1104-logo.gif (2163 bytes)
 

posted: 1.11.04

1104-perdu.gif (28339 bytes)

I.

Từ tỉnh lỵ Combray hiền lành nhỏ bé, nằm trong thung lũng Loire miền tây nam nước Pháp, có hai con đường bắt đầu trên hai hướng hoàn toàn khác nhau. Trên một con đường, khách bộ hành sẽ phải xuyên qua cánh đồng và những hàng táo gai nặng trĩu, được rào giậu cẩn thận, đổ về hướng Me -seglise; rồi lại phải băng qua công viên Tansonville có căn nhà của Monsieur Charles Swann, một người trưởng giả giàu có, thành công với nghề buôn trái phiếu, đang sống với vợ và cô con gái tên Gilberte. Vì thế, con đường bách bộ này được gọi là con đường Meseglise hay con đường Monsieur Swann. Dân ở Combray không biết đến điều rằng Monsieur Swann là một người thời thượng có khiếu thẩm mỹ cao, có liên quan với xã hội thượng lưu Paris trong những năm thay đổi vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 thời Đệ Tam Đế Chế. Ông cũng từng là người yêu rất nồng thắm của một tiểu thư sang cả tên Odette, bây giờ là vợ ông. Do đó, con ngõ Monsieur Swann sẽ dẫn ra khỏi Combray, để đưa tới Paris với cái thế giới Do Thái trưởng giả của nó, nơi đã từng bị chấn động bởi những khuynh hướng chính trị chung quanh vụ án nổi tiếng của Dreyfus.

(Alfred Dreyfus (1855-1953), sĩ quan kỵ binh Pháp, con trai của một nhà công nghiệp người xứ Alsace gốc Do Thái. Tốt nghiệp Đại Học Bách Khoa Paris, ông vào quân đội và được thăng lên tới thiếu tá. Tháng 10/1894, cục tình báo Pháp tìm thấy trong cái giỏ giấy của viên sứ quán lục quân Đức ở Paris, tên Schwartzkoppen, một phong thư nặc danh, trong có bảng danh sách liệt kê những tài liệu mật về quốc phòng. Dreyfus, một sĩ quan gốc Do Thái, bị cáo buộc là kẻ đã cung cấp những tài liệu mật ấy, lấy cớ rằng chữ viết tay trên bảng danh sách và chữ viết của riêng Dreyfus đã có những điểm giống nhau. Dẫu không nhận, nhưng Dreyfus vẫn bị khép vào tội dọ thám cho địch và bị trục xuất khỏi quân đội, lưu đày tới đảo Diable trong vùng Guyane.

Tin chắc rằng Dreyfus vô tội, em trai ông, Mathieu Dreyfus cùng với sự tiếp tay của ký giả Bernard Lazare, cố gắng chứng minh rằng những lời buộc tội chỉ là vu cáo theo chiều hướng bài Do Thái của những kẻ đố kỵ với anh mình, nhưng không thành công.

Ngày 13/1/1898, Emile Zola xuất bản trong tờ l’Aurore một lá thư bộc bạch, gửi lên tổng thống Cộng Hòa tựa đề “l’ Accuse” (Người Bị Kết Án), tấn công mạnh mẽ viên thiếu tá Esterhazy, kẻ đã cáo buộc Dreyfus mà không nêu rõ bằng chứng. Thế là sự việc trở nên lan rộng với tính cách chính trị. Bài báo của Zola đã tạo nên một tiếng vang lớn, dữ dội đến nỗi làm phẫn nộ quần chúng, tạo thành những cuộc bạo động (tháng 2/1898). Có hai luồng ý kiến bênh và chống Dreyfus nổi lên. Phía thứ nhất kêu gọi nhân quyền, tự do cá nhân, sự thật và công lý, đại diện cánh tả. Phía thứ hai đặt để trên hết là sự lợi ích quốc gia, danh dự quân đội.

Nhân lá đơn xin tái xử đã gửi đi ngày 5/7/1898  của gia đình Dreyfus, vị tổng trưởng chiến tranh mới tên Godefroy Cavaignac bèn đòi hỏi một sự giám định lại bản tài liệu mật, nguyên nhân của sự kết án và lưu đày Dreyfus. Vào tháng 8/1898, người ta khám phá ra rằng những tài liệu kia chỉ là giả tạo được sáng chế bởi trung tá Henry, người đã tự tử sau đó không lâu tại núi Valérien.

Tháng 9/1899, trong cuộc tái xử bởi hội đồng chiến tranh ở Rennes, tội trạng Dreyfus được giảm khinh thành 10 năm cấm cố. Sau đó ít lâu, ông được xá miễn, trả lại tự do, nhưng bản án vẫn không xóa. Mãi cho đến ngày 12/7/1906, trong phiên tòa phá án họp tại Rennes, dưới quyền xét xử của tổng trưởng Waldeck Rousseau, Dreyfus mới được trắng án và cho phục hồi danh dự cùng địa vị vào tháng 7/1906. Trở lại quân đội, ông được tưởng thưởng huân chương Bắc Đẩu bột tinh và thăng cấp đội trưởng đội kỵ binh. Ông kết thúc cuộc đời binh nghiệp của mình với chức vụ Trung tá trong cuộc Thế Chiến I.  (Chú thích của TTBG).

Đó cũng là con đường dẫn tới đời sống văn chương nghệ thuật, những dạ tiệc âm nhạc của giới cao sang, nơi đó, người đàn ông giao thiệp rộng tên Charles Swann sẽ được thâu nhận. Nhưng con đường nhà Monsieur Swann cũng dẫn vào bên trong một thế giới tâm lý của những ước mơ tình ái, khiếu thưởng ngoạn mỹ thuật, chỗ nương tựa cho tình cảm và nhu cầu tinh thần.

Còn con đường kia dọc theo bờ sông tới tòa lâu đài của Công tước Guermantes, thuộc một trong những gia tộc quý phái và có uy quyền nhất ở Pháp, hậu duệ của Geneviève de Bra- bant, nhân vật đã trở thành huyền thoại. Đây là ngõ nhà Guermantes. Con đường này cũng đưa ra Paris và vùng Faubourg St-Germain thanh lịch. Nữ Công tước de Guermantes ít khi thấy xuất hiện tại Combray; những nhân dáng khác lại càng hiếm hoi hơn nữa. Ông bà công tước là những người thuộc hàng cao nhất trong giới thượng lưu. Con ngõ Guermantes này do đó dẫn ngược lên tới những phạm vi huyền diệu của sự giàu có, quyền thế, và địa vị. Tuy nhiên, bên dưới cái vẻ rực rỡ ấy cũng còn có những vấn đề riêng mà những người sống trong đó phải đối diện, báo hiệu cho thấy sự suy sụp chẳng những của một gia tộc mà còn của chung một xã hội vương giả. Một người họ hàng của bà Công tước là Nam tước de Charlus, một nhân vật đồi trụy với cái sở thích đồng tình luyến ái. Người cháu là chàng Robert de Saint-Loup đẹp trai, có số phận sẽ cưới cô Gilberte Swann làm vợ, về sau bị giết chết trên chiến trường của cuộc Thế Chiến I, điều đã làm sợ hãi và suy yếu giới quý tộc thời ấy trên toàn thể Âu Châu.

Hai con đường này từ đó đại diện cho những điều rất khác biệt trên đủ mọi lãnh vực giữa hai lớp người: quý tộc truyền đời và trưởng giả mới. Những quyền thế, địa vị từng được cầm giữ bởi giới quý tộc thì đang bị xâm nhập bởi giới trưởng giả. Nhưng dẫu khác biệt, cả hai phía đều thực sự có chung một kết thúc. Một thời đại rực rỡ bị chấm dứt với cuộc Cách Mạng tháng 2/1848, và toàn thể xã hội thượng lưu hay trưởng giả mới đều sẽ thay đổi, từ phong tục tập quán cho đến nghệ thuật văn chương (như cái đám cưới của Robert và Gilberte mai sau, như người kể chuyện về hai con đường này và như cả cuộc sống của các phần tử chung sẽ được nói đến.)

Con người lần theo hai con đường –đầu tiên như một cuộc dạo chơi ngày Chủ nhật, và rồi như hai lối sống trên chính cuộc đời riêng– là nhân vật kể chuyện của một trong những cuốn tiểu thuyết vĩ đại nhất của giới văn chương tiền bán thế kỷ 20, A la Recherche du Temps perdu (Đi Tìm Thời Gian Đã Mất) của Marcel Proust. Cái ý tưởng về thời gian, về sự tìm kiếm, hay tìm kiếm lại là chủ đề cốt tủy của tác phẩm, bởi vì cuốn tiểu thuyết hiển nhiên là một câu chuyện về thời gian đã mất –và mất trong hai cách: 1/ Mất, vì nó đã trôi qua; cao điểm của nó đã tan biến, giống như hình ảnh một người tình lướt đi trong quá khứ và người ở lại không thể nào còn chụp bắt được cái xúc cảm mãnh liệt của tình yêu. 2/ Mất, vì nó từng đã bị lãng phí hay để lỡ cơ hội theo những phù phiếm, những đeo đuổi vô ích trong thời điểm   thuở trước.

Tác phẩm --trong đó, toàn thể một xã hội được trình bày rất sống động-- thì không có cốt chuyện thực sự và những dữ kiện cũng không được cấu kết liên tục mạch lạc, nhưng nó vẫn có một chủ đề chính. Người kể cho chúng ta nghe câu chuyện về một cuộc hành trình kiếm tìm Thời Gian đã mất từ trong thế giới kỳ diệu của tuổi thơ bằng cái nhìn của một người lớn trên “hai con đường” đầy những biến cố, ký ức này thì không có tên, nhưng về sau, anh ta bảo độc giả hãy cứ gọi mình là Marcel, dù rằng đó không phải tên thật của anh ta. Anh ta có họ gần với Marcel Proust, mà không phải là chính Proust. Anh ta là một người trung niên có học thức, sống trong một thời đại của những cỗ xe ngựa, những ngọn đèn dầu, những cây nến. Câu chuyện của anh ta là một câu chuyện về sự mất mát. Trong khi kể, anh ta nhớ lại những dữ kiện, con người, những căn phòng trong đó anh ta từng ngủ, nhớ lại chính mình khi còn là một đứa trẻ, nhớ lại bà ngoại và Madame de Saint-Loup cùng những nơi chốn –Combray, Balbec, Doncieres, Venice, Tansonville. Giọng nói khàn khàn xuất phát từ sự bệnh hoạn và tính trầm tư vang lên trong đêm tối để rồi những gì thuộc về nội tâm và ngoại tại sẽ biến mất cả đi theo những lời kể của anh ta.

