1104-logo.gif (2163 bytes)

Posted: 1.11.2004

Vài lời của Web Giao Điểm:

Cuốn sách Tổ Quốc Ăn Năn ấn bản lần đầu của tác giả Nguyễn Gia Kiểng xuất hiện cách nay gần bốn năm (2001). Trong khoảng thời gian từ đó đến nay, đã có một số nhân vật hoạt động chính trị, văn hóa thân hữu của nhóm Thông Luận tâng bốc, khen tặng cuốn sách quá lời. Một số nhân vật trong các phe nhóm, đảng phái chính trị ở hải ngoại đã lên tiếng phê bình, chỉ trích. Một số khác nhiệt tâm với dân tộc thì phẩn nộ. Phần lớn các thức giả đứng tuổi giữ sự im lặng. Nhìn chung, theo nhận xét chủ quan của chúng tôi, những lời khen thì bất xứng và những lời phẩm bình vẫn còn chỗ bất cập. Ngoài ra, còn có một điểm đáng ghi nhận khác là “chưa có một cây bút nữ nào” lên tiếng phê bình tác phẩm. Chính vì vậy, bài phê bình ‘Tổ Quốc Ăn Năn’ hay ‘Thùng Rỗng Kêu To’ của Trần Thị Bông Giấy mà chúng tôi giới thiệu dưới đây, mang hai ý nghĩa: 1/ Lần đầu tiên một nhà văn nữ lên tiếng “hỏi chuyện” TQĂN và tác giả Nguyễn Gia Kiểng. 2/ (vẫn là tư kiến), đây không phải là một bài điểm sách thông thường, nhưng là một tiểu luận PHẢN ĐỀ với Tổ Quốc Ăn Năn. TTBG đã đi xuyên suốt từ hình thức sang nội dung, soát xét toàn diện cuốn sách trên mọi năng lực tư tưởng, văn chương nghị luận của tác giả Nguyễn Gia Kiểng.

Bài viết này đồng thời xuất hiện trong thời điểm cần được nêu rõ: Cuốn TQĂN đã được nhóm Thông Luận tái bản (qua thông tin của mạng lưới TL.), với lời ghi chú: “có sửa chữa và bổ túc, thêm lời tựa..."; cho nên chúng tôi cần nhấn mạnh với quý bạn đọc: bài phê bình dưới đây của TTBG đã dựa trên bản in ra mắt LẦN ĐẦU, và mong rằng với sự lương thiện trí thức cần thiết, tác giả NGKiểng chỉ "sửa chữa" những lỗi nhỏ nhặt, không thể "sửa chữa" chi tiết nội dung tư tưởng và lập luận của ông. Trong lúc này, rất tiếc chúng tôi không có trong tay cuốn TQĂN vừa tái bản; tuy nhiên tác giả TTBG và chúng tôi đã "đồng thuận", sẽ chiếu cố toàn bộ nội dung của bản in mới nếu không may có sự thay đổi bất thường, làm giảm đi tính chính xác và trung thực của những lời phê bình trong bài viết dưới đây. Đó là trách nhiệm của truyền thông.  Trân trọng. Web Giao Điểm.
pretty_flower_special_tc.gif (2259 bytes)

“TỔ QUỐC ĂN NĂN” HAY “THÙNG RỖNG KÊU TO” ?

Trần Thị Bông Giấy.     

I. VÀI GIÒNG SUY NGHĨ.

TT Bong giay      Đã gần 10 năm, tôi không còn thiết gì đến các sinh hoạt văn nghệ bên ngoài căn nhà tôi đang ở. Bao cuộc vui của giới nghệ sĩ, bao tác phẩm văn chương thi ca chào đời trong cộng đồng người Việt tại Bắc Cali, tôi cũng chẳng hay. Có cái gì đó chán ngán ủ dột dâng lên trong tim mỗi khi nghĩ đến cái xã hội tôi từng một thời quen biết. Giờ đây giữa họ và tôi như có một bức tường thật dày chắn ngang ở giữa. Cánh cửa nhà tôi luôn luôn đóng kín trước những gì gọi là “ồn ào, náo nhiệt có dính dáng đến một thời sống cũ”. Sự khép mình thế mà lại hay, đem được cho tôi rất nhiều nỗi an bình tôi vẫn chờ mong.

Vừa hai tuần trước, trong cuộc gặp gỡ anh Nguyễn Văn Hóa, người bạn bên diễn đàn Giao Điểm, luận đàm về chuyện văn học, tôi nghe anh mai mỉa:

             “Người ta hay dùng chữ chợ khi nói về văn chương. Chợ văn chương! Cả trong tiếng Mỹ cũng thế. Literary market! Mà đã là chợ thì có bán đủ mọi thứ, từ cá tôm tanh tưởi cho đến các loài hoa thanh khiết.“

             Tôi cười, thầm thú vị vì cái lối chuyện trò tửng tửng của người bạn. Ở anh thấy rõ tính cách điềm đạm của một người rất yêu chữ nghĩa. Anh không thường nổi giận, giao thiệp nhau từ đã rất lâu nên tôi biết điều ấy. Vậy mà khi nói về văn chương với lối mỉa mai như vậy thì có nghĩa trong lòng anh đang có điều phẫn nộ chi đây?

             Anh tiếp:

             “Trong cái chợ văn chương hải ngoại, thấy toàn cá tôm mà chẳng có bao nhiêu cành hoa đẹp.  Một cây viết trung thực như BG phải kể là một cành hoa đẹp, nhưng không phải là điều nhan nhản. Tôi thật tiếc cho BG!”

             Tôi hỏi tại sao? Anh đáp, trong cái vẻ có hàm chút gì xa xót:

             “Rất nhiều ‘cái bọn nhà văn’ hôm nay, câu viết không ra hồn ra dáng, chữ nghĩa bét nhè bê bối, vậy mà chỉ nhờ hệ thống internet, độc giả ai cũng biết đến tên bọn đó. Còn BG, con người nhiều tài năng mà sao cứ tự vùi chôn?”

             Sự vùi chôn này rõ ràng như một thực thể, bất cứ ai chung quanh tôi cũng đều nhìn thấy. Đó là cái giá mà tôi phải trả cho hai tập Truyện Dài Không Có Tên, phô bày cá chất thực của giới văn nghệ sĩ hải ngoại, xuất bản năm 1994 và 1998. Là sự cô đơn được đáp lại từ tấm lòng mến yêu Sự Thật và Lẽ Phải trong tôi… Nhưng tôi bằng lòng với không chút gì hối tiếc. Theo từng năm, các tác phẩm đi sau vẫn chào đời liên tiếp. Nhưng in ấn xong, chúng lại được tôi “chôn vùi” trong một góc vườn mà chẳng màng gì chuyện phát hành ra cho độc giả. Cả cá nhân tôi cũng cùng chung định số. Tôi không hề muốn thoát ra ngoài cái vũng cô đơn đã ấp ủ mẹ con tôi hơn chín năm qua.

             Cái quan niệm “nghệ thuật vị nhân sinh” vẫn là quan niệm trong tôi như đã mang từ khi còn nhỏ. Nhưng bây giờ cái chuyện “vị nhân sinh” được đóng lại hẹp hơn trong phạm vi một mái nhà bé nhỏ có sự hiện hữu của bà mẹ già và đứa con thơ. Tôi viết, vì cần phải viết, để giữ cho tâm hồn mình còn nhiều nghị lực hầu thực hiện cho tròn cái đạo làm con và làm mẹ. Những bản văn được viết chính là chất bổ dưỡng cho cái nghị lực tôi nói ở trên. Cái quan niệm này ngẫm ra có phần vị kỷ. Nhưng tôi còn biết phải làm sao? Từ lâu, sự quay lưng với giới văn chương hải ngoại đã trở thành thói quen thân thuộc. Tôi không còn muốn biết gì đến họ. Và dẫu cho không phải là một lời tự biện, nhưng trong hoàn cảnh riêng, đó là lối lý giải hay nhất cho con đường Định Mệnh tôi phải bước đi.

             Người bạn hỏi:

             “Lúc này BG có còn viết về các đề tài phơi bày Sự Thật?”

             Tôi cười:

             “Còn thì sao? Mà hết thì sao?”

             Người bạn cũng cười:

             “Còn thì thôi, nhưng hết thì thật tiếc!”

             “Tại sao vậy?”

             Vẻ mặt người bạn trầm ngâm:

             “Tiếc, bởi vì đã lâu không thấy ai ‘dọn dẹp’ nên ngôi vườn văn nghệ hải ngoại cứ mọc bừa ra những đám cỏ rậm. ‘Chúng nó’ múa gậy vườn hoang nhiều quá!”

             Tôi hiểu, bởi vì đó là cái cách chúng tôi hay nói khi luận bàn về chuyện chữ nghĩa với nhau.

