1104-logo.gif (2163 bytes)
 

posted: 5.11.04

MỘT SỐ TÍN LÝ VÀ GIÁO LUẬT

CỦA GIÁO HỘI LA Mà Đà CÓ TRƯỚC NGÀY 20/5/325

Nguyễn Mạnh Quang

Một số những tín lý căn bản trong đạo Kitô đạo Kitô La Mã là những tín lý căn bản  và giáo luật được ghi rõ Thánh Kinh của đạo Do Thái  cùng với  đức tín cho rằng ông Jesus là Chúa Cứu Thế  (đã có trước ngày 20 tháng 5 năm 325, khi Hội Nghị Nicaea khởi nhóm để thông qua quyết định tín lý Chúa Ba Ngôi) cộng với những tín lý và giáo luật do Giáo Hội bịa đặt ra từ năm 325 cho đến ngày nay. Nói theo ngôn ngữ của tóan học, ta có biểu thức như sau:

Tín lý  của đạo Kitô La Mã là (tổng hợp của) Thánh Kinh (tín lý và giáo luật) của đao Do Thái + Tân Ước (Tín lý về Chúa Kitô Jesus )+ Tín lý và giáo luật do Giáo Hội La Mã bịa đặt ra từ năm 325 cho đến ngày nay.

Theo biểu thức trên đây, tín lý căn bản niềm tin của đạo Kitô La Mã có ba phần rỗ rệt:

1.- Thánh Kinh (Tín lý  và Giáo Luật căn bản) của đức tin trong đạo Do Thái

2.- Tân Ước (những chuyện hoang đường để thánh hóa ông Jesus và tôn vinh ông lên làmChúa Kitô)

3.- Những tín lý và Giáo luật do Giáo Hội đặt ra từ năm 325.

Trong  Chương 3, chúng tôi chỉ trình bày  phần 1 và phần 2. Còn phần 3 sẽ được trình bày ở Chương 4.

THÁNH KINH CỦA DO THÁI GIÁO
VÀ NHỮNG TÍN LÝ CĂN BẢN
TRONG ĐỨC TIN CỦA  ĐẠO  DO THÁI

Đạo Gia-tô (Kitô La Mã) gọi cuốn  thánh kinh của Do Thái Giáo là Cựu Ước Kinh, Cuốn thánh kinh này có những tín lý căn bàn làm cớ sở cho tất cả các hệ phái Thiên Chúa Giáo cùng thờ ông Thương Đế Jehovah như Do Thái Giáo (Judaism), Gia-tô (Roman Catholicism hay Roman Chrítianity), Chính Thống Giáo (Orthodox Church), Tin Lành (Protestantism), Anh Giáo (Anglicanism)  Hồi Giáo (Islam).

Những tín lý  của niềm tin đạo Do Thái là những tín  lý về ông Thượng Đế Jehovah được dân tộc Do Thái chọn làm đối tượng thờ phượng và những ín lý khác cùng những giáo luật hay "lệnh"  được ghi rõ trong Cựu Ước Kinh mà một số đã được trình bày ở Chương 1..

1.- Tín Lý  "Đức Chúa Trời sinh ra tời đât và muôn vật" hay là "Thiên Chúa tòan năng, tòan thiện và có mặt ở khắp mọi nơi". Đây là ông Thượng Đế mà đạo Do Thái tôn lên là đối tượng thờ phương có tên là Jehovah.  Ông Thượng Đế Jehovah  như thế nào? Tốt hay xấu, hiền lành hay độc ác, khoan dung và độ lượng hay nặng lòng đó kỵ tị hiềm và ganh ghét, sẵn lòng tha thứ hay ưa thích trả thù, v.v.. , tất cả  đều được sách Leviticus ghi lại trong mấy đọan  dưới đây:

26.1- "You shall not make idols for yourselves; neither a carved image nor sacred pillar shall you rear up for yourselves; nor shall you set up an engraved stone in your land, to bow down to it; for I am the LORD your God".(Các ngươi không được tạo ra những hình tượng nào để sùng bái cho chính các ngươi; các ngươi cũng không được khắc chạm một hình ảnh nào hay dựng nên một trụ cột thiêng liêng nào để nâng cao cho chính các ngươi; ở trong vùng các ngươi cư ngụ, các ngươi cũng không được dựng nên một hòn đá nào có khắc chạm để cúi đầu nghiêng mình trước nó; vì rằng Ta là Thượng Đế của các  ngươi).

26.14.- "But if you do not obey Me, and do not observe all these commandements". (Nhưng nếu các người không nghe lời Ta, không tuân hành những lời răn dạy này).

26.15.- "and if you despise My statutes, or if your soul abhors My judgements, so that you do not perform all My commandements, but break My covenant". (và nếu các ngươi khinh thường những quy luật của Ta, hay nếu linh hồn của các ngươi khinh ghét những lời phán xét của Ta, cho nên các người không thực thi tất cả những lời răn dạy của Ta, và không tuân hành quy ước của Ta".

26.16.- "I also will do this to you: I Will even appoint terror over you, wasting disease and fever which shall consume the eyes and cause sorrow of heart. And you shall sow your seed in vain, for your enemies shall eat it". (Ta sẽ gây ra những tai họa dưới đây cho các ngươi: Ta sẽ đem lại cho các ngươi những gì khủng khiếp nhất, những bệnh tật tàn phá các ngươi, dịch sốt rét sẽ hủy hoại những tròng mắt của các ngươi và nhiều cảnh đau buồn khác nữa. Những hạt giống mà các người gieo xuống đất sẽ không nẩy mầm được nữa vì rằng kẻ thù của các người sẽ ăn mất đi hết những hạt giống đó).

26.17.- "I will set My face against you, and you shall be defeated by your enemies. Those who hate you shall reign over you, and you shall flee when no one pursue you". (Ta sẽ nhìn thẳng vào mặt các ngươi, và các ngươi sẽ bị thảm bại trước kẻ thù. Những người nào thù ghét các ngươi sẽ đè đầu cỡi cổ các ngươi, và các ngươi sẽ phải chạy trốn cả những khi không có người nào đuổi bắt các ngươi).