Đó cũng là một câu chuyện về một cuộc đời được tìm kiếm lại, xem xét lại và sống trở lại. Cái sân khấu âm u của ký ức bắt đầu được xếp đặt. Những chiều không gian sẽ hiện ra và hòa hợp chung trong cùng một thế giới. Giữa những lời kể ngắt quãng và mông lung, từng mỗi biến cố luôn luôn đứng ngoài, riêng biệt và rõ rệt trong trí não người kể chuyện. Một cuộc đời đã lướt trôi và biến mất theo Thời Gian, giờ đang được tìm kiếm lại. Cuộc đời đó bắt nguồn ở Combray, nơi chốn trong sạch của những mùa hè tuổi thơ tại nhà bà cô Leonie của Marcel –nơi có những chùm chuông cửa rung lên mỗi lần khách đến, có giọng nói của Monsieur Swann loan báo về những cuộc dạo chơi ngày Chủ nhật dọc theo hai con đường, và giọng nói ấy đã khởi đầu cho một âm vang ngân lên trong suốt chuỗi thời gian còn lại trong ngày. Cái âm vang sở dĩ được gọi rằng khởi đầu là bởi vì cuộc viếng thăm của Monsieur Swann sẽ tước đoạt đi của người kể chuyện những ân cần từ người mẹ, nói lên nỗi đau khổ trong chính cậu bé Marcel theo sự thiếu thốn một cái hôn giã từ của mẹ trước lúc vào giường ban đêm.

Ngay từ khởi đầu, nhu cầu nương tựa tình cảm và cái thần kinh suy nhược của cậu bé đã là hai yếu tố quyết định tạo thành cho câu chuyện một giá trị sâu sắc về sự phân tích tâm lý và sự truy lùng vào bên trong vô thức, đồng thời làm bén nhậy ý thức cần thiết và thiên hướng nghệ thuật của Marcel về sau. Cách cấu tạo, cái chiều sâu, cường độ dẫn đến sự giải quyết của tác phẩm cũng khởi đi từ đó. Marcel đã đặt bước trên hai “con đường”, một con đường của đời sống với những phức tạp của xã hội thượng lưu suốt qua nghệ thuật và sự phù phiếm, tình yêu và sự đua đòi; và một con đường tìm về quá khứ nội tâm để truy lùng chính bản ngã của anh ta.

Khởi sự viết cuốn sách thật phong phú vào năm 1909 bằng cách đi theo con đường của Monsieur Swann, Proust chủ ý chia nó thành ba tập. Tập một –Du côté de chez Swann (Con ngõ nhà Monsieur Swann)– đã được xuất bản bằng tiền túi riêng vào năm 1913.

[1913 cũng là năm quyết định của giới văn chương Pháp tiền bán thế kỷ 20: André Gide với Les Caves du Vatican, Alain Fournier với Le Grand Meaulnes và Valéry Larbaud với Barnabooth đã bẽ gãy truyền thống cũ của nền tiểu thuyết Pháp. Tập thơ Alcools của Apolli -naire cho thấy thi ca cũng tiến về trên một con đường mới. Nhưng không ai trong giới văn chương thời ấy có thể nghĩ rằng Marcel Proust lại sẽ là một trong những nhà văn lớn của thời đại. Ngay cả tờ báo tiên tiến Nouvelle Revue Francaise chuyên tìm tòi và giới thiệu những tài năng mới, cũng không chấp nhận in tác phẩm của ông.]

Tập kế tiếp, le Côté de Guermantes (Con đường nhà Guermantes), đã cho sắp chữ đâu vào đấy thì cuộc Thế Chiến I đưa tới, làm hoãn lại sự xuất bản. Tuy nhiên điều tạm hoãn này đã có lợi cho Proust bởi ông sẽ có đủ thì giờ để sắp xếp hoàn hảo cho toàn thể tác phẩm. Từ bản nguyên gốc gồm nửa triệu chữ, nhà văn đã kéo dài nó tới gấp ba lần thành con số khoảng hơn một triệu hai trăm năm chục ngàn!

Đó là một trong những biến đổi lớn của tư tưởng văn chương cuối thế kỷ 19, và được xét đoán là đáng giá hơn cái tác động của chiến tranh trong Ngọn Núi Kỳ Diệu của Thomas Mann. Đối kháng lại với cái thế giới đầy hoa hồng của một cô gái –biểu tượng cho nỗi ước mơ thời niên thiếu của “Marcel”- là một thế giới của Sodome

(Sodome và Gomorrhe là hai thành phố  cổ cùng với những thành phố khác ở miền nam Biển Chết, bị tàn phá bởi cơn đại hồng thủy vào năm XIX trước Tây lịch. Theo các nhà khảo cổ thì nơi đây đã từng xảy ra một trận địa chấn dữ dội. Nhưng theo truyền thống cổ xưa thì đó là những thành phố bị Thượng Đế đổ xuống những cơn mưa lửa để trừng phạt sự vô luân sa đọa và sự dị giáo của dân chúng. Bây giờ nó được gọi là Sodom, thuộc Israel, phía tây bắc của xứ Néguev, gần Biển Chết. -Chú thích của TTBG)

và Gomorrhe tân thời với những tình cảm suy đồi trong một xã hội thượng lưu đang sụp đổ. Chiến tranh tự nó đã đẩy những kỷ niệm của Marcel xa hơn trong quá khứ và sắp đặt một quãng cách không thể bãi bỏ giữa người kể chuyện với những cảm xúc nguyên gốc, chuyển lái những biến cố cấu tạo cuộc đời anh ta xuống sâu trong địa tầng hiện hữu. Chiến tranh cũng làm què quặt nhiều cuộc sống khác, đốn ngã thế giới thượng lưu, và gửi nhiều phần tử của họ vào cái chết trên chiến trường hoặc trong sự suy sụp tình cảm, (giống như sự suy sụp giọng nói đã làm đau đớn cho Nam tước de Charlus sẽ được kể ra trong tác phẩm). Chiến tranh cũng lại làm đầy câu chuyện của Marcel với những lo ngại xã hội, những cơn khủng hoảng đạo đức, những phân chia chính trị, những nghi ngờ cá nhân, và Sự Chết. Tỉnh lỵ Combray nhỏ bé hiền lành bị chiếm hữu và tàn phá bởi quân Đức trong thời kỳ đó. Thời Gian và Cái Chết trở thành mối ưu tư lớn, gây nên một nhu cầu sâu sắc trong sự tìm kiếm lại, tạo lập lại ký ức của người kể chuyện. (Quả nhiên, Proust đã duy trì sự viết câu chuyện cho đến ngày cuối cùng của đời ông vào năm 1922.)

            A la Recherche du Temps perdu vì thế đã được xét đoán là một công trình to lớn giống như một ngôi giáo đường, như Proust đã tự nói, một lời châm biếm chế nhạo xã hội rất đặc biệt, và là một trong những tiểu thuyết tâm lý vĩ đại nhất của Con Người. Đó cũng còn là một tác phẩm với cái độ rộng và bề sâu vượt quá kích tấc thông thường của một tiểu thuyết –như chủ định của tác giả, bởi ông muốn nó sẽ là một quyển tiểu thuyết về cảm giác và cảm xúc, chứ không chỉ đơn thuần một bản văn ghi chép. Theo điều ấy, một nhà phê bình đã viết: “Proust xếp sắp để làm một câu chuyện vô nghĩa trở thành rất thú vị. Tác giả nói: ‘Hãy tưởng tượng, độc giả thân mến, ngày hôm qua tôi đã nhúng miếng bánh ngọt vào cốc nước trà y như vẫn thường làm ở vùng quê lúc tôi còn bé.’ Chỉ có vậy mà ông đã viết tới 8 trang, lôi cuốn đến độ bạn sẽ nghĩ mình không còn đng vai độc giả mà chính là tác giả đang mơ mộng trở về với những kỷ   niệm của ngày xưa.’”

Theo độ dài thời gian, qua A la Recherche du Temps perdu, năm tháng đè lên nhau, đan mắc vào nhau một cách rắc rối với những câu chuyện, những nhân vật, những thay đổi lịch sử và sự hiện hữu khác nhau của con người. Một Paris rực rỡ trong thời kỳ “belle époque” (thời kỳ đẹp đẽ) bao gồm số đông quý tộc, hiện ra dưới mắt nhìn châm biếm của một cá nhân bé nhỏ. Edmund Wilson đã nói: “Proust có lẽ là nhà sử học vĩ đại cuối cùng của một tình yêu dành cho xã hội thượng lưu, cho văn chương nghệ thuật trong Căn Nhà Văn Hóa (Paris) Đang Sụp Đổ.” Nó có thể được đọc như tác phẩm của một trí thông minh ngoại hạng với những thấu suốt về tâm lý rất đáng giá, những nghiên cứu trong phần sâu thẳm và đen tối nhất của tâm hồn, qua đó, cảm giác tự nó giải thích cảm giác của cảm giác, như Joseph Conrad từng nói: ‘Tôi không nghĩ có một điển hình nào đầy uy lực về phân tích tâm lý như A la Recherche du Temps perdu đã có, và tôi tin chắc rằng sẽ khó có tác phẩm thứ hai.”

            Để hiểu tác phẩm, chúng ta cần phải nhận định về một xã hội Paris sáng lạn thời kỳ belle-epoque và cái tinh thần hiện đại cùng một nhịp sống mới lúc ấy đang ăn dần bên trong giới thượng lưu và trí thức văn nghệ sĩ. Chúng ta cũng cần phải khảo sát những vấn đề liên quan đến tình ái, dục tính, tâm lý và thẩm mỹ của các giới này –luôn cả của chính tác giả- thì mới thẩm thấu được cái chân dung khôi hài và mỉa mai kỳ lạ mà Proust đã vẽ ra. Đó là một loại họa hiếm trong văn chương: một bản tự tiểu sử của cảm giác con người chứ không hoàn toàn là tự tiểu sử; một nỗi châm biếm xã hội của một người đã rút lui khỏi xã hội; một tiểu thuyết về những địa lý rộng lớn mà không gian và nơi chốn đã bị rã tan trong cái thế giới của một thứ Thời-Gian-Vô-Hạn; một bức chân dung của một nghệ sĩ hiện đại đã không trở thành nghệ sĩ cho đến khi kết thúc tác phẩm nghệ thuật của mình. Do đó nếu nhìn “hai con đường” trong tác phẩm, chúng ta hẳn sẽ thấy ngoài cái thế giới thượng lưu với những chiều không gian của nó, đã còn có một cái gì khác hơn nằm bên dưới lớp bề mặt của những điều vừa nói. Và đây là ý tưởng cốt tủy của Proust, một ý tưởng hiện đại (cùng thời với ý tưởng của Einstein, Mann, và Freud) về sự hồi phục những tác dụng ký ức bí mật đã chìm sâu trong tiềm thức; truy tầm trong khoảng thời gian hướng nội những gãy đổ và tính liên tục của việc “tìm lại” nói trên.