….

             Tôi tự hỏi, có phải là “cái nghiệp” chăng, khi mà tôi đã từng và sẽ còn đeo suốt đời lên đôi vai mình hai chữ Văn Chương và Sự Trung Thực? Có phải là nghiệp không khi lần nữa tôi phải ngồi vào bàn với những bản văn như kiểu Truyện Dài Không Có Tên tôi viết dạo trước kia? Bài điểm sách Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên, sau một đêm thức trắng, đã được tôi cho chào đời tuần lễ trước. Và bây giờ lại phải “động não” theo một bản văn khác mang nhiều tính chất “cỏ rậm” hơn như lời than của bạn tôi. Đó là cuốn Tổ Quốc Ăn Năn (TQĂN) của tác giả Nguyễn Gia Kiểng (NGKiểng), phát hành ở Paris năm 2001. Một cuốn “ồn ào dư luận, đầy những lời miệt thị lên nguyên cả một dân tộc, chưa ai từng thấy trong trọn giòng sử sách VN”, theo lời anh bạn tôi.

…..

II. VÀI NHẬN ĐỊNH SAU KHI ĐỌC “TỔ QUỐC ĂN NĂN”

             Một cuốn sách dầy 604 trang chữ nhỏ, cầm rất nặng tay, bìa hai màu đơn giản, không màu mè kiểu cách. Tuy nhiên, đọc suốt cho tới chữ cuối cùng của nó là một điều khá vất vả với tôi. Từ cách hành văn cho đến những ý tưởng phơi bày của tác giả đã tạo nên trong tôi cái cảm nghĩ “đang phải bước đi trên một con đường có nhiều bụi gai vướng vít” rất là khó chịu. (Sự muốn chụp bắt chủ đích của tác giả, do đó, có phần không thoải mái. Vì vậy, nếu những nhận định được ghi ra ở phần phân tích tác phẩm và tác giả ở đoạn II mà có hàm chút nào tính chủ quan, -tôi sẽ cố hết sức tránh né điều ấy- xin độc giả vui lòng thông cảm cho.)

             Có một điều tôi cần giải bày cùng độc giả: Nếu chỉ là một cuốn sách với lối hành văn xoàng và chủ đề không có gì đặc biệt, tôi hẳn đã buông nó ngay từ những trang đầu mới lật. Nhưng với cuốn này thì ngoài cái tính quá xoàng trên phần hình thức, đã có một điều VÔ CÙNG NGUY HIỂM ở phần nội dung, khiến tôi cứ phải tự mình ráng đọc, ráng tìm hiểu, trước khi ngồi xuống bàn làm việc với bản văn mà bạn đọc đang cầm trên tay.

             Càng đọc cuốn TQĂN, tôi càng hiểu ra cái thái độ khinh bỉ của người bạn tôi khi nói về “cái chợ văn chương hải ngoại”, đặc biệt là với cuốn ấy. Nhưng càng đọc, tôi lại càng thấy mình “không có quyền lánh xa cái chốn giang hồ đầy những mưa máu gió tanh.”

             Những lời thơ của Phùng Quán cứ vang hoài trong óc suốt những ngày sau đó:

             “Người làm xiếc đi giây rất khó
             Cũng không khó bằng làm nhà văn
             Đi trọn đời trên con đường chân thật…”

             Thì con đường chân thật này là con đường tôi ĐÃ CHỌN từ khi mới chào đời, hoặc rõ hơn, từ khi bắt đầu cầm cây viết mười sáu năm về trước. Tôi đã “nhập cuộc” thì phải theo cho trót. Trách nhiệm của người cầm viết không cho tôi cái quyền trốn chạy những điều không lương thiện mà mình nhìn thấy. Cuốn TQĂN và tác giả NGKiểng chính là những gì tôi gọi là “không lương thiện” đó. Một cuốn sách đầy chất độc hại được viết ra từ bàn tay một người làm chính trị với những mưu đồ đen tối. Một cuốn sách 604 trang với toàn những giòng những câu miệt thị thóa mạ trên cả một dân tộc VN. Một cuốn sách chứa chấp những tư tưởng của một con người vừa thành công mà cũng vừa thất bại, vừa đầy tự ti mặc cảm lẫn cả tự tôn mặc cảm. Một cuốn sách câu cú lủng củng, ý tưởng ngông cuồng mà lại được rất nhiều kẻ về hùa tâng bốc là “nghệ thuật”, “văn chương!”

             Năm xưa đọc nghiền ngẫm chữ nghĩa của Gogol, một nhà văn vĩ đại của nước Nga, tôi thông cảm biết bao cái tâm lý xung đột của ông giữa “niềm tin trên văn chương như một sức mạnh đạo đức” với cái sự thật rằng “ngòi viết của ông không đủ tàn phá hết những điều xấu xa mà nước Nga đang phải gánh”. Với ông, mọi tội lỗi thế gian xuất phát từ sự băng hoại của tâm hồn con người. Vì thế mà ông cứ mãi tự dày vò mình theo ý nghĩ: “Thượng Đế muốn ông không chỉ đóng vai trò một kẻ khiển trách những cái hủ tục xã hội suốt qua các bản văn châm biếm, làm thành tiếng cười cho độc giả; lại còn phải tìm ra cho nước Nga một con đường ngay thẳng để có thể sống còn giữa một thế giới đầy những quỷ ma.”

             Đó là lý do cho sự chào đời của tác phẩm “Những Đoạn Chọn Lọc Từ Các Lá Thư Gửi Bạn”, xuất bản ngày 31/12/1846, qua đó, để gửi gấm hoài bão muốn thanh lọc cái thế giới kinh khủng này, Gogol đã không ngần ngại tỏ bày rõ rệt mọi ý tưởng riêng về dân tộc và vận mệnh dân chúng Nga, về giáo hội, thi ca, văn chương và nghệ thuật. Bằng giọng văn nhún nhường, hiểu biết, gần như đau khổ, trong phần lớn các bài viết, nhà văn đưa ra những lời khuyên thiết tha về bổn phận của con người trên khía cạnh đạo đức. Gogol viết cho nhiều giới: từ giới giang hồ đến những chủ điền, từ nhà cầm quyền đến giới văn nghệ, từ trí thức đến bình dân… Trong các lời khuyên, nhà văn đã tỏ ra rất thật lòng. Tất nhiên, những tổ chức chính trị xã hội không làm ông chú ý bằng sự cải thiện đạo đức. Ông tin rằng tác phẩm của mình là một thông điệp quan trọng và cần thiết tức thì trong sự cứu độ dân chúng Nga thoát khỏi vòng tội lỗi. Và ông cũng tin rằng độc giả sẽ đón nhận nó từ lòng sợ hãi và biết ơn.

             Nào dè, quyển sách vừa tung ra đã làm dậy lên trong nước Nga những cơn bão văn chương mãnh liệt. Những người bạn thân lẫn cả bạn không thân đều chống đối Gogol. Aksákov, người bạn suốt nhiều năm dành cho Gogol một lòng sùng bái, đã viết gửi nhà văn một lá thư đau khổ để phô bày tình bạn bị thương tổn. Dữ dội nhất là nhà phê bình Belínski, người đã từng một thời hâm mộ Gogol, từ Paris, trong những ngày chờ chết với bệnh lao phổi đang đến thời kỳ cuối, đã giáng một cú sét bất ngờ vào đầu Gogol qua một lá thư đầy những lời lẽ chỉ trích hiềm thù tựa đề “Thư Gửi Gogol”. Kết quả đưa tới với Gogol là sự tuyệt vọng đến dường điên loạn. Nhà văn tự đốt tác phẩm quan trọng cuối cùng của mình -phần II của cuốn Những Linh Hồn Chết- và qua đời trong cái tuổi 43.

             Bây giờ, với cuốn TQĂN, tôi thấy tác giả NGKiểng cũng đang muốn làm lại cái hành động của Gogol nhưng với một cung cách và tâm ý hoàn toàn khác. Ông NGKiểng không phải nhà văn, mà là một nhà chính trị như ông đã tự xác nhận. Còn tôi, với tâm hồn của một nhà văn, chính trị là điều tôi không bao giờ muốn nghĩ đến. Tuy nhiên, không nghĩ đến không có nghĩa là có quyền thản nhiên quay lưng trước những cái gì mình cho là nguy hiểm trên kẻ khác mà mình nhìn thấy. Tôi sẽ không bao giờ chấp trách ông NGKiểng nếu như trong cuốn sách của ông, thấy toàn là cách hành văn xoàng kém. Điều tôi muốn trình bày ở phần sau chính là, “ẩn nấp dưới hình thức văn chương, tác giả đã có che giấu một âm mưu đả phá độc hại cái tinh thần VN một cách rất vô trách nhiệm, không những đối với các tiền nhân, mà còn với cả lớp người trẻ VN trong các thế hệ đi sau.”

