
posted: 1.11.04
Nghĩ về hai dòng họ thông
gia ở Huế Nguyễn
Hạnh Hoài Vy
Nguyễn Hoàng
được lòng dân, bởi “ông là người khôn
ngoan, nhân hậu, lưu tầm đến dân tình hết lòng thu dụng hào kiệt, giảm
sưu, hạ thuế khiến lòng người ai cũng mến phục.” (Xem ‘Chín đời chúa, mười ba đời vua’ của
Nguyễn Đắc Xuân, nxb Thuận Hóa, Huế 2001, trang 13). Chính vì vậy, Nguyễn
Hoàng còn được dân xưng tụng là Chúa Tiên. Dấu ấn đầu tiên của một
vị Chúa tôn sùng Phật giáo là công trình xây dựng chùa Thiên Mụ (1601).
Từ tinh thần khởi đầu thấm nhuần giáo lý nhà Phật của Chúa Tiên là
bước mở truyền thống chín đời Chúa bát ngát một tâm chất sùng đạo.
Đời Chúa kế tiếp là Chúa Nguyễn Phúc Nguyên lập chùa Long Hưng, Bửu Châu
(ở xứ Quảng), góp nhiều công đức cho Phật giáo, nên còn được dân xưng
tụng là Chúa Sãi, Phật Chủ. Ở đàng
ngoài, tâm địa mưu bá đồ vương của nhà họ Trịnh không dứt, lại lo
sợ đến quyền lực Chúa Nguyễn ở phía Nam ngày càng củng cố, Đàng
trong và Đàng ngoài lại xảy ra những phen tử chiến trong 3 đời Chúa kế
tục : Chúa Thượng (Nguyễn Phúc Lan), Chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần), Chúa
Nghĩa (Nguyễn Phúc Thái). Đến đời Chúa Minh Vương (Quốc Chuá Nguyễn
Phúc Chu 1691-1725), xã hội Đàng trong đã chỉnh đốn, Quốc Chúa bành trướng
thêm về phía Đến hai đời
Chúa kế là Ninh Vương (Nguyễn Phúc Thụ) và Võ Vương (Nguyễn Phúc Hoạt)
vẫn tiếp nối sùng mộ đạo Phật. Chúa Ninh Vương khuyến dụ nhân dân
xa lánh rượu chè cờ bạc, giữ vững luân thường đạo lý. Chúa Võ Vương
còn có pháp danh là Từ Tế Đạo nhân, xây dựng Đô thành Phú Xuân, tổ
chức vương quyền, nội trị, và hoàn tất sự nghiệp mở mang bờ cõi về
phía Nam đến tận vùng Hà Tiên, điểm cuối cùng của xứ sở vào năm
1757. Trong các chế
độ phong kiến có đặc điểm: thảng hoặc cũng xuất hiện những kẻ
gian thần. Dưới thời Chúa Võ Vương, có gian thần Trương Phúc Loan (cậu
ruột của Võ Vương) vì mưu đồ tư lợi đã cố gán ghép Võ Vương loạn
luân với người em gái (con chú ruột) chính là đầu mối đưa tới sự sụp
đổ của vương triều Chúa Nguyễn. Đến đời Chúa cuối cùng là Định
Vương (Nguyễn Phúc Thuần), non sông bị quân Xiêm ngoại xâm, nội chiến Bắc
Nam và quân khởi nghĩa Tây Sơn bùng vỡ. Định Vương bị Tây Sơn bắt giết,
chấm dứt chín đời Chúa Nguyễn. Trong đời Chúa
Võ Vương, có lẽ vì nội trị đã ổn định (hay do bởi lòng đại dung của
một ông Chúa Phật tử ?), nên việc ngoại giao trở nên phóng túng. Năm
1750, ở Đô thành Phú Xuân, Hội Truyền giáo dòng Tên nở rộ : họ lập
được hai nhà thờ, một cái của giáo sĩ Kofler (tay này đồng thời làm
ngự y cho Võ Vương), nhà thờ thứ hai xây ngay trong Đô thành. Tên Giám mục
Lefèbre lại cho xây thêm một nhà thờ khác ở phường Đúc. Giáo hội
Công giáo Việt Nam ngày nay, nếu hiểu biết, nên tôn thờ Võ Vương thành