           II.

“Một thời gian dài tôi thường đi ngủ sớm.” Đây là câu mở đầu của A la Recherche du Temps perdu, một trong những câu ngắn và đơn giản dễ hiểu nhất trong tác phẩm. Chữ   “thời gian” vang lên trong câu thứ nhất và rồi lập lại, lập lại suốt qua những câu kế tiếp của phần thứ nhất, (hoặc nói như Proust là “khúc mở đầu” –ouverture-, để nhấn mạnh cái nhạc tính cơ bản của tác phẩm). Người kể chuyện diễn tả những dao động của sự nhận thức như anh ta từng trải qua trong vô số “những đêm cảm thấy buồn ngủ mà không biết đã là như thế”: “Một thời gian dài tôi thường đi ngủ sớm. Lắm lúc, tôi thổi tắt ngọn nến để đôi mắt bắt chộp được giấc ngủ nhanh hơn, đến nỗi không còn đủ thì giờ để nói ‘Tôi đang sắp ngủ.’ Nửa giờ sau, ý nghĩ rằng ‘đã đến giờ đi ngủ’ lại làm tôi thức dậy; tôi cố đặt cuốn sách đang còn trên tay xuống. Trong giấc mơ màng tôi vẫn suy nghĩ về những gì mới đọc, nhưng rồi những ý tưởng biến vào trong luồng sóng riêng của chúng cho đến khi chính tôi dường như đã trở thành chủ thể của cuốn sách: một giáo đường, một bản tứ tấu khúc, một tình địch của hoàng đế Francis I hay Charles V…”

Vào cuối đoạn một, độc giả đã bị đặt vào trong sự rối loạn của thời gian để không thể biết được khi nào hoặc ở đâu bối cảnh đầu tiên này xảy ra; hoặc ở điểm thời gian nào người kể chuyện đang nói và từ điểm thời gian nào mà anh ta đang muốn bắt chụp lại những gì đã mất đàng sau anh ta.

Bối cảnh thường xuyên là những buổi tối ở Combray; gia đình tụ họp trong vườn; tiếng chuông cửa rung lên; cái màn được kéo. Monsieur Swann, một người bạn tìm đến thăm và sự kiện này đã tạo nên trong tâm tư cậu nhỏ Marcel một nỗi tràn đầy lo lắng: Monsieur Swann ở đó thì cậu phải một mình đi ngủ sớm và sẽ không được nhận cái hôn chúc ngủ ngon của mẹ. Một đêm, cậu bị rơi vào một cơn khủng hoảng ghê gớm. Mẹ cậu phải tìm đến vỗ về và rồi ngủ lại ngay trong phòng cậu. Biến cố này được kể với thật nhiều chi tiết phong phú, vẽ ra cho thấy toàn thể cái thế giới đã từng sống qua khi còn bé của người kể chuyện. Tuy nhiên, đàng sau đó cũng có ẩn chứa một cái gì khác nữa. Tiếng vang của cái chuông cổng báo cho hay sự có mặt của M. Swann trong trí nhớ Marcel (ở những trang cuối của Thời Gian Tìm Lại -Le Temps Retrouvé) đã làm thành sự bắt đầu của cuộc hành trình dài mà “con người trung niên Marcel” đang sắp thực hiện trên mục đích “tìm lại Thời Gian.”

“Tôi không thể hiểu tại sao một người có thể bỏ ra tới 30 trang để diễn tả cách nào mà anh ta cứ lăn qua lộn lại trên giường trước khi ngủ”, đó là lời phàn nàn của một nhà xuất bản đã từ chối không in Du côté de chez Swann năm 1913.

Câu trả lời là khoảng thời gian giữa thức và ngủ của người kể chuyện đã tạo nên một trạng thái đặc biệt, làm chế ngự tri thức và cảm giác anh ta; và rồi sẽ chế ngự toàn thể tác phẩm. Hơn nữa, câu mở đầu rõ ràng này không chỉ nói lên một -mà còn là hàng trăm bối cảnh, trong đó, độc giả không ở trong một thời gian, một nơi chốn, với một người kể chuyện hiện diện, lại còn rất nhiều những điều kiện như thế, tương tự cảm giác và trạng thái mà Proust đã có.

            Trong khúc mở đầu, sự cảm nhận về thời gian và không gian của Proust, chủ đề quán xuyến, phạm vi, nhạc tính, tất cả đều được phơi bày rõ. Bối cảnh “giờ đi ngủ” là phần duy nhất của đời “Marcel” ở Combray mà anh ta từng hồi tưởng. Ở câu thứ nhất, người kể chuyện không có tên mà còn lạ lùng do bởi không có vị trí xác định, đã nhắm đôi mắt mình lại. Ở câu thứ ba, ý tưởng rằng “thời gian của lúc phải đi ngủ” đã đánh thức anh ta khỏi giấc mơ màng. Anh ta tự hỏi, thời gian nào vậy? Có phải là lúc ở Combray? Có phải tất cả những phần kỷ niệm mà anh ta đã “đánh mất”, hoặc chúng “đã chết”, hay đã trở thành “quá khứ”? Và anh ta bắt đầu nhớ lại những giấc ngủ và những lúc thức dậy khác, trong những căn phòng khác, những cái giường khác, những nơi chốn đầy bóng tối khác. Anh ta cũng nhớ lại kỷ niệm một lần được mẹ trao cho một tách nước trà và anh ta nhúng cái bánh vào đó, một cái bánh Madeleine thơm dịu. Thế rồi đang khi nhớ lại cái mùi thanh thanh của miếng bánh thấm qua đầu lưỡi, đột nhiên anh ta nhận biết ra ngay lúc ấy cũng đang có một cái gì đó xâm nhập mạnh mẽ vào trí não riêng. “Một niềm vui chan hòa nhưng dị biệt, chơ vơ, không biết từ đâu tới, đã lan tràn giữa trái tim tôi. Ngay lập tức, những bước thăng trầm của cuộc đời với những nỗi bất hạnh, những huyễn tượng mong manh, tất cả bỗng trở thành xa lạ. Cái cảm giác mới mẻ này đã tạo nên trong tôi một hiệu quả ngây ngất, giống như sự ngây ngất mà Tình Yêu đã từng đem đến. (...) Bấy giờ tôi không còn nghĩ gì đến những điều tầm thường hoặc ghê gớm nữa. Nhưng mà, niềm hoan hỉ lớn lao đó, từ đâu nó đã tới với tôi?”

Bất chợt kỷ niệm hiện ra trong đầu anh ta. Kỷ niệm về mẩu bánh nhỏ được nhúng vào cốc nước trà mà khi còn bé, một buổi sáng Chủ Nhật, bà cô Léonie đã trao cho anh ta: “Từ một quãng quá khứ xa xăm không còn gì tồn tại sau khi mọi con người đã chết, mọi sự vật đã bị bẽ gãy tan tành đó, vẫn còn lưu lại độc nhất cái mùi vị thanh thanh thấm qua đầu lưỡi, mỏng manh nhưng thật nhiều sức sống, mơ hồ nhưng lại rất bền bỉ thủy chung. Nó lơ lửng tựa những bóng ma, như để sẵn sàng nhắc nhở chúng ta hãy nên chờ đợi và hy vọng giữa tất cả những tàn phá, cái giây lát xuất hiện của nó, điều chắc chắn sẽ làm nẩy sinh từ giọt nước cốt bé nhỏ và rất dịu mịn đó một cái cấu trúc rộng lớn trong sự tìm kiếm lại những gì đã bị cuốn trôi đi bởi Thời Gian”.

Lập tức, anh ta theo dấu cái mùi thơm dịu; và toàn thể tuổi thơ bơi ngược trở lại trong trí nhớ riêng. Sự “bơi ngược” này không phải mang lại những hồi tưởng đã bị trút đổ hết mọi năng lực, mà là một sự thuần chất, sống động và đầy cảm xúc như thể đã từng nhận từ nó một nguồn hạnh phúc lớn. Trong giây lát độc nhất đó, Thời Gian được chụp bắt lại, và cũng trong cùng giây lát đó, Thời Gian đã bị chế ngự, bởi vì toàn thể dĩ vãng đã được xếp đặt để trở thành của hiện tại. Những giây lát như vậy sẽ đem cho người nghệ sĩ cảm nghĩ rằng anh ta đã đạt lên tới điều “bất diệt” và sẽ không bao giờ còn quên “cái chuyển biến mới mẻ đầy nỗi hân hoan siêu phàm kia.”

Những nhà văn khác (như Chateaubriand, Nerval, Musset) cũng đã có cái ý niệm mơ hồ về điều vừa nói, nhưng không ai trước Proust từng nghĩ đến việc sử dụng và biến đổi những phức tạp, những xúc động mạnh mẽ từ ký ức thành chất liệu chủ yếu để đưa vào tác phẩm của mình. 

Trọng tâm của A la Recherche du Temps perdu không đặt vào bức tranh trình bày một xã hội đặc biệt ở Paris vào cuối thế kỷ 19, cũng chẳng là bài học nghiên cứu mới về Tình Yêu. Cái chủ đề sâu xa của nó đúng thật đã xoáy vào tâm điểm ước muốn của tác giả: “Trong cuộc đấu tranh với Thời Gian trên con đường tìm kiếm một điều ‘không thể xảy ra’, kết quả tốt đẹp đạt được của Con Người không phải nằm trong cuộc sống hiện tại, mà chỉ là trong một tác phẩm nghệ thuật.”

Phần lớn sự kiện đều được kể ở thời quá khứ liên tục. Sự đặc biệt ở đây chính là tác giả không hoàn toàn đi sâu vào chi tiết từng sự việc -cho dù ông có là một nhà văn lớn về chi tiết- mà tất cả được chuyển vào trong cái đại thể, trên sự lập đi lập lại nhiều lần. Đó là những việc xảy ra “trong một thời gian dài”. Nơi chốn trở nên không gian chung chung, giây lát hiện tại biến thành ký ức; để cuối cùng, nhà văn đã xây dựng được cho chúng ta một bối cảnh sắp xếp dày đặc chi tiết một cách rất hài hòa.

