốc thơm mùi khói. Và tôi cho rằng đó là biểu tượng gần nhất cho một vùng đất hứa muôn đời trong trái tim    tôi.

[]

Liège (Belgique). Những người bạn Âu Châu làm tôi thoải mái duy nhất ở một điểm: âm nhạc. Ngoài ra là hết! Thực mà viết, Daniel và Claudia vẫn thường quan tâm điếng đời sống kinh tế của tôi; cũng như Jean-Luc và Michel vẫn hỏi han về vùng quê hương cách xa nửa vòng trái đất ấy. Nhưng những điều này, tôi nghĩ, chỉ là những lưu tâm trong sự giao tế. Một nỗi thân mật vừa đủ, không mang tính cách thâm trầm của một tình bạn tâm giao.

Buổi tối, sau khi trở về từ phòng thâu thanh, chúng tôi cùng ngồi uống trà quanh lò sưởi. Ai nấy đều lặng im theo những nỗi niềm riêng lẻ. Ngoài trời, tiếng gió rít mạnh. Các cánh cửa sổ lung lay dao động. Thỉnh thoảng, tiếng rơi của một cành thông nhỏ dội trên mặt đất, khô khan. Tự dưng, tôi không nghĩ mình đang ngồi  bên lò sưởi nơi một vùng trời cách xa quê hưong hàng van  dặm... Đâu đây tưởng chừng như  thật thơm mùi khói thông trong căn bếp Dalat năm nào...

Thời gian đâu có nghĩa gì với những cảm xúc tràn trề như thế và không gian xa xôi đâu dễ làm tan biến trong tim những kỷ niệm một thời. Quá khứ và hiện tại như cùng hòa lẫn với nhau, làm ngất ngây hạnh phúc. Thứ hạnh phúc qua thật mau, tưởng như chưa hề đến!

Tháng 12/1978. Lưu diễn Tân Thạch.

Trên Quốc lộ 4 từ Sàigòn đổ về Miền Tây, đến tại cây số 76 sẽ gặp ngã ba Trung Lương. Tất cả các loại xe chạy về miệt Hậu Giang đều dừng lại tại đây dăm phút, nửa tiếng trước khi tiếp tục lộ trình miền dưới. Ở đây, các quán cơm nằm san sát, mỗi quán có một vẻ quyến rũ mời mọc riêng đối với khách đường xa. Từng con heo quay da vàng ngậy được treo lủng lẳng trước cửa quán, cạnh bên là những hũ dưa chua, những lọ tỏi ngâm giấm sắp bày la liệt. Rồi lại cơm, lại cháo, cá nướng, chim quay... món nào cũng có, món nào trông cũng hấp dẫn đẹp mắt cốt sao cho khách vừa lòng.

Tuy nhiên, đến tại ngã ba Trung Lương mà không mua mận Trung Lương là một điều rất thiếu sót. Những quả mận Hồng Đào mặt ngoài mơn mởn có những lằn gân đỏ chạy dọc từ cuống xuống, được trưng bày trong những chiếc thúng đan bằng tre, bên dưới lót lá chuối. Màu xanh của lá lấp ló chung quanh màu hồng của mận, gợi nên một sự hòa hợp dịu dàng dễ làm xiêu lòng khách. Mận Hồng Đào có loại đặc ruột, có loại bộng ruột. Nhưng dù đặc hay bộng thì mận Hồng Đào vẫn nổi tiếng ngọt lịm và dòn rụm. Đi đường xa mệt mỏi, thêm những hôm trời nắng ráo, ghé Trung Lương cắn một quả mận Hồng Đào cầm bằng như được uống một ly nước dừa mát rượi. Ngoài ra còn có loại mận da người xam xám, xanh xanh, mùi vị chua chua, chát chát. Loại mận này mà chấm với nước mắm đường, hoặc với mắm ruốc dằm ớt bột thì phải kể là tuyệt!