bậc Đại Chúa mới phải, bởi nhờ ông mà đầu mối cho một liên hệ với
đoàn quân truyền đạo và tập hợp giáo dân bản địa có nên cơ sở, mở
rộng mối tham vọng khắn khít của thế chân vạc : thực dân - truyền đạo
và đạo quân thứ năm hiện thực vào giữa thế kỷ 19. Như vậy, qua
cơ động lịch sử, Huế trở thành một Kinh đô thứ hai sau Thăng Long, chỗ
dừng chân của chín đời Chúa Nguyễn, còn là nơi tụ hội không chỉ là
nhân dân từ các vùng Đàng ngoài theo gót Chúa đi vào, còn là di sản của
những dòng dõi quần thần phò Chúa Nguyễn để phục hưng Vua Lê nữa. Hậu
duệ của đám quần thần này đến thời các Vua nhà Nguyễn tạo nên những
“danh gia vọng tộc” ở Huế. Có những dòng dõi yêu nước, anh kiệt,
nhưng không thiếu những dòng dõi bán nước cầu vinh. Trong cuốn Kỷ yếu
“Ngàn Năm Xứ Huế” (do Nguyễn Châu & Đoàn Văn Thông và nhóm Thương
Huế xuất bản năm 1993, phần IV) có ghi lại một số dòng dõi tiêu biểu
như: Nguyễn Phước (xuất xứ từ vùng Triết Giang, lưu vực sông Dương Tử
vào thời Thượng Cổ, sau di cư lần hồi đến lưu vực sông Hồng, đến
ngụ cư làng Gia Miêu, tỉnh Thanh Hóa), Nguyễn Khoa (làng Trạm Bạc, tỉnh Hải
Dương), Thân Trọng, Hồ Đắc (làng Chuồn), Trần Tiễn (dòng Minh Hương),
Nguyễn Tri, Phạm Doãn .v.v... Không rõ
có phải vì nhóm “Thương Huế” này chờ một dịp khác để kể tiếp
thêm vài dòng họ nữa hay vì tôn trọng sự thật lịch sử nên không thấy
họ liệt kê vào hai dòng họ rất “độc đáo” : Nguyễn Hữu (Bài) và
Ngô Đình (Khả) ? Nét “độc
đáo” của hai dòng họ này --“Nguyễn Hữu Độ, thuộc một dòng
dõi theo đạo Ki-tô từ thời Bá Đa Lộc, được giao chức Kinh Lược Bắc
kỳ, gia phong tước Quận Công, đứng đầu ‘tứ trụ triều đình’: con
gái được cất nhắc lên hàng nhị giai (hòang quý phi) của Đồng khánh,
con trai được truy tặng quan tước, một nhà vinh hiển cho tới lúc chết
vì ung thư bao tử vào ngày 18/12/1888”. (Theo
Vũ ngự Chiêu, ‘Các Vua Cuối Nhà Nguyễn’, Tập 2, nxb Văn Hóa, trang 480) --“Nguyễn Thân, gốc Quảng Ngãi,
được lãnh ấn “Khâm mạng Đại thần” để đánh dẹp các phong trào Cần
Vương ở Quảng Nam và Bình Định, rất nhiều lần vào sinh ra tử cho quyền
lợi Đại Pháp.” (Sách đd, trang
480). --“Hoàng Cao Khải, gốc Hà Tĩnh,
được cất nhắc từ tri huyện Hà Nội lên tuần phủ Hưng Yên để đánh
dẹp chiến khu Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật.” (sách đd, trang
481). --“Cao Xuân Dục là kẻ rất hăng
hái, nhiệt tình dẹp “giặc” Cần Vương ở vùng Hà Nội.” (sách
đd, trang 48). Các dòng họ
nói trên * dòng dõi vốn
xuất thân từ khố rách áo ôm, nhờ ‘rửa tội’ theo đạo ‘Công giáo’
La mã mà mấy đời con cháu no cơm ấm cật. * cung cúc phục
vụ cho ngoại nhân (thế quyền lẫn giáo quyền). * tâm chất thì
bán nước cầu vinh, nhưng lúc nào cũng cố mang chiếc áo quốc gia, dân tộc.