            Trong tác phẩm Ngọn Núi Kỳ Diệu, Thomas Mann đã viết: “Không gian, giống như thời gian, làm thành tính quên lãng của con người; nhưng nhờ thế mà thân xác chúng ta mới thoát khỏi những bao vây chung quanh để có thể trở về với thuở sơ khai, với trạng thái không bị ràng buộc.” Nhưng với A la Recherche du Temps perdu, có một điều khác biệt là sự hòa hợp giữa không gian và thời gian đã không khiến nẩy sinh sự quên lãng. Riêng Samuel Beckett lại nhận định rằng “Proust có một trí nhớ kém. Một người với một trí nhớ tốt thì không nhớ bất cứ điều gì hết, bởi hắn đã không quên điều gì cả.” Một triệu hai trăm năm chục ngàn chữ đã nằm trong cái “trí nhớ kém” của Proust sẽ còn được kéo dài hơn nếu như không xảy ra Cái Chết –dù rằng đó là Cái Chết, như Proust nói rõ, làm hoàn tất sự tìm kiếm suốt qua mớ ký ức mỏng manh, một công việc cốt tủy mà ông đã thực hiện trong suốt cả cuộc đời mình.

“Khi buồn ngủ” Marcel kể, “tôi thấy giống như đang ở trong cái vòng của một chuỗi mắc xích nối tiếp những giờ, những tháng, những năm, một loại thứ tự của một thân xác siêu phàm.” Khi thức giậy, anh ta nghĩ đến tất cả những điều này, và “ngay lập tức nhận thức được vị trí riêng của tôi trên mặt đất, đồng thời cũng nhận thức cả thời gian đã trôi qua trong cái lúc tôi đang ngủ thiu thiu.” Tuy nhiên, sự thứ tự này thường có khuynh hướng dễ trở nên rối loạn, bởi vì sự ngủ đã chiếm chỗ của nơi chốn và làm chao lệch thời gian. Nó cũng là những mảnh đoạn ý thức, tạo nên cảm giác nửa thức nửa ngủ mà trong đó, con người không biết họ là ai; và đưa họ vào “trạng thái sơ khai, không bị ràng buộc” (như Mann đã gọi): “Hầu hết trong tôi chỉ là cảm giác phôi thai về sự hiện hữu, mong manh và ngấm ngầm như trong sâu thẳm ý thức của một con vật.” Đó là loại ký ức “không phải về một nơi chốn, mà là những nơi chốn khác nhau tôi đã ở qua và có lẽ bây giờ cũng đang sống”. Nó đến “giống như một sợi giây thừng thả xuống từ trời cao để kéo tôi thoát khỏi chính mình”.

Ký ức cũng là những gì xây dựng không gian, tạo thành và làm rối loạn cái không gian trong đó chúng ta từng đã và đang cư ngụ, đồng thời tái tạo lại bản ngã bằng cách làm ly gián chúng ta khỏi thế giới của thói quen. Đó là một sự vô tình không chủ ý, một nhiệm vụ của thân thể và cảm giác: “Cái ký ức (thân xác) đó, loại ký ức đa hợp về những mẩu xương, cái đầu gối, cái vai, xoay tròn chung quanh trong bóng tối, đem lại cho tôi một loạt hình ảnh về những căn phòng tôi từng đã ngủ và bây giờ lần lượt được nhớ lại.” Uy lực của loại “ký ức vô tình” này là một trong những chủ đề chính của tác phẩm; cái nút bấm cho nhiều bối cảnh then chốt của cuốn tiểu thuyết. (Ví dụ điển hình là mẩu bánh ngọt nhúng trong tách nước trà của Marcel đã mở ra một thế giới của thời gian đã mất.) Loại ký ức vô tình đó đã được Proust nhận định sâu sắc, bởi vì nó không phải một sự vật được nhớ lại mà chính là giọng nói của con người, một tiến trình hoạt động của sự nhận thức bằng cử động, “một tên phù thủy không bị kềm chế nên sẽ không bị thúc bách giục giã” như Samuel Beckett từng nói.

            Ký ức vô tình là những gì làm cho thực tại trở thành xa lạ, chuyển đổi căn phòng quen thuộc thành ra không quen thuộc và những kẽ hở trong ấy mở ra các cảm giác hoặc thói quen của những gì mà chúng ta thường gọi là thực tế. Nó cũng làm rã tan hình ảnh căn phòng hiện tại chúng ta đang nằm và rồi tái tạo lại cho chúng ta các căn phòng khác từng đã ngủ với tất cả cảm giác từng có trong đó. Nó nối kết cảm giác của thân thể chúng ta hiện tại với những cảm giác cùng loại trong quá khứ. Tuy nhiên, khi chúng ta đã trở nên “thức hẳn” thì nó lại trở thành cái gì đó có nhiều tính phân loại hơn. Cho nên những ý nghĩ ban đêm của chúng ta thường rất thứ tự một khi ký ức đã được sắp đặt trong vận chuyển: “Như một định luật, tôi không cố gắng để ngủ ngay lập tức, mà thường trải qua phần lớn thời giờ để nhớ lại những quãng đời quá khứ tại Combray với bà cô già của tôi, tại Balbec, Paris, Doncières, Venice, và những vùng khác; nhớ lại lần nữa tất cả những nơi chốn và con người tôi từng biết, những gì tôi từng thấy, và những gì kẻ khác đã từng nói với tôi.”

Đây là loại ký ức nhiều thứ tự và nó sẽ mở ra trước mắt chúng ta một quyển tiểu thuyết đích thật; bởi vì tiếp ngay sau đó, Marcel đã đem chúng ta trở lại Combray và tuổi thơ của anh ta, cho chúng ta nghe một chuỗi chuông reo nơi cổng, đưa chúng ta cùng đi trên con đường dẫn tới “hai con đường riêng biệt” –từ đó, cái xã hội thượng lưu của cuốn tiểu thuyết sẽ khởi sự được phơi bày. Lại thêm rất nhiều kỷ niệm của người kể chuyện sẽ được đề cập, không phải để đưa tới việc cấu tạo một bài phóng sự mà là nói lên một ý thức. (Proust đã cẩn thận phân biệt giữa ký ức vô tìnhý thức.)

Ý thức ví như cái vỏ bao bọc lấy cuộc đời mà chúng ta đang sống. Đó là một trạng thái được tạo thành, một thể thức của sự khám phá và sắp xếp mọi thứ một cách có nghệ thuật. Nó cũng là sự cảnh giác, một phân tích uy lực, một cố gắng để dàn dựng cho sự sống động của con người. Toàn thể các vấn đề thuộc về bản chất của ý thức và tâm lý như trên là một trong những dấu ấn lớn lao theo cái nhìn “hiện đại” về sự hiện hữu của con người trong thời đại sống của nhà văn. Cái nhìn mới ấy đã làm thay đổi sâu xa thể thức và cách cấu trúc của những tiểu thuyết hiện đại, sáng tạo một thứ nghệ thuật về tính chủ quan, một sự thấu suốt vào phần nội tâm con người. Đại diện cho loại tiểu thuyết nói trên trong cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20 là Henry James, Virginia Woolf, James Joyce, William Faulkner và dĩ nhiên cũng gồm cả Proust. Virgnia Woolf đã nói về ý thức như “một điều cốt tủy, cho dù chúng ta có gọi nó là đời sống hay tinh thần, sự thật hay thực tế.”

Với tất cả những nhà văn vừa kể, ý thức bao gồm cả hai mặt tâm lý và hiện tượng thẩm mỹ –có nghĩa rằng, nó không chỉ là một phương tiện để khám phá phần nội tâm con người thôi, mà còn đưa ra cái thể thức và cấu trúc khác lạ trên phần hình thức, -(như Woolf nói)- “thả lỏng nó trong nhiều cái ngã của chính nó”. Mỗi người trong số các nhà văn nêu trên đã cung cấp cho chúng ta một cảm nhận khác nhau về những gì gọi là ý thức theo bản chất tự nhiên của nó, phép phẫu thuật trên nó, ấn tượng tạo ra từ nó, những kỹ xảo phô bày và tính chất chủ quan của nó. Còn bản Ouverture của Proust lại là một bản nhạc ngợi ca hướng vào nội tâm, thăm dò thế giới tâm lý, và một tiến trình nhắm tới đỉnh cao thẩm mỹ, bởi vì A la Recherche du Temps perdu đúng là một trong những tiểu thuyết thẩm mỹ cao nhất của con người.

            Do đó có thể nói rằng chủ đích phô bày về ý thức này là con đường mà Proust đã dùng để xây dựng nên cái cầu bắc ngang giữa nghệ thuật và những ký ức tích lũy thành đống ở khắp mọi nơi, những hồi tưởng, những sự sống trở lại cảm giác cũ. Trong tác phẩm tư tưởng nghiên cứu khó khăn này, nghệ thuật (“điều chân chính nhất trong tất cả mọi thứ” như Marcel đã gọi) có lẽ là sự gay go nhất. Trên một đoạn nổi tiếng, Marcel đã thách thức toàn thể giới văn chương hiện thực bằng câu nói: ‘Tài năng cốt ở trong tiềm lực của một nhà văn chứ không phải là trong cái phẩm chất được tạo ra từ một bối cảnh.”

Dĩ nhiên bối cảnh mà Proust chiếu lại cho chúng ta thấy thì rộng lớn và dầy đặc những vấn đề liên quan đến nghệ thuật thời quá khứ và hiện tại. Ví dụ những đoạn dài diễn tả những bức họa của Elstir (nhân vật do Proust sáng tạo trong tác phẩm) theo một phương pháp riêng mà chỉ mình Proust có. Nó cũng bao gồm nhiều nghệ sĩ và các nhà thẩm mỹ: Monsieur Swann thành thạo về hội họa, nhà văn Bergotte, họa sĩ Elstir, và nhà soạn nhạc Vinteuil (mà những khúc nhạc nhỏ của ông đã vang lên suốt tác phẩm theo một thể thức riêng của chúng). Những nghệ sĩ này đã giúp cho Marcel có được nhiều bài học chủ yếu về nghệ thuật.