             Lẽ ra tôi cũng muốn bắt chước nhà văn Mai Kim Ngọc trong một bài phê bình về ông Nguyễn Văn Trung là “trả lại cho đám học trò lớp 12 của ông Trung những cái lỗi về văn phạm, cú pháp của ông ấy” mà không thèm lý tới trong bài viết; nhưng vì với TQĂN và cá nhân tác giả NGKiểng đã có một vị trí ở hải ngoại “khác” hơn rất nhiều so với ông Nguyễn Văn Trung, nên tôi đành làm cái chuyện mà tôi rất ghét: “Vạch lá tìm sâu.” Điều tôi muốn đưa ra là, để đóng được cái vai trò lãnh đạo trong một hội nhóm chính trị với mục đích làm chuyện “quốc gia đại sự” thì điều cần có không những chỉ là tư cách, đạo đức thôi, mà còn phải cả tài năng và đởm lược riêng nữa.

             Ông NGKiểng đang là “lãnh tụ” của nhóm Thông Luận ở Paris, một nhóm chính trị rất ồn ào trong những hô-hào-đoàn-kết-hòa-hợp-hòa-giải-đổi-mới-dân-tộc-cải-thiện- con-người... lung-tung-loạn-xạ… vậy mà ông vừa không có Đức lại thiếu cả Tài, thử hỏi làm sao có người chịu phục tùng ông cho được? Ông bảo rằng từng đi du học khi 19 tuổi, từng đỗ kỹ sư và nắm biết bao chức vụ quan trọng trong xã hội Pháp từ mấy chục năm qua. Nhưng đọc sách ông, tôi thấy “ngờ” theo điều này lắm. Chẳng phải tôi, mà bất cứ em học sinh lớp 9 nào đã từng thông qua chương trình Việt văn, học về ngữ pháp, cũng đều có thể thấy ra những cái rất xoàng trong phần hình thức của cuốn TQĂN.

             Nhưng “nói khơi khơi” như ông NGKiểng thì lại là điều tôi không sao làm nổi; nên đành phải chứng minh xác thực bằng chữ nghĩa cái chuyện “vô tài bất tướng” của ông trong bài viết hôm nay. Nếu như điều đó có làm nhàm mắt độc giả, xin vui lòng lượng thứ. Những độc giả trẻ lớn lên ở xứ người, không rành chữ nghĩa VN, cũng cần phải biết những cái sai ấu trĩ của ông NGKiểng để liệu mà tránh xa cái nhóm Thông Luận độc hại kia.

             Để bài viết được mạch lạc, những suy nghĩ    của riêng tôi sẽ được chia ra trong hai phần: A. Hình Thức (Phân Tích Cấu Trúc Tác Phẩm) và B. Nội Dung (Phân Tích Ý Tưởng Tác Giả). Cũng xin lưu ý độc giả, kể từ lúc này trở đi, tất cả những “câu văn chữ nghiêng trong hai dấu ngoặc kép” trong nguyên phần Hình Thức bên dưới là được trích chính xác từ lời ghi trong cuốn TQĂN của tác giả NGKiểng. Riêng các chữ nghiêng đậm Italic trong đoạn văn là sự cố ý nhấn mạnh của TTBG, kẻ viết bài này.)

A. PHẦN HÌNH THỨC: CẤU TRÚC TÁC PHẨM.

             Điều nhận xét đầu tiên:

             Đây là một cuốn sách –gần như duy nhất trong số sách của các tác giả VN từng đã đọc- tôi thấy trong đó chỉ phơi bày toàn các khuyết điểmkhông có ưu điểm. Đó là một thiếu sót rất đáng thương cho tác giả trong một công trình tim óc kéo dài hằng “bốn năm” như ở trang XI ông đã ghi.

             Điều nhận xét thứ hai: Tác giả là “một người làm chính trị chứ không làm văn học hay nghiên cứu lịch sử” như rất nhiều lần, và đặc biệt ở trang 155 và trang 171, cái ý tưởng đồng dạng được xác định. Vậy, cá chất đầu tiên một người làm chính trị CẦN PHẢI CÓ là tính “thuyết phục.” Riêng tôi sau khi đọc TQĂN, cũng phải nhận “tác giả có ý muốn phô bày một cái mới” nào đó bằng chữ nghĩa để thuyết phục độc giả. Nhưng qua cuốn TQĂN, tính thuyết phục này HOÀN TOÀN HỎNG bởi rất nhiều hình thức diễn đạt của tác giả mà tôi sẽ lần lượt trình bày từng điểm (với một vài dẫn chứng tiêu biểu) như sau.

1/ CHỮ NGHĨA ĐẦY TÍNH KỂ LỄ.

             Một người đàn ông, đặc biệt là “người đàn ông làm chính trị” thì cá chất rõ rệt nhất nơi họ là “nói năng dứt khoát”. Đọc trong TQĂN, tôi nhận thấy điều này rõ ràng KHÔNG CÓ nơi con người tác-giả-làm-chính-trị-Nguyễn-Gia-Kiểng.

             Cũng vậy, một tác phẩm với cái tựa “thật kêu” và cái tít phụ mang đầy tính dân tộc: “Nghĩ lại đất nước trên ngưỡng cửa một thế kỷ 21 và thiên niên kỷ mới” mà ngay từ phần nhập đề sơ khởi, qua ba bài viết, lại chỉ thấy toàn phơi bày chuyện nhà, chuyện lòng riêng của tác giả; thì theo tôi, “tính kể lễ” là một trong những khuyết điểm chủ yếu đã làm hỏng bản văn.

Dẫn chứng:   

a. Bài “Lời đầu” gồm 8 trang, gom thành hai chủ đề rõ rệt:

             1/ Tự phô trương thân thế lý lịch; 2/ Dành để “tặng” cho các người thân.

             Ở phần phô trương lý lịch, với đúng ba trang giấy, tác giả tự vẽ hình tuổi thiếu niên của mình bằng cách đưa ra cho thấy một loạt những hình ảnh đồng quê, các nhân vật trong truyện cổ tích VN, và cả tên tuổi những vị anh hùng trong lịch sử dân tộc, những điều và những con người đã làm nên “cái vốn liếng tinh thần và văn hóa” (tr. I) cho tác giả trước khi đi du học Pháp năm 1961.

             Nhưng sau đôi ba năm ở xứ người, tác giả “tin là mình hiểu rõ nước Pháp nói riêng và phương Tây nói chung” (tr. II) nên bắt đầu xoay hướng suy nghĩ  cá nhân.

              Từ một anh con nhà nghèo vừa mới giã từ cái xóm nhỏ tối tăm ở khu Tân Định, Sàigòn, chẳng bao lâu trước đó, (như tác giả SẼ mô tả ở trang 38: “Hầu hết các gia đình chúng tôi đều ở trong những căn nhà lụp xụp, nhiều nhà không có điện, tối phải thắp sáng bằng đèn dầu, vừa học vừa đập muỗi…”), ánh sáng văn minh của kinh thành Paris đã khiến tác giả cảm thấy như bị “giảm đi” “dần dần niềm tự hào dân tộc” để rồi kéo theo “sự hoang mang”“nỗi đau càng ngày càng lớn trong tâm hồn.” (tr. II)

             Từ một anh học trò chân cẳng khẳng khiu “trong mỗi buổi tập thể dục mặc quần xà lỏn” ở trường Trần Lục thấy để lộ ra “cặp đùi” “đầy dấu muỗi chích” (tr. 38), bấy giờ trên đất Pháp, nhìn thấy “sự vượt trội” của các nước phương Tây vì “văn hóa của họ lành mạnh, tâm lý của họ đúng đắn” cá chất của họ“nhân bản, thâm thúy, đầy óc sáng tạo” (tr. II) nên tác giả đã phải quay lại mà “xấu hổ”, “chua xót và thẹn thùng về sự thua kém của đất nước VN và con người VN”, một “nước VN đau khổ và nghèo nàn bởi vì văn hóa VN thui chột và tâm lý người VN bệnh hoạn.”  (tr. II)

             Chủ đề kế tiếp của bài “Lời đầu” là phần “Tặng”.