26.18.- "And after all this, if you do not obey Me, then I will punish you seven times more for your sins". (Và sau hết, nếu các ngươi không nghe lời Ta, Ta sẽ trừng phạt các ngươi bẩy lần hơn về tội lỗi của các ngươi)  [i]

Căn cứ vào những đọan văn trên đây, chúng ta thấy rằng ông Thượng Đế  Jehovah của đạo Do Thái này không những vô cùng hung dữ và bạo ngược, mà còn đầy lòng ganh ghét và ưa thích trả thù một cách hết sức dã man.. Thiết tưởng trong lịch sử loài người, từ ngàn xưa cho đến ngày này, chưa có một tên bạo chúa nào lại có thể bạo ngược bằng ông Thượng Đế Jehovah quái đản này. Tất cả những bạo chúa lừng danh trong lịch sử nhân loại như Néro (37-68) của La Mã, Blood Mary (1516-1558) của Anh, Benito Mussolini (1883-1945) của Ý, Louis XIV (1638-1715) của Pháp, Adolf Hitler (1889-1945) của Đức, Ferdinand V (1452-1516), Isabella I (1451-1504) và Philip II (1527-1598) của Tây Ban Nha, Tần Thủy Hoàng (259-210 B.C.), Tùy Dạng Đế (trị vì 605-617) và Mao Trạch Đông (1893-1976) của Trung Hoa, Lê Long Đĩnh (trị vì 1005-1009), Ngô Đình Đình Diệm (1897-1963), Ngô Đình Nhu (1910-1963), và Ngô Đình Cẩn (1911-1964) của Việt Nam, Ante Pavelich (trong những năm 1941-1945)  của Croatia, và Giám-mục Augustin Misago (trong năm 1994)   của Rwanda (Phi Châu) đều phải ngả mũ chào thua Ông Thượng Đế Jehovah quái đản này..

Ông thần Jehovah hay "Đức Chúa Trời sinh ra trời đât và muôn vật " của  các hệ phái Thiên Chúa Giáo bạo ngượcv, dã man  khốn nạn như vậy mà Giáo Hội La Mã lại thương cao rao và dạy dỗ tín đồ rằng Thiên Chúa Jehovah là "Đấng toàn năng,  toàn thiện, và có mặt ở khắp mọi nơi” và    "Đấng lòng lành vô cùng”. Như vậy rõ ràng là Giáo Hội đã nói láo  thuộc vào hạng siêu việt, siêu việt về "tài nghệ nói láo" và siêu việt cả về   "tính cách trơ trẽn và trắng trợn"..Là một tôn giáo có quyền lực bao trùm lên trên tất cả các  giáo phận ở khắp các nước trên thế giới với hơn 700 triệu tín đồ mà lại nói láo trơ trẽn như vậy thì tất cả các cán bô (giới tu sĩ) trong hệ thống quyền lực trong Giáo Hội và tín đồ của Giáo Hội có thoát khỏi cái truyền thống nói láo trơ trẽn này  không?

2.- Tín lý Tội Tổ Tông: Theo kinh sách của đạo Thiên Chúa Giáo La Mã, Thiên Chúa của tôn giáo này tức là Chúa Cha Jahovah (thường được gọi là Chúa Cha). Theo lời rao truyền của Giáo Hội La Mã qua các sách  được rao giảng tại các nhà thờ thì Thiên Chúa Jehovah là “Đấng toàn năng,   toàn thiện, và có mặt ở khắp mọi nơi” và    "Đấng lòng lành vô cùng”.

Trong phần này, chúng tôi chỉ trình bày về cái "toàn năng" của ông Thượng Đế Jehovah và xin giới hạn trong phạm vi quyền năng tạo dựng nên trời đất, nặn ra con người, và nói lướt qua về quyền năng tạo nên muôn loài muôn vật khác.

Nói về sự hình thành vũ trụ hay là việc tạo ra trời đất, theo Kinh Sáng Thế Ký, chúng ta được biết:

Trong Chướng 1, từ lời 1 hết lời 30 ghi rõ việc ông Chúa Cha Jahveh (Jehovah)  này tạo ra trời đất, đất liền, núi đồi, sông ngòi,  biển cả, cây cối, muông thú, côn trùng và con người nội trong sáu ngày. Riêng lời 27  nói một cách rất tổng quát về chuyện  dựng nên loài người giống hình ảnh Đức Chúa Trời  và cho phép loài người được quản trị tất cả mọi thứ ở trên mặt đất.

(Thế có nghĩa là không được quyền quản trị bất kỳ thứ gì ở ngoài trái đất, thí dụ như  mặt trăng. Như vậy là Hoa Kỳ đã phạm tội bất tuân lời ông Chúa Cha này vì rằng ngày19/7/1969,  người  Hoa Kỳ đã đổ bộ xuống mặt trăng và cắm cờ Hoa Kỳ ở trên đó).

Trong Chương 2, từ lời 1 đến lời 3, nói rằng sau khi làm xong các việc trên đây, Chúa nghỉ  xả hơi ngày thứ bảy và đặt tên cho ngày thứ bẩy là ngày thánh để ăn mừng ngày Chúa đã hoàn thành xong những công việc vĩ đại này. Lời 7 nói rõ:  Chúa đã  dùng đất sét (out of the clay of the ground)  để nặn  hình người đàn ông và đặt tên là Adam,  rồi hà hơi vào lỗ mũi khiến ch nó trở thành một người có đủ cả thất tình và lục dục. Những lời 8, 9 và 10  có đại ý là Chúa Trời lập một cái vườn tên là Eden ở về hướng Đông và khiến đất mọc lên nhiều thứ cây đẹp mắt có trái  ăn ngon, giữa vườn lại có “cây hiểu biết điều thiện điều ác” (the tree of the knowledge of good and evil) [tạm gọi là “cây hiểu biết” cho gọn]. Từ lời 15 đến lời 17  có đại ý là Chúa Cha đem  Adam vào vườn Eden để cho anh ta sinh sống bằng nghề trồng  cây và săn sóc  vườn cây, rồi căn dặn rằng anh ta được tự do ăn hoa quả của các thứ cây trong đó, nhưng tuyệt đối không  được ăn trái của “cây hiểu biết”, và nếu ăn vào thì một mai chắc sẽ chết.   Những lời 18 đến 25 có đại ý là Chúa Trời sợ không có thịt cho Adam ăn nên lại lấy đất nặn ra các loài thú ở đồng và các loài chim rồi dẫn đến cho anh ta đặt tên. Sau đó, Thương Đế  lựa lúc Adam ngủ say, rồi véo cái xương sườn của anh ta   mà nặn ra hình một người con gái đặt tên là Eva và cũng hóa phép cho cô gái này có đủ cả thất tình lục dục với mục đích giúp cho Adam có một “hồng nhan tri kỷ” để đêm ngày thủ thỉ với nhau trong cảnh hoang vắng ở vườn Địa Đàng (Eden).  Cặp vợ chồng đất sét này được tất cả các hệ phái Thiên Chúa Giáo gọi là ông bà tổ của loài người (Đúng ra là ông bà tổ của tín đồ Thiên Chúa Giáo thôi chứ! Goi cặp vợ chồng đất sét Adam-Eva là tổ loài người  là lộng ngôn nếu không muốn nói là "hiếp dâm ngôn ngữ")