Cùng lúc, bối cảnh cuốn tiểu thuyết được sắp đặt tại Paris, chốn gặp gỡ của nghệ thuật và giới thượng lưu, nơi mà nghệ thuật được ham mê trau luyện, những nhịp điệu văn chương mới luôn tuôn chảy và cuộc sống xuất hiện tại các rạp hát, các buổi đại nhạc kịch, các dạ tiệc trình diễn âm nhạc; một Paris mà cho dù với cái chủ nghĩa bảo thủ của nó, thì trong những năm tháng này vẫn là chốn nẩy sinh những khai phá mới về nghệ thuật, từ phái Ấn Tượng đến phái suy đồi (Decadence) từ phái Cubis đến phái Trừu Tượng. Cái xã hội thượng lưu tự nó cũng là điển hình cho nghệ thuật, cho sự thanh lịch và cả luôn sự giả tạo. Paris cũng còn là ông chủ và nhà bảo trợ (cho những con người ham mê học hỏi như Monsieur Swann trong sự được trau giồi kiến thức bởi giới quý tộc; và cho cả chính Marcel, kẻ đã tìm thấy một tổ ấm trong giới thượng lưu, rồi cũng tìm thấy chính mình bị phân chia giữa hai “con đường” khác nhau.)

            Nhưng cuối cùng A la Recherche du Temps perdu là câu chuyện về một sự khám phá bản ngã cá nhân trên mặt hình thức và về sự lớn dậy từ một tay tài tử sang một nghệ sĩ trong bản chất người kể chuyện. “Trí óc con người không bao giờ được thỏa mãn trừ phi nó có thể thực hiện một sự phân tích rõ ràng về những gì mà nó đã sản xuất ra trong vô thức.” Proust viết như vậy trong một bài tiểu luận. Tác phẩm của ông là một sự suy xét không ngừng trên tiến trình sáng tạo của nghệ thuật. Theo độ dài thời gian, nó sẽ đạt được cái kết quả tổng thể của điều suy xét ấy, giống như sự “trở thành nhà văn” của người kể chuyện Marcel ở phần chót cuộc đời.

Vào cuối tác phẩm, Marcel cảm thấy già và bệnh hoạn. Anh ta được gửi vào viện điều dưỡng và cảm nhận mạnh mẽ về Sự Chết. Thế giới tưởng tượng của anh ta đã bị cằn đi và những ký ức bị đặt lên một quãng cách mới. Dù vậy, công việc của một đời này dường như sáng tỏ hơn, và những điều đã từng khiến anh ta loay hoay trên nhiều cách hình như đã đạt được đến điểm đích của nó. Con ngõ nhà Monsieur Swann và con ngõ nhà Công tước Guermantes, không gian và thời gian, ký ức và ý thức, tất cả bắt đầu kết lại với nhau trong cùng một thể cách. Quả nhiên, Marcel bởi sự sống suốt qua chúng, và Proust, bởi sự viết về chúng, cũng bắt đầu nhập thành một. Mọi sự kiện đã được dẫn dắt bởi hai con đường khác nhau để cùng đến chung một điểm kết thúc mà ở lúc khởi sự tác phẩm, nó đã không được tiên liệu. Những giòng hồi tưởng trở thành là một tác phẩm, và người kể chuyện ngay lúc thoạt đầu đã mơ mộng rằng anh ta là đối thể của tác phẩm ấy, bấy giờ trở nên tác giả của nó. Những suy xét tìm hiểu về hai con đường khác nhau đã giúp anh ta nhận ra thiên hướng của đời mình: “Cuộc đời thật, cuộc sống cuối cùng đã khám phá được và trở nên sáng tỏ, cuộc sống độc nhất vẫn còn thực sự sống là cuộc sống của một nhà văn”.

Ở đoạn kết, giống như nhiều cuốn tiểu thuyết hiện đại giá trị khác, sự tồn tại cuối cùng của một tác phẩm và bức chân dung của một nghệ sĩ đã được trình bày rõ nét trong A la Recherche du Temps perdu. Trong một ý tưởng hiện đại rất nghịch lý, Marcel đã chấm dứt những lời kể của mình bằng cách bắt đầu với một cuốn sách mà anh ta thực sự đã hoàn tất: “Trong sự nhận thức về bước tiến đến gần Cái Chết của mình, tôi giống như một người lính đang sắp chết, và cũng như hắn, trước khi chết, tôi phải có vài điều gì đó để viết.”

III.

A la Recherche du Temps perdu là một tác phẩm đáng giá do bởi cái phẩm chất tự truyện mạnh mẽ và bởi những điều được trình bày đã rất giống với chính những sự kiện xảy ra trong cuộc đời tác giả. Do đó không ngạc nhiên với điều rằng nhiều nhà phê bình khi khai thác tác phẩm đồ sộ này đã luôn luôn đặt ra câu hỏi có phải chàng Marcel trong tác phẩm với Marcel Proust là cùng một con người (?) trong khi ở đoạn kết của A la Recherche du Temps perdu, Proust lại cho “nhân vật Marcel chỉ mới bắt đầu với một cuốn sách” mà ông đã kết thúc?

Thực sự, đó là một câu hỏi mà ngay cả Proust cũng đã khai triển rất tỉ mỉ. Khi luận về Balzac, tiểu thuyết gia tả chân vĩ đại của thế kỷ 19, Proust viết: “Tác phẩm là sự cấu tạo từ một bản ngã khác, khác hơn cái bản ngã chúng ta phô bày theo thói quen trong cuộc sống và trong những chứng tật riêng. Nếu muốn làm thế, chúng ta chỉ có thể thực hiện bởi cách kiếm tìm để sáng tạo lại cái bản ngã đó từ phần nội tâm sâu thẳm nhất của chính con người mình.” Sự khám phá về cái “bản ngã giấu kín” đó là công việc cả đời mà Proust tự đặt để cho ông.

Ngoài ra, giữa Marcel-người-kể-chuyện và tác giả đã có nhiều sự khác biệt. Marcel là một anh chàng bị chứng rối loạn tình dục (heterosexual), còn Proust lại là đồng tình luyến ái (homosexual) –dù rằng những tính chất đặc biệt này được che đậy bằng văn chương. (Thực sự, giống như Proust, nhân vật Nam tước de Charlus mới là người mang chứng đồng tình luyến ái và thường tìm đến các nhà thổ đàn ông.) Hơn nữa, Marcel không có giòng máu Do Thái như Proust đã có. (Giòng máu này lại được thay thế vào chỗ của Monsieur Swann.)

Từ đó, có thể nhìn A la Recherche du Temps perdu bằng cái nhìn của George Painter khi viết về tiểu sử Proust, rằng đó là một tác phẩm đứng độc lập riêng rẽ giữa những cuốn tiểu thuyết lớn bởi vì nó “không phải chỉ là một tác phẩm tưởng tượng, mà còn là một bản tự truyện đầy tính sáng tạo.”

Điều rõ ràng là Proust đã biến đổi tất cả mọi sự kiện mà vẫn không hư cấu gì ngoài cái chủ tâm cho thấy rằng cuốn sách được viết ra chỉ giống như một “câu chuyện biểu tượng của đời” ông, qua đó, chúng ta thấy hầu hết các nhân vật, biến cố được trình bày đã rất gần cận và đáng tin với cá chất phức tạp và những gì xảy ra trong lúc sinh thời của Proust. Chúng ta cũng biết, ngay cả lúc Proust đã chấp hành cuộc sống ẩn dật giai đoạn cuối đời thì nhà văn vẫn đi ra ngoài, bó mình trong hai lần áo ấm, để tìm kiếm các chi tiết xã hội, gom góp chất liệu từ những người hầu bàn ở nhà hàng Ritz, hoặc viếng thăm một nữ công tước để xin bà cho xem mọi cái nón đã lỗi thời của bà. Khi nhà văn thêm vài đoạn vào tác phẩm, như ông không ngừng làm thế, thì điều đó giống như việc chúng ta thường đặt thêm vài con tem mới trong cuốn sổ lưu niệm tem. Proust tìm kiếm thế giới của ông, một thế giới mà ông biết rất rõ, bằng một cường độ và tính chính xác họa hiếm trên những dữ kiện thực tế. Nhưng A la Recherche du Temps perdu cũng là một sự nổi loạn chối từ tinh thần thực tế. Công việc cả đời này của Proust không những chỉ hồi phục lại, mà còn tái tạo lại, xây dựng lại những điều đã mất. Những nhận thức sắc bén về nghệ thuật, sự chuyển đổi đường lối sáng tác quả thật là những phẩm chất và mục đích chính yếu của tác phẩm.

Trong vài cách thức, Proust đã chứng tỏ cho thấy rõ ràng một quan niệm lãng mạn về nghệ thuật. Nhà văn thường hồi tưởng lại trong sự tĩnh lặng những gì đã trôi qua, sống trọn vẹn với những hồi tưởng đó và nắm bắt tất cả những gì lóe lên từ trí nhớ. Thật vậy, mọi tiến trình của tác phẩm là phơi bày sự chuyển đổi từ nhân vật hoặc bối cảnh thực tại vào trong đầu óc sáng tạo của một tiểu thuyết gia. Nhiều hơn những nhà văn khác, Proust đã bẽ gãy cái di sản kế thừa để lại từ phái Hiện Thực (Réalisme) với tính trong sáng và chắc chắn trong ngôn ngữ của nó, để khai phá một khía cạnh sâu thẳm khác mà ông cho là “thật” hơn trong những lãnh vực của nội tâm. Quả nhiên, có thể gần như xác quyết rằng trong những năm cuối đời, không những ông tự rút mình ra khỏi một đời sống thường nhật thôi mà còn ra khỏi chính cái tự tiểu sử của mình để trở thành thực thụ là một nghệ sĩ, một nhà văn.

            Proust chào đời trong một gia đình giàu có ở Paris vào đúng ngay thời buổi kinh hoàng của nước Pháp. Đó là năm 1871 khi xảy ra cuộc chiến Franco-Prussian (còn gọi là cuộc chiến Franco-Allemande, 1870-1871) và Paris thì đang bị quân đội Đức bao vây và oanh tạc dữ dội, đồng thời với sự xuất hiện của Công Xã Paris. Nền Đệ Tam Cộng Hòa lúc ấy chưa được thành lập. Người cha, Louis Proust, xuất thân từ vùng Illiers-Combray, bên giòng sông Loire, là một bác sĩ phẫu thuật nổi tiếng xuất sắc, đã đạt được huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh của Pháp. Mẹ Proust, Jeanne Weil, là con gái của một gia đình Do Thái trí thức giàu có. Chính người mẹ với tình thương và sự ân cần vô hạn đã chi phối trọn cuộc đời nhà văn, tạo nên một sự lệ tình cảm thuộc trong Marcel Proust. Sự nương tựa này sâu đậm đến nỗi có một lần khi hai mẹ con chia tay nhau ở Venice thì sau đó, cái hình ảnh của thành phố đầy tính nghệ thuật ấy đã bị vỡ tan trong tâm hồn nhà văn. (Cho mãi đến khi xảy ra cái chết của mẹ vào năm 1905, Proust ít khi rời xa mẹ.)