Trong bến Tân Thạch, đoàn dừng rạp ngay trên một bãi đất trống, chung quanh là những bụi tre um tùm rậm rạp. Cứ mỗi cơn gió tạt ngang, những bụi tre đong đưa qua lại tạo nên một thứ âm thanh man mác rười rượi, như  tiếng ru của mẹ hiền ngày thơ trên các câu ca da buồn bã:

“Ầu ơ, gió đưa bụi chuối sau hè

Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ...”

Tôi và hai người bạn nữa trú lại trong căn nhà lá của một bà già gần 70 tuổi được chúng tôi gọi là dì Bảy. Chiến tranh đã làm dì mất đi hai người con trai lớn. Còn   cô con gái út lấy chồng xa, mãi dưới miệt Tân Châu, ít có dịp về thăm quê cũ. Vì vậy, ngày ngày dì chỉ thui thủi với đàn gà, luống rau trồng sau chái lá. Những khi có đoàn hát về ngang Tân Thạch là dì Bảy vui hẳn lên, dì nói vậy, bởi vì lại có thêm người ở chung trong nhà, cho dù chỉ là dăm bữa...

Từ khi còn bé, tôi đã nghe yêu đặc biệt dáng dấp và khuôn mặt của một bà già không quen biết. Lớn lên chút nữa, tình cảm này biến dạng theo khuôn mặt của bà ngoại tôi, của mẹ tôi và của rất nhiều bà già Việt Nam khác trong đời tôi đã gặp. Đó là bà già bán rượu đế vẫn đi ngang nhà tôi mỗi ngày, lúc mười một giờ ba mươi phút. Một bà cụ yếu gầy, dáng dấp mỏng manh.

“Rượu đế đây, rượu đế Hốc Môn đây!” qua giọng rao của bà đã làm tôi xúc động ngay từ lần đầu thấy bà đi qua cửa sổ. Sự xúc động này, tôi nghĩ, phát sinh từ nỗi so sánh trong cái đầu trẻ thơ hồi ấy. Chị bán hàng chè đậu xanh, thím bán tàu hủ hay ông lão bán mía hấp, ai đi qua xóm tôi cũng đều cất tiếng rao lanh lảnh. Chỉ bà bán rượu là không. Giọng bà khàn quá, nhỏ nhẹ quá. Mắt bà lại lòa nữa, một tay cầm cây gậy dò đường, một tay xách cái tĩn dựng rượu. Dạo ấy, mới 7 tuổi mà tôi đã biết rằng rượu là thứ không phải để dành cho con nít. Vì vậy, tôi vẫn tiếc thầm sao bà lại không bán chè bán xôi để tôi có dịp mua, có dịp cùng bà làm quen.

Trong mắt tôi, bà bán rượu đế rõ ràng là một người già lão. Da mặt bà nhăn nheo, đôi mắt chết, nhưng khuôn nét thì rất hiền lành, tội nghiệp. Có một lần, dừng lại chuyện trò với mẹ tôi nơi đầu ngõ, bà kể rằng đã từ dưới tận Long Xuyên, tản cư lên Hốc Môn với ba người con  trai nhỏ. Rồi ba người con lớn lên, đi lính, chết cả. Còn lại một mình, bà lấy rượu từ các lò rượu lậu ở Hốc Môn, đi bộ khắp hang cùng ngõ hẻm rao bán, làm kế sinh nhai.

Hai năm trôi đi, bà vẫn cứ đún g 11 giờ rưỡi trưa đi qua xóm tôi với giọng rao “Rượu đế đây, rượu đế Hốc Môn đây!”  nghe thật xa vời uẩn. Lưng bà còng hơn một chút, cái tỉn đựng rượu trong tay hình như   nặng hơn đối với bà. Còn tôi, như một thói quen thân ái, cứ đúng 11 giờ rưỡi trưa là tôi lại ngó mông ra ngoài cửa sổ. Tôi kiên nhẫn chờ bà đi qua, như chờ một điều bí mật nào mà tôi tìm hiểu hoài vẫn không ra.