Chương 3,  đại ý của các lời 1, 2,3 ,4 và 5  nói là trong vườn Eden (địa đàng) có một con rắn (có lẽ có thể đi đứng như loài người, biết nói ngôn ngữ của loài người và nói tiếng Do Thái ). Con rắn này lân la mò tới trò truyện (tán tỉnh hay tâm tình) với Eva. Nhờ tiếp xúc với Eva, con rắn này biết rằng Chúa Trời  đã dặn cặp vợ chồng này không được ăn trái cây hiểu biết. Nó liền cho Eva  biết rằng Đức Chúa Trời  đã nói láo. Nếu không tin lời nó nói, thì  cứ ăn thử trái cây đó xem và sẽ thấy là không chết. Sau đó, nó còn nói cho Eva hay rằng  Đức Chúa Trời biết rằng nếu ăn trái cây hiểu biết này, thì sẽ mở mắt ra và sẽ biết điều thiện và điều ác. Đại ý của lời  6, 7 và 8   là Eva cắn một miếng  trái “cây hiểu biết” ăn thử và thấy ngon quá, Eva liền đưa cho anh chồng Adam cùng ăn. Ăn xong rồi, cả hai vợ chồng cùng mở mắt ra va khi đó mới biết là thân hình của họ lõa lồ:

"Rõ ràng trong ngọc trắng ngà.

Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên”.(Nguyễn Du)

Chiều hôm đó, Đức Chúa Trời tới vườn Eden (vườn Địa Đàng). Thấy Jehovah đến, cặp vợ chồng Adam-Eva hết sức bối rối, bèn lấy lá sung che kín "những chỗ quí báu nhất" cần phải được che kín. Dù đã che kín  "những chỗ quí   báu nhất" rồi, cặp vợ chồng này cũng vẫn không muốn để lộ “tấm thân phây phấy nõn nường”  ra cho Chúa Cha nhìn thấy. Họ liền chạy vào một lùm cây ẩn trốn với hy vọng thoát khỏi cặp mắt cú vọ của Ngài. Đến vườn Địa Đàng rồi mà không thấy cặp vợ chồng Adam-Eva đâu cả, Jehovah liền cất tiếng gọi. Gọi rồi, chỉ thấy tiếng trả lời mà không nhìn thấy bóng dáng hai người này đâu cả.

(Thật là khôi hài! Kinh Thánh nói rằng, "Thiên Chúa toàn năng và ở khắp mọi nơi", mà tại sao cặp vợ chồng Adam-Eva núp ở trong một lùm cây,  Thiên Chúa  cũng vẫn không nhìn thấy?  Ở đây, chúng ta thấy  rõ là những người viết Thánh Kinh đã  để lòi cái đuôi nói láo và ngu dốt ra cho mọi nhìn thấy. Chỉ cótrừ những tín đồ Gia-tô  ngoan đạo, sống đạo theo đức tin Kitô. Tại sao vây? Câu trả lời là vì cuồng tín quá hóa ra ngu xuẩn cho nên mới không nhìn thấuy cái đuôi nói láo và nu dốt của tác giả câu chuyện hoang đường này.)

Sợ quá, vợ chồng Adam - Eva lò dò bò ra khỏi lùm cây để trình diện. Bị Chúa Cha Jehovah vặn hỏi, Adam và Eva ngay tình nói rõ hết tự sự. Thế là Jehovah liền  nổi cơn tam bành lục tặc, rồi  ban cho   con rắn một bản án, và cặp vợ chồng Adam-Eve, mỗi người  một bản án. Sự kiện này được ghi rõ nới Chương 3 trong sách Sáng Thế Ký với nguyên văn như sau:

3:14.- Đức Chúa Trời nói với con Rắn: “Vì mày đã làm như vậy, mày sẽ bị cấm, không được đến gần  (shall be banned from) các loài vật khác, suốt đời mày sẽ phải bò lết bằng bụng, ăn bụi đât và ở trong đất..

3:15.- Chúa Trời nói với người đàn bà (Eve): Tao sẽ làm cho mày và phái nữ, dòng dõi của nữ thù nghịch với nhau. Người chồng mày sẽ giầy đạp lên đầu mày,  còn mày sẽ cắn gót chân chồng mày.

3:16.- Đức Chúa Trời nói tiếp với người đàn bà: “Tao sẽ làm cho mày khổ cực bội phần khi thai nghén,  đau đớn khi sanh con; ham muốn dục vọng phải xu hướng về người chồng và người chồng mày sẽ là ông chủ của mày.

3:17.- Đức Chúa Trời nói với người đàn ông (Adam): Vì rằng mày đã  nghe theo lời vợ mày mà dám ăn “trái cấm” mà ta đã dặn không nên ăn, đất sẽ bị rủa sả vì  mày; trọn đời mày phải cực nhọc vật lộn cả ngày với đất mới có ra hoa mầu cho mày ăn (In toil shall you eat its yield all the days of your life).

3:18.- Loài cỏ gai và những cây cúc gai sẽ mọc đầy ở nơi đồng ruộng của mày.