             Thoạt tiên, cuốn sách được ghi tặng cho bà vợ và hai người con trai con gái của tác giả hiện đang còn sống. Tiếp đến đề tặng cho nhóm Thông Luận, gồm “một số đông đảo các trí thức và chuyên gia hàng đầu, nặng tình với đất nước.” Cuối cùng, đề tặng cho ba người đã chết: hai người bạn (chiếm mất 77 hàng, nghĩa là gần 3 trang!) và con gái đầu lòng (chiếm 16 dòng.)

b. Bài “Cảm Tạ” chiếm một trang với đủ các nhân vật được nêu danh tính, tác giả cảm tạ từ “các chí hữu Thông Luận” đến các “bậc thầy Vũ Khắc Khoan, Lê Ngọc Huỳnh, Nguyễn Xuân Kỳ”, cảm tạ từ “người bạn thân và anh lớn” Nguyễn Ngọc Huy đến thân phụ, cũng là “người thầy đầu tiên” của tác giả; cảm tạ từ các “đồng chí” Kiên, Minh, Bảo giúp cho trong việc hoàn thành cuốn sách đến “người sau cùng nhưng đặc biệt nhất” Nguyễn Văn Huy, đã có công thúc giục tác giả viết tác phẩm này.

c. Bài “Ghi Chú Về Tài Liệu Tham Khảo Và Bố Cục” cũng chiếm 4 trang.

Xem thế, trước khi vào phần đầu tiên trong năm phần của tác phẩm, độc giả đã phải làm một cuộc hành trình dài đăng đẳng trong những lời kể lễ cà kê, những điều không đâu ăn nhập vào đâu cho hạp với “tư cách của một người làm chính trị” và lại cũng chẳng hạp chút nào với một cuốn sách mang chủ đề “đả phá rồi xây dựng” một đất nước mới và con người VN mới! (Ngoài ra, trong cuốn sách, còn có rất nhiều đoạn lê thê rườm rà như vậy. Nếu phải nói chỉ riêng đề mục này thôi, tôi e phải mất rất nhiều thời gian.)

             Theo sự “thiếu tính thuyết phục” này, tôi xin mượn một câu nơi trang 100 của TQĂN, tác giả đã viết: “Phần dẫn nhập dài dòng này là để cảnh giác về một thiếu sót trầm trọng, bi đát, kinh khủng của người Việt: chúng ta không biết truyền thông.”

 và xin đổi lại chút ít như sau:

             “Phần dẫn nhập dài dòng Ở TRÊN là để cảnh giác về một thiếu sót trầm trọng, bi đát, kinh khủng của TÁC GIẢ NGKIỂNG. TÁC GIẢ ĐÃ không biết CÁCH truyền thông”!

2. SẮP XẾP CHỦ ĐỀ LỘN XỘN:

Nơi trang 99, tác giả cũng từng mai mỉa: “Tôi đã nghe khá nhiều bài thuyết trình, đọc nhiều bài báo mà chẳng hiểu tác giả định nói cái gì. Các tác giả sắp xếp lộn xộn thứ tự của các ý kiến –khi họ có ý kiến, một điều tương đối hiếm-, ôm đồm quá nhiều ý trong một câu, dùng từ ngữ sai và bất chấp văn phạm”,

Vậy mà theo dõi kỹ cuốn TQĂN, tôi lại thấy “cái tính ôm đồm” nói trên chẳng những chỉ xuất hiện nơi các chương riêng biệt trong CÙNG MỘT TIÊU ĐỀ nhỏ; mà “sự sắp xếp lộn xộn thứ tự của các ý kiến” lại cũng xảy ra ngay chính trong CÙNG MỘT CHƯƠNG. Do đó, TQĂN đã thiếu hẳn cái TÍNH NHẤT QUÁN rất cần thiết của một tác phẩm bằng chữ viết.

            Dẫn chứng:

*/ Cùng trong một tiêu đề:

“Đất Nước Và Con Người” là tiêu đề mà chủ ý tác giả muốn đưa ra cho thấy RIÊNG về Con Người và Đất Nước VN thôi. Vậy mà trong cái tiêu đề chung ấy, cũng có nhiều bài hoàn toàn lạc điệu, như bài “Mưu Sự Tại Nhân…” ở trang 29, trong ấy không phải nước VN mà là nước Hoà Lan, được phơi bày bằng giọng văn thật là “khô khan địa lý!”.

            */ Cùng trong một chương:

Cũng ngay trong chính cái chương Mưu Sự Tại Nhân (tr. 29), ở trên đang thao thao kể chuyện những người đã quen trong thời gian tác giả ở tù CSVN, bỗng nhảy hẳn qua chuyện đất nước Hòa Lan và dông dài về con người và quốc gia của kẻ khác.

Những ví dụ như trên, độc giả chẳng những chỉ thấy MỘT, mà còn NHIỀU nữa. Nếu dẫn hết ra đây, tôi e sẽ rất nhàm chán (cho độc giả) và khổ công (cho tôi)!

3/ RẤT SAI NGỮ PHÁP:

             Lật ngay trang thứ nhì của bản in (trang đầu để trắng), cái tiêu đề nhỏ được ghi ra bên dưới cái tựa chính, làm tôi khó chịu ngay:

             “Nghĩ lại đất nước trên ngưỡng cửa một thế kỷ 21 và thiên niên kỷ mới.”

              Đây là một cái SAI vô cùng ấu trĩ trên vấn đề ngữ pháp: Phó từ “MỘT” không thể nằm trước danh từ “Thế Kỷ 21” bởi chẳng thể nào có được NHIỀU “thế kỷ 21” để phải dùng đến chữ Một mà xác định cho nó. Vậy, nếu đúng ngữ pháp, phải viết như sau:

             “Nghĩ lại đất nước trên ngưỡng cửa thế kỷ 21 và MỘT thiên niên kỷ mới”.

 Chữ “thiên niên kỷ” thì sẽ có nhiều (3000, 4000…) nên với câu trên, đặt phó từ “MỘT” đàng trước cụm danh từ “thiên niên kỷ” và tĩnh từ “ mới”, là chính xác. 

Ở trang 106-107 trong bài Tiếng Mẹ Ru Từ Lúc Nằm Nôi, tác giả không tiếc lời chê bai kẻ này viết tiếng Việt sai chính tả, văn phạm, kẻ khác viết tiếng Việt “cẩu thả”, hay “hoàn toàn không biết viết tiếng Việt”. Chê từ Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu viết một bài cương lĩnh dài đến ba trang đánh máy mà “tôi (tác giả) đếm được gần một trăm lỗi chính tả và văn phạm”, cho tới “ngay cả những bài nghị luận chính trị trên báo chí, nhiều khi cũng không thể tìm ra chủ từ, động từ, túc từ” (tr. 107); chê từ những nhà văn viết sai ngữ pháp cho đến “các sinh viên ở năm cuối cùng, sắp tốt nghiệp” cũng “viết những câu rất dài và luộm thuộm, sai văn phạm, sai chính tả, sai cả nghĩa của từ ngữ.” Và sau cùng, cái sự SAI này đã trầm trọng đến khiến tác giả “phải nhìn nhận một sự thực đau lòng: chúng ta là một dân tộc không biết đọc, không biết viết, và không biết nói” luôn! (tr. 107)

Tuy nhiên, đọc trong cuốn TQĂN, tôi thấy rõ những cái sai ngữ pháp rất ấu trĩ (như ví dụ vừa dẫn), ở trang nào cũng có. Khi thì sai cú pháp, lúc lại hỏng mệnh đề; khi thì thiếu động từ, lúc lại dư giới tự..v..v.. Nghĩa là cứ tùm lum loạn xạ, không mạch lạc giản dị. Xin đơn cử vài ví dụ:

a. Tác giả viết:

 */ “Trong cuộc chuyển hóa vĩ đại từ một nước nông nghiệp sang một nước công nghiệp và dịch vụ chúng ta gặp một trở ngại lớn: khí hậu. Chúng ta là một nước nhiệt đới, gần như nóng quanh năm, nhất là ở miền Nam. Sự phá hủy cây rừng từ nhiều năm nay, và vẫn chưa chấm dứt hẳn dù rừng không còn bao nhiêu, lại càng cho khí hậu thêm phần gay gắt khó chịu.” (tr. 21)

Nếu muốn đúng ngữ pháp và đơn giản câu văn thì phải thế này:

“Trong cuộc chuyển hóa vĩ đại từ một nước nông nghiệp sang một nước công nghiệp và dịch vụ, (phẩy!) chúng ta gặp một trở ngại lớn: khí hậu. VN là một nước nhiệt đới, gần như nóng quanh năm, nhất là ở miền Nam. Sự phá hủy cây rừng từ nhiều năm nay, và vẫn chưa chấm dứt hẳn dù rừng không còn bao nhiêu, lại càng LÀM cho khí hậu thêm phần gay gắt khó chịu.”

b. Tác giả viết:

*/ “Biển là tài sản quý báu nhất của non sông hoa gấm, có khả năng cao hơn nhiều so với nông nghiệp. Nhưng không phải ta chỉ có biển tốt mà ta còn có một vị trí vô cùng thuận lợi. Chúng ta là đường ra biển của Cam Bốt, Lào, Thái Lan và miền Tây-Nam Trung Quốc, chúng ta nằm sát các trục giao thông hàng hải quan trọng và ở ngay trung tâm của một vùng phát triển mạnh.” (tr. 23)

Nếu muốn đúng ngữ pháp và rõ nghĩa câu văn thì phải thế này:

“Biển là tài sản quý báu nhất của non sông hoa gấm, có khả năng cao hơn nhiều so với nông nghiệp. Nhưng không phải (bỏ chữ Ta ở đây) chỉ có biển tốt, (phẩy!)(bỏ chữ Ta, thế vào chữ VN) VN còn có một vị trí vô cùng thuận lợi. (Thêm chữ) NƯỚC chúng ta (bỏ chữ Là, thế vào cụm từ: “tượng trưng như một con”) đường ra biển của Cam Bốt, Lào, Thái Lan và miền Tây-Nam Trung Quốc, (bỏ chữ Chúng Ta: Thừa và sai ý nghĩa) nằm sát các trục giao thông hàng hải quan trọng và ở ngay trung tâm của một vùng phát triển mạnh.”