* đạo đức
qua bộ mặt cuồng tín tôn giáo. * cả hai họ đều
phải “vào ra” cánh cửa các nhà tu ‘Công giáo’ mà tạo quyền thế
lâu dài. Theo “Nhân Vật
Giáo Phận Huế”, Tập I (tác giả Lê Ngọc Bích, tài liệu lưu hành nội
bộ), cho rằng “Nguyễn Hữu Bài vốn nguyên quán Thanh Hóa, là hậu duệ
của Nguyễn Trãi” (trang 110). (Theo bảng phụ chú “Thế hệ dòng họ”
(trang 111), Hoài Vy ghi nhận có rất nhiều dấu hỏi cần phải được đặt
ra trên phương diện sử liệu về mối liên hệ dòng họ của ông Bài với
Nguyễn Trãi, nhưng đây là một vấn đề khác cần được trình bày ở một
bài viết khác). Phêrô Giuse
Nguyễn Hữu Bài, sinh ngày 18-9-1863 tại làng Cao Xá, phủ Vĩnh Linh, Quảng
Trị. Thời thiếu niên, cha mất sớm, năm lên 10 tuổi mẹ ông xin linh mục
Gioan Châu bảo trợ vào tiểu chủng viện An Ninh. Chính Linh mục Caspar (tên
Việt: Lộc) có lần khen “Bài là một
thanh niên tuấn tú, tương lai thành tài, đạt đức.” (sđd, trang 112),
sau đó gời ông đi học chủng viện Pénang (Mã Lai). Học xong, Bài về nước
vào đúng lúc Hòa ước Patenôtre Việt-Pháp vừa được ký kết, Bài được
giới thiệu làm thừa phái Nha Thương Bạc (chức nhỏ tùng sự tại cơ
quan ngoại giao của triều đình, việc chính là làm thông ngôn). Năm 1887,
ông được cử đi đánh giặc “thổ phỉ” miền thượng du Bắc kỳ
trong 5 năm (sách đd, trang 113). Đây mới là chỗ có vấn đề! Giữa lúc thực
dân dân Pháp tác oai tác quái trên khắp lãnh thổ Việt Nam, giai tầng “phục
dịch ngoại nhân bản địa” thăng quan tiến chức, trong lúc các phong
trào Cần Vương Văn Thân yêu nước nổi lên kháng chiến khắp nơi. Ở Bãi
Sậy có Nguyễn Thiện Thuật, Tạ Hiện, Phạm Bành. Ở Thanh Hóa có Đinh Công
Tráng với căn cứ Ba Đình. Ở Bắc Giang có Hoàng Hoa Thám với chiến khu
Yên Thế. Ở Hưng Sơn (Hà Tây) có Phan Đình Phùng, Cao Thắng ... Cao trào kháng chiến bùng nổ năm 1887, là kết
quả một chuổi tiếp nối từ “Sau biến
cố 1885, tầng lớp “ký lục” kiêm “thông sự” được đeo thẻ bài
ở Tòa Khâm, cái giai tầng được sự đỡ đầu bằng đề cử của các
giáo sĩ ở ngoại quốc. Họ thành lập giai tầng trung gian bản xứ thay thế
giai tầng Văn Thân nho sĩ và thường biện minh cho sự hợp tác với Pháp
qua chiêu bài “thánh chiến” lập tân trào.” (Vũ Ngự Chiêu, sách đd, tập 2, trang 484) Ngược lại
với cảnh tượng nhốn nháo mưu cầu danh lợi trên, hàng hàng lớp lớp sĩ
phu trên lãnh thổ phía Bắc, ở miền
(“Lịch Sử Giáo Phận Huế”, Vịnh đi La mã, trang 116. Theo chú thích của
Lê Ngọc Bích, “thần đồ” = tượng ảnh, “từ vũ” = đền đài ). Bài thơ ‘xuất
thần’ ca tụng Vatican này đáng được Giáo hội Công giáo Việt Nam khắc
bảng vàng để ghi nhớ tấm lòng sắt son của những kẻ biết “hiếu nghĩa”
với nước Chúa. Bản chất của
Bài rất đáng được xếp loại vào giai tầng “trung gian” mà Vũ Ngự
Chiêu đã mô tả rất cụ thể : “Vào thời
điểm 1885, đây không còn là những lời cáo buộc vô bằng chứng nữa.