3:19.- Mảy sẽ phải làm việc cực nhọc đến đổ mồ hôi trán mới có miếng ăn cho đến ngày mày trở về với đất vì rằng mày là cát bụi và phải trở về với cát bụi.  [ii] 

Cái tội của cô vợ Eva là đã xúi giục anh chồng Adam ăn trái cây hiểu biết gọi  là tội “ăn trái cấm” và cũng là cái tội “không vâng lời” hay “bất tuân phục” Đức Chúa Cha (tức là không tuân phục  Bề Trên). Ngoài những bản án dã man giáng lên đầu con rắn và cặp vợ chồng đất sét Adam -Eva, Đức Chúa Cha Jehovah "toàn thiện" và "lòng lành vô cùng" của các đạo Chúa còn giáng  cho con cháu đời đời của Adam  và Eve một bản án ba vạ hết sức là dã man mà Giáo Hội La Mã  gọi là “Tội Tổ Tông”.

(Ở đây, chúng ta lại thấy cái đuôi nói láo và ngu dốt của tác giả câu chuyện hoang đường này hay của Giáo Hội lòi ra cả mấy thước. Giáo Hội thường hay cao rao và dạy dỗ tín đồ rằng "Thiên Chúa tòan thiện..." Ây thế mà Thiên Chúa  tòan thiện này ác độc đến độ ban cho con rắn  và bà Eva bản án dã man như trên!  Vấn đề đặt ra là tác giả câu chuyên hoang đương này nói láo và ngu dốt hay Giáo Hội La Mã nói láo và ngu dốt cho nên mới để xẩy ra tìonh trạng giấu đầu hơ đuôi như vậy. Ở vào trường hợp nào đi nữa, chi có những kẻ nhăm măt tin vào chuyện  hoang đường trên đây rồi nhắm mắt trở thành tín đồ của   Giáo Hội La Mã mới thực sự là những kẻ ngu xuẩn, nếu không phải là hạng người lưu manh theo đạo để được thăng quan tiến chức như bọn Hùynh Hữu Nghĩa, Đặng Văng Quang, Lâm Văn Phát, Nguyễn Văn Thiệu, v.v... )

Trên đây là nội dung của chuyện hoang đường về chuyện "Tội TổTông". Không biết tín đồ đạo Do Thái có tin cái chuyện hoang đường này không, hay là chỉ coi nó như là một huyền thọai giống như huyền thọai "Con Rồng Cháu Tiên" của người Việt Nam, nghĩa là tin chỉ để mà tin cho vui, giống như người Nhật tin rằng họ là con cháu của Thái Dương Thần Nữ. Trong khi đó thì Giáo Hội La Mã lại biến cái chuyện hoang đường này thành một tín lý căn bản  và dạy dỗ tín đồ phải tuyệt đối tin tưởng là   một chuyện có thật trăm phần trăm.( Chuyện này giống như tín lý ông Hà Bá ở khúc sông Chương Hà (của sông Chương Thủy) tại  đất Nghiệp Đô ở Trung Hoa đòi hỏi người dân trong   vùng phải  cưới vợ  cho ông ta mỗi năm một lần). Kẻ nào  không tin thì sẽ bị coi là "quân tà giáo", là "hạng người man di'," Nếu những người bị coi là "tà giáo" hay "man di" này  ở dưới quyền thống trị của Giáo Hội thi sẽ bị tóm cổ, trói vào cọc, chụm củi khô, rồi châm lửa thiếu sống cho chết. (Chuyện này sẽ được nói rõ ở Chương 4). .

Trong Cựu Ước Kinh không phải chỉ có hai chuyện hoang đường như đã trình bày ở trên, mà còn có hàng vạn chuyện khác cũng hết sức hoang đường không kém gì chuyện ông tổ của lòai người được nặn ra bằng đất sét và chuyện con rắn biết nói tiếng người lân la đến nói chuyện với bà Eva như đã nói ở trên. Còn có cả rừng những   chuyện khác hết sức  phi lý  trong đó có  chuyện thằng Cain cưới vợ, và có cả  chuyện lọan luân như chuyện hai cô con gái của ông già Lót hè nhau phục rượu cho ông bố say mèn rồi luân phiên đè bố ra làm tình, và  cả hai cô cùng mang thai và cùng để con.  Dưới đây là nội dung cúa hai chuyện quái đản này:

1.- Chuyện thằng Cain cưới vợ.- Sách Sáng Thế Ký  viết:

"1.- Adam ăn ở với Eva, là vợ mình; người thọ thai sinh ra Cain và nói rằng: Nhờ Đức Jehovah giúp đỡ, tôi mới sinh được một người . 2.- Eva lại sinh ra em  Cain Abel; Abel làm nghề chăn chiên, còn Cain thì làm nghề ruộng.... 17.- Đọan, Cain ăn ở cùng vợ mình; nàng thọ thai và sinh được Enoch,..."   (Sáng Thế Ký 4:1, 2 và 17)

Chuyện thằng Cain cưới vợ trên đây làm cho ngay cả một em bé vừa học xong bậc tiểu học cũng phải cười bể bụng vì  tình trạng dốt nát và thiêu thông minh của tác giả viết chuyện này. Không cuời bể bụng làm sao được?, Xã hội loài người lúc đó chỉ có  hai vợ chồng Adam - Eva. Vợ chóng này mờo sinh ra hai thằng con trai là Cain và Abel,  tức là  tòan bộ cộng đòng nhân lọai lúc bấy giờ chỉ có một người đàn bà  là bà Eva, và ba người đàn ông là Adam, Cain vad Abel. Rồ  thằng Cain cưới vợ... Vậy thì cô gái hay người đàn bà nào là vợ  thằng Cain? Chẳng lẽ nói cưới mẹ nó là bà Eva hay sao?

Sự kiện này chứng tỏ tác giả viết Thánh Kinh là người ít học và thiếu thông minh, cho nên mới rơi vào tình trạng  "phi lý"   như vậy. 