Proust được sinh ra tại nhà một người họ hàng ở Au- teuil, gần Paris, khi người mẹ tới đó tạm trú trong những ngày  Paris xảy ra biến cố. [Về sau Proust nhận ra sự suy nhược thần kinh và khuynh hướng đồng tính luyến ái trong chính mình đã thực sự bắt nguồn từ những biến cố chung quanh nơi chào đời của ông và từ sự nương tựa tình cảm lớn lao vào mẹ; những điều này sẽ càng thêm đậm sắc từ chính ngay cái chết của người mẹ. Sự liên hệ mẹ con được viết lại và phân tích sâu xa trong tác phẩm; nổi tiếng hơn hết là cái bối cảnh trong đó  cậu bé Marcel cố gắng thức khuya để chờ đợi cái hôn của mẹ trước khi ngủ, một bối cảnh tình cảm nổi bật nhất trong thế giới văn chương tiền bán thế kỷ 20. Nhà văn đã trình bày trong phần cuối tác phẩm: ‘Buổi tối mà mẹ tôi bỏ quên tôi, cùng với cái chết từ từ của bà ngoại, đã đánh dấu trong tôi sự suy sụp vĩnh viễn của sức khỏe và những ước muốn.”]

Chứng ho suyển đã đến với Proust khi ông mới lên 9 và kéo dài tới hết cuộc đời. Ngoài ra lớp phấn hoa mạnh mẽ của những hàng cây táo gai đã ngăn cản không cho nhà văn trở lại Combray vào những mùa nghỉ hè, làm thành một hiệu quả bi thảm trong tâm hồn Proust. Vì thế, trong A la Recherche du Temps perdu, vùng Illiers-Combray còn được đánh giá như một nơi chốn mất mát của tuổi thơ và là nguồn cội sắp xếp cho Proust một “sự đi tìm bắt lại” Thời Gian đã mất.

Suy nhược thần kinh, sức khỏe yếu ớt, những điều đã gây xáo trộn không ít trong suốt cả đời Proust, nhưng đồng thời cũng tạo nên cho nhà văn một sự liên hệ chủ yếu với nghệ thuật. Theo Freud thì bệnh trạng và nghệ thuật thường có một tương quan mật thiết. Proust chưa từng đọc Freud, bởi vì bản dịch Pháp ngữ của tác phẩm Freud khi ấy chưa có, nhưng bao giờ Proust cũng thuộc vào môi trường của các bác sĩ và các nhà khoa học -những người biết rõ về ông- và vào các giới văn chương lúc ấy đang rất say mê khoa tâm lý học hiện đại. (Nhà tiểu thuyết tâm lý Paul Bourget được xét đoán là nhân vật “nhà văn Bergotte” trong tác phẩm). Michel Butor cũng từng nói rằng Proust và Freud cùng theo đuổi trên một con đường nhưng song song hai ngã; người này hỗ trợ người kia trên những quan điểm hữu lý riêng biệt. Thiết tưởng, điều ấy đã có nhiều phần đúng. Proust diễn tả tác phẩm mình như một người lặn chìm trong vô thức, và một phần chủ đề trong A la Recherche du Temps perdu cũng là sự tìm kiếm về cái nguồn gốc của bệnh trạng tâm lý khởi đầu từ tuổi thơ, dần dà theo thời gian sẽ dẫn đến “sự thăng hoa” của nghệ thuật.

            Từ bé, Proust đã tỏ ra rất yêu thích văn chương nghệ thuật. Những quyển sách và những buổi hội chiếu đèn cho trẻ em đã đưa dắt ông tới “một thử nghiệm nhiều hơn sự quan sát trong ý thích bình thường”. Sự thâm nhập trong giới thượng lưu là một phần làm phát triển bản chất ham mê nghệ thuật đó. Lớn lên tại Paris, ông theo học ở trường trung học Condorcet và thích thú hưởng ứng trào lưu “Decadent” (Suy đồi) lúc ấy đang nổi dậy ở Paris. Đó cũng là bước đầu cho một khuynh hướng đồng tình luyến ái và cái thói quen trưởng giả màu mè (điều tìm thấy rõ rệt từ những xấp thư được Proust viết ra trong thời kỳ này). Người cha khuyến khích Proust theo đuổi một nghề nghiệp thuộc ngành ngoại giao, nhưng ông lại thích đóng vai trò của một kẻ ăn chơi và trở thành một tay tài tử trong giới văn chương thời ấy.

Tại Paris, thường xuyên mặc hai chiếc áo dạ cùng lúc để giữ cho đầy hơi ấm, Proust là một khuôn mặt quen thuộc tại những quán cafe đại lộ thời thượng và trong các khách thính thượng lưu. Trẻ tuổi, tính tình cầu kỳ hợm hĩnh, nhưng nhờ lối nói chuyện dí dỏm lôi cuốn, ông lại rất được lòng các bà chủ các buổi dạ tiệc. Với soạn nhạc gia Debussy, người được nhà văn ái mộ, thì Proust giống như “một mụ già đài các hay thở hổn hển!” nhưng lại nổi tiếng là một tay chơi bảnh bao và suy đồi trong thập niên cuối cùng của thế kỷ 19. Và cho dẫu rất nhậy cảm, lại luôn có khuynh hướng tạo ra những rắc rối phiền nhiễu, ông cũng vẫn kết bạn được với nhiều người trí thức hiểu biết, cùng với họ tham dự những buổi thuyết trình tại đại học Sorbonne, --đặc biệt những buổi của Henri Bergson, một người họ hàng của Proust. (Henri Bergson -1859-1941-, triết gia Pháp, nổi tiếng về sự sáng tạo trực giác, “ký ức vô tình” và thuyết siêu hình của thời gian.

Thập niên 1890, phái Văn Chương Tự Nhiên (Naturalisme) đã từng được củng cố bởi Emile Zola, bấy giờ bắt đầu tàn lụi ở Paris để nhường chỗ cho một trào lưu mới về chủ nghĩa thẩm mỹ và tư tưởng suy đồi, trong đó, cái tâm lý về ý thức, cái “ấn tượng” về nghệ thuật, được nổi bật. Năm 1884 J.K. Huysmans xuất bản cuốn tiểu thuyết suy đồi của ông, A rebours (Đối Nghịch Thiên Nhiên), nói về một nhân vật quý phái đã tự rút lui vào trong cái tháp ngà nghệ thuật và những cảm xúc riêng, trong sự nổi loạn chống lại thế giới hiện đại. Nhân vật nói trên được kể rằng đã rập khuôn theo hình ảnh Nam tước Robert de Montesquieu. (Nam tước Charles de Secondat Montesquieu, nhà văn Pháp -1689-1755).

Đó cũng là cái vòng mà bấy giờ Proust đang đặt chân vào. Chính vị Nam tước nổi tiếng với cái cá tính băn khoăn rất độc đáo đã (vô tình) được vẽ hình lại qua các nhân vật de Esseinter của Huysman và Nam tước de Charlus trong A la Recherche du Temps perdu.

Năm 1896, Proust cho xuất bản tác phẩm thứ nhất, les Plaisiers et les Jours (Niềm Vui và Nỗi Tiếc Nuối), một tuyển tập thi ca, truyện ngắn và những bức phác họa theo đường lối Ấn Tượng. Lúc bấy giờ, ông đã bắt tay rồi với cuốn tiểu thuyết đầu tiên, Jean Santeuil, nhưng sau đó nó bị gạt bỏ, (năm 1953, lại được gom góp từ những trang bản thảo và cho xuất bản.) Jean Santeuil là một cuốn sách vừa đủ thú vị không chỉ đơn giản trên một câu chuyện kể thôi lại còn cho ra một thể thức căn bản và khởi nguồn của nghệ thuật; chứa đựng rất nhiều chất liệu. Hiển nhiên nó cũng là nguồn suối phong phú cho cái dự án “tìm lại thời gian đã mất” mà Proust sẽ đeo đuổi trong A la Recherche du Temps perdu về sau.

Những bước kế tiếp thì chậm chạp, trì hoãn. Nhà văn bắt tay với bản dịch một tác phẩm của Ruskin, phần lớn nhờ vào sự giúp sức của người mẹ trong việc sao chép giùm giòng văn chương bằng tiếng Ý của bản văn sang Pháp ngữ. Bà cũng đưa ông đến thành phố Venice, nơi chào đời của Ruskin; cỗ vũ nhà văn trên đủ mọi cách, đem cậu con độc thân đến những vùng suối nước nóng khi bệnh, trợ lực vai trò tài tử của ông trong cuộc sống xã hội phức tạp ở thủ đô Paris.

            Vào năm 1903, người cha qua đời. Hai năm sau, 1905, lại đến lượt cái chết của người mẹ xảy ra từ một cơn bệnh cảm mà bà vướng phải khi đem cậu con mảnh dẽ 35 tuổi đến dưỡng bệnh ở Evian. Cái chết của bà mang tính chất quyết định, tạo ra sự khủng hoảng và một khoảng trống sâu đậm trong suốt phần đời còn lại của nhà văn.

Sau một thời kỳ sống trong viện điều dưỡng, ông dọn đến căn nhà của gia đình trên đại lộ Haussmann; nơi đây ông trang bị một căn phòng nổi tiếng với những hàng nút chai ngăn chận tiếng động, và bắt đầu cuộc sống ẩn dật.

Trong nhiều năm Proust tiếp tục các cuộc du lịch tới nhiều thành phố, đặc biệt là Cabourg trong vùng Normandie, cạnh biển Manche. Ông duy trì sự thú vị sâu xa cho nghệ thuật (như sự thú vị theo những bước vũ ballet của người nghệ sĩ Nga tên Diaghilev, đến Paris trình diễn như một cơn bão dữ dội vào năm 1910) và là thành viên của sân khấu nghệ thuật trong đó gồm luôn Ravel, Apollinaire, André Gide và Cocteau. Ông hưởng ứng những trào lưu hội họa mới, thân cận với những họa sĩ của phái Cubist, hiểu biết sâu xa theo sự mê hoặc những quan điểm của phái Trừu Tượng. Đồng thời ông cũng thành công trên những mối quan hệ đồng tình luyến ái, nổi bật nhất là với Alfred Agostinelli, người trở thành thư ký riêng của ông và trong tác phẩm được điển hình là nhân vật “Albertine”. Ngoài ra, Proust cũng khởi sự với nghề làm báo trên một tác phẩm phê bình thú vị, tựa đề Contre Sainte-Beuve (Phản Đối Sainte-Beuve). (Bản văn này được in ra vào năm 1954 sau khi Proust đã chết). Đó là một cuộc thách đố của Proust đối với những nhà phê bình đã không muốn nhìn nhận cái quá trình sáng tạo, hoặc không thể hiểu được cái “ngã giấu kín” của giới nhà văn. Bài viết đặc biệt nhắm thẳng vào nhà phê bình Sainte-Beuve trên quan điểm giải thích của ông này theo tiểu sử Balzac.

