
Posted: 1.11.2004
Vài lời của Web Giao Điểm: Cuốn
sách Tổ Quốc Ăn Năn ấn bản lần đầu của tác giả Nguyễn Gia Kiểng
xuất hiện cách nay gần bốn năm (2001). Trong khoảng thời gian từ đó đến
nay, đã có một số nhân vật hoạt động chính trị, văn hóa thân hữu của
nhóm Thông Luận tâng bốc, khen tặng cuốn sách quá lời. Một số nhân vật
trong các phe nhóm, đảng phái chính trị ở hải ngoại đã lên tiếng phê
bình, chỉ trích. Một số khác nhiệt tâm với dân tộc thì phẩn nộ. Phần
lớn các thức giả đứng tuổi giữ sự im lặng. Nhìn chung, theo nhận xét
chủ quan của chúng tôi, những lời khen thì bất xứng và những lời phẩm
bình vẫn còn chỗ bất cập. Ngoài ra, còn có một điểm đáng ghi nhận
khác là “chưa có một cây bút nữ nào” lên tiếng phê bình tác phẩm.
Chính vì vậy, bài phê bình ‘Tổ Quốc Ăn
“TỔ QUỐC ĂN NĂN” HAY “THÙNG RỖNG KÊU TO” ? Trần Thị Bông Giấy. I. VÀI GIÒNG SUY NGHĨ.
Vừa
hai tuần trước, trong cuộc gặp gỡ anh Nguyễn Văn Hóa, người bạn bên
diễn đàn Giao Điểm, luận đàm về chuyện văn học, tôi nghe anh mai mỉa:
“Người ta
hay dùng chữ chợ khi nói về văn
chương. Chợ văn chương! Cả trong tiếng
Mỹ cũng thế. Literary market! Mà đã là
chợ thì có bán đủ mọi thứ, từ cá tôm tanh tưởi cho đến các loài
hoa thanh khiết.“
Tôi cười, thầm
thú vị vì cái lối chuyện trò tửng tửng của người bạn. Ở anh thấy
rõ tính cách điềm đạm của một người rất yêu chữ nghĩa. Anh không thường
nổi giận, giao thiệp nhau từ đã rất lâu nên tôi biết điều ấy. Vậy
mà khi nói về văn chương với lối mỉa mai như vậy thì có nghĩa trong lòng
anh đang có điều phẫn nộ chi đây?
Anh tiếp:
“Trong cái chợ
văn chương hải ngoại, thấy toàn cá tôm mà chẳng có bao nhiêu cành hoa đẹp. Một cây viết trung thực như BG phải kể
là một cành hoa đẹp, nhưng không phải là điều nhan nhản. Tôi thật tiếc
cho BG!”
Tôi hỏi tại
sao? Anh đáp, trong cái vẻ có hàm chút gì xa xót:
“Rất nhiều
‘cái bọn nhà văn’ hôm nay, câu viết
không ra hồn ra dáng, chữ nghĩa bét nhè bê bối, vậy mà chỉ nhờ hệ thống
internet, độc giả ai cũng biết đến tên
bọn đó. Còn BG, con người nhiều tài năng mà sao cứ tự vùi chôn?”
Sự vùi chôn này rõ ràng như một
thực thể, bất cứ ai chung quanh tôi cũng đều nhìn thấy. Đó là cái giá mà tôi phải trả cho hai tập Truyện
Dài Không Có Tên, phô bày cá chất thực của giới văn nghệ sĩ hải ngoại,
xuất bản năm 1994 và 1998. Là sự cô đơn
được đáp lại từ tấm lòng mến yêu Sự Thật và Lẽ Phải trong tôi…
Nhưng tôi bằng lòng với không chút gì hối tiếc. Theo từng năm, các tác
phẩm đi sau vẫn chào đời liên tiếp. Nhưng in ấn xong, chúng lại được
tôi “chôn vùi” trong một góc vườn mà chẳng màng gì chuyện phát hành
ra cho độc giả. Cả cá nhân tôi cũng cùng chung định số. Tôi không hề
muốn thoát ra ngoài cái vũng cô đơn đã ấp ủ mẹ con tôi hơn chín năm
qua.
Cái quan niệm
“nghệ thuật vị nhân sinh” vẫn là quan niệm trong tôi như đã mang từ
khi còn nhỏ. Nhưng bây giờ cái chuyện “vị nhân sinh” được đóng lại
hẹp hơn trong phạm vi một mái nhà bé nhỏ có sự hiện hữu của bà mẹ
già và đứa con thơ. Tôi viết, vì cần phải viết, để giữ cho tâm hồn
mình còn nhiều nghị lực hầu thực hiện cho tròn cái đạo làm con và
làm mẹ. Những bản văn được viết chính là chất bổ dưỡng cho cái nghị
lực tôi nói ở trên. Cái quan niệm này ngẫm ra có phần vị kỷ. Nhưng tôi
còn biết phải làm sao? Từ lâu, sự quay lưng với giới văn chương hải
ngoại đã trở thành thói quen thân thuộc. Tôi không còn muốn biết gì đến
họ. Và dẫu cho không phải là một lời tự biện, nhưng trong hoàn cảnh
riêng, đó là lối lý giải hay nhất cho con đường Định Mệnh tôi phải
bước đi.
Người bạn hỏi:
“Lúc này BG
có còn viết về các đề tài phơi bày Sự Thật?”
Tôi cười:
“Còn thì sao?
Mà hết thì sao?”
Người bạn
cũng cười:
“Còn thì
thôi, nhưng hết thì thật tiếc!”
“Tại sao vậy?”
Vẻ mặt người
bạn trầm ngâm:
“Tiếc, bởi
vì đã lâu không thấy ai ‘dọn dẹp’ nên ngôi vườn văn nghệ hải ngoại
cứ mọc bừa ra những đám cỏ rậm. ‘Chúng nó’ múa gậy vườn hoang
nhiều quá!”
Tôi hiểu, bởi
vì đó là cái cách chúng tôi hay nói khi luận bàn về chuyện chữ nghĩa với
nhau. ….
Tôi tự hỏi,
có phải là “cái nghiệp” chăng, khi mà tôi đã từng và sẽ còn đeo suốt
đời lên đôi vai mình hai chữ Văn Chương và Sự Trung Thực? Có phải là
nghiệp không khi lần nữa tôi phải ngồi vào bàn với những bản văn như
kiểu Truyện Dài Không Có Tên tôi viết dạo trước kia? Bài điểm sách Đêm
Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên, sau một đêm thức trắng, đã được tôi
cho chào đời tuần lễ trước. Và bây giờ lại phải “động não” theo
một bản văn khác mang nhiều tính chất “cỏ rậm” hơn như lời than của
bạn tôi. Đó là cuốn Tổ Quốc Ăn Năn (TQĂN) của tác giả Nguyễn Gia Kiểng
(NGKiểng), phát hành ở ….. II. VÀI NHẬN ĐỊNH
SAU KHI ĐỌC “TỔ QUỐC ĂN NĂN”
Một cuốn sách
dầy 604 trang chữ nhỏ, cầm rất nặng tay, bìa hai màu đơn giản, không
màu mè kiểu cách. Tuy nhiên, đọc suốt cho tới chữ cuối cùng của nó
là một điều khá vất vả với tôi. Từ cách hành văn cho đến những ý
tưởng phơi bày của tác giả đã tạo nên trong tôi cái cảm nghĩ “đang phải bước đi trên một con đường
có nhiều bụi gai vướng vít” rất là khó chịu. (Sự muốn chụp bắt
chủ đích của tác giả, do đó, có phần không thoải mái. Vì vậy, nếu
những nhận định được ghi ra ở phần phân tích tác phẩm và tác giả
ở đoạn II mà có hàm chút nào tính chủ quan, -tôi sẽ cố hết sức
tránh né điều ấy- xin độc giả vui lòng thông cảm cho.)
Có một điều
tôi cần giải bày cùng độc giả: Nếu chỉ là một cuốn sách với lối
hành văn xoàng và chủ đề không có gì đặc biệt, tôi hẳn đã buông nó
ngay từ những trang đầu mới lật. Nhưng với cuốn này thì ngoài cái
tính quá xoàng trên phần hình thức, đã có một điều VÔ CÙNG NGUY HIỂM
ở phần nội dung, khiến tôi cứ phải tự mình ráng đọc, ráng tìm hiểu,
trước khi ngồi xuống bàn làm việc với bản văn mà bạn đọc đang cầm
trên tay.