2.- Một chuyện lọan luân của hai cô con gái cưng của ông già Lot. Chiuyện này cũng được ghi rõ trong sách Sáng Thế Ký  (19:30-38) với nguyên văn như sau:

"30.- Lot ở Xoa thì sợ hãi, nên cùng hai con gái mình bỏ đó mà lên núi, ở trong một hang đá kia. 31.- Cô lớn nói cùng em rằng: Cha ta đã già, mà không còn ai trên đất đến sánh duyên cùng ta theo như thế thường thiên hạ. 32.- Hê! chúng ta hãy phục rượu cho cha, và lại nằm cùng người, để lưu truyền dòng giống cha lại. 33.- Đêm đó, hai nàng phục rượu cho cha mình; nàng lớn đến nằm cùng cha; nhưng người chẳng hay lúc nào nàng nằm, lúc nào nàng dậy hết. 34.- Qua ngày mai, chị nói cùng em rằng: Nầy đêm hôm qua   ta đã nằm cùng cha rồi; hôm nay chúng ta hãy phục rượu cho cha nữa, rồi em hãy lại nằm cùng người, để lưu truyền dòng-giống cha lại. 35.- Đêm đó hai nàng lại phục rượu cho cha mình, rồi nàng nhỏ lại nằm cùng cha; nhưng người chẳng hay lúc nào nàng nằm, lúc nào nàng dậy hết. 36.- Vậy, hai con gái của Lot do nơi của mình mà thọ thai, 37.- Nàng lớn sanh được một con trai, đặt tên là Mô-áp; ấy là tổ phụ dân Mô-áp đến bây giờ. 38.- Người em cũng sanh đặng một trai, đặt tên là Bên-Am-mi; ấy là tổ phụ của dân Am-môn đến bây giờ." (Sáng Thế Ký: 19:30-38)

Cả hai chuyện thăng Cain cưới vợ và chuyện cha con ông già Lot trên đây đều là những chuyện lọan luân. Ấy thế mà những chuyện lọan luân này lại được ghi vào trong Kinh Thánh để  làm bài học dạy dỗ tín đồ với lới dạy "Phúc cha ai không thấy mà tin"..Là tín đồ "ngoan đạo"  của Giáo Hội, chẳng lẽ lại không biết và  nhớ Thánh Kinh, và thường thường thì những người chực vụ càng cao,  quyền lực càng nhiều, càng biết Thánh Kinh và càng  nhớ nhiều hơn Càng biết và càng nhớ nhiều hơn thì càng hành xử giống như những bài học lọan luân trên đây ở trong Thánh Kinh.  "Tri hành hợp nhất" hay lý thuyết phải đi đôi với thực hành. Cũng vì thế mà trong lịch sử Giáo Hội La Mã, chúng ta thấy có rất nhiều giáo hoàng, rất nhiều vị chức sắc cao cấp  trong giáo triều Vatican và rất nhiều  hồng y, giám mục và linh mục  nắm quyền sinh sát tại các giáo phận và giáo xứ ở khắp các nước trên thế giới   sống đời bê bốii thối tha, đàng điếm, lọan luân dâm  lòan. Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Các nhà lãnh đạo  trong Tòa Thánh Vatican và các quan lớn quan nhỏ trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã  mà hành xử như vậy, thì làm sao  tín đồ của Giáo Hội lại không noi gương loạn luân dâm lòan trong Thánh Kinh và theo gương   của các Ngài để sống giống như các Ngài?

Như đã trình bày ở trên, ông Thượng Đế Jehovah   siêu độc ác và cũng là một thứ siêu bạo chúa vượt lên trên tất cả các bạo chúa trong lịch sử nhân lọai. Người Trung Hoa thường nói, "Giang sơn dị cải, bản chất nan di". Tính cách độc ác của ông Thượng Đế Jehovah là thứ độc ác của bản chất, nghĩa là nó đã thấm vào trong từng nhiễm thể trong từng tế bào ở khắp  toàn bộ cơ thể của ông ta. Cho nên trong bất cứ lời nói, cử chí, thái độ và hành động nào của ông ta cũng đều phóng ra cả một cơn giông tố độc ác cho những người bất hạnh bị ông ta chiếu cố. Việc trừng phạt con rắn, trừng phạt vợ chồng Adam -Eva và ban cho con cháu đời đời của cặp vợ chồng nguyên thủy của loài người cái bản án "Tội Tổ Tông" là những bằng chứng hiển nhiên cho sự kiện này..

Đạo Do Thái chỉ có những tín lý trên và các tín lý khác ghi trong Cựu Ước Kinh mà thôi.  

TÍN LÝ CĂN BẢN  CỦA NIỀM TIN
TRONG ĐẠO KITÔ DO THÁI

Những tín ly căn bản trong đạo Kitô Do Thái (Jewish Christianity) là những tín lý căn  bản của đạo Do Thái cộng thêm tín lý về  Chúa Cứu Thế và những chuyện hoang đường khác  ghi trong Tân Ước. Một vài tín lý căn bản của đạo Do Thái đã được trình bày ở trên. Dưới đây là tín lý về Chúa Cứu Thế.

Tín Lý về Chúa Cứu Thế:  Chuyện rằng sau khi trừng phạt con cháu cặp vợ chồng đất sét  Adam - Eva mang cái "Tội Tổ Tông" như trên, ông Thượng Đế Jehovah sai đứa con độc nhất xuống thế  (gian) chui vào lòng một phụ nữ người Do Thái có tên là Maria, (sau đó trở thành vợ của một người thợ mộc tên là Joseph), rồi  chui ra và được đặt tên là Jesus. Tới năm 33 tuổi, Jesus  chiu chết để chuộc cho loài người cái "Tội Tổ Tông"  ba  vạ trên đây. Điểm độc đáo trong câu chuyện hoang đường này là tác giả có thòng một câu nói với chủ ý hù dọa người đời. Câu nói hù dọa này đều được các nhà viết sử ghi lại rõ ràng với nguyên văn như sau:

"Tín hữu Kitô thời nguyên thủy có một lý do đặc biệt về quan điểm trên đây: Họ nghĩ rằng sắp tới ngày Chúa sẽ tái thế  để phán xét loài người, ai tín Chúa thì sẽ được Chúa cho lên Thiền Đàng, những người không tin Chúa và những kẻ tội lỗi thì sẽ bị đầy xuống địa ngục. Quan niệm này  đã khiến cho họ nghĩ rằng họ không phải là người của thế gian này. Ngày tận  thế quả thật đã gần  kề. " (The first Christians had a specific reason for this: They thought there was very little time left before Christ returned to Earth in his divine glory, gave a judgement about human conduct, ended the existence world, and took his faithful believers to Heaven, condemning the faithless and the sinners to eternal torment in “the Hell of the Damned.” Consequently, Christians were to be in the world but not of the world. Apocalypse was at hand."  [iii]

TrongTân Ước, John 3: 18  cũng ghi rõ:

"Ai  tin ông Jesus là Chúa Con sẽ không bị kết tội (được lên thiên đường); và ai không tin ông ta là Chúa Con, đã bị kết tội, rồi  sẽ bị đày đọa vĩnh viễn nơi hỏa ngục." (Whoever believes in him will not be condemned, but whoever does not believe  has already been condemned, because he has not believed in the name of the only Son of God). 