Vì lý do này hay lý do khác, đa số tín đồ Ki-tô đã bị lọt vào vòng
ảnh hưởng của Pháp, và một thiểu số khác – vì cuồng tín hay vì danh
lợi bản thân, hoặc cả hai – tích cực hợp tác hoặc phục vụ quân viễn
chinh Pháp. Trên khắp chiến trường từ Bình Thuận ra tới thượng du Bắc
Việt, đại đa số thông sự, nho, lính tập, điềm chỉ, dẫn đường cho
Pháp là giáo dân Ki-tô.” (sách đd., Tập 2, trang 456). Và để cho
danh lợi phù vinh ấy bền vững, hai họ Việt gian cũng cần sự kết hợp
gắn bó: “Ông Nguyễn Hữu Bài có một
người bạn đồng liêu lớn hơn ông chừng một con giáp: ông Ngô Đình Khả
(1857-1923). Hai vị đều là lương đống của triều đình, đồng hương, đồng đạo và đồng chí. Mỗi vị có những hoạt động
khác nhau, nhưng hỗ trợ nhau.” (Theo
Lê Ngọc Bích, sách đd. – Tập I, trang 125). Khá khen cho cụ
Lê Ngọc Bích đã biết dùng chữ để mô tả khá cụ thể: hai họ có rất
nhiều cái “đồng”, nhưng “đồng chí” mang một nét độc đáo nổi bật
nhất. Ông Khả và ông Bài là đồng chí ở những điểm nào ? Trước hết,
hãy nhắc lại tông tích của ông Khả là ai? – Micae Ngô Đình Khả sinh năm 1857
nguyên quán làng Đại Phong, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình. Thuở nhỏ,
Khả được cha là Giacôbê Ngô Đình Niêm hay cho đi giúp lễ với một vị
linh mục Pháp ở họ đạo Mỹ Duyệt Hạ (tổng Thạnh Xá, Lệ Thuỷ). Năm
1870, Khả được Linh mục Caspar (Lộc) cho đi học chủng viện Pénang. Học
được 8 năm, đến năm 1878, nhưng “không
thấy ơn Chúa gọi”, đành bỏ tu lấy vợ cho ấm thân. Lấy vợ lần
thứ nhất với Madelêna Chĩu, bà này qua đời, lấy vợ lần nữa (năm
1889) với Anna Phạm Thị Thân. (Theo Lê Ngọc Bích, sách đd., trang 105-109, Tập
I). Chúng tôi chưa
biết có tài liệu nào nói đến việc ông có con cái gì với bà Chĩu hay
không, riêng với bà Thân, đã đẻ ra một loạt quý tử Ngô Đình, có người
về sau làm tới Tổng thống. Cũng như Bài, ông Khả đã “vào ra” chủng
viện Pénang, làm thông ngôn, Cơ Mật viện triều đình, quan hàm Chánh Tứ
Phẩm, thăng đến Thượng Thư Bộ Công. Nét giống nhau độc đáo nữa, là
12 năm sau (1895) kể từ ngày Phêrô Giuse Bài ra Bắc trừng phạt “thổ phỉ”,
Micae Khả được cử làm Phó tướng cho Nguyễn Thân ra Bắc đánh dẹp nghĩa
quân “phản loạn” Cần Vương ở Vụ Quang (căn cứ kháng chiến của
Phan Đình Phùng. Xin đừng lầm “Vụ Quang” với hỗn danh Phan ("Vụ
Cu") là một nhân vật “lãnh đạo kháng chiến giả” đi kiện báo
chí người Việt ở Mỹ vào cuối năm 1994). Khả thắng trận, nhưng chưa hả
dạ, đào mã lấy xác cụ Phan trộn thuốc súng làm đạn, bỏ vào súng đại
bác bắn cho tiêu xác trên sông Lam giang. Đây là “trò
chơi” lập công độc đáo nhất của “cụ” Khả với nước Đại Pháp.
Đúng là “Đức lớn tài cao, trí
có thừa; Đại thần Thị vệ tiếng khi xưa...” (hai câu thơ trong ‘Nhân
Vật Giáo Phận Huế’ xưng tụng Ngô
Đình Khả, Lê Ngọc Bích, sách đd., trang 109). Cái tâm chất
“trí có thừa” này hẳn là một nhiễm-sắc-thể di truyền khó thoát :
các hậu duệ của ông Khả như Ngô Đình Khôi – đã từng nổi danh với
cách dùng mãnh sành và nước lạnh để tra khảo những người làm cách mạng
lúc ông làm Tổng đốc Quảng Nam, hay “cụ Ngô” hồi làm Tuần vũ ở Bình
Thuận cũng từng dùng đèn cầy hơ nóng hậu môn tù nhân, ngay lỗ khoét của
chiếc ghế ngồi để tra khảo tù nhân cách mạng. Có người đã cho rằng,
một kẻ làm đến Tổng thống mà can đảm ra lệnh tấn công chùa chiền,
bắt bớ hàng ngàn tăng ni, sư sãi thì việc ác nào cũng có thể làm được.