Càng đọc cuốn
TQĂN, tôi càng hiểu ra cái thái độ khinh bỉ của người bạn tôi khi nói
về “cái chợ văn chương hải ngoại”,
đặc biệt là với cuốn ấy. Nhưng càng đọc, tôi lại càng thấy mình
“không có quyền lánh xa cái chốn giang hồ
đầy những mưa máu gió tanh.”
Những lời thơ
của Phùng Quán cứ vang hoài trong óc suốt những ngày sau đó:
Thì con đường
chân thật này là con đường tôi ĐÃ CHỌN từ khi mới chào đời, hoặc rõ
hơn, từ khi bắt đầu cầm cây viết mười sáu năm về trước. Tôi đã
“nhập cuộc” thì phải theo cho trót. Trách nhiệm của người cầm viết
không cho tôi cái quyền trốn chạy những điều không lương thiện mà
mình nhìn thấy. Cuốn TQĂN và tác giả NGKiểng chính là những gì tôi gọi
là “không lương thiện” đó. Một cuốn sách đầy chất độc hại được
viết ra từ bàn tay một người làm chính trị với những mưu đồ đen tối.
Một cuốn sách 604 trang với toàn những giòng những câu miệt thị thóa mạ
trên cả một dân tộc VN. Một cuốn sách chứa chấp những tư tưởng của
một con người vừa thành công mà cũng vừa thất bại, vừa đầy tự ti mặc
cảm lẫn cả tự tôn mặc cảm. Một cuốn sách câu cú lủng củng, ý tưởng
ngông cuồng mà lại được rất nhiều kẻ về hùa tâng bốc là “nghệ thuật”, “văn chương!”
Năm xưa đọc
nghiền ngẫm chữ nghĩa của Gogol, một nhà văn vĩ đại của nước Nga, tôi
thông cảm biết bao cái tâm lý xung đột của ông giữa “niềm tin trên văn chương như một sức mạnh
đạo đức” với cái sự thật rằng “ngòi
viết của ông không đủ tàn phá hết những điều xấu xa mà nước Nga
đang phải gánh”. Với ông, mọi tội lỗi thế gian xuất phát từ sự
băng hoại của tâm hồn con người. Vì thế mà ông cứ mãi tự dày vò
mình theo ý nghĩ: “Thượng Đế muốn ông
không chỉ đóng vai trò một kẻ khiển trách những cái hủ tục xã hội
suốt qua các bản văn châm biếm, làm thành tiếng cười cho độc giả; lại
còn phải tìm ra cho nước Nga một con đường ngay thẳng để có thể sống
còn giữa một thế giới đầy những quỷ ma.”
Đó là lý do
cho sự chào đời của tác phẩm “Những Đoạn Chọn Lọc Từ Các Lá Thư
Gửi Bạn”, xuất bản ngày 31/12/1846, qua đó, để gửi gấm hoài bão muốn
thanh lọc cái thế giới kinh khủng này, Gogol đã không ngần ngại tỏ bày
rõ rệt mọi ý tưởng riêng về dân tộc và vận mệnh dân chúng Nga, về
giáo hội, thi ca, văn chương và nghệ thuật. Bằng giọng văn nhún nhường,
hiểu biết, gần như đau khổ, trong phần lớn các bài viết, nhà văn đưa
ra những lời khuyên thiết tha về bổn phận của con người trên khía cạnh
đạo đức. Gogol viết cho nhiều giới: từ giới giang hồ đến những chủ
điền, từ nhà cầm quyền đến giới văn nghệ, từ trí thức đến bình
dân… Trong các lời khuyên, nhà văn đã tỏ ra rất thật lòng. Tất nhiên,
những tổ chức chính trị xã hội không làm ông chú ý bằng sự cải thiện
đạo đức. Ông tin rằng tác phẩm của mình là một thông điệp quan trọng
và cần thiết tức thì trong sự cứu độ dân chúng Nga thoát khỏi vòng tội
lỗi. Và ông cũng tin rằng độc giả sẽ đón nhận nó từ lòng sợ hãi
và biết ơn.
Nào dè, quyển
sách vừa tung ra đã làm dậy lên trong nước Nga những cơn bão văn chương
mãnh liệt. Những người bạn thân lẫn cả bạn không thân đều chống đối
Gogol. Aksákov, người bạn suốt nhiều năm dành cho Gogol một lòng sùng
bái, đã viết gửi nhà văn một lá thư đau khổ để phô bày tình bạn bị
thương tổn. Dữ dội nhất là nhà phê bình Belínski, người đã từng một
thời hâm mộ Gogol, từ
Bây giờ, với
cuốn TQĂN, tôi thấy tác giả NGKiểng cũng đang muốn làm lại cái hành động
của Gogol nhưng với một cung cách và tâm
ý hoàn toàn khác. Ông NGKiểng không phải nhà văn, mà là một nhà
chính trị như ông đã tự xác nhận. Còn tôi, với tâm hồn của một nhà
văn, chính trị là điều tôi không bao giờ muốn nghĩ đến. Tuy nhiên,
không nghĩ đến không có nghĩa là có quyền thản nhiên quay lưng trước những
cái gì mình cho là nguy hiểm trên kẻ khác mà mình nhìn thấy. Tôi sẽ
không bao giờ chấp trách ông NGKiểng nếu như trong cuốn sách của ông, thấy
toàn là cách hành văn xoàng kém. Điều tôi muốn trình bày ở phần sau
chính là, “ẩn nấp dưới hình thức văn
chương, tác giả đã có che giấu một âm mưu đả phá độc hại cái tinh
thần VN một cách rất vô trách nhiệm, không những đối với các tiền
nhân, mà còn với cả lớp người trẻ VN trong các thế hệ đi sau.”
Lẽ ra tôi cũng
muốn bắt chước nhà văn Mai Kim Ngọc trong một bài phê bình về ông Nguyễn
Văn Trung là “trả lại cho đám học trò
lớp 12 của ông Trung những cái lỗi về văn phạm, cú pháp của ông ấy”
mà không thèm lý tới trong bài viết; nhưng vì với TQĂN và cá nhân tác giả
NGKiểng đã có một vị trí ở hải ngoại “khác” hơn rất nhiều so với
ông Nguyễn Văn Trung, nên tôi đành làm cái chuyện mà tôi rất ghét: “Vạch
lá tìm sâu.” Điều tôi muốn đưa ra là, để đóng được cái vai trò
lãnh đạo trong một hội nhóm chính trị với mục đích làm chuyện “quốc
gia đại sự” thì điều cần có không những chỉ là tư cách, đạo đức
thôi, mà còn phải cả tài năng và đởm lược riêng nữa.
Ông NGKiểng
đang là “lãnh tụ” của nhóm Thông Luận ở Paris, một nhóm chính trị rất
ồn ào trong những hô-hào-đoàn-kết-hòa-hợp-hòa-giải-đổi-mới-dân-tộc-cải-thiện-
con-người... lung-tung-loạn-xạ… vậy mà ông vừa không có Đức lại thiếu
cả Tài, thử hỏi làm sao có người chịu phục tùng ông cho được? Ông bảo
rằng từng đi du học khi 19 tuổi, từng đỗ kỹ sư và nắm biết bao chức
vụ quan trọng trong xã hội Pháp từ mấy chục năm qua. Nhưng đọc sách
ông, tôi thấy “ngờ” theo điều này lắm. Chẳng phải tôi, mà bất cứ
em học sinh lớp 9 nào đã từng thông qua chương trình Việt văn, học về
ngữ pháp, cũng đều có thể thấy ra những cái rất xoàng trong phần hình
thức của cuốn TQĂN.
Nhưng “nói khơi
khơi” như ông NGKiểng thì lại là điều tôi không sao làm nổi; nên đành
phải chứng minh xác thực bằng chữ nghĩa cái chuyện “vô tài bất tướng”
của ông trong bài viết hôm nay. Nếu như điều đó có làm nhàm mắt độc
giả, xin vui lòng lượng thứ. Những độc giả trẻ lớn lên ở xứ người,
không rành chữ nghĩa VN, cũng cần phải biết những cái sai ấu trĩ của
ông NGKiểng để liệu mà tránh xa cái nhóm Thông Luận độc hại kia.