Thêm một năm nữa. Bà vẫn đi qua xóm tôi lúc 11 giờ rưỡi trưa, nhưng bây giờ không còn bán rượu đế, mà lại biến hình thành một người hành khất. Bà đã gầy yếu lắm rồi, đôi mắt mù hẳn, nên có lẽ vì vậy mà chẳng ai cung cấp rượu cho bà? Giờ đây, đôi tay bà nhẹ tênh khi chỉ còn phất phơ một cây gậy trúc. Và giọng rao “Rượu đế đây, rượu đế Hốc Môn đây!” ngày nào, bây giờ đổi thành câu van lơn “Ông đi qua, bà đi lại, cho tôi xin chén cơm đỡ lòng!” nghe buồn như khóc.

[]

Verviers (Belgique). Tôi đáp xe lửa từ Liège đi Verviers để tìm lại hơi hướm kỷ niệm xưa. Bốn năm trước, sau khi rời Việt Nam, Verviers là thành phố đầu tiên tôi cư ngụ. Thời gian một tháng ấy vẫn còn đau buồn quá trong trí nhớ. Một giấc mơ dữ mà khi tỉnh dậy, tôi vẫn mãi thấy lòng buồn bã bâng khuâng.

Tôi không quên được cái lúc ngồi trên phi trường Amsterdam, Hòa Lan, để chờ chuyến bay qua Bỉ, mới 8 giờ rưỡi sáng mà tưởng như buổi chiều sắp tắt. Lần đầu tiên, tôi mới có một chút ý niệm về thời gian và không gian ở Âu Châu. Tâm trí lúc bấy giờ chỉ là quay cuồng nhớ thương ánh nắng chan hòa của vùng quê hương biền biệt. Ôi! Quê hương giờ đây nghìn trùng xa cách, đã vĩnh viễn mất đi trong mắt nhìn.

Và rồi tôi đến Verviers. Thành phố buồn tênh ấy đã chứng kiến không biết bao lần tôi mất ngủ, bao đêm trở giấc, tôi bật dậy vội vàng. Những giòng tâm sự tuôn tràn ra trên giấy. Những giòng đau khổ về một vùng trời phương Đông xa xôi bên kia trái đất, nơi tôi đã chào đời, đã sống và lớn lên với muôn vàn kỷ niệm thiết tha...

Bốn năm sau trở về chốn cũ, đứng trên dốc cao nhìn xuống ngôi nhà tôi đã giấu nỗi u hoài của mình thời gian thứ nhất, lòng sao thật ngậm ngùi ray rức. Cái gì rồi cũng bị xóa mờ theo năm tháng. Vậy mà nỗi đau của bốn năm trước, thời gian sao chẳng giúp nguôi ngoai? Nỗi đau vẫn cón ắp đầy trong tâm thức. Và tôi vẫn nhớ, vẫn thương, vẫn khóc thầm theo vùng nắng ấm chan hòa của quê hương trong mọi giấc mơ mình... Mãi mãi...

Cuối tháng 12/1978, hát Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

Tiền Giang là tỉnh thứ hai của vùng đồng bằng sông Cửu Long, bắc giáp tỉnh Long An thuộc khu vực sông Vàm Cỏ; tây giáp tỉnh Đồng Tháp; đông tiếp giáp với cửa Soài Rạp và biển Nam Hải; cả mặt nam là sông Tiền, bên kia bờ là tỉnh Bến Tre. Kể từ sau 1975, tỉnh Tiền Giang gồm hai tỉnh Gò Công và Mỹ Tho cũ gom chung lại.

Từ Tân Thạch, đoàn trở ngược qua phà Rạch Miễu để dừng bến tại Cái Bè, một trong sáu huyện của tỉnh Tiền Giang. Sân khấu lộ thiên được dựng tại sân banh.