Dưới đây là những tình tiết của câu chuyện siêu hoang đường về Chúa Cứu Thế của đạo Ki-tô:

Chuyện rằng, sau khi trừng phạt vợ chồng Adam-eve và con cháu đời đời của họ bằng bản án không tiền kháng hậu như vậy, không biết có phải vì hối hận hay không, ông Chúa Cha Jehovah độc ác này làm một chuyện vô cùng độc ác khác nữa  và cũng hết sức tiếu lâm như sau:

1.- Chúa Cha Jehovah sai người con trai độc nhất (không thấy nói đến Đức Chúa Mẹ, và không biết làm thế nào ông ta sinh ra được ông Chúa con Jesus) đầu thai xuống thế, (như đã nói trên) chui vào lòng một thiếu nữ Do Thái có tên là Maria, rồi chui ra chào đời với cái tên là Jesus. Chuyện tiếu lâm này được Giáo Hội La Mã dạy dỗ tín đồ rằng: "Ngài là Thiên Chúa hóa thân thành người" (God in human form)".

2.- Sau đó Jesus chịu chết để cứu chuộc cái   tội ba vạ mà chính ông (Chúa Cha) trước đó đã trừng phạt ẩu tả bừa bãi (vô cùng phi pháp) lên đầu nhân lọai. Chuyện láo khoét này được Giáo Hội ra rả rao truyền  rằng: "Ngài chịu chết để chuộc cái Tội Tổ Tông của loài người". Ở đây, chúng ta thấy có nhiều điều khôi hài:

Ở điểm này, người viết có hai thắc mắc  Thứ nhất, là ngay từ khi vừa mới chui ra từ trong lòng Ba Maria,  ông Jesus không chịu chết liền để cứu chuộc cái tội ba vạ trên đây, mà  TẠI SAO lại   phải đợi tới hơn 30 năm sau, ông ta   mới chịu chết để chuộc cho loài người cái tội ba vạ bá vơ này? Thứ hai, Ông  Jesus chào đời hay đầu thai xuống thế  vào năm 0 (Zêro) cách đây 2004 năm, và lòai người đã xuất hiện trên trái đất này cả hàng mấy trăm ngàn năm trước ông. Nếu câu chuyện này có thật, có hàng mấy trăm triệu (có thể lên đến hàng tỉ) người sinh trước ông Je sus, trong đó có cả các ông Abraham, Moses, Saul, David, Solomon, v.v.., làm sao họ có thể tin ông là Chúa Cứu Thế để cho họ khỏi bị đày xuống địa ngục?

Thực ra, ngòai những người bất bình thường, chẳng có ai mượn hay cầu khần van xin Ông Jesus chịu chết để chuộc cái tội bá vơ này. Chỉ có tín đồ Gia-tô còn ở trong trạng thái của con người trong thời bán khai mới tin được chuyện siêu hoang đường này. (Cũng nên biết, theo quan niệm của dân Do Thái, người nào đã hy sinh thân xác của mình để cứu dân độ thế thì được gọi là “Messiah”. Chữ “Messiah” được chuyển sang tiếng Hy Lạp là “Christo”, sang tiếng Pháp và tiếng Anh là “Christ”. Người Trung Hoa gọi là “Kitô” và người Việt Nam gọi là “Đấng Cứu Thế”)

3.- Sau khi chết được 100 ngày, Jesus bay lên trời bằng cả thân xác giống như một con chim vỗ cánh tung bay lên thẳng lên trời, đến ngồi ở bên phải ông Chua Cha Jehovah đôc ác ít lâu (không biết là nao nhiêu lâu), rồi sẽ trở lại trái đất này để đưa ra những lời phán xét quái đản vừa lưu manh và bịp bợm vừa nặng tính khủng bố tinh thần để hù dọa người đời rằng "Ai tin ông Jesus là Chúa Cứu Thề thì đước cứu sống và sẽ được đưa lên Thiên Đường, sống đời đời hưởng nhan Chúa. Ai không tin ông Jesus là Chúa Cứu Thế thì đã bị kết tội  đầy xuống hỏa ngục và không được ông Jesus cứu rỗi."

Nói về ông Chúa Con Jesus và tín lý Chúa Cứu Thế   quái đản trên đây, Giáo-sư Trần Chung Ngọc viết trong bài  khảo luận có nhan đề là "God Con" Từ Galilee  [Giê-su] (The God From Galilee)" đăng trong www.giaodiem.com Tháng 4 năm 2004, trong đó có mấy đoạn với nguyên văn như sau:

"Giê-su đặt căn bản giáo thuyết của mình trên niềm tin là ngày Tận Thế đã gần tới, và ông ta sẽ trở lại để thiết lập cái nước thiên đàng mà ông ta rao giảng.  Chỉ trong Phúc Âm Matthew, Giê-su đã nói lên điều này ít nhất là 6 lần.  “Từ đó, Giê-su bắt đầu giảng dạy: Hãy thống hối, vì nước thiên đàng đã gần đến” (Mat. 4: 17).  Những lời này dập khuôn những lời của John the Baptist, mà nhiều người tin lầm là Messiah (Mat. 3: 2)...