Để bài viết
được mạch lạc, những suy nghĩ của
riêng tôi sẽ được chia ra trong hai phần: A. Hình Thức (Phân Tích Cấu
Trúc Tác Phẩm) và B. Nội Dung (Phân Tích Ý Tưởng Tác Giả). Cũng xin lưu
ý độc giả, kể từ lúc này trở đi, tất cả những “câu văn chữ nghiêng trong hai dấu ngoặc kép”
trong nguyên phần Hình Thức bên dưới
là được trích chính xác từ lời ghi trong cuốn TQĂN của tác giả NGKiểng.
Riêng các chữ nghiêng đậm Italic trong đoạn văn là
sự cố ý nhấn mạnh của TTBG, kẻ viết bài này.) A. PHẦN HÌNH THỨC: CẤU TRÚC TÁC PHẨM.
Điều nhận xét
đầu tiên:
Đây là một cuốn sách –gần như duy nhất trong
số sách của các tác giả VN từng đã đọc- tôi thấy trong đó chỉ phơi
bày toàn các khuyết điểm mà không có ưu điểm. Đó là một thiếu
sót rất đáng thương cho tác giả trong một công trình tim óc kéo dài hằng
“bốn năm” như ở trang XI ông đã
ghi.
Điều nhận xét
thứ hai: Tác giả là “một người làm chính trị chứ không làm văn học
hay nghiên cứu lịch sử” như rất nhiều lần, và đặc biệt ở trang
155 và trang 171, cái ý tưởng đồng dạng được xác định. Vậy, cá chất
đầu tiên một người làm chính trị CẦN PHẢI CÓ là tính “thuyết phục.”
Riêng tôi sau khi đọc TQĂN, cũng phải nhận “tác giả có ý muốn phô
bày một cái mới” nào đó bằng chữ nghĩa để thuyết phục độc giả.
Nhưng qua cuốn TQĂN, tính thuyết phục này HOÀN TOÀN HỎNG bởi rất nhiều
hình thức diễn đạt của tác giả mà tôi sẽ lần lượt trình bày từng
điểm (với một vài dẫn chứng tiêu biểu) như sau. 1/ CHỮ
NGHĨA ĐẦY TÍNH KỂ LỄ.
Một người đàn
ông, đặc biệt là “người đàn ông làm chính trị” thì cá chất rõ rệt
nhất nơi họ là “nói năng dứt khoát”. Đọc trong TQĂN, tôi nhận thấy
điều này rõ ràng KHÔNG CÓ nơi con người tác-giả-làm-chính-trị-Nguyễn-Gia-Kiểng.
Cũng vậy, một
tác phẩm với cái tựa “thật kêu” và cái tít phụ mang đầy tính dân
tộc: “Nghĩ
lại đất nước trên ngưỡng cửa một thế kỷ 21 và thiên niên kỷ mới”
mà ngay từ phần nhập đề sơ khởi, qua ba bài viết, lại chỉ thấy
toàn phơi bày chuyện nhà, chuyện lòng riêng của tác giả; thì theo tôi,
“tính kể lễ” là một trong những khuyết điểm chủ yếu đã làm hỏng
bản văn. Dẫn chứng: a. Bài “Lời đầu” gồm 8 trang, gom thành hai chủ đề rõ rệt:
1/ Tự phô trương
thân thế lý lịch; 2/ Dành để “tặng” cho các người thân.
Ở phần phô trương lý lịch, với đúng ba trang
giấy, tác giả tự vẽ hình tuổi thiếu niên của mình bằng cách đưa ra
cho thấy một loạt những hình ảnh đồng quê, các nhân vật trong truyện
cổ tích VN, và cả tên tuổi những vị anh hùng trong lịch sử dân tộc,
những điều và những con người đã làm nên “cái vốn liếng tinh thần và văn hóa”
(tr. I) cho tác giả trước khi đi du học Pháp năm 1961.
Nhưng sau đôi
ba năm ở xứ người, tác giả “tin là
mình hiểu rõ nước Pháp nói riêng và phương Tây nói chung” (tr. II)
nên bắt đầu xoay hướng suy nghĩ cá
nhân.
Từ một
anh con nhà nghèo vừa mới giã từ cái xóm nhỏ tối tăm ở khu Tân Định,
Sàigòn, chẳng bao lâu trước đó, (như tác giả SẼ mô tả ở trang 38: “Hầu hết các gia đình chúng tôi đều ở trong những căn nhà lụp
xụp, nhiều nhà không có điện, tối phải thắp sáng bằng đèn dầu, vừa
học vừa đập muỗi…”), ánh sáng văn minh của kinh thành Paris đã
khiến tác giả cảm thấy như bị “giảm
đi” “dần dần niềm tự hào dân tộc” để rồi kéo theo “sự hoang mang” và “nỗi đau càng ngày càng lớn trong tâm hồn.”
(tr. II)
Từ một anh học trò chân cẳng khẳng
khiu “trong mỗi buổi tập thể dục mặc
quần xà lỏn” ở trường Trần Lục thấy để lộ ra “cặp đùi” “đầy dấu muỗi chích”
(tr. 38), bấy giờ trên đất Pháp, nhìn thấy “sự vượt trội” của các nước
phương Tây vì “văn hóa của họ lành mạnh,
tâm lý của họ đúng đắn” cá chất của họ“nhân bản, thâm thúy, đầy óc sáng tạo”
(tr. II) nên tác giả đã phải quay lại mà “xấu hổ”,
“chua xót và thẹn thùng về sự thua kém của đất nước VN và con người
VN”, một “nước VN đau khổ và nghèo nàn bởi vì văn
hóa VN thui chột và tâm lý người VN bệnh hoạn.” (tr. II)
Chủ đề kế
tiếp của bài “Lời đầu” là phần “Tặng”.
Thoạt tiên, cuốn
sách được ghi tặng cho bà vợ và hai người con trai con gái của tác giả
hiện đang còn sống. Tiếp đến đề tặng cho nhóm Thông Luận, gồm “một số
đông đảo các trí thức và chuyên gia hàng đầu, nặng tình với đất nước.”
Cuối cùng, đề tặng cho ba người đã chết: hai người bạn (chiếm mất
77 hàng, nghĩa là gần 3 trang!) và con gái đầu lòng (chiếm 16 dòng.) b. Bài “Cảm Tạ” chiếm một trang với đủ các nhân vật được nêu danh tính, tác giả cảm tạ từ “các chí hữu Thông Luận” đến các “bậc thầy Vũ Khắc Khoan, Lê Ngọc Huỳnh, Nguyễn Xuân Kỳ”, cảm tạ từ “người bạn thân và anh lớn” Nguyễn Ngọc Huy đến thân phụ, cũng là “người thầy đầu tiên” của tác giả; cảm tạ từ các “đồng chí” Kiên, Minh, Bảo giúp cho trong việc hoàn thành cuốn sách đến “người sau cùng nhưng đặc biệt nhất” Nguyễn Văn Huy, đã có công thúc giục tác giả viết tác phẩm này. c. Bài “Ghi Chú Về Tài Liệu Tham Khảo Và Bố Cục” cũng chiếm 4 trang. Xem
thế, trước khi vào phần đầu tiên trong năm phần của tác phẩm, độc
giả đã phải làm một cuộc hành trình dài đăng đẳng trong những lời kể
lễ cà kê, những điều không đâu ăn nhập vào đâu cho hạp với “tư cách
của một người làm chính trị” và lại cũng chẳng hạp chút nào với một
cuốn sách mang chủ đề “đả phá rồi xây dựng” một đất nước mới
và con người VN mới! (Ngoài ra, trong cuốn sách, còn có rất nhiều đoạn
lê thê rườm rà như vậy. Nếu phải nói chỉ riêng đề mục này thôi,
tôi e phải mất rất nhiều thời gian.)