Trong đoàn hát, nhiệm vụ của tổ Tân Nhạc là hòa tấu các bài bản tân nhạc trong 15 phút trước khi mở màn và trong các lúc đổi màn. Ngoài ra là đệm nhạc tuồng. Phần đệm nhạc này không nhất thiết cả bảy người cùng có mặt. Tùy theo đoạn tuồng hay sự biểu lộ tình cảm của nhân vật mà một hay hai nhạc khí tấu lên một câu ngắn để phụ họa cho hợp tình hợp cảnh lúc đó. Vì thế, so với tổ Cổ Nhạc phải ngồi suốt từ đầu đến cuối để đệm theo các điệu ca của diễn viên, tổ Tân Nhạc tương đối nhàn hơn.

Đêm hát Cái Bè, khán giả ngồi chồm hổm phía sau giàn Tân, Cổ Nhạc nhìn lên sân khấu. Trời tháng Giêng dương lịch đã nhuốm lạnh, báo hiệu sự sắp trở về của mùa Tết Nguyên Đán. Trong màn I của vở Phụng Nghi Đình, có một đoạn, cô đào Út Bạch Lan sắm vai Vương Doãn (1) đã gào lên hai chữ “Điêu Thuyền” thật lớn. Tiếng gào nghe sao bi thiết, diễn tả nên không biết bao nhiêu nỗi ưu tư của một vị trung thần trước thế cuộc đảo điên thời ấy... Lập tức, cả tâm hồn tôi rúng động. Chỉ trong một giây, tôi “cảm” được cái đẹp lạ lùng của nghệ thuật Cải Lương.

Không phải bây giờ, mà đã từ 13 năm trước, tôi và giới Cải Lương đã từng có cơ duyên tao ngộ. Là bạn  thân cùng lớp trong trường Quốc Gia Âm Nhạc Sàigòn với cô con gái thứ nhì của soạn giả Năm Châu và nữ nghệ sĩ Kim Cúc, tôi được cô bạn nhờ chơi nhạc đệm trong vở hát Sân Khấu Về Khuya của ông Năm Châu thời gian ra mắt đầu tiên. Đây là một vở tuồng xã hội nên phần nhạc đệm được trích ra từ các đoản khúc cổ điển Tây Phương có âm điệu buồn áo não. Tuy nhiên, ý niệm về loại nhạc đệm trong một tuồng Cải Lương từ dạo ấy đã có trong tôi.

13 năm xưa, với tôi, Cải Lương là một thế giới vô cùng xa lạ. Dẫu rằng trong suốt ba tháng trình diễn vở Sân Khấu Về Khuya tại các rạp Sàigòn, tôi vẫn  đến chơi nhạc mỗi tối, vẫn có dịp chuyện trò cùng các đào kép trong đoàn Thanh Minh, vẫn  được cô đào Thanh Nga lừng danh tên tuổi gọi là “cưng” như đã gọi cô bạn, vẫn được soạn giả Năm Châu và anh kép Thành Được đưa về mỗi khuya sau khi tan hát; nhưng thật sự vẫn có một cái hố không tên nằm chắn trrong óc để tôi nghĩ rằng không bao giờ tôi và họ có thể đến gần nhau được.

13 năm sau, tôi lại có dịp gặp các khuôn mặt xưa, thêm những khuôn mặt mới, trong cùng một môi trường sống. Nếp nghĩ của tôi đã sai bởi vì ngày nay trong tôi thật đã có một thay đổi lớn. Tôi ưa thích các vở hát Cải Lương. Tôi thân cận gần gũi hơn với các con người Cải Lương. Tôi say mê cái đời giang hồ đây đó. Trên hết, tiếng gào bi thiết của nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan trong đêm hát Cái Bè vẫn suốt đời còn vang dội trong ký ức tôi.

[]

Bruxelles (Belgique). Đọc trong tác phẩm Jean Christophe của Romain Rolland (*) những vần thơ hay quá:

... Vì có những lúc anh yêu em

Em cảm ơn anh

Và em ước mong rằng ở nơi khác

Anh sẽ được sung sướng hơn...

(... Fur die zeit wondu g’liebt mi hast

Da dank’i dir schon

Undi wunschi dass dir’s anderwo

Bener mag geh’n...)