Cái bản ngã riêng của Proust càng được giấu kín hơn khi ông bắt đầu rút lui khỏi giới thượng lưu để tự đắm chìm trong nỗi cô đơn, sự bệnh hoạn và trong thế giới của nghệ thuật. Ông tự nâng niu ve vuốt mình, liên tục để cho căn phòng xông khói thơm chống lại những cái mùi khó chịu. Vào ban đêm, ông thường bách bộ trên đường phố và thỉnh thoảng mới tham dự những buổi hội đông người. (Bấy giờ mới thật là lúc ông làm hành động “recherche” để tìm chất liệu cho tác phẩm).

Cái tiến trình này xem ra chẳng phải lạ lùng nếu như chúng ta nhớ lại nhiều nhà văn phái suy đồi cũng từng ca tụng sự khủng hoảng tâm lý, sự yếu đuối tâm hồn như một điều cần thiết để tự rút vào bên trong tháp ngà riêng, tạo cho mình một thế giới phù hợp hầu có thể sáng tạo nên những cái mới trong nghệ thuật. Riêng trường hợp Proust còn có thêm sự bệnh hoạn, nên cái ý muốn rút mình vào cuộc sống cô đơn càng thêm mạnh mẽ. Đó không hẳn chỉ là một sự tách rời khỏi xã hội --điều đã đánh dấu rất rõ cái nhịp điệu của giới văn chương Âu Châu thời ấy-- mà còn là một tháo gỡ sự sáng tạo riêng khỏi những phù phiếm của xã hội, mà sự bệnh hoạn chỉ là một biện minh cho hành động từ bỏ của Proust. Anh trai của Proust cũng là một bác sĩ tài giỏi, nên nhà văn có đầy đủ điều kiện thuận tiện trong sự chữa trị. Tuy nhiên ông vẫn thường xuyên từ chối sự chạy chữa, và sự chối từ này là một chứng cớ cho cái chết khá trẻ (51 tuổi) của ông. Quan trọng và chủ yếu hơn hết trong hành động ẩn dật chính đã nói lên cái ước muốn rút vào trong thế giới nghệ thuật để hoàn thành tác phẩm đã từng nhiều năm Proust đeo đuổi. Quả thật điều nói trên đã tạo được cho nhà văn và toàn thể cuộc đời một tác phẩm lớn, A la Recherche du Temps perdu. 

A la Recherche du Temps perdu từng được viết ra trong thập niên 1890 khi Proust đang dấn mình vào Jean Santeuil, nhưng cái chết của người mẹ trở thành khởi điểm cho một bước tiến mới trên tác phẩm.

Tháng 7/1909 ông bắt đầu viết nó lại một cách có hệ thống, và năm 1912, bộ ba tập hoàn tất (đúng như cái dàn bài mà chúng ta đang có hiện nay). Quyển thứ nhất xuất hiện năm 1913, nhưng thế chiến I đã làm gián đoạn phần xuất bản hai quyển sau, cho phép Proust trở lui với những kéo dài trên tác phẩm. Bấy giờ nó lại chuyển sang là một “việc làm cả đời”. Những mảnh đoạn mới, những ý tưởng mới, những chủ đề mới rút từ chiến tranh không ngừng được bổ túc, đồng thời cũng làm suy đồi thêm cái sức khỏe vốn mong manh của Proust. Tuy nhiên, vẫn không điều gì có thể cản trở Proust trong sự làm việc; và suốt qua văn chương, ông phơi trải được hoàn hảo những cái gì mà ông đã bị đánh mất ngoài cuộc đời.  

Năm 1919, hệ thống xuất bản được hồi phục lại. Proust chiếm được giải Goncourt cho tập thứ hai. Bấy giờ bỗng dưng ông trở thành là một nhà văn nổi bật của thập niên 1920 trong số rất nhiều nhà văn của thời hậu chiến. Mảnh khảnh, bệnh hoạn, ông hưởng thụ danh vọng, đồng thời tỏ ra rất thích thú theo những trào lưu nghệ thuật mới đang tuôn chảy trong thời hậu chiến –như Picasso và phái Cubis, những con người được Proust nồng nhiệt tuyên dương trong tác phẩm. Tuy nhiên, A la Recherche du Temps perdu mới chính là ý nghĩa cao điểm chiếm hữu trí óc nhà văn, một công việc quan trọng hơn hết. Nhà văn cảm nhận được gần như trọn vẹn tới cái kết thúc của nó bởi vì ông đã phô bày (qua giọng điệu Marcel) những điềm báo cho biết Sự Chết sắp đến, và ngay cả nói về chính mình như thể một người đã chết. Dầu vậy, những ý tưởng hỗn hợp được thêm vào vẫn cứ tuôn chảy trên trang giấy như một giòng thác. Sự làm việc vẫn tiến hành một cách không nao núng cho mãi tới điểm cuối cuộc sống. Từ sự chủ tâm ơ hờ với sức khỏe suy yếu để xả thân trọn vẹn cho tác phẩm, bộ A la recherche du Temps perdu đồ sộ gồm 7 phần, kết thành 13 tập, cuối cùng được kết thúc trong tình trạng như vừa nói ở trên.   

Vào ngày chết, 18/11/1922, lúc 3 giờ sáng, Proust gọi người hầu bảo viết thêm vào tác phẩm –một cách thích hợp vừa đủ- cái cảnh chết của nhân vật nhà văn Bergotte.

IV.

Proust đã làm hoàn hảo tác phẩm A la Recherche du Temps perdu như một trong những công trình văn chương vĩ đại nhất của phái Hiện Đại. Trong lịch sử văn chương thế giới, cũng đã từng có những tác phẩm ngoại lệ được tác giả đặt trọn đời mình vào để thực hiện. Nhưng chỉ vài trong số đó mới gây nên được một sự ám ảnh hoàn toàn đối với tác giả của nó. Sự tìm kiếm khởi đi từ vùng Combray của tuổi thơ kéo dài đến cuộc sống trong xã hội thượng lưu của thập niên 1920 là một nỗi ám ảnh lớn trong tâm hồn một tác giả ngoại lệ. Từ bởi một phẩm chất lạ lùng, một quan sát sống động, một xem xét phân tích rất đặc biệt, một sự tò mò không ngừng về tâm lý và lịch sử học; và cũng bởi cái cường độ ước muốn sâu xa về tính dục và tình cảm, Proust đã chuyển đổi A la Recherche du Temps perdu từ một loại hồi tưởng của ký ức sang một tác phẩm đầy tính nghệ thuật bậc thầy. Trọng tâm của tác phẩm có lẽ đã được đặt ở phần cuối, Thời Gian Tìm Lại (Temps Retrouvé) khi điều “tìm lại” này bắt đầu đưa tới.

Chiến tranh đã dứt và Marcel được đưa vào viện điều dưỡng. Một thời gian sau, anh ta trở lại Paris trong trạng thái tuyệt vọng theo sự thất bại của một trí tưởng tượng không đạt được đến đích sáng tạo của nó. Cái thế giới anh ta hiểu rõ thì dường như đã trôi xa từ lâu lắm, một thời đại đã chia lìa vĩnh viễn. Dù vậy, anh ta được mời tham dự một buổi trình diễn âm nhạc tại ngôi nhà mới của Công tước de Guermantes trên Avenue du Bois. Trên đường đến đó, anh ta gặp lại nhiều người quen cũ, đặc biệt là cuộc gặp gỡ chớp nhoáng với chính ngay vị Nam tước de Charlus, người đang tiều tụy đau khổ vì bệnh mất ngôn ngữ (aphasia), một kiểu sai khớp quai hàm khiến không nói được. Thế rồi, “cánh cửa duy nhất có thể vào” đột nhiên mở ra trước mặt anh ta với sự hài hòa kỳ lạ:

“Đầu óc quay vòng với những ý tưởng ảm đạm, tôi bước vào cái sân của lãnh địa Guermantes trong trạng thái lơ đãng nên đã không nhìn thấy một chiếc xe đang tiến về phía tôi; tiếng người tài xế la to và tôi chỉ còn đủ thì giờ để nhảy lùi về phía sau, nhưng lại bị hụt chân vì một viên đá lót đường lồi lõm. Thế rồi, đúng ngay cái lúc lấy lại được thăng bằng để đặt bước trên một viên đá thấp hơn những viên khác, tức thì tất cả mọi chán nản trong tôi đều biến mất để nhường chỗ cho một niềm hạnh phúc chan hòa theo những kỷ niệm của mọi thời kỳ trước đó vừa mới thoáng hiện trong óc tôi: “Những ngọn cây từng nhìn thấy trên đường đi Balbec, quang cảnh của hai cái gác chuông nhà thờ ở tỉnh Martin, mùi thơm của miếng bánh ngọt nhúng trong cốc nước trà, và tất cả những cảm giác khác ở trên tôi đã nói.”

Quá khứ trở lại với Marcel như muốn nói rằng: “Hãy nắm bắt tôi trong khi tôi lướt đi nếu bạn có thể, và cố gắng tháo gỡ điều bí ẩn của hạnh phúc mà tôi đã đưa ra cho bạn.”

Đoạn tiếp theo giây lát trên con đường lát đá là câu chuyện của sự tái sinh một cách rất nghệ thuật trong Marcel với một cảm nhận hoan hỉ về sự thấu hiểu mục đích tìm lại những gì đã mất. Anh ta bắt đầu sống lại tất cả. Sự đụng chạm của chiếc muỗng trong cốc nước trà đã mang trở lại tiếng chuông reo tại cái cổng vườn ở Combray, cảm giác mịn màng tạo ra từ chiếc khăn giấy mà Marcel từng lau mặt, đem anh ta trở lại Balbec. Trong khi phân tích các cảm tưởng này, anh ta bỗng chợt nhận ra sự đa dạng tổng hợp của mọi sự việc, và cảm nhận những giây phút quyết định của cuộc đời thì cũng giống như những thứ khác nhau được bỏ chung trong một cái lọ đậy kín nút rồi đặt vào vị trí “ở những độ cao đạo đức khác nhau và tạo cho chúng ta cái cảm giác của một không khí lạ thường thay đổi.” Bất cứ tác phẩm nào (mà bấy giờ Marcel biết rằng mình cũng có thể viết được) cũng phải cần thiết được thực hiện từ những chất liệu khác nhau. Những chất liệu này sẽ có một cái gì đó tạo nên được một thứ hạnh phúc. Vì thế, giây lát chủ yếu chính là đã bao gồm cả quá khứ lẫn hiện tại và được tìm thấy “từ một môi trường riêng giống như một ngõ thoát, có nghĩa là: Ở Bên Ngoài Thời Gian.”