Theo sự “thiếu
tính thuyết phục” này, tôi xin mượn một câu nơi trang 100 của TQĂN, tác
giả đã viết: “Phần dẫn nhập dài
dòng này là để cảnh giác về một thiếu sót trầm trọng, bi đát, kinh
khủng của người Việt: chúng ta không biết truyền thông.” và
xin đổi lại chút ít như sau:
“Phần dẫn
nhập dài dòng Ở TRÊN là để cảnh giác về một thiếu sót trầm trọng,
bi đát, kinh khủng của TÁC GIẢ NGKIỂNG. TÁC GIẢ ĐÃ không biết CÁCH
truyền thông”! 2. SẮP
XẾP CHỦ ĐỀ LỘN XỘN: Nơi trang 99, tác giả cũng từng mai mỉa: “Tôi đã nghe khá nhiều bài thuyết trình,
đọc nhiều bài báo mà chẳng hiểu tác giả định nói cái gì. Các tác giả
sắp xếp lộn xộn thứ tự của các ý kiến –khi họ có ý kiến, một
điều tương đối hiếm-, ôm đồm quá nhiều ý trong một câu, dùng từ ngữ
sai và bất chấp văn phạm”, Vậy mà theo dõi kỹ cuốn TQĂN, tôi lại thấy “cái tính ôm đồm” nói trên chẳng những chỉ xuất hiện nơi các chương riêng biệt trong CÙNG MỘT TIÊU ĐỀ nhỏ; mà “sự sắp xếp lộn xộn thứ tự của các ý kiến” lại cũng xảy ra ngay chính trong CÙNG MỘT CHƯƠNG. Do đó, TQĂN đã thiếu hẳn cái TÍNH NHẤT QUÁN rất cần thiết của một tác phẩm bằng chữ viết. Dẫn chứng: */ Cùng trong một tiêu đề: “Đất Nước Và Con Người” là tiêu đề mà chủ ý tác giả muốn đưa ra cho thấy RIÊNG về Con Người và Đất Nước VN thôi. Vậy mà trong cái tiêu đề chung ấy, cũng có nhiều bài hoàn toàn lạc điệu, như bài “Mưu Sự Tại Nhân…” ở trang 29, trong ấy không phải nước VN mà là nước Hoà Lan, được phơi bày bằng giọng văn thật là “khô khan địa lý!”. */ Cùng trong một chương: Cũng ngay trong chính cái chương Mưu Sự Tại Nhân (tr. 29), ở trên đang thao thao kể chuyện những người đã quen trong thời gian tác giả ở tù CSVN, bỗng nhảy hẳn qua chuyện đất nước Hòa Lan và dông dài về con người và quốc gia của kẻ khác. Những ví dụ như trên, độc giả chẳng những chỉ thấy MỘT, mà còn NHIỀU nữa. Nếu dẫn hết ra đây, tôi e sẽ rất nhàm chán (cho độc giả) và khổ công (cho tôi)! 3/ RẤT SAI NGỮ
PHÁP:
Lật ngay trang
thứ nhì của bản in (trang đầu để trắng), cái tiêu đề nhỏ được
ghi ra bên dưới cái tựa chính, làm tôi khó chịu ngay:
“Nghĩ lại đất
nước trên ngưỡng cửa một thế kỷ
21 và thiên niên kỷ mới.”
Đây là một cái SAI vô cùng ấu trĩ trên
vấn đề ngữ pháp: Phó từ “MỘT” không thể nằm trước danh từ “Thế
Kỷ 21” bởi chẳng thể nào có được NHIỀU “thế kỷ 21” để phải
dùng đến chữ Một mà xác định cho nó. Vậy, nếu đúng ngữ pháp, phải
viết như sau:
“Nghĩ lại đất
nước trên ngưỡng cửa thế kỷ 21 và MỘT thiên niên kỷ mới”. Chữ “thiên niên kỷ” thì sẽ có nhiều
(3000, 4000…) nên với câu trên, đặt phó từ “MỘT” đàng trước cụm
danh từ “thiên niên kỷ” và tĩnh từ “ mới”, là chính xác. Ở trang 106-107
trong bài Tiếng Mẹ Ru Từ Lúc Nằm Nôi, tác giả không tiếc lời chê bai kẻ
này viết tiếng Việt sai chính tả, văn phạm, kẻ khác viết tiếng Việt “cẩu thả”, hay “hoàn toàn không biết viết tiếng Việt”. Chê từ Tổng
thống Nguyễn Văn Thiệu viết một bài cương lĩnh dài đến ba trang đánh
máy mà “tôi (tác giả) đếm được gần một trăm lỗi chính tả và văn phạm”, cho tới “ngay cả những bài nghị luận chính trị trên báo
chí, nhiều khi cũng không thể tìm ra chủ từ, động từ, túc từ” (tr. 107); chê
từ những nhà văn viết sai ngữ pháp cho đến “các sinh viên ở năm cuối cùng, sắp tốt nghiệp” cũng “viết những câu rất dài và luộm thuộm, sai văn phạm,
sai chính tả, sai cả nghĩa của từ ngữ.” Và sau cùng,
cái sự SAI này đã trầm trọng đến khiến tác giả “phải nhìn nhận một sự thực đau lòng: chúng ta là một dân tộc không biết đọc,
không biết viết, và không biết nói” luôn! (tr. 107) Tuy nhiên, đọc
trong cuốn TQĂN, tôi thấy rõ những cái sai ngữ pháp rất ấu trĩ (như ví
dụ vừa dẫn), ở trang nào cũng có. Khi thì sai cú pháp, lúc lại hỏng mệnh
đề; khi thì thiếu động từ, lúc lại dư giới tự..v..v.. Nghĩa là cứ
tùm lum loạn xạ, không mạch lạc giản dị. Xin đơn cử vài ví dụ: a. Tác giả viết: */ “Trong cuộc
chuyển hóa vĩ đại từ một nước nông nghiệp sang một nước công nghiệp
và dịch vụ chúng ta gặp một trở ngại lớn: khí hậu. Chúng ta là một
nước nhiệt đới, gần như nóng quanh năm, nhất là ở miền Nếu
muốn đúng ngữ pháp và đơn giản câu văn thì phải thế này: “Trong cuộc chuyển hóa vĩ đại từ một nước nông
nghiệp sang một nước công nghiệp và dịch vụ, (phẩy!) chúng ta gặp một trở ngại lớn:
khí hậu. VN là một nước nhiệt đới,
gần như nóng quanh năm, nhất là ở miền b. Tác giả viết: */
“Biển là tài sản quý báu nhất của non sông hoa gấm, có khả năng cao
hơn nhiều so với nông nghiệp. Nhưng không phải ta chỉ có biển tốt mà
ta còn có một vị trí vô cùng thuận lợi. Chúng ta là đường ra biển của
Cam Bốt, Lào, Thái Lan và miền Tây-Nam Trung Quốc, chúng ta nằm sát các trục
giao thông hàng hải quan trọng và ở ngay trung tâm của một vùng phát triển
mạnh.” (tr. 23) Nếu muốn đúng
ngữ pháp và rõ nghĩa câu văn thì phải thế này: “Biển là tài sản quý báu nhất của non sông hoa gấm, có khả năng cao hơn nhiều so với nông nghiệp. Nhưng không phải (bỏ chữ Ta ở đây) chỉ có biển tốt, (phẩy!) mà (bỏ chữ Ta, thế vào chữ VN) VN còn có một vị trí vô cùng thuận lợi. (Thêm chữ) NƯỚC chúng ta (bỏ chữ Là, thế vào cụm từ: “tượng trưng như một con”) đường ra biển của Cam Bốt, Lào, Thái Lan và miền Tây-Nam Trung Quốc, (bỏ chữ Chúng Ta: Thừa và sai ý nghĩa) nằm sát các trục giao thông hàng hải quan trọng và ở ngay trung tâm của một vùng phát triển mạnh.” Xin viết lại: “Biển là tài sản quý báu nhất của non sông hoa gấm, có khả năng cao hơn nhiều so với nông nghiệp. Nhưng không phải chỉ có biển tốt, mà VN còn có một vị trí vô cùng thuận lợi. Nước chúng ta tượng trưng như một con đường ra biển của Cam Bốt, Lào, Thái Lan và miền Tây-Nam Trung Quốc, nằm sát các trục giao thông hàng hải quan trọng và ở ngay trung tâm của một vùng phát triển mạnh.”