Hậu duệ Ngô Đình Cẩn với ‘Chín Hầm’ ở gần Phú Cam, Huế là nơi
đã bức tử, hại sinh biết bao sinh mạng vô tội. Còn đứa con đầu thì
đã đi tu tới chức Giám mục rồi, mà vẫn đeo đẳng tinh thần:
(Nguyễn Mạnh Quang, ‘Thực Chất của
Giáo Hội La Mã’, Tập 2, tác giả tự xb., trang 571). Nhận định
về công trạng của hai đại dòng họ Nguyễn Hữu-Ngô Đình đã đóng góp
cho thế quyền (Đại Pháp) và giáo quyền (Giáo hội Công giáo Vatican) lớn
tới đâu, chỉ có trong nội bộ của hai thế lực này biết thôi, nhưng có
một câu vè trong dân gian ở Huế về hai nhân vật này “Đày vua có Khả, đào mã có Bài” vẫn
còn nhận nhiều phản ứng xuyên tạc từ phía sử gia Công giáo. Theo các
tài liệu lịch sử Giáo hội Công giáo VN viết thường là ca tụng hai
nhân vật “độc đáo” này hết lời, và dưới quyền lực của chính
quyền Công giáo Ngô Đình Diệm, câu vè trong dân gian này được sửa lại
là: “Phế Vua không Khả, Đào mã không Bài” (“Nhân Vật Giáo Phận Huế”, sách đd., Tập
I, trang 115) để biện hộ cho lập luận của chính họ: Bài đã từng “lên
tiếng” ngăn chận, (dù không thành) Khâm sứ Mahé ngang ngược bắt khai quật
lăng Vua Tự Đức lấy vàng ngọc châu báu vào năm 1907, dưới triều Vua
Duy Tân. Ông Thượng Ngô Đình Khả “phản đối” Pháp trong âm mưu truất
phế và đày Vua Thành Thái ( “cũng chỉ lên tiếng thôi mà không thành!”,
theo Lê Ngọc Bích). Cho tới hôm nay, các nhà viết sử ở nước ngoài chưa
thấy ai nói rõ điều này một cách rạch ròi cho thỏa lòng dân Huế. Đến
ngay cả tác giả Hoàng Trọng Thược trong “Hồ Sơ Vua Duy Tân” (Thanh Hương
xuất bản 1984, Hoa Kỳ) cũng dùng tài liệu cũ vốn thiếu phần chính xác
để xác nhận việc Ngô Đình Khả không chịu ký tờ biểu bắt vua thoái
vị (trang 410). Nhưng với vai trò “Thị vệ” của Ngô Đình Khả (đúng
nghĩa là làm nhiệm vụ cảnh sát và báo cáo) báo cáo mọi hành vi, nhất cử
nhất động của Vua Thành Thái lên quan Đại Pháp, thì sự việc ông Khả
có lên tiếng “phản đối’ âm mưu “truất ngôi, đày vua” không làm
sao đủ sức thuyết phục nhân dân Việt thay đổi cái nhìn về bản chất
và hành động của Bài và Khả. Theo nhận
xét bằng phương pháp phân tích sử liệu của Vũ Ngự Chiêu ( trong “Các
Vua Nhà Nguyễn”, Tập 2), chúng ta thấy có sự mâu thuẫn giữa Giáo hội
Công giáo (nói chung: bản xứ + Hội Truyền giáo Hải ngoại) và chính quyền
thực dân về việc truất phế Thành Thái. Báo ‘L’Avenir de Tonkin’ (có cổ
phần của Hội Truyền giáo) đã báo cáo về Quan điểm của
chính quyền thực dân Pháp (qua đại biểu Khâm sứ F. Levecque, người có
khuynh hướng Tam Điểm (‘Freemason’ – vốn không ưa Công giáo Rôma)
không quan tâm lắm tới một ông vua bù nhìn có “rửa tội” hay không,
mà là một ông vua tương đối “tử tế”, biết vâng lời nước Pháp
và quan Đại Pháp. Trong lúc Hội Truyền giáo và nhóm Ki-tô thì thích một
ông vua đã rửa tội hơn, và điều quan trọng nhất là họ sẽ xem xét khả
năng kiểm soát và kiềm chế ông vua này được hay không. Bằng chứng: “Ngô
Đình Khả – người được giao chức quan Thị vệ và an ninh Cấm thành
– bị nghi là gieo rắc những ảnh hưởng tai hại trên vua.” (Vũ Ngự
Chiêu, tập 2, sách đd, trang 585). Trong lá thư
ngày 15/8/1907, Khả vận động 154 học sinh Quốc Tử Giám gởi Khâm sứ