Xin viết lại:

“Biển là tài sản quý báu nhất của non sông hoa gấm, có khả năng cao hơn nhiều so với nông nghiệp. Nhưng không phải chỉ có biển tốt, VN còn có một vị trí vô cùng thuận lợi. Nước chúng ta tượng trưng như một con đường ra biển của Cam Bốt, Lào, Thái Lan và miền Tây-Nam Trung Quốc, nằm sát các trục giao thông hàng hải quan trọng và ở ngay trung tâm của một vùng phát triển mạnh.”

             Ngoài ra, không phải chỉ là sự thiếu hoặc thừa những từ ngữ trong các câu văn thôi, tác giả còn tỏ ra không biết cách đặt cho đúng chỗ các dấu chấm, dấu phẩy, những điều thuộc quy tắc thành lập mệnh đề chính, phụ. Nghĩa là ở rất nhiều đoạn, độc giả tìm thấy những cái dấu chấm “rất không cần thiết” cho câu, đoạn đó; ở những đoạn khác rất cần một hay nhiều dấu phẩy, thì chẳng thấy đâu! Câu văn cứ thế mà liền tù tì, đọc lên, sẽ có cảm tưởng như đang bị ngợp thở.

Dẫn chứng:

*/ “Cứ nhìn ngay những tổ chức chính trị, mà mục đích là tranh đấu cho một nước VN thống nhất và đoàn kết. Không cần phải là một nhà quan sát tinh tường cũng đủ thấy.” (tr. 73)

*/ “Chúng ta cần tìm ra cách nào khác để quí trọng người xưa. Để vẫn yêu quý tổ tiên mà vẫn quý mình.” (tr. 152)

Các dấu chấm đặt trước chữ Không (ở câu 1) và trước chữ Để (ở câu 2) phải thay bằng Dấu Phẩy mới tạm gọi là được, dù câu văn không thể thành trong sáng. Muốn hoàn chỉnh, phải sửa lại toàn thể như sau:

              “Cứ nhìn ngay những tổ chức chính trị mang mục đích tranh đấu cho một nước VN thống nhất và đoàn kết, (phẩy!) không cần phải là một nhà quan sát tinh tường, (phẩy!) người ta cũng đủ thấy.”

Và: “Chúng ta cần phải tìm ra một cách nào khác để yêu quý tổ tiên mà vẫn quý được mình.”

Những lỗi như vừa trình bày ở các ví dụ trên, độc giả có thể tìm thấy rất nhiều trong các đoạn, các chương của tác phẩm. Do đó, đọc một cuốn sách mà gặp quá nhiều cái sai về văn phạm khiến câu văn đâm thành tối nghĩa, thì đó sẽ là điều dễ dàng tạo ra cho người đọc cái cảm nghĩ “đang phải bước đi trên một con đường có nhiều bụi gai vướng vít” tôi đã viết ở trên.

4/ QUÁ NHIỀU TỪ HAY Ý TRÙNG NHAU TRONG MỘT ĐOẠN, MỘT CÂU VĂN.

Trong một đoạn hay một câu văn mà dùng quá nhiều điệp ngữ hay điệp ý thì đọc lên, nghe y hệt cách nói tội nghiệp của một người đang mắc chứng cà lăm.

Dẫn chứng:

*/ “Hai Bà Trưng khởi nghĩa, làm chủ đất nước và cầm cự được ba năm, rồi cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Chinh và Triệu Quốc Đạt. Rồi vô số những loạn lạc đao binh khác, có khi do chính các quan cai trị muốn xưng hùng xưng bá đánh giết nhau, có khi do nhân dân nổi dậy chống áp bức. Có lần dưới thời Tam Quốc (…) dân Giao Châu nổi lên giết được quan thái thú rồi đi thần phục nhà Ngụy ở mãi tận phương Bắc, để rồi lại bị Đông Ngô đánh đẹp. (…) // Trong sáu mươi năm ngắn ngủi của nhà Tiền Lý, nước ta đã phải đương đầu với cuộc tái chiếm của Trung Hoa, rồi cuộc nội chiến giữa Triệu Quang Phục và Lý Phật Tử (…) rồi lại đánh Chiêm Thành, rồi chiến tranh với nước Nam Chiếu (…) Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán rồi xưng vương (…) Chiến tranh cũng rất thường xuyên: (…) đánh Chiêm Thành, Ai Lao, rồi lại đánh Chiêm Thành, rồi đem quân đánh Tống, rồi kháng cự với quân xâm lăng Tống (…) rồi lại đánh Chiêm Thành, rồi giặc Thân Lợi (…) rồi mất ngôi về tay nhà Trần. // (…) rồi những cuộc chiến tranh liên miên với Chiêm Thành, (…) Rồi  đánh nhau với Ai Lao… Rồi… Rồi!… Rồi!” (tr. 129-131) 

5/ CÂU CÚ LÊ THÊ, LỦNG CỦNG.

Điều này rất thường xuyên được tìm thấy trong cuốn sách. Có khi chỉ một đoạn ngắn mà người viết phải đọc đến hai, ba lần vẫn không thể hiểu trong đó, tác giả muốn nói gì?

Dẫn chứng:

*/ “Toàn bộ 85% dân số được gọi là người Kinh sử dụng tiếng Việt, và càng ngày số người của 15% còn lại thuộc các sắc tộc ít người sử dụng được tiếng Việt càng thành đa số.” (tr. 25)

*/ “Quan tâm tới lịch sử đánh dấu sự hình thành của ý niệm quốc gia. Hiểu như thế thì tuy đất nước Việt Nam (hiểu theo nghĩa đen là đất và nước) đã có hàng mấy chục triệu năm và những con người Việt Nam cũng đã có từ hàng chục ngàn năm và đã dần dần sống thành xã hội có tổ chức nhưng ý niệm về quốc gia Việt Nam chỉ mới xuất hiện rất gần đây, vào đầu thế kỷ thứ 13 khi Lê Văn Hưu soạn ra bộ Đại Việt Sử Ký.” (tr. 117)  

6/ QUÁ NHIỀU CÂU THÓA MẠ NGƯỜI VN VÀ CẢ TỔ TIÊN.

             Điểm sai lầm và thất bại LỚN NHẤT của một tác phẩm chữ nghĩa là sự thóa mạ kẻ khác bằng chính giòng văn của tác giả (chứ không phải của nhân vật được kể).

a. Chửi Rủa Miệt Thị Những Người Cùng Thời Và Cả Dân Tộc VN.

 Trong TQĂN, điều TỆ HẠI và làm thấp kém hóa tác phẩm chính là giọng văn miệt thị chửi rủa của tác giả. Cái tính thuyết phục cần thiết phải có trong một người làm chính trị hoàn toàn không thấy xuất hiện trên những giòng chữ lôi kéo quần chúng. Bài nào cũng chỉ vang lên những tiếng chửi. Chửi từ chế độ CS sang chế độ Tự Do, chửi từ người Miền Nam sang người Miền Bắc. Chửi từ tiền nhân qua đến kẻ hậu duệ. Chửi từ đất nước VN qua đến con người VN ở hải ngoại và trong quê hương. Chẳng ai tránh được tiếng chửi của tác giả, trừ ra gia đình vợ con cha mẹ và những người bạn thân hay các “chí hữu trong nhóm Thông Luận.”