Ngoài ra, không
phải chỉ là sự thiếu hoặc thừa những
từ ngữ trong các câu văn thôi, tác giả còn tỏ ra không biết cách đặt cho đúng chỗ các dấu chấm, dấu
phẩy, những điều thuộc quy tắc thành lập mệnh đề chính, phụ. Nghĩa
là ở rất nhiều đoạn, độc giả tìm thấy những cái dấu chấm “rất
không cần thiết” cho câu, đoạn đó; ở những đoạn khác rất cần một
hay nhiều dấu phẩy, thì chẳng thấy đâu! Câu văn cứ thế mà liền tù
tì, đọc lên, sẽ có cảm tưởng như đang bị ngợp thở. Dẫn
chứng: */ “Cứ nhìn ngay những tổ chức chính trị, mà mục
đích là tranh đấu cho một nước VN thống nhất và đoàn kết. Không cần
phải là một nhà quan sát tinh tường cũng đủ thấy.” (tr. 73) */ “Chúng ta cần tìm ra cách nào khác để quí trọng
người xưa. Để vẫn yêu quý tổ tiên mà vẫn quý mình.” (tr. 152) Các
dấu chấm đặt trước chữ Không (ở câu 1) và trước chữ Để (ở câu
2) phải thay bằng Dấu Phẩy mới tạm gọi
là được, dù câu văn không thể thành trong sáng. Muốn hoàn chỉnh, phải
sửa lại toàn thể như sau:
“Cứ nhìn ngay những tổ chức chính trị
mang mục đích tranh đấu cho một nước
VN thống nhất và đoàn kết, (phẩy!) không cần phải là một nhà quan
sát tinh tường, (phẩy!) người ta
cũng đủ thấy.” Và:
“Chúng ta cần phải tìm ra một cách
nào khác để yêu quý tổ tiên mà
vẫn quý được mình.” Những lỗi như
vừa trình bày ở các ví dụ trên, độc giả có thể tìm thấy rất nhiều
trong các đoạn, các chương của tác phẩm. Do đó, đọc một cuốn sách
mà gặp quá nhiều cái sai về văn phạm khiến câu văn đâm thành tối nghĩa,
thì đó sẽ là điều dễ dàng tạo ra cho người đọc cái cảm nghĩ “đang
phải bước đi trên một con đường có nhiều bụi gai vướng vít” tôi
đã viết ở trên. 4/ QUÁ
NHIỀU TỪ HAY Ý TRÙNG NHAU TRONG MỘT ĐOẠN, MỘT CÂU VĂN. Trong một đoạn hay một câu văn mà dùng quá nhiều điệp
ngữ hay điệp ý thì đọc lên, nghe y hệt cách nói tội nghiệp của một
người đang mắc chứng cà lăm. Dẫn chứng: */ “Hai Bà Trưng khởi
nghĩa, làm chủ đất nước và cầm cự được ba năm, rồi cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị
Chinh và Triệu Quốc Đạt. Rồi vô số
những loạn lạc đao binh khác, có khi
do chính các quan cai trị muốn xưng hùng xưng bá đánh giết nhau, có khi do nhân dân nổi dậy chống áp bức.
Có lần dưới thời Tam Quốc (…) dân
Giao Châu nổi lên giết được quan thái thú rồi đi thần phục nhà Ngụy ở mãi tận
phương Bắc, để rồi lại bị Đông
Ngô đánh đẹp. (…) // Trong sáu mươi năm ngắn ngủi của nhà Tiền Lý, nước
ta đã phải đương đầu với cuộc tái chiếm của Trung Hoa, rồi cuộc nội chiến giữa Triệu Quang
Phục và Lý Phật Tử (…) rồi lại
đánh Chiêm Thành, rồi chiến tranh với
nước Nam Chiếu (…) Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán rồi xưng vương (…) Chiến tranh cũng rất
thường xuyên: (…) đánh Chiêm Thành, Ai Lao, rồi lại đánh Chiêm Thành, rồi đem quân đánh Tống, rồi kháng cự với quân xâm lăng Tống (…)
rồi lại đánh Chiêm Thành, rồi giặc Thân Lợi (…) rồi mất ngôi về tay nhà Trần. // (…) rồi những cuộc chiến tranh liên miên với
Chiêm Thành, (…) Rồi đánh nhau với Ai Lao… Rồi… Rồi!… Rồi!” (tr. 129-131) 5/ CÂU
CÚ LÊ THÊ, LỦNG CỦNG. Điều này rất thường xuyên được tìm thấy trong cuốn
sách. Có khi chỉ một đoạn ngắn mà người viết phải đọc đến hai, ba
lần vẫn không thể hiểu trong đó, tác giả muốn nói gì? Dẫn chứng: */ “Toàn bộ 85% dân số
được gọi là người Kinh sử dụng tiếng Việt, và càng ngày số người của 15% còn lại
thuộc các sắc tộc ít người sử dụng được tiếng Việt càng thành đa
số.” (tr. 25) */ “Quan tâm tới lịch sử đánh dấu sự hình thành của ý niệm quốc gia. Hiểu như thế thì tuy đất nước Việt Nam (hiểu theo nghĩa đen là đất và nước) đã có hàng mấy chục triệu năm và những con người Việt Nam cũng đã có từ hàng chục ngàn năm và đã dần dần sống thành xã hội có tổ chức nhưng ý niệm về quốc gia Việt Nam chỉ mới xuất hiện rất gần đây, vào đầu thế kỷ thứ 13 khi Lê Văn Hưu soạn ra bộ Đại Việt Sử Ký.” (tr. 117) 6/ QUÁ NHIỀU CÂU THÓA MẠ NGƯỜI VN VÀ CẢ TỔ TIÊN.
Điểm sai lầm
và thất bại LỚN NHẤT của một tác phẩm chữ nghĩa là sự thóa mạ kẻ
khác bằng chính giòng văn của tác giả (chứ không phải của nhân vật
được kể). a. Chửi Rủa Miệt
Thị Những Người Cùng Thời Và Cả Dân Tộc VN. Trong TQĂN, điều TỆ
HẠI và làm thấp kém hóa tác phẩm
chính là giọng văn miệt thị chửi rủa của tác giả. Cái tính thuyết phục
cần thiết phải có trong một người làm chính trị hoàn toàn không thấy
xuất hiện trên những giòng chữ lôi kéo quần chúng. Bài nào cũng chỉ
vang lên những tiếng chửi. Chửi từ chế độ CS sang chế độ Tự Do, chửi
từ người Miền Dẫn chứng: */ “Sau 30/4/1975, trong
trại cải tạo, tôi được nghe rất nhiều sĩ quan, (…) thua trận, họ vào tù, họ phải mạt
sát chế độ VN Cộng Hòa và đế quốc Mỹ để mong được khoan hồng (…)” (tr. 3) */ “Trí thức VN (…) thầy cũng dốt, học trò cũng dốt, sách lại
dở.” (tr. 26) */ “Thì ra đó là những
bài học của quân đội Pháp, bộ tổng tham mưu quân đội miền */ “Người Việt có tâm lý tồi kém (…) thiếu tự hào dân tộc và lại hay đố kỵ, ghen ghét nhau. (…) tôn thờ bạo lực và ác độc đối với nhau. (…) Người Việt
không biết truyền thông, không biết đọc,
không biết viết. v..v..” (tr. 109) */ “Nếu cải cách điền
địa chỉ là do dã tâm của đảng CS và của các ông Trường Chinh, Hoàng
Quốc Việt, Hồ Viết Thắng thì (…) chứng tỏ rằng người VN ác độc với
nhau, và do đó không đáng với tên gọi
là một dân tộc.” (tr. 146). (Ở đây, ông NGKiểng xác nhận
việc cải cách điền địa chỉ là do dã tâm của CS Bắc Việt, tại sao lại
GOM CHUNG người Miền Nam vào để phỉ báng? Ông có ý đồ gì trong cách chửi
“toàn thể người VN” vậy?)
*/ “Thái độ
châu chấu đá voi của triều Nguyễn chống Pháp tới cùng xét ra không lố bịch bằng thái độ của những người đã thảm bại và thua chạy
nhưng vẫn nhất định đòi những người
cộng sản phải “tỉnh ngộ quay về với chính nghĩa quốc gia” (…) “Cùng
một vấn đề và cùng một thái độ cố chấp. Ngày nay có hơn gì ngày xưa
đâu. Chỉ khác ở chỗ các vua quan nhà Nguyễn còn có thể hưởng sự giảm khinh vì họ không được nhìn thấy thế giới bên ngoài.”
(tr. 203).