"Giê-su đã mô tả ngày tận thế trong nhiều trường hợp.  Khi trở lại lần thứ hai (Second coming) ông ta sẽ thiết lập một “nước của God Cha” cho người Do Thái (establish the Jewish kingdom of God).  “Nước của God Cha” là cái thế giới nhỏ hẹp của Giê-su (Jesus’s narrow world).  Ông ta giới hạn vùng mà ông ta trở lại chỉ là Jerusalem và vùng nhỏ Judea, và ông ta đã đưa ra các chi tiết về đại nạn ở xứ Do Thái (Mat. 24: 15-16), và những chi tiết về sự trở lại lần thứ hai (second coming) của ông ta: “Ta sẽ đến như chớp nhoáng chiếu rực khắp vòm trời trong nháy mắt, Đông phương hay Tây phương cũng sẽ đồng thời thấy ta. (Mat. 24: 27).  [Hiển nhiên là Giê-su không biết là quả đất tròn nên mới phán ẩu như trên. TCN] “Ngay sau những ngày đại nạn, mặt trời sẽ tối tăm, mặt trăng cũng không chiếu sáng, các vì sao trên trời sẽ rơi rụng, các quyền lực dưới trời sẽ rung chuyển.  Khi ấy, dấu hiệu ta trở lại địa cầu sẽ xuất hiện trên trời.   Khắp thế giới sẽ than khóc, mọi đại tộc (12 bộ lạc Do Thái) sẽ trông thấy ta giáng xuống trong mây trời với vinh quang và uy quyền tuyệt đối.  Ta sẽ sai các thiên sứ thổi kèn vang dội để tập họp con dân ta khắp bốn phương, từ những nơi chân trời góc biển.” (Mat. 24: 29-31).

Và Giê-su khẳng định: “Ta quả quyết, thời đại này chưa chấm dứt, các biến cố ấy đã xảy ra rồi” (Mat. 24:34).   Ta quả quyết, thế hệ này chưa qua đi thì các biến cố đó đã xảy ra rồi” (Mark 13:30)     Ta cho các con biết, một vài người đang đứng đây sẽ còn sống cho đến khi nhìn thấy nước trời thiết lập với uy quyền vĩ đại” (Mark 9: 1)

[Đọc những đoạn trên mà không cho rằng Giê-su điên thì chính người đọc điên.  Rõ ràng là những lời trên phát xuất từ một đầu óc bất bình thường, như chính mẹ và các em Giê-su đã nhận định trong Tân Ước [out of his mind].  Thực tế là, đã hai ngàn năm nay rồi, Giê-su vẫn biệt tăm, và ngày tái lâm của ông ta vẫn là một ẩn số vĩ đại, nếu thực sự ông ta có thể tái lâm khi thân thể đã rũa nát qua bao thế kỷ. Chuyện ông ta sống lại và bay lên thiên đàng chỉ là những chuyện chỉ để cho trẻ con tin và ngày nay cần phải dẹp bỏ, theo như nữ giáo sư thần học Ca Tô Giáo Rô Ma Uta Ranke-Heinemann

Giê-su nói nhiều về sự phán xét và đầy đọa hỏa ngục vĩnh viễn để gieo rắc sự sợ hãi như là động cơ cho niềm tin vào vai trò cứu chuộc của ông ta cho một nhân loại tội lỗi, do đó, kết hợp sự sợ hãi về một hình phạt vật chất với mặc cảm tội lỗi.  Có phần nào mâu thuẫn khi tin rằng một sự phán xét hành động của con người là cần thiết, vì một thông điệp của Phúc âm là chỉ cần tin Giê-su là đấng cứu chuộc, đó là tất cả để được cứu rỗi. (John 3: 16). [Đây cũng chính là câu Giáo Hoàng John Paul II viện dẫn từ Tân Ước để trả lời mà không trả lời câu hỏi: “Tại sao nhân loại cần đến sự cứu rỗi?” trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cữa Hi Vọng, trang 76. TCN]

Sự phán xét như được viết trong Tân Ước thì tức thời, không có cuộc xử án và xét đến những điều kiện xung quanh nội vụ, một hệ thống không có luật nhân quyền, không có mức độ nặng nhẹ của tội lỗi hay trừng phạt.  Trên trái đất này, các ông tòa thường cảm thấy đắn đo và khó khăn khi quyết định tuyên án làm sao cho nó đúng luật, và những cuộc xử án lâu dài thường cần thiết để xác định tội lỗi.  Nhưng sự phán xét của God Cha hay God Con thì ngay lập tức và khô khan: tội nhân đứng trước ngai của ân huệ (throne of grace) không thể hi vọng vào lòng nhân từ hay thương hại của một ông Cha trên trời: “Ai tin God Con sẽ không bị kết tội (được lên thiên đường), ai không tin đã bị kết tội rồi (bị đày đọa vĩnh viễn nơi hỏa ngục)” (John 3: 18).

Giê-su thường thốt ra những lời độc ác khó nghe đối với những người không tin ông ta là cứu tinh của dân Do Thái hay là God Con, hay không có đủ đức tin như ông ta mong muốn.  Sau đây là vài thí dụ:

1.- Hỡi loài rắn, dòng dõi rắn lục kia, làm sao các ngươi có thể tránh khỏi sự đầy đọa hỏa ngục. [Với những người Pharisees] (Matthew 23:33)

2..- Hỡi dòng dõi không tin và gian tà kia, Ta sẽ ở với các ngươi cho đến chừng nào? Ta sẽ chịu đựng các ngươi cho đến chừng nào? [Với các đệ tử] (Matthew 17:17)

3.- Hãy theo Ta, hãy để cho kẻ chết chôn kẻ chết [Với một người muốn chôn cất cha trước khi đi theo Giê-su] (Matthew 8:22)

4.-Hỡi dòng dõi rắn lục, bay vốn là loài xấu, làm sao nói được những lời tốt lành [Với người Pharisees] (Matthew 12:34)

5.- Dòng dõi gian dâm hung ác này.. [Với người Pharisees] (Matthew 12:39)

6.- Nếu ai không tiếp rước, không nghe lời các ngươi, khi ra khỏi nhà đó, hay thị trấn đó, hãy phủi bụi đã dính chân các ngươi.  Quả thật, ta nói cùng các ngươi, đến ngày phán xét, thì xứ Sodom và xứ Gomorrah sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn thị trấn ấy [Dạy đệ tử  cách cư xử khi đi truyền đạo và nguyền rủa những nơi không chịu tin] (Matthew 10:14-15)