Levecque tỏ lộ rằng: “Yêu cầu Pháp ban cho họ một ông vua mà chỉ
nguyên sự hiện diện đủ trấn an tinh thần binh sĩ và các liệt thần của
đế quốc.” (sách đd, trang 585). Do đó, vấn đề Khả dù có thật chống
việc “phế ngôi, đày vua”, không phải vì ông ta thương xót gì triều
đình nhà Nguyễn, lo cho sơn hà xã tắc nước Nam, mà do điều đó có phù
hợp với mưu đồ hợp tung giữa Bài và Khả, có được lòng Giáo hội Mẹ
Vatican, quyền lợi nước Đại Pháp và khả năng khuynh loát triều chính
hay không ? Câu trả lời : ngày 3/9/1907, Nguyễn Hữu Bài, cùng Phủ Phụ
Chính (tất nhiên trong đó có Khả) chấp nhận giải pháp của nước Đại
Pháp, và hơn một tháng sau (17/10/1907), Vĩnh San (Hoàng tử thứ hai mới 10
tuổi) lên ngôi, Thành thái phải rời Huế đi Bà-rịa, mở đầu cho cuộc
đời tù đày long đong viễn xứ của ông vua giả điên này. Một tài liệu
khác trong “Lịch Sử Phật Giáo Huế” của Thượng tọa Thích Hải Ấn
và Hà Xuân Liêm (Nhà xb TP Hồ Chí Minh, 2000) lại trưng ra những chứng cớ
đơn giản hơn, khẳng quyết Nguyễn Hữu Bài là kẻ đã đồng ý đào mã
Vua Tự Đức : “Nguyễn Hữu Bài là người đã ký giấy để bọn thực
dân Pháp quật lăng Vua Tự Đức. Điều này có thể không sai, bởi vì ông
đã nói với ông A. Delvaux là “nước Pháp đã mở rộng nền bảo hộ của
họ một cách “cực chẳng đã”, nghĩa là điều nước Pháp không muốn,
họ vẫn bị đẩy bởi sự vi phạm không ngừng các hiệp ước do triều
đình Vua Tự Đức gây nên.” (dẫn theo LSPGH, trang 355-356 A. Delvaux, ‘Quelques
précisions sur une période troublé d’histoire d’Annam’ – Bulletin des Amis du
Vieux de Đây là lối
luận định - tư tưởng đã như vậy thì hành động không thể khác. Hai
tác giả trên xác nhận, Ngô Đình Khả “là
người đã ký giấy cho bọn thực dân Pháp đày Vua Thành Thái sang Réunion.
Dân Huế còn truyền tụng “Đày vua ông Khả, đào mã ông Bài””
(trang 356). “Lịch Sử Phật Giáo Huế” đã kết luận về con người ông
Khả rằng : “Mấy chữ sau đây của ông
Nguyễn Đình Hòe nói về ông Ngô Đình Khả, mà Louis Sogny trích lại trong
bài viết của ông ở BAVH (Bulletin des Amis du Vieux de Đúng vậy,
cái ‘tên’ Ngô Đình Khả – “một đại-tôi-tớ cho nước Pháp” đã
bị tiêu trầm trong lòng người dân Huế một thời gian dài đằng đẳng,
nhưng dòng họ Ngô Đình chỉ thật sự hoàn toàn “xóa sổ” vào ngày
13/12/1984, lúc Tổng Giám mục Ngô Đình Thục (con trưởng nam duy nhất còn
lại của dòng họ Ngô Đình) lìa trần trong tình trạng “tù đày”
(captivity) cô độc sau một thời gian dài công khai chống lại Vatican. Còn một
chút ảo vọng khác là Hồng y Nguyễn Văn Thuận [cháu ngoại của Ngô Đình
Khả * ] trong niềm mơ
ước hoang tưởng của một số người Công giáo hoài Ngô ôm ấp viễn mộng
một ông Giáo hoàng Việt
[(*) Trích
sau đây là một đoạn qua bản tin "Hồng y Nguyễn Văn Thuận từ trần"
của website Diễn Đàn Pa-ri tháng 10 năm 2002
: “Theo thông tín viên của chúng tôi ở Roma, cách đây vài tháng, em
trai của hồng y, ông Nguyễn Văn Tuyên, đã từ trần tại Houston, Texas.
Ông Tuyên sống độc thân sau khi li dị, chết đơn độc không ai hay. Nhiều
ngày sau, bạn bè mới phát hiện khi thấy đàn quạ bay vần vũ trên nóc
nhà”]. |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com