*/ “Có thể nói Pháp đã còng tay VN và dẫn vào thời đại mới.” (tr. 220)
*/ “Để đánh
thành Hà Nội do Nguyễn Tri Phương có chuẩn bị trước để phòng vệ, người Pháp đã chỉ cần 170 quân và họ
hạ thành Hà Nội trong nháy mắt, bắt sống Nguyễn Tri Phuơng. (…) Để
chiếm Hải Dương, quân Pháp đã chỉ cần
15 người lính bắn vài phát súng là xong. Quân nhà Nguyễn đã không kháng cự chứ không phải đã thua trận. Tại Ninh Bình chúng ta còn
nhục nhã hơn nhiều. Một viên thiếu
úy dẫn bảy tên lính tới thành. Tổng
đốc Nguyễn Đức Tuân và toàn bộ quân sĩ VN phải hạ khí giới, quỳ xuống hai bên đường đầu
hàng. // Trước đó, Jean Dupuis, một lái buôn với vài tên lính đánh
thuê do y tuyển dụng đã có thể làm mưa làm gió mỗi lần đưa tàu buôn
ra Bắc // Các quan lại VN tại Hà Nội mỗi khi thấy tàu Dupuis tới gần phải chạy trước, sợ y bắt ra nọc đánh.”
(tr. 223) b. Thóa Mạ Tiền
Nhân.
Trong tròn cuốn
TQĂN, điều rất đáng buồn và tủi hổ cho dân tộc VN là ở bất cứ
trang nào cũng thấy toàn những lời miệt thị của tác giả –một người
VN-, chẳng những lên kẻ đương thời, mà còn miệt thị luôn cả tiền
nhân tiên tổ.
Dẫn chứng:
*/ “Nguyễn Huệ xuất thân là tướng cướp” (tr. 96)
*/ “Quang Trung
Nguyễn Huệ, một con người vô cùng hung
bạo và hiếu sát.” (tr. 149)
*/ (Song
thân Nguyễn Huệ) “Hồ Phi Phúc thì lại mở sòng bạc. (…) “Ba anh em Nhạc, Lữ
và Huệ lớn lên đi ăn cướp.”(…)
“Quân Tây Sơn chỉ toàn là giặc cướp.”
(tr. 158-159)
*/ “Nếu nhìn
một cách bình tĩnh thì công lao của Nguyễn Huệ thực ra không thấm tháp gì (…). Việc ông được tôn sùng quá đáng tố giác một tâm lý
kính sợ bạo lực của người VN; việc người ta tô vẽ cho ông những đức
tính mà ông hoàn toàn không có như trị
nước an dân, có lòng nhân ái..v..v. chứng tỏ rằng ta tôn sùng bạo lực tới độ ta sẵn sàng
làm đẹp nó.” (tr. 96)
*/ “Nguyễn
Ánh còn đang bành trướng thế lực ở trong Nam thì Nguyễn Huệ đã nghĩ
đến việc đánh Trung Hoa. Thật là một
ý đồ điên dại, chứng tỏ Nguyễn Huệ không có một hiểu biết chiến lược nào cả.”
(tr. 163)
*/ “Anh em Tây
Sơn đã làm một việc khác rất lớn, rất tai hại cho chúng ta và đã khiến
chúng ta là chúng ta ngày nay: đó là phá
tan và chấm dứt hơn hai thế kỷ tiếp
xúc và giao thương đầy hứa hẹn với thế giới bên ngoài, nhất là phương Tây.” (tr. 166)
*/ “Nếu Đinh
Bộ Lĩnh là một tướng giỏi thì Đinh Tiên Hoàng lại chỉ là một ông vua tồi và bạo ngược.” (tr. 523)
*/ “Còn Nguyễn
Trãi? Vị đệ nhất công thần này từng nằm gai nếm mật cạnh Lê Lợi, bố của Lê Thái Tông, cũng phải nộp
người yêu của mình cho một thằng bé
bằng tuổi con mình hành lạc ngay tại
nhà mình, không chừng còn phải lạy tạ
ơn mưa móc và dọn giường chiếu cho nó. Và khi không may vua vì quá đê mê mà chết thì bị kết
tội và bị giết cả ba họ. Vua là trời, quần thần không là gì cả. Một
ông quan, nghĩa là một kẻ sĩ may mắn thành đạt, dù tài giỏi tới đâu
đi nữa, dù chức phẩm cao tới đâu đi nữa cũng không hơn gì một con vật trước mặt
vua, vua muốn nọc ra đánh vài chục trượng,
muốn thiến, muốn giết bỏ tùy ý. Và muốn giết sạch cả cha mẹ
anh em con cháu cũng được luôn.” (tr.
368)
*/ “Nhà Trần
lại nổi bật ở điểm loạn luân và
tàn ác. Anh em cô cháu cứ lấy nhau một cách bừa bãi. Không những thế,
nhà Trần còn ép buộc dân chúng phải lấy nhau trong cùng một họ. Phong hóa nước ta chưa bao giờ đồi trụy
đến thế.” (tr. 137)
*/ “Việc quỳ lạy tướng Tàu là tồi thực, nhưng đó là điều mà các vua VN ngày trước vẫn làm trước sứ giả Trung Quốc…”
(tr. 141)
*/ Tác giả
khinh miệt Nguyễn Công Trứ trong bài Kẻ Sĩ là mang “tâm lý
tôi tớ (…) chỉ chờ để được làm
tôi tớ cho một ông chủ. Không được một minh chúa dùng làm tôi tớ kẻ sĩ sẵn sàng để
phí uổng đời mình. Cả đời kẻ sĩ chỉ sống với giấc mộng được làm tôi tớ.
Suốt cuộc đời, hoặc không may thì ở ẩn cam chịu cuộc sống nghèo nàn
trong lều cỏ, hoặc may thì làm bầy tôi
cho một ông vua,...” (tr. 361) 7/ CHỮ
NGHĨA ĐẦY TÍNH BÔI BÁC. Gọi “bôi bác” là nói đến những điều, những ý
tác giả đưa ra có tính cách BỊA ĐẶT nhiều
hơn đúng sự thật, và lại theo một luận điệu khinh miệt. Dẫn chứng: */ Khổ thay phải nhìn nhận rằng nguyên nhân tính
hiếu học của người Việt không lấy
gì làm trong sáng lắm. (…) “Phải giải thích thế nào óc trọng bằng
cấp và ham bằng cấp của người Việt? Nó
là biểu hiện của một dân tộc thiếu óc làm chủ, một dân tộc có bản
năng làm công và làm mướn.” (tr. 54) */ “Người VN hoặc không yêu nước, hoặc chỉ yêu nước một
cách rất tương đối. Người CS yêu chủ nghĩa của họ hơn yêu nước. Người
Công Giáo coi trọng tôn giáo của họ
hơn đất nước. Những nhà cầm quyền phe quốc gia đặt quyền lợi của họ trên đất nước.
Nhóm Phật Giáo Ấn Quang tranh đấu để giành quyền lực và ảnh hưởng cho họ hơn là
cho đất nước. Quần chúng VN lo âu quyền
lợi và sự yên ổn của mình hơn là cho tương lai đất nước.” (tr.
68) */ “Sự khinh thường tiếng Việt là một truyền thống của người Việt Nam. Nôm na là cha mách qué, tiếng Việt là tiếng không cao thượng.” (tr. 105) 8/ CHỮ
NGHĨA ĐẦY TÍNH MƠ HỒ THEO LỐI “NÓI KHƠI KHƠI”.
“Nói khơi
khơi” có nghĩa là nói những sự kiện có tính cách thực tế mà lại thiếu
dẫn chứng xác thực. Dù rằng tác giả đã tự khôn khéo biện hộ cho mình một cách thật trẻ con ấu trĩ: “Do thì giờ eo hẹp, đã tự cho phép bỏ qua phần chú thích
sau mỗi chương” (tr. XI)
và “Tôi là một người hoạt động chính trị.
(…), không có bổn phận phải ghi chú
dữ kiện lấy từ sách nào, chương nào, trang nào..v..v. Đó là công việc
của nhà nghiên cứu.” (tr. 155)
thì với một
tác phẩm GIÁ TRỊ được viết bởi một tác giả ĐỨNG ĐẮN, BIẾT TỰ
TRỌNG, điều (NGỤY) biện hộ như trên hoàn
toàn không được chấp nhận; càng không được chấp nhận hơn với những
tác phẩm có đề cập đến những vấn đề thuộc về lịch sử.