Dẫn chứng:

*/ “Sau 30/4/1975, trong trại cải tạo, tôi được nghe rất nhiều sĩ quan, (…) thua trận, họ vào tù, họ phải mạt sát chế độ VN Cộng Hòa và đế quốc Mỹ để mong được khoan hồng (…)” (tr. 3)

*/ “Trí thức VN (…) thầy cũng dốt, học trò cũng dốt, sách lại dở.” (tr. 26)

*/ “Thì ra đó là những bài học của quân đội Pháp, bộ tổng tham mưu quân đội miền Nam đem dịch ra để giảng dạy. Thật là bắt chước một cách ngu ngốc.” (tr. 47)

 */ “Người Việt có tâm lý tồi kém (…) thiếu tự hào dân tộc và lại hay đố kỵ, ghen ghét nhau. (…) tôn thờ bạo lựcác độc đối với nhau. (…) Người Việt không biết truyền thông, không biết đọc, không biết viết. v..v..” (tr. 109)

*/ “Nếu cải cách điền địa chỉ là do dã tâm của đảng CS và của các ông Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Hồ Viết Thắng thì (…) chứng tỏ rằng người VN ác độc với nhau, và do đó không đáng với tên gọi là một dân tộc.” (tr. 146).

(Ở đây, ông NGKiểng xác nhận việc cải cách điền địa chỉ là do dã tâm của CS Bắc Việt, tại sao lại GOM CHUNG người Miền Nam vào để phỉ báng? Ông có ý đồ gì trong cách chửi “toàn thể người VN” vậy?)

             */ “Thái độ châu chấu đá voi của triều Nguyễn chống Pháp tới cùng xét ra không lố bịch bằng thái độ của những người đã thảm bại và thua chạy nhưng vẫn nhất định đòi những người cộng sản phải “tỉnh ngộ quay về với chính nghĩa quốc gia” (…) “Cùng một vấn đề và cùng một thái độ cố chấp. Ngày nay có hơn gì ngày xưa đâu. Chỉ khác ở chỗ các vua quan nhà Nguyễn còn có thể hưởng sự giảm khinh vì họ không được nhìn thấy thế giới bên ngoài.” (tr. 203). 

             */ “Có thể nói Pháp đã còng tay VN và dẫn vào thời đại mới.” (tr. 220)

             */ “Để đánh thành Hà Nội do Nguyễn Tri Phương có chuẩn bị trước để phòng vệ, người Pháp đã chỉ cần 170 quân và họ hạ thành Hà Nội trong nháy mắt, bắt sống Nguyễn Tri Phuơng. (…) Để chiếm Hải Dương, quân Pháp đã chỉ cần 15 người lính bắn vài phát súng là xong. Quân nhà Nguyễn đã không kháng cự chứ không phải đã thua trận. Tại Ninh Bình chúng ta còn nhục nhã hơn nhiều. Một viên thiếu úy dẫn bảy tên lính tới thành. Tổng đốc Nguyễn Đức Tuân và toàn bộ quân sĩ VN phải hạ khí giới, quỳ xuống hai bên đường đầu hàng. // Trước đó, Jean Dupuis, một lái buôn với vài tên lính đánh thuê do y tuyển dụng đã có thể làm mưa làm gió mỗi lần đưa tàu buôn ra Bắc // Các quan lại VN tại Hà Nội mỗi khi thấy tàu Dupuis tới gần phải chạy trước, sợ y bắt ra nọc đánh.” (tr. 223)

b. Thóa Mạ Tiền Nhân.

             Trong tròn cuốn TQĂN, điều rất đáng buồn và tủi hổ cho dân tộc VN là ở bất cứ trang nào cũng thấy toàn những lời miệt thị của tác giả –một người VN-, chẳng những lên kẻ đương thời, mà còn miệt thị luôn cả tiền nhân tiên tổ.

             Dẫn chứng:

             */ “Nguyễn Huệ xuất thân là tướng cướp (tr. 96)

             */ “Quang Trung Nguyễn Huệ, một con người vô cùng hung bạohiếu sát.” (tr. 149)

             */ (Song thân Nguyễn Huệ) “Hồ Phi Phúc thì lại mở sòng bạc. (…) “Ba anh em Nhạc, Lữ và Huệ lớn lên đi ăn cướp.”(…) “Quân Tây Sơn chỉ toàn là giặc cướp.” (tr. 158-159)

             */ “Nếu nhìn một cách bình tĩnh thì công lao của Nguyễn Huệ thực ra không thấm tháp gì  (…). Việc ông được tôn sùng quá đáng tố giác một tâm lý kính sợ bạo lực của người VN; việc người ta tô vẽ cho ông những đức tính mà ông hoàn toàn không có như trị nước an dân, có lòng nhân ái..v..v. chứng tỏ rằng ta tôn sùng bạo lực tới độ ta sẵn sàng làm đẹp nó.” (tr. 96)

             */ “Nguyễn Ánh còn đang bành trướng thế lực ở trong Nam thì Nguyễn Huệ đã nghĩ đến việc đánh Trung Hoa. Thật là một ý đồ điên dại, chứng tỏ Nguyễn Huệ không có một hiểu biết chiến lược nào cả.” (tr. 163)

             */ “Anh em Tây Sơn đã làm một việc khác rất lớn, rất tai hại cho chúng ta và đã khiến chúng ta là chúng ta ngày nay: đó là phá tan và chấm dứt hơn hai thế kỷ tiếp xúc và giao thương đầy hứa hẹn với thế giới bên ngoài, nhất là phương Tây.” (tr. 166)

             */ “Nếu Đinh Bộ Lĩnh là một tướng giỏi thì Đinh Tiên Hoàng lại chỉ là một ông vua tồi bạo ngược.” (tr. 523)

             */ “Còn Nguyễn Trãi? Vị đệ nhất công thần này từng nằm gai nếm mật cạnh Lê Lợi, bố của Lê Thái Tông, cũng phải nộp người yêu của mình cho một thằng bé bằng tuổi con mình hành lạc ngay tại nhà mình, không chừng còn phải lạy tạ ơn mưa móc và dọn giường chiếu cho nó. Và khi không may vua vì quá đê mê mà chết thì bị kết tội và bị giết cả ba họ. Vua là trời, quần thần không là gì cả. Một ông quan, nghĩa là một kẻ sĩ may mắn thành đạt, dù tài giỏi tới đâu đi nữa, dù chức phẩm cao tới đâu đi nữa cũng không hơn gì một con vật trước mặt vua, vua muốn nọc ra đánh vài chục trượng, muốn thiến, muốn giết bỏ tùy ý. Và muốn giết sạch cả cha mẹ anh em con cháu cũng được luôn.” (tr. 368)

             */ “Nhà Trần lại nổi bật ở điểm loạn luân và tàn ác. Anh em cô cháu cứ lấy nhau một cách bừa bãi. Không những thế, nhà Trần còn ép buộc dân chúng phải lấy nhau trong cùng một họ. Phong hóa nước ta chưa bao giờ đồi trụy đến thế.” (tr. 137)

             */ “Việc quỳ lạy tướng Tàu là tồi thực, nhưng đó là điều mà các vua VN ngày trước vẫn làm trước sứ giả Trung Quốc…” (tr. 141)

             */ Tác giả khinh miệt Nguyễn Công Trứ trong bài Kẻ Sĩ là mang “tâm lý tôi tớ (…) chỉ chờ để được làm tôi tớ cho một ông chủ. Không được một minh chúa dùng làm tôi tớ kẻ sĩ sẵn sàng để phí uổng đời mình. Cả đời kẻ sĩ chỉ sống với giấc mộng được làm tôi tớ. Suốt cuộc đời, hoặc không may thì ở ẩn cam chịu cuộc sống nghèo nàn trong lều cỏ, hoặc may thì làm bầy tôi cho một ông vua,...” (tr. 361)

7/ CHỮ NGHĨA ĐẦY TÍNH BÔI BÁC.

Gọi “bôi bác” là nói đến những điều, những ý tác giả đưa ra có tính cách BỊA ĐẶT  nhiều hơn đúng sự thật, và lại theo một luận điệu khinh miệt.

Dẫn chứng: 

*/ Khổ thay phải nhìn nhận rằng nguyên nhân tính hiếu học của người Việt không lấy gì làm trong sáng lắm. (…) “Phải giải thích thế nào óc trọng bằng cấp và ham bằng cấp của người Việt? Nó là biểu hiện của một dân tộc thiếu óc làm chủ, một dân tộc có bản năng làm công và làm mướn.” (tr. 54)

 */ “Người VN hoặc không yêu nước, hoặc chỉ yêu nước một cách rất tương đối. Người CS yêu chủ nghĩa của họ hơn yêu nước. Người Công Giáo coi trọng tôn giáo của họ hơn đất nước. Những nhà cầm quyền phe quốc gia đặt quyền lợi của họ trên đất nước. Nhóm Phật Giáo Ấn Quang tranh đấu để giành quyền lực và ảnh hưởng cho họ hơn là cho đất nước. Quần chúng VN lo âu quyền lợi và sự yên ổn của mình hơn là cho tương lai đất nước.” (tr. 68)  

 */ “Sự khinh thường tiếng Việt là một truyền thống của người Việt Nam. Nôm na là cha mách qué, tiếng Việt là tiếng không cao thượng.” (tr. 105)

8/ CHỮ NGHĨA ĐẦY TÍNH MƠ HỒ THEO LỐI “NÓI KHƠI KHƠI”.