Đoạn kể sau đó là sự hợp nhất của những kinh nghiệm khác nhau mà tác giả đã khảo sát tỉ mỉ bên dưới cái nhìn của thứ “vô thời gian” ấy. “Cuốn sách nội tâm của một biểu tượng không có tên” trong Marcel bắt đầu được trau chuốt. Cuốn sách, Marcel nhận biết, không thể là một tác phẩm giống như mọi tác phẩm khác, mà chính độc giả phải là người khám phá nó.

Để nhắm vào một sự thật vẫn còn đang xâm nhập vào giới tiểu thuyết hiện đại, người-kể-chuyện-Marcel đã viết: “Trong kết luận này, do bởi ý tưởng huyễn hoặc của cái gọi là nghệ thuật hiện thực, tôi tin chắc rằng nếu trong đời chúng ta không đạt được thói quen ghi ra những gì chúng ta cảm thấy sau khi đã có được nó, thì chính cái nghệ thuật hiện thực đó phải không được diễn tả một cách giả dối.”

Trong một đoạn văn dài đầy tính nghiên cứu và trích dẫn văn chương -điều rất bất thường với mọi tác phẩm, Marcel đứng trong thư viện nhà Guermantes, bày tỏ bằng một thái độ xúc động, hiểu biết nhưng cũng rất chỉ trích phê phán, về cái chủ đề nghệ thuật và cái tâm điểm hình thành của tác phẩm mà chúng ta đang đọc. Bối cảnh này được tiếp theo bởi một cơn thịnh nộ của các thính giả chung quanh. Rõ ràng là Marcel đã phơi bày không đúng cơ hội và vị trí những cảm nghĩ của mình.

Bấy giờ anh ta bèn nối kết với các quan khách tại buổi tiệc –để tự cảm thấy như mình đang ở trong một buổi hội hóa trang mà mỗi con người anh ta quen biết đều có đóng một vai trò giả hiệu, mặt bôi phấn trắng, tóc nhồi đầy bột, trong “cuốn sách đời” anh ta đang cảm nhận. Thời gian đã tàn phá tất cả, không chỉ cá nhân, mà còn là xã hội và toàn thế giới. Một thành phố như Paris từng đã có thể bị xé nát bởi những khuynh hướng chính trị sôi nổi vào thời điểm xảy ra Vụ Án Dreyfus -bạn hữu tranh cãi nhau, người thân lìa bỏ nhau-; vậy mà cái giòng lạnh lùng của thời gian vẫn mang đi tất cả, phe thắng cũng như phía bại. Bây giờ, gặp lại nhau khi ai nấy đều đang đứng trên ngưỡng cửa của phần cuối đời mình, những đam mê sôi nổi ngày xưa đã gần như nguội lạnh hết. Nếu thảng hoặc con người quay trở lại những nơi chốn mà họ đã từng yêu mến thì quả thật là điều vô ích bởi vì họ sẽ không bao giờ còn bắt gặp lại lần nữa trong chính họ những tình cảm xưa cũ; và cũng bởi vì mọi điều như vậy bấy giờ không còn được đặt để trong không gian, mà là trong Thời Gian.

Dưới mắt Marcel, buổi hội bỗng biến thành một cuộc trình diễn múa rối lớn lao của thời đại, một sự mỉa mai trên Tình Yêu và giới quý tộc. Tuổi tác đã lừa dối tất cả bọn họ, luôn cả với Marcel: “Tôi đã khám phá ra được hành động tàn phá này của Thời Gian ngay chính vào lúc tôi nhận thức ra cái hoài bão muốn làm cho những gì nằm bên ngoài Thời Gian được trở thành rõ rệt và chuyển đổi nó vào trong một tác phẩm nghệ thuật.”

Trong cái đặc biệt và kỳ cục mà Proust đã sáng tạo cho bối cảnh này, trên những bước Khiêu Vũ Của Thần Chết đang dần đến với nhà văn, toàn thể xã hội thượng lưu và thế giới dục tính đã được xem xét kỹ càng dưới mắt người kể chuyện. Khi cuối cùng Proust cho quay về với cuốn sách của Marcel thì đó không chỉ là nỗi ước muốn kiếm tìm một thời gian vô tận thôi, mà còn là tràn ngập những lời báo trước về Sự Chết của chính Proust. Với cái nhìn hai nghĩa này, nhà văn đã cho nhân vật Marcel trở lại với tiếng chuông cửa ngôi vườn ở Combray –vào đúng giây lát mà anh ta nói “Tôi thoát ra”. Bấy giờ anh ta biết rằng ký ức vẫn bám chặt lấy mình, và anh ta có thể tìm lại nó lần nữa. Cái vòng tròn của cuốn sách trở nên hoàn hảo, nhưng bên trong cái vòng ấy đã có nẩy sinh sự khám phá thiên hướng của một nghệ sĩ và một thể thức nguyên thủy cho “một cuốn sách nội tâm của một biểu tượng vô danh”. Những biểu tượng và những ký hiệu bí mật được tìm thấy trong vô thức, giống như sự vấp chân bởi những tảng đá trong làn nước của một người thợ lặn. Cuốn sách (của “Marcel”) bấy giờ không phải là một hồi ký hay một bản tự truyện, cũng không là một vật vô hình, mà là một tác phẩm đã được cấu tạo và lớn dậy từ trong sự mài giũa của nội tâm.

Một cuốn sách cá nhân không phải là một điều đơn giản, như Marcel giải thích: “Công việc của tôi là diễn dịch cảm giác của mình bằng cách lôi ra từ bên trong cái bóng tối nội tâm những gì tôi chỉ cảm nhận, để biến đổi nó sang vị trí tương đương của lãnh vực trí tuệ. Xem ra với tôi, đó là phương pháp duy nhất, và phải chăng từ đó sẽ thoát thai ra được một tác phẩm nghệ thuật?”

V.

A la Recherche du Temps perdu, với tất cả trạng thái buồn rầu trong bối cảnh cuối cùng tại buổi tối ở nhà Guermantes, là một trong những tác phẩm phô bày rõ tính xác thực của nhịp điệu văn chương hiện đại. Nó được kết thúc trên cái nhìn sâu xa của Proust về Sự Chết, nhưng cũng trên cảm nghĩ về một sự làm mới tinh thần và một niềm tin theo uy lực của nghệ thuật. Thật vậy, Proust đặt hoàn toàn tin tưởng vào cái ánh sáng kỳ diệu của nghệ thuật, lộng lẫy như biển cả và êm đềm như đêm tối, điều đã nói lên từ những bức tranh treo trên các bức tường căn phòng ngủ thân thiết và mở ra cuộc sống bên ngoài, vượt quá căn phòng khách sạn, rạp hát, hoặc cái khách thính tại lâu đài gia đình Guermantes. Với khoảng nhìn rộng này, Proust bị ảnh hưởng bởi phái Lãng Mạn và phái Ấn Tượng hơn nhiều nhà văn hiện đại khác. Sự tôn kính sâu xa mà ông dành cho giới thượng lưu tao nhã qua bức chân dung xã hội được ông vẽ nên một cách khôi hài nhưng thật rất sâu sắc, đã là một cái gì đó mà những nhà văn khác giải đáp cho chính họ nỗi hoài nghi về ông.

Tính chất hiện đại của Proust đến từ sự rút lui lớn lao khỏi giới trí thức, khỏi tính ưa thích nhục dục, và khỏi những lý luận về nghệ thuật. Ông là một trong những người sáng tạo vĩ đại nhất dù rằng xem như ông chẳng sáng tạo chút nào cả ngoài việc nằm đó và hồi tưởng lại quá khứ.

Quả thật với nền tiểu thuyết Pháp, sau thời kỳ của phái Hiện Thực (Realisme), Proust đã làm xong được một cuộc cách mạng toàn diện và cần thiết bằng tất cả những gì của riêng ông, giống như ông từng nói: “Những gì chúng ta không có để giải đoán hoặc làm sáng tỏ bởi sự cố gắng riêng, những gì vốn đã là sáng sủa trước khi chúng ta nhìn vào nó, thì không phải là của chúng ta.”

            Để cho được công bằng, chúng ta phải nhận rằng sau khi A la Recherche du Temps perdu xuất hiện, ngôi vị sáng tỏ của nền tiểu thuyết hiện đại đã được phân chia giữa Proust và Joyce. Hai nhà văn gặp nhau chỉ một lần, tháng 5/1921, khi văn sĩ Anh, Stephen Hudson mời họ tham dự một buổi tiệc tổ chức cho các nhân vật tăm tiếng gồm nhà soạn nhạc Stravinsky, nghệ sĩ vũ ballet Diaghilev, Picasso, Proust và Joyce. Đó là một trong những cơ hội vinh dự hiếm hoi để những người được mời khó thể từ chối mà không tiếc nuối. Người ta nghĩ rằng Proust sẽ không đến, nào ngờ ông đã có mặt. Joyce đến trễ hơn, ăn mặc cẩu thả, và chỉ tìm tới để chào Proust khi họ chia tay nhau. Trong câu chuyện giữa hai nhà văn lớn của thời đại, Proust phàn nàn về chứng đau dạ dày của mình và Joyce phàn nàn về đôi mắt kém của ông. “Tôi tiếc rằng đã không biết tác phẩm của Monsieur Joyce,” Proust đã nói. “Tôi chưa từng đọc tác phẩm của Monsieur Proust,” Joyce cũng nói. Giây lát hãn hữu của lịch sử văn chương thế giới đã trôi đi, giống như những giây lát như thế thường xảy ra trong sự dang dở như thế. Vào lúc mà tác phẩm Ulysses của Joyce xuất hiện năm kế tiếp, Proust đang trong tình trạng chống cự dữ dội với Cái Chết đang đến rất gần.

Hai nhà văn lớn của hai thế hệ tiếp nối không bao giờ hoàn toàn gặp nhau, nhưng mỗi người vẫn tiếp tục trở thành bất tử trên con đường đầy uy lực dấu vết riêng mà họ đã tự tạo ra.

(Bài viết dành tưởng niệm đặc biệt TRÂN SA
và quãng thời gian đã mất...)
Cali, Mar. 12/2004

[ ]

 

 

 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com