Cũng vậy, ở
trang 339, tác giả “xỉ vả” nhà văn Trần Mạnh Hảo (đang còn ở trong
nước) là nói mà “hoàn toàn không dựa
vào một tài liệu nào cả…”; rồi ở trang kế tiếp lại trịch thượng
“mắng mỏ”: “Trần Mạnh Hảo không hiểu rằng đó là cách đối xử rất
tự nhiên và rất bình thường của người phương Tây, bởi vì Trần Mạnh
Hảo thuộc văn hóa Việt-Trung (Ba
Tàu!), trong đó sự lỗ mãng là một thông lệ”,
thì chính những
điều “nói khơi khơi” này cũng được tác giả tận dụng TRIỆT ĐỂ
trong toàn cuốn sách của ông.
Dẫn chứng:
*/ “ Tôi còn được đọc một đề nghị phát
triển cho cả nước và cho suốt thế kỷ 21!” (tr. 26).
*/ “Tôi có đọc một cuốn sách nói rằng
câu ‘bầu ơi thương lấy bí cùng’ (…), nhưng mọi người có thẩm quyền về văn học
mà tôi quen biết đều xác nhận đó
là những câu ca dao đã có từ rất lâu.” (tr. 72) */ “Ông (Trần Đức) Thảo hình
như làm luận án về hiện tượng
luận… (…) (tr. 52) */ “Ông (Trần Trọng
Kim đã) dựng
đứng ra chuyện Nguyễn Huệ ra Bắc “phù Lê diệt Trịnh” (…) (sic). Thật là đổi trắng thay đen!” (tr. 167) (…) “Ông
Trần Trọng Kim cũng dựng đứng ra con
số hai chục vạn quân Thanh…” (tr. 168) 9/ CHỮ
NGHĨA ĐẦY TÍNH PHE PHÁI.
Các nhân vật
“đại bịp” hoặc các nhà văn CS ly khai, phản tỉnh với những cuốn sách
mang tư tưởng độc hại được viết ra, đều đã bị lật tẩy đối với
quần chúng hải ngoại. Nhưng trong TQĂN, chúng lại được có một vị trí
khác hơn cái nhận định chung của độc giả. (Tôi tự hỏi, không biết
là có một âm mưu nào đó không giữa tác giả và những người CS ly khai
kia?)
Dẫn chứng:
*/ “Trong cuốn Mặt
Thật, Bùi Tín, một cựu đại tá phó tổng
biên tập báo Nhân Dân đã ly khai với đảng cộng sản, (…)” (tr. 59) */ “Mặt Thật là một cuốn sách hay, một tài liệu lịch sử thành công về diễn
đạt và có giá trị về văn học.”
(tr. 311) */ “Trong vụ cải cách
điền địa tại Bắc Việt năm 1955(…) một số đảng viên cộng sản
khác (…), cũng thành thực không kém Bùi
Tín, lại nói rằng số nạn nhân có thể trên 100.000 người.” (tr.
112) 10/ CHỮ NGHĨA ĐẦY TÍNH CHIA RẼ. “Chia rẽ” vốn là cái bệnh thâm căn cố đế của các người làm chính trị. Tác giả đã tự nhận đến HAI LẦN cùng một câu nói ở trang 155, rồi trang 171: “Tôi là một người hoạt động chính trị…” Nên, cũng chẳng lạ gì với những câu văn mang ý đồ “chia để trị” kiểu thực dân Pháp mà tác giả đã để cái ý niệm này thấm sâu vào máu sau hơn 40 năm ở trên đất Pháp. Dẫn chứng: */ “Người VN tìm đủ mọi lý do để ghét nhau. Người
thành thị thì gọi người nông thôn một
cách khinh bỉ là ‘bọn nhà quê’
với ngụ ý nói là những người dốt nát,
đần độn, ngớ ngẩn. Còn người nông thôn thì gọi người thành thị
là ‘kẻ chợ’ với hàm ý gian trá lật lọng. (…) Như vậy rõ ràng là người VN khinh ghét nhau (…)
người Việt biểu lộ sự khinh ghét lẫn
nhau đã sẵn có trong lòng.” (tr. 73)
*/ “Tại sao (…), vẫn có những người cố gắng bôi nhọ người
Công Giáo bằng những tài liệu xuyên
tạc hạ cấp (…) Đáng buồn nhất là một số người lại còn gắn liền sự phát triển
của Phật giáo với sự bài xích
Thiên Chúa Giáo. Phật giáo VN không mạnh
thêm, mà còn có thể bị hoen ố đi
vì những ‘Phật tử’ như thế.” (tr. 191)
*/ “Một thảm kịch vẫn còn chia rẽ trầm trọng trong người
VN với nhau là việc cấm đạo. (…) Điều
đáng ngạc nhiên là cho tới nay chưa có một chính quyền VN nào (…) tổ chức một ngày để xin lỗi những người Công Giáo về
sự sai lầm kinh khủng đó. (…) Một điều
cũng rất đáng ngạc nhiên là cho tới nay tập thể người Công Giáo chưa bao giờ chính
thức đòi các chính quyền VN phải giải oan, phục hồi danh dự và nhận
lỗi với những nạn nhân.” (tr. 187-188)
*/ “Bài thuyết
trình của cụ Nguyễn Huy Bảo (…) có đề cập đến chính sách thủ cựu
của các vua quan nhà Nguyễn, trong đó có việc cấm đạo (…) Cụ vừa dứt
lời, một thanh niên (…) đùng đùng nổi giận đứng lên bất chấp cả
chủ tọa to tiếng mạt sát cụ Bảo (…) ‘Ông là một sản phẩm của thực dân Pháp (…)
Ông lập lại những luận điệu phản
quốc, những lập luận của bọn giáo sĩ
cướp nước’. // Tôi làm chủ tọa buổi hôm đó và tôi đã phải cắt
lời anh ta. (…) Có lẽ tự thấy mình đã quá lời, anh ta xin lỗi vì đã
dùng những lời lẽ quá nặng nhưng giải thích: ‘Xin quý vị thông cảm
cho, vì dân tộc tôi đã đau khổ quá nhiều vì bọn giáo sĩ tới làm do thám cho thực dân cướp nước, vì
những tên Việt gian bỏ đất nước
đi theo bọn giáo sĩ. Tôi phải tố cáo bọn giáo sĩ, tố cáo mưu đồ cướp
nước của Vatican.’ Lời xin lỗi đồng
thời cũng là một lời thóa mạ.” (tr. 189-190) 11/ CHỮ NGHĨA ĐẦY TÍNH TRỊCH THƯỢNG:
Điểm nhún nhường
cần thiết để thu phục nhân tâm của một người làm chính trị (khoan
nói là một nhà viết sách), hoàn toàn không thấy có trong văn phong tác giả
TQĂN. Dẫn chứng: */ “Tôi chỉ đọc một tập sách ngắn –đúng ra phải gọi là một bài dài- của ông (Trần Đức Thảo) nhan đề “Un itinéraire” (Một lộ trình), trong đó ông tóm lược diễn tiến tư tưởng của ông. Thú thực tôi thấy nó rất xoàng, phải nói thẳng là quá xoàng. (…) Tháng 7 năm 1990, tôi đi dự đám tang của giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, một người mà tôi rất quý mến, tôi cũng được nghe một bài điếu văn liệt kê tất cả những bằng cấp của ông một cách rất trân trọng… (…) Hình như đối với người Việt, bằng cấp là quan trọng nhất…(…) Những thì giờ đó nếu họ dùng để học hỏi mở mang kiến thức thực sự, hay để sống với vợ con, hay ngồi nghỉ ngơi và suy tư thì hay biết mấy.” (…) “Dần dần kinh nghiệm cho tôi một nhận định rất rõ ràng: người Việt thường có bằng cấp quá cao so với giá trị của họ.” (tr. 52-53) 12/ CHỮ NGHĨA ĐẦY TÍNH “DẠY ĐỜI”.
Một khuyết điểm
nữa rất quan trọng (bên cạnh những lời thoá mạ kẻ khác) chính là giọng điệu rất kẻ cả, dạy đời, biểu
lộ tâm tính kiêu ngạo và hợm hĩnh của
tác giả. Điều này làm hỏng hoàn toàn cuốn sách, do bởi tính văn
chương không thể nào có được trong những tác phẩm mang cách viết như vậy.