Tháng 1/1979, hát Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Cai Lậy là một vùng tương đối trù phú thuộc tỉnh Tiền Giang, một ngả ba nằm trên Quốc lộ 4, rẽ mặt vào Mộc Hóa (LongAn), rẽ trái sẽ vào Ba Dừa (Cai Lậy). Khi   gần đến chợ có một tòa thánh thất Cao Đài kiến trúc rất đẹp, cũng nằm trên Quốc lộ 4.

Đoàn dựng rạp tại chợ Phú Kiết thuộc huyện Cai Lậy. Nơi đây, hơn một trăm năm trước, vào ngày rằm tháng 4 năm Ất Hợi (1875), ông Thủ Khoa Huân, vị anh hùng lãnh đạo phong trào kháng chiến chống Pháp nổi lên ở vùng Cai Lậy, đã bị giặc hành quyết.

...

Tháng đầu năm mới, tôi thường bắt gặp nhiều hơn những mối buồn sâu xa trong hồn mình. Mỗi chiều trước giờ hát, ngồi trong một quán cà-phê nhỏ bên cạnh rạp với người bạn chơi trompette, nhìn những chiếc lá vàng bay là đà trong gió, mối buồn này càng lan rộng ra thêm. Ngọn gió tháng Chạp gần Tết nơi một huyện lỵ xa xôi như có mãnh lực bóp xiết trái tim trong biết bao niềm nghĩ ngợi. Tôi nghĩ đến những người bạn đã chết, những người bạn đã vượt biên ra đi và những người bạn đang còn trong các trại tù Cộng Sản..., rồi lại nghĩ đến mình, một note nhạc điếc, ù lì, câm lặng!

Đôi lúc tự nhủ “Phải làm một cái gì!”, nhưng rồi chẳng biết làm gì. Cứ mỗi chuyến lưu diễn trở về lại hay là mất thêm một người bạn nữa. Chân  trrời xa xăm nào đã cuốn lôi bước chân họ? Hay ngọn sóng nào trên biển Nam Hải vẫn còn ngàn đời ru giấc ngủ bạn tôi? Không thể biết được. Chỉ biết rằng tôi đã nghe thật buồn, trái tim như bị đục thêm một lỗ nhỏ khi nhận tin một người bạn nào đó rời xa vùng quê hương yêu dấu. Có khi tự hỏi lòng “Tôi có muốn ra đi hay không?” Thì câu trả lời vẽ hình ngay nỗi cô đơn trên xứ người làm tôi sợ hãi. Hình ảnh một người đàn bà Việt Nam mỏng manh mặc áo dạ, quấn khăn choàng, bước đi trong làn tuyết dày đặc một mùa đông nào đó nơi vùng Bắc Âu, Tây Âu làm tôi ái ngại. Vậy mà tại sao tôi lại buồn khi biết được bạn bè ra đi gần hết?

Ngẫm cho cùng, suy nghĩ cho rốt ráo, tôi hiểu được nỗi mâu thuẫn của mình. Quê hương biểu tượng là bà mẹ già đau khổ và những người Cộng Sản giống như người anh em độc ác của tôi. Sự độc ác đẩy tôi đến chỗ kháng cự và muốn xa lánh. Nhưng giọt nước mắt của mẹ già cũng khiến tôi chùng lòng không ít. Mối mâu thuẫn cứ vậy mà vò xé trái tim triền miên trong những đêm mất ngủ. Và rồi tình cảm nào sẽ thắng? Đó là điều tôi chưa thể biết được trong hiện tại hôm nay.

[]

Thư  viết cho Hạnh.

Bruxelles. Hạnh thương nhớ,

Lâu lắm rồi em mới viết về cho Hạnh, xin Hạnh đừng buồn. Bấy lâu, tâm hồn em ủ rủ quá, tưởng chừng không còn hơi sức để trổi dậy. Vì thế, thư  từ cho bạn bè Việt Nam, em cũng không viết nữa. Con người em không bạc, và trong tim, bản chất phụ phàng không có vị trí. Em vẫn nhớ đến Hạnh, đến tất cả những liên quan cũ trong hơn ba mươi năm sống. Và, những nỗi nhớ này, em chôn giấu xuống tận đáy tim riêng.