             “Nói khơi khơi” có nghĩa là nói những sự kiện có tính cách thực tế mà lại thiếu dẫn chứng xác thực. Dù rằng tác giả đã tự khôn khéo biện hộ cho mình một cách thật trẻ con ấu trĩ: “Do thì giờ eo hẹp, đã tự cho phép bỏ qua phần chú thích sau mỗi chương” (tr. XI)

             và “Tôi là một người hoạt động chính trị. (…), không có bổn phận phải ghi chú dữ kiện lấy từ sách nào, chương nào, trang nào..v..v. Đó là công việc của nhà nghiên cứu.” (tr. 155)

             thì với một tác phẩm GIÁ TRỊ được viết bởi một tác giả ĐỨNG ĐẮN, BIẾT TỰ TRỌNG, điều (NGỤY) biện hộ như trên hoàn toàn không được chấp nhận; càng không được chấp nhận hơn với những tác phẩm có đề cập đến những vấn đề thuộc về lịch sử.

             Cũng vậy, ở trang 339, tác giả “xỉ vả” nhà văn Trần Mạnh Hảo (đang còn ở trong nước) là nói mà “hoàn toàn không dựa vào một tài liệu nào cả…”; rồi ở trang kế tiếp lại trịch thượng “mắng mỏ”: “Trần Mạnh Hảo không hiểu rằng đó là cách đối xử rất tự nhiên và rất bình thường của người phương Tây, bởi vì Trần Mạnh Hảo thuộc văn hóa Việt-Trung (Ba Tàu!), trong đó sự lỗ mãng là một thông lệ”,

             thì chính những điều “nói khơi khơi” này cũng được tác giả tận dụng TRIỆT ĐỂ trong toàn cuốn sách của ông.

              Dẫn chứng:   

             */ “ Tôi còn được đọc một đề nghị phát triển cho cả nước và cho suốt thế kỷ 21!” (tr. 26).

             */ “Tôi có đọc một cuốn sách nói rằng câu ‘bầu ơi thương lấy bí cùng’ (…), nhưng mọi người có thẩm quyền về văn học mà tôi quen biết đều xác nhận đó là những câu ca dao đã có từ rất lâu.” (tr. 72)

*/ “Ông (Trần Đức) Thảo hình như  làm luận án về hiện tượng luận… (…) (tr. 52)

*/ “Ông (Trần Trọng Kim đã) dựng đứng ra chuyện Nguyễn Huệ ra Bắc “phù Lê diệt Trịnh” (…) (sic). Thật là đổi trắng thay đen!” (tr. 167) (…) “Ông Trần Trọng Kim cũng dựng đứng ra con số hai chục vạn quân Thanh…” (tr. 168)

9/ CHỮ NGHĨA ĐẦY TÍNH PHE PHÁI.

             Các nhân vật “đại bịp” hoặc các nhà văn CS ly khai, phản tỉnh với những cuốn sách mang tư tưởng độc hại được viết ra, đều đã bị lật tẩy đối với quần chúng hải ngoại. Nhưng trong TQĂN, chúng lại được có một vị trí khác hơn cái nhận định chung của độc giả. (Tôi tự hỏi, không biết là có một âm mưu nào đó không giữa tác giả và những người CS ly khai kia?)

             Dẫn chứng:

            */ “Trong cuốn Mặt Thật, Bùi Tín, một cựu đại tá phó tổng biên tập báo Nhân Dân đã ly khai với đảng cộng sản, (…)” (tr. 59)

*/ “Mặt Thật là một cuốn sách hay, một tài liệu lịch sử thành công về diễn đạt và có giá trị về văn học.” (tr. 311)

*/ “Trong vụ cải cách điền địa tại Bắc Việt năm 1955(…) một số đảng viên cộng sản khác (…), cũng thành thực không kém Bùi Tín, lại nói rằng số nạn nhân có thể trên 100.000 người.” (tr. 112)

10/ CHỮ NGHĨA ĐẦY TÍNH CHIA RẼ.

“Chia rẽ” vốn là cái bệnh thâm căn cố đế của các người làm chính trị. Tác giả đã tự nhận   đến HAI LẦN cùng một câu nói ở trang 155, rồi trang 171: Tôi là một người hoạt động chính trị…” Nên, cũng chẳng lạ gì với những câu văn mang ý đồ “chia để trị” kiểu thực dân Pháp mà tác giả đã để cái ý niệm này thấm sâu vào máu sau hơn 40 năm ở trên đất Pháp.

Dẫn chứng:

*/ “Người VN tìm đủ mọi lý do để ghét nhau. Người thành thị thì gọi người nông thôn một cách khinh bỉ là ‘bọn nhà quê’ với ngụ ý nói là những người dốt nát, đần độn, ngớ ngẩn. Còn người nông thôn thì gọi người thành thị là ‘kẻ chợ’ với hàm ý gian trá lật lọng. (…) Như vậy rõ ràng là người VN khinh ghét nhau (…) người Việt biểu lộ sự khinh ghét lẫn nhau đã sẵn có trong lòng.” (tr. 73)

            */ “Tại sao (…), vẫn có những người cố gắng bôi nhọ người Công Giáo bằng những tài liệu xuyên tạc hạ cấp (…) Đáng buồn nhất là một số người lại còn gắn liền sự phát triển của Phật giáo với sự bài xích Thiên Chúa Giáo. Phật giáo VN không mạnh thêm, mà còn có thể bị hoen ố đi vì những ‘Phật tử’ như thế.” (tr. 191)

            */ “Một thảm kịch vẫn còn chia rẽ trầm trọng trong người VN với nhau là việc cấm đạo. (…) Điều đáng ngạc nhiên là cho tới nay chưa có một chính quyền VN nào (…)   tổ chức một ngày để xin lỗi những người Công Giáo về sự sai lầm kinh khủng đó. (…) Một điều cũng rất đáng ngạc nhiên là cho tới nay tập thể người Công Giáo chưa bao giờ chính thức đòi các chính quyền VN phải giải oan, phục hồi danh dự và nhận lỗi với những nạn nhân.” (tr. 187-188)

            */ “Bài thuyết trình của cụ Nguyễn Huy Bảo (…) có đề cập đến chính sách thủ cựu của các vua quan nhà Nguyễn, trong đó có việc cấm đạo (…) Cụ vừa dứt lời, một thanh niên (…) đùng đùng nổi giận đứng lên bất chấp cả chủ tọa to tiếng mạt sát cụ Bảo (…) ‘Ông là một sản phẩm của thực dân Pháp (…) Ông lập lại những luận điệu phản quốc, những lập luận của bọn giáo sĩ cướp nước’. // Tôi làm chủ tọa buổi hôm đó và tôi đã phải cắt lời anh ta. (…) Có lẽ tự thấy mình đã quá lời, anh ta xin lỗi vì đã dùng những lời lẽ quá nặng nhưng giải thích: ‘Xin quý vị thông cảm cho, vì dân tộc tôi đã đau khổ quá nhiều vì bọn giáo sĩ tới làm do thám cho thực dân cướp nước, vì những tên Việt gian bỏ đất nước đi theo bọn giáo sĩ. Tôi phải tố cáo bọn giáo sĩ, tố cáo mưu đồ cướp nước của Vatican.’ Lời xin lỗi đồng thời cũng là một lời thóa mạ.” (tr. 189-190)

11/ CHỮ NGHĨA ĐẦY TÍNH TRỊCH THƯỢNG:

            Điểm nhún nhường cần thiết để thu phục nhân tâm của một người làm chính trị (khoan nói là một nhà viết sách), hoàn toàn không thấy có trong văn phong tác giả TQĂN.

Dẫn chứng:

  */ “Tôi chỉ đọc một tập sách ngắn –đúng ra phải gọi là một bài dài- của ông (Trần Đức Thảo) nhan đề “Un itinéraire” (Một lộ trình), trong đó ông tóm lược diễn tiến tư tưởng của ông. Thú thực tôi thấy nó rất xoàng, phải nói thẳng là quá xoàng. (…) Tháng 7 năm 1990, tôi đi dự đám tang của giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, một người mà tôi rất quý mến, tôi cũng được nghe một bài điếu văn liệt kê tất cả những bằng cấp của ông một cách rất trân trọng… (…) Hình như đối với người Việt, bằng cấp là quan trọng nhất…(…) Những thì giờ đó nếu họ dùng để học hỏi mở mang kiến thức thực sự, hay để sống với vợ con, hay ngồi nghỉ ngơi và suy tư thì hay biết mấy.” (…) “Dần dần kinh nghiệm cho tôi một nhận định rất rõ ràng: người Việt thường có bằng cấp quá cao so với giá trị của họ.” (tr. 52-53)

12/ CHỮ NGHĨA ĐẦY TÍNH “DẠY ĐỜI”.