Dẫn chứng:
*/ “Trần Trọng
Kim tóm lược cuộc đời chính trị của ông trong thiên hồi ký ngắn ‘Một
cơn gió bụi.’ Có lẽ những ai có ý định viết hồi ký nên đọc cuốn sách nhỏ này trước đã.
Đó thực sự là một cuốn hồi ký. Nó được viết một cách thực thà,
lương thiện, rành mạch, điều ít thấy trong các cuốn hồi ký khác. Hồi
ký là một loại sách đặc biệt. Nó
có tác dụng chính, và có thể nói là
duy nhất, là ghi chép các sự kiện để làm chứng cho một giai đoạn. Đòi
hỏi duy nhất của nó là phải trung thực, phải có giá trị của một tài
liệu. Người VN, nhất là các tướng tá
quân đội miền Nam cũ, hay dùng hồi ký để bóp méo sự thật, tán dương
hay chạy tội cho mình, bôi nhọ người khác. Những hồi ký như vậy không
thể dùng làm tài liệu.” (tr. 34) 13/ CHỮ NGHĨA ĐẦY TÍNH TRỌNG NGOẠI.
Tác giả rõ ràng
là con người rất mâu thuẫn (điều này tôi sẽ trình bày ở phần III).
Do từ mặc cảm tự ti mà tác giả đã “tỏ ra” khinh chê người Pháp hoặc
những ai thân Pháp, nhưng mạnh hơn chính là tinh thần trọng ngoại của
tác giả, khởi đi từ mặc cảm tự tôn.
Dẫn chứng: */ Người phương Tây hơn người phương Đông
vì có óc sáng tạo vượt trội. (…) So với các dân tộc Á Châu khác thì
người VN lại còn thiếu óc sáng tạo hơn
nhiều (tr. 49) */ “Những người Trung
Hoa (…) là những con người xuất chúng,
có kiến thức rất sâu và rất rộng, có lý luận rất sắc bén và có cách trình bày rất minh bạch. Chắc chắn họ đã học hỏi rất nhiều.” (tr. 54) */ “Nói cách khác, sự thua kém của dân tộc VN so với dân tộc
Nhật là tuyệt vọng, hết thuốc chữa.”(tr. 55) */ “Nhiều người đánh
giá chúng tôi là ngây thơ ấu trĩ, là thiếu căn bản dân tộc, là mất gốc,
là không thuộc lịch sử. Nhưng dân tộc
nào, gốc nào và lịch sử nào?”
(tr. 147) 14/ CHỮ NGHĨA ĐẦY TÍNH KÊNH KIỆU.
Trong TQĂN, dẫu đã
tỏ ra “khiêm nhường” bằng những lời rào đón (hay tự chống đỡ?): “Theo sự hiểu
biết hạn hẹp của tôi…” (tr. 82) “Tôi không phải là nhà nghiên cứu văn học
để có thể có ý kiến… (tr. 72) “Tôi không
phải là một nhà sử học và cũng không phải là một nhà dân tộc học nên hoàn toàn không có tham vọng đưa ra….”
(tr. 124) “, ”Kiến thức về văn học của tôi không có bao nhiêu” (tr. 259), “Tôi không phải sử gia cũng không phải là
nhà nghiên cứu…” (tr. 171) v.v. và v.v…,
vậy mà bất cứ
lãnh vực nào, từ Văn Chương đến Triết Học, từ Chính Trị đến Tôn
Giáo, từ Xã Hội đến Luân Lý… cũng đều thấy có mặt tác giả, nơi
chốn nào cũng thấy tác giả “chường” mặt vô bằng những câu viết
mang đầy tính kênh kiệu và cái kiến thức nửa mùa thiếu trước hụt
sau.
(Phần này tôi
không đưa dẫn chứng vì chữ nghĩa tác giả lê thê và tẻ nhạt quá, ghi
ra uổng cả giấy bút!) 15/ CHỮ NGHĨA ĐẦY TÍNH KHOE KHOANG. Chửi người khác “ngu dốt” có nghĩa là tự khoe mình “khôn ngoan”. Thóa mạ người khác “thấp kém” có nghĩa là tự cho mình “cao sang.” Cái chất khoe khoang hằn rõ trên từng câu từng chữ của TQĂN, đã là một trong những khuyết điểm quan trọng làm HỎNG HOÀN TOÀN cuốn sách. Dẫn chứng: */ “Tôi quen biết một nhà bình luận thời cuộc viết nhiều bài về VN và khá nổi tiếng. Anh ta vẫn thường hỏi ý kiến tôi mỗi khi viết bài, và bù lại cũng giúp tôi một số việc. Bài của anh hay được các báo VN đăng lại vàđược ca tụng như là rất đúng, rất thâm thúy, ngay cả bởi những tờ báo đả kích tôi một cách nặng nề, mặc dù những điều anh ta viết không khác gì những điều tôi viết vì một ý do giản dị: phần lớn những ý kiến anh ta là ý kiến của tôi.” (tr. 62-63) */ “Tôi may mắn được đi du học rồi lớn lên và làm việc tại các nước phương Tây.” (tr. 146) Và còn rất nhiều ví dụ khác nữa… B. VÀI NHẬN XÉT CHO PHẦN NỘI DUNG TÁC PHẨM. Phần này, người viết xin bỏ qua tất cả các chương
rườm rà của cuốn sách với đầy những lời thóa mạ tiền nhân, mà chỉ
xoáy vào một điểm sỉ nhục của tác giả lên dân tộc VN theo câu nói
nhiều lần: “Người VN không có tư tưởng.”
Thật vậy, trong tác
phẩm, đọc thấy nhiều lần lời khinh miệt của tác giả NGKiểng cho rằng
người VN là loại người “không có tư tưởng”, tôi đã tự hỏi,
không biết ông NGKiểng có biết thế nào là Tư Tưởng? Rồi cũng tự trả
lời giùm cho ông: “Nội cái chuyện ngữ
pháp cỏn con mà ông còn chưa thông, thì chắc không thể nào ông hiểu
được tư tưởng của tiền nhân và của những người VN (trừ ra chính
ông tự hiểu).”
Câu chê bai của
ông vì thế mà cũng thành vô nghĩa.
Thế nào là TƯ TƯỞNG?
Sau khi giúp Lê Lợi
đánh thắng quân Minh, năm 1428, Nguyễn Trãi vâng lời vua, đã soạn Bình
Ngô Đại Cáo để bá cáo với thiên hạ sự chiến thắng này. Trong phần
mở đầu, nhà thơ đã viết: “Xét như
nước Đại Việt ta – Thật là một nước văn hiến.”
Trong Việt Nam Tự
Điển của Lê Văn Đức, chữ Văn Hiến được định nghĩa như sau: “Văn Hiến là sách hay, và người tài. --Sự tổ chức, học hành để tiến tới chỗ khôn khéo.”
Như vậy, có thể kết
luận, khi viết chữ “văn hiến” trong bài Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn
Trãi đã hàm ý xác nhận rằng, ở những thời kỳ trước của nước nhà,
ĐÃ CÓ XUẤT HIỆN THỰC SỰ những văn bản, dữ kiện bằng chữ viết của
các hiền nhân, (mà lúc bấy giờ ở thời đại ông, những thứ ấy đang
bị bọn Minh xâm lược tiêu hủy cả.)
TƯ TƯỞNG chính là
ý nghĩ, cách thức, tài hoa, tâm ý và đạo đức của người xưa được
đề ra trong những văn bản ấy. Trong cuốn TQĂN, ngoài những trang xỉ vả Khổng Tử bằng những luận điệu rất hồ đồ; khinh khi thi hào Nguyễn Du “ăn cắp” tựa và cốt Truyện Kiều của một tác giả người Tàu; miệt thị vua Quang Trung xuất thân là “một tên ăn cướp”; chê bai Tổng thống Ngô Đình Diệm là “vụng về thiển cận”; mạt sát học giả Trần Trọng Kim là người hay “dựng đứng” chuyện và “thay đen đổi trắng!”; gọi xách mé vua Lê Thái Tông là “thằng bé”, là “nó”; sỉ nhục vị đệ nhất công thần Nguyễn Trãi “chỉ đáng là một |