Giai đoạn bốn năm qua, em thất bại trên nhiều mặt của đời sống. Tuy nhiên em vẫn không cho phép mình gục ngã. Em quan niệm, cuộc sống giống như cái bánh xe khổng lồ quay mãi không ngừng, và con người là những sinh vật bị cuốn theo dòng quay ấy. Nếu dừng lại chỉ một giây thôi, con người tức thì sẽ bị nghiền nát. Vì thế, em phải trổi dậy bằng tất cả hơi sức. Và, trong sự trổi dậy ấy, em vẫn dành một góc tâm hồn cho kỷ niệm cũ càng ba mươi năm. Em khổ, một phần là do em đã trân trọng kỷ niệm nhiều quá? Nhưng em bằng lòng điều ấy, bởi, đó là tất cả những gì trong cuộc đời, em chưa mất.

Hạnh ạ,

Trong lá thư vừa rồi, em rất thích tư tưởng “an phận” của Hạnh. Suốt đời, em không làm được điều “an phận” nên rất ngưỡng mộ sự an phận của bất cứ ai. Suốt đời, em chỉ là kẻ lội ngược dòng sông, hễ cứ trồi lên lại bị đẩy cho tụt xuống. Giờ đây, có lúc nào nhìn một người để cho con nước cuốn xuôi, cũng là một điều thích thú. Nhất nữa người ấy có liên hệ với mình, mình đỡ bận tâm hơn về họ.

Hạnh thương nhớ,

Em rất buồn khi biết được nỗi tan vỡ trong đời sống Hạnh mà không chia xẻ cụ thể được. Dẫu vậy, em vẫn an lòng bởi biết rằng trong trái tim bạn mình đã cưu mang cả một nghị lực mạnh mẽ. Hạnh là một nghệ sĩ thì sự đau khổ càng điểm tô thêm cho nghệ thuật, chứ không là hủy diệt. Vả lại, việc gì cũng phải có lúc kết thúc của nó. Khác chăng, trong nỗi cuối cùng ấy, con người có còn giữ được ấn tượng, kỷ niệm đẹp về nhau hay không mà thôi. Em nghĩ vậy, Hạnh ạ.

Cho em hôn bé Thương Thương.

Thân ái.

Tháng 1/1979. Từ Cai Lậy, đoàn di chuyển qua Long Định về hướng ngã ba Trung Lương, cũng thuộc tỉnh Tiền Giang.

Long Định là một huyện lỵ khô khan. Phố xá chỉ là hai dãy nhà nằm hai bên đường Quốc lộ 4. Đoàn dựng rạp trên một bãi ruộng hoang nằm sát đường quốc lộ. Nơi đây xa nhà dân nên việc ăn ở của nhân viên đoàn qui tụ lại trong cùng một vị trí rộng. Mọi người chia nhau theo từng nhóm từng tổ, dựng chỗ ngủ ngay trên mặt đất quanh sân khấu.

Đêm đang độ mùa trăng. Sau giờ hát lúc nửa khuya, bãi ruộng hoang sáng lên một màu ngà huyền hoặc. Cái sàn gỗ dùng làm sân khấu đứng trơ vơ với những tấm màn nhung lộng gió bay phất phới chính là bộ mặt thật của đời nghệ sĩ. Đó đây vang rền tiếng ễnh ương, ếch nhái. Từng nhóm người quay quanh các chiếu rượu riêng biệt. Những cái mùng giăng ra mỗi nơi một chiếc, tạo nên một không khí ấm áp lạ lùng.

Cái xã hội nhỏ này, càng ngaỳ tôi càng nghe thân thiết; trong đó, đa số con người sống bình dị với không một ước mơ nào khác ngoài sự cầu mong cho đêm hát có thật nhiều khán giả. Mộng bình thường chỉ là như vậy, cạnh bên vài thú tiêu khiển khiêm nhườn g, đơn sơ.