            Một khuyết điểm nữa rất quan trọng (bên cạnh những lời thoá mạ kẻ khác) chính là giọng điệu rất kẻ cả, dạy đời, biểu lộ tâm tính kiêu ngạo và hợm hĩnh của tác giả. Điều này làm hỏng hoàn toàn cuốn sách, do bởi tính văn chương không thể nào có được trong những tác phẩm mang cách viết như vậy.

            Dẫn chứng:

            */ “Trần Trọng Kim tóm lược cuộc đời chính trị của ông trong thiên hồi ký ngắn ‘Một cơn gió bụi.’ Có lẽ những ai có ý định viết hồi ký nên đọc cuốn sách nhỏ này trước đã. Đó thực sự là một cuốn hồi ký. Nó được viết một cách thực thà, lương thiện, rành mạch, điều ít thấy trong các cuốn hồi ký khác. Hồi ký là một loại sách đặc biệt. Nó có tác dụng chính, và có thể nói là duy nhất, là ghi chép các sự kiện để làm chứng cho một giai đoạn. Đòi hỏi duy nhất của nó là phải trung thực, phải có giá trị của một tài liệu. Người VN, nhất là các tướng tá quân đội miền Nam cũ, hay dùng hồi ký để bóp méo sự thật, tán dương hay chạy tội cho mình, bôi nhọ người khác. Những hồi ký như vậy không thể dùng làm tài liệu.” (tr. 34)

13/ CHỮ NGHĨA ĐẦY TÍNH TRỌNG NGOẠI.

            Tác giả rõ ràng là con người rất mâu thuẫn (điều này tôi sẽ trình bày ở phần III). Do từ mặc cảm tự ti mà tác giả đã “tỏ ra” khinh chê người Pháp hoặc những ai thân Pháp, nhưng mạnh hơn chính là tinh thần trọng ngoại của tác giả, khởi đi từ mặc cảm tự tôn.

            Dẫn chứng: 

*/ Người phương Tây hơn người phương Đông vì có óc sáng tạo vượt trội. (…) So với các dân tộc Á Châu khác thì người VN lại còn thiếu óc sáng tạo hơn nhiều (tr. 49)

*/ “Những người Trung Hoa (…) là những con người xuất chúng, có kiến thức rất sâurất rộng, có lý luận rất sắc bén và có cách trình bày rất minh bạch. Chắc chắn họ đã học hỏi rất nhiều.” (tr. 54)

*/ “Nói cách khác, sự thua kém của dân tộc VN so với dân tộc Nhật là tuyệt vọng, hết thuốc chữa.”(tr. 55)

*/ “Nhiều người đánh giá chúng tôi là ngây thơ ấu trĩ, là thiếu căn bản dân tộc, là mất gốc, là không thuộc lịch sử. Nhưng dân tộc nào, gốc nào lịch sử nào?” (tr. 147)

14/ CHỮ NGHĨA ĐẦY TÍNH KÊNH KIỆU.

            Trong TQĂN, dẫu đã tỏ ra “khiêm nhường” bằng những lời rào đón (hay tự chống đỡ?): “Theo sự hiểu biết hạn hẹp của tôi…” (tr. 82) “Tôi không phải là nhà nghiên cứu văn học để có thể có ý kiến… (tr. 72) “Tôi không phải là một nhà sử học và cũng không phải là một nhà dân tộc học nên hoàn toàn không có tham vọng đưa ra….” (tr. 124) “, ”Kiến thức về văn học của tôi không có bao nhiêu” (tr. 259), “Tôi không phải sử gia cũng không phải là nhà nghiên cứu…” (tr. 171) v.v. và v.v…,

            vậy mà bất cứ lãnh vực nào, từ Văn Chương đến Triết Học, từ Chính Trị đến Tôn Giáo, từ Xã Hội đến Luân Lý… cũng đều thấy có mặt tác giả, nơi chốn nào cũng thấy tác giả “chường” mặt vô bằng những câu viết mang đầy tính kênh kiệu và cái kiến thức nửa mùa thiếu trước hụt sau.

            (Phần này tôi không đưa dẫn chứng vì chữ nghĩa tác giả lê thê và tẻ nhạt quá, ghi ra uổng cả giấy bút!)

15/ CHỮ NGHĨA ĐẦY TÍNH KHOE KHOANG.

Chửi người khác “ngu dốt” có nghĩa là tự khoe mình “khôn ngoan”. Thóa mạ người khác “thấp kém” có nghĩa là tự cho mình “cao sang.” Cái chất khoe khoang hằn rõ trên từng câu từng chữ của TQĂN, đã là một trong những khuyết điểm quan trọng làm HỎNG HOÀN TOÀN cuốn sách.

Dẫn chứng:

*/ “Tôi quen biết một nhà bình luận thời cuộc viết nhiều bài về VN và khá nổi tiếng. Anh ta vẫn thường hỏi ý kiến tôi mỗi khi viết bài, và bù lại cũng  giúp tôi một số việc. Bài của anh hay được các báo VN đăng lạiđược ca tụng như là rất đúng, rất thâm thúy, ngay cả bởi những tờ báo đả kích tôi một cách nặng nề, mặc dù những điều anh ta viết không khác gì những điều tôi viết vì một ý do giản dị: phần lớn những ý kiến anh ta là ý kiến của tôi.” (tr. 62-63)

*/ “Tôi may mắn được đi du học rồi lớn lên và làm việc tại các nước phương Tây.” (tr. 146) Và còn rất nhiều ví dụ khác nữa…

B. VÀI NHẬN XÉT CHO PHẦN NỘI DUNG TÁC PHẨM.

Phần này, người viết xin bỏ qua tất cả các chương rườm rà của cuốn sách với đầy những lời thóa mạ tiền nhân, mà chỉ xoáy vào một điểm sỉ nhục của tác giả lên dân tộc VN theo câu nói nhiều lần: “Người VN không có tư tưởng.”

            Thật vậy, trong tác phẩm, đọc thấy nhiều lần lời khinh miệt của tác giả NGKiểng cho rằng người VN là loại người “không có tư tưởng”, tôi đã tự hỏi, không biết ông NGKiểng có biết thế nào là Tư Tưởng? Rồi cũng tự trả lời giùm cho ông: “Nội cái chuyện ngữ pháp cỏn con mà ông còn chưa thông, thì chắc không thể nào ông hiểu được tư tưởng của tiền nhân và của những người VN (trừ ra chính ông tự hiểu).”

            Câu chê bai của ông vì thế mà cũng thành vô nghĩa.

            Thế nào là TƯ TƯỞNG?

            Sau khi giúp Lê Lợi đánh thắng quân Minh, năm 1428, Nguyễn Trãi vâng lời vua, đã soạn Bình Ngô Đại Cáo để bá cáo với thiên hạ sự chiến thắng này. Trong phần mở đầu, nhà thơ đã viết: “Xét như nước Đại Việt ta – Thật là một nước văn hiến.”

            Trong Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức, chữ Văn Hiến được định nghĩa như sau:

“Văn Hiến là sách hay, và người tài.

--Sự tổ chức, học hành để tiến tới chỗ khôn khéo.”

            Như vậy, có thể kết luận, khi viết chữ “văn hiến” trong bài Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi đã hàm ý xác nhận rằng, ở những thời kỳ trước của nước nhà, ĐÃ CÓ XUẤT HIỆN THỰC SỰ những văn bản, dữ kiện bằng chữ viết của các hiền nhân, (mà lúc bấy giờ ở thời đại ông, những thứ ấy đang bị bọn Minh xâm lược tiêu hủy cả.)

            TƯ TƯỞNG chính là ý nghĩ, cách thức, tài hoa, tâm ý và đạo đức của người xưa được đề ra trong những văn bản ấy.

Trong cuốn TQĂN, ngoài những trang xỉ vả Khổng Tử bằng những luận điệu rất hồ đồ; khinh khi thi hào Nguyễn Du “ăn cắp” tựa và cốt Truyện Kiều của một tác giả người Tàu; miệt thị vua Quang Trung xuất thân là “một tên ăn cướp”; chê bai Tổng thống Ngô Đình Diệm là “vụng về thiển cận”; mạt sát học giả Trần Trọng Kim là người hay dựng đứng” chuyện và “thay đen đổi trắng!”; gọi xách mé vua Lê Thái Tông là “thằng bé”,“nó”; sỉ nhục vị đệ nhất công thần Nguyễn Trãi “chỉ đáng là một