7.- Người anh sẽ nộp em để cho bị giết đi, người cha sẽ nộp con để cho bị giết đi, con cái sẽ nổi lên chống lại cha mẹ, và làm cho cha mẹ bị chết [Nói về những bất hòa xảy ra trong gia đình gây ra bởi Ki Tô Giáo] (Matthew 10:21)

8.- Chớ tưởng rằng ta đến để đem sự bình an cho thế gian; ta đến, không phải đem sự bình an mà là gươm giáo.  Ta đến để chia rẽ con trai với cha, con gái với mẹ, con dâu với mẹ chồng.  Và kẻ thù của con người ở ngay trong nhà hắn. [Đây là lời tiên tri duy nhất của Giê-su thực sự đã xảy ra] (Matthew 10:33-36)

9.- Hãy đứng ra sau ta, Satan: ngươi là một sự xúc phạm đối với ta [Nói với Phê-rô, người về sau chối Chúa ba lần, nhưng vẫn được chọn để kế thừa sự nghiệp của Giê-su} (Matthew 16:23)

10.- Nếu người nào không ở cùng ta, hãy ném nó đi như một cành cây khô, và người ta sẽ nhặt nó ném vào lửa cho cháy rụi [Những lời này đã là tiền đề cho Ki Tô Giáo thiêu sống những kẻ lạc đạo] (John 15:6)

11.- Người đàn bà kia, ta với ngươi có mắc mớ gì với nhau? [Nói với mẹ: Woman! What I have to do with thee. (John 2:4)]

12.- Ai là mẹ ta? Ai là những em trai em gái ta? [Với các đệ tử khi được báo tin là mẹ và các em chờ ở ngoài, muốn nói chuyện với Giê-su] (Matthew 12:48).

[Trên đây chỉ là một số nhỏ những lời điển hình khó nghe của Giê-su mà bà Ruth Hermence Green trích dẫn từ Tân Ước để chứng tỏ tư cách con người của Giê-su.  Còn rất nhiều lời tương tự rải rác trong Tân Ước.  Cách duy nhất để biết những lời độc ác khó nghe phát ra từ miệng Chúa là mở cuốn Tân Ước ra đọc kỹ.  Đã có nhiều tác phẩm liệt kê hầu hết những lời này.  TCN]

Có vẻ như Giê-su là một ông thầy giảng khá quyến rũ và hấp dẫn vì ông ta đã thu hút được một số đông tín đồ, nam cũng như nữ.  Nhưng khác xa với những thuộc tính khả ái mà người ta thường gán cho Giê-su, ông ta thường tỏ ra độc đoán như được viết trong Tân ước, với những thái độ không thể nào kết hợp với một đấng thần linh đầy tình thương.   Đôi khi, ông ta cũng tỏ vẻ từ tốn, nhưng một sinh viên nghiên cứu những thái độ của ông ta trong Tân Ước cũng có thể gán cho Giê-su những thuộc tính sau đây: dễ cáu kỉnh, nhẫn tâm, hống hách, ưa báo thù, hão huyền, cục cằn, nhầm lẫn, dễ nổi nóng, tiền hậu bất nhất, tự mãn, đáng khinh bỉ (impatient, heartless, imperious, vengeful, vain, rude, misinformed, quick-tempered, inconsistent, smug, and scornful.)  Từ các Phúc Âm, người đọc có thể gán cho ông ta bất cứ thuộc tính nào như trên mà mình muốn..."   [iv]

VỀ LỜI TUYÊN BỐ "AI TIN TA THÌ..." CỦA ÔNG JESUS

Trước khi ông Jesus chào đời, ở Đông Phương, Nho Giáo có lời dạy "Thuận Thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong".. Chữ "thiên" ở đây có nghĩa là ông Trời. Ông Trời theo quan niệm của người Đông Phương được coi như là một phán quan tối cao, một bậc chí công vô tư, công minh chính đại, thẳng băng như mực Tầu, giống như ông Bao Công đời nhà Tống ở Trung Hoa. Và "thuận thiên" là "thuận theo đạoTrời" hay "xuôi theo lẽ Trời". Lời dạy "Thuận Thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong" có nghĩa là thuận theo lẽ Trời hay đạo Trời thì sống, và đi ngược với lẽ Trời là bơi ngược dòng lịch sử thì sẽ chết hay bị diệt vong, giống như ông Trời đã trừng phạt cha con cháu chắt của dòng họ Ngô Đình về tội ác ba đời nối tiếp nhau làm Việt gian bán nước cho đế quốc Vatican, cho Pháp, cho Nhật và cho siêu cường Hoa Kỳ như người viết đã trình bày trong cuốn Nhìn Lại Biến Cố 11/11/1960 (Houston, TX: Văn Hóa, 1997) nơi các trang 112-3 và 119-20:

Cũng theo quân niệm của Nho giáo, "Đạo Trời" hay "lẽ Trời" là những lời dạy người đời "phải hành xử sao cho vừa mắt ta ra mắt người" (Ký sở bất dục, vật thi ư nhân". Triết lý của lời dạy này phải được hiểu rõ ràng là "không đươc đòi hỏi hay cưỡng bách những người khác phải làm hay chấp nhận những điều hay những vỉệc làm mà nếu chính mình ở vào địa vị bị cưỡng bách như vậy mình cũng phản kháng quyết liệt." Ngòai ra, Nho Giáo còn có cả mấy pho sách chứa đựng những lời dạy thánh thiện với hy vọng nếu tất cả mọi người đều nghe theo cả thì  xã hội lòai người sẽ không còn những hạng người xấu xa đê tiện, hung hãn, háo chiến, háo thăng, háo sát, khát máu, đòi chém giết những người  khác tốn giáo, như chúng ta đã từng thấy ở Âu Châu và ở những nơi nào có những tín đồ của Giáo Hội nhẩy lên bàn độc thao túng chính quyền. Dưới đây là một vài lời dạy thánh thiện trong những pho sách Nho Giáo.

Không được ỷ thế (dựa vào thế