Gần như tôi chưa hề nghe ai trong đoàn hát nói lên ý muốn bỏ quê hương ra đi. Không phải vì sự tốn kém làm cho họ không dám nghĩ đến, mà đúng hơn là họ không màng tới điều ấy. Với những diễn viên lớn, tôi ít chuyện trò giao thiệp. Nhưng với tất cả các anh em công nhân, tôi đều tiếp xúc. Vẫn nghe họ thở than về giá sinh hoạt đắt đỏ, về chuyện vợ yếu con đau. Và họ có buồn có tỏ ra ưu tư, nhưng chỉ một đêm hát đầy nghẹt khán giả là những nỗi ưu tư này biến tan đi gần hết!

[]

Anvers (Belgique). Một câu của Goethe (*) đọc được trong một tác phẩm của Thomas Mann (**): “Không có lối nào thoát khỏi đời sống một cách chắc chắn cho bằng đi qua nghệ thuật. Và cũng không có lối nào dẫn vào đời sống một cách chắc chắn hơn bằng đi qua nghệ thuật.”

Tháng 1/1979, hát Vĩnh Kim, còn gọi là Chợ Giữa, thuộc huyện Long Định, tỉnh Tiền Giang.

Năm ngày ở Vĩnh Kim thật là êm ái. Gần hai phần ba nhân viên đoàn trú lại trong một ngôi trại, ngày xưa thuộc quân đội Việt Nam Cộng Hòa, ngày nay thuộc bộ đội Cộng Sản. Mỗi người lấy hai cái băng ghế dài đâu lại cạnh nhau thành một chỗ ngủ. Đêm đêm tan hát, những cái băng xếp hàng song song này lại biến thành “nơi họp chợ” ồn ào, có khi kéo dài tới sáng. Sau lưng trại còn có con lạch chảy ngang, chúng tôi thường đến đó tắm rửa, giặt giũ. Con đường đất len giữa các bụi tre, dẫn ra nơi dựng rạp, êm đềm, mát rượi như các con đường trong truyện thần tiên.

Buổi sáng trong năm ngày lưu lại đây, tôi thường đến ngồi bên bờ sông thật sớm. Có một thứ xúc cảm lạ kỳ lan khắp châu thân. Một nỗi êm đềm bò lên từng sớ thịt. Chung quanh tôi, tiếng tre rì rào các mẩu chuyện ngàn đời không dứt. Dưới làn nước trong vắt, từng đàn cá đủ màu, nô giỡn lăn lăn.

Rồi lại buổi chiều ngồi trước rạp uống ly cà-phê, nhìn những người dân quê hiền hòa qua lại, bên tai vang lên một bài ca Vọng Cổ từ chiếc máy phóng thanh gắn trên cột điện, tôi đã không ngờ chiến tranh có lần đi đến tận đây. Nơi đây êm đềm, nên thơ quá! Vậy mà nơi đây cũng đã có một xã nhỏ tên gọi Thuộc Nhiêu, chiến trranh đã giết đi gần hết những người đàn ông, trai tráng trong xã. Còn lại chỉ là trẻ thơ và phụ nữ, năm tháng mỏi mòn chiếc bóng cô đơn.

Năm ngày ở Vĩnh Kim là vậy. Trái tim thì dạt dào cảm xúc nhưng đôi mắt lại không đủ rộng để thu cho hết biết bao cảnh sắc dịu dàng của Vĩnh Kim.

[] 


(1) Viên quan tư đồ nhà Hán, năm 191 sau công nguyên, người đã mượn tay một thị nữ tên Điêu Thuyền, dùng kế mỹ nhân tiêu diệt tên loạn thần Đổng Trác. 

 (*) Romain Rolland, nhà văn Pháp (1866-1944). Jean Christophe là một truyện dài 10 tập, được viết từ năm 1904 đến 1912.

 (*) Johann Wolfgang Von Goethe, đại văn hào Đức (1749-1832)

(**)Thomas Mann, nhà văn Đức (1875-1955)

 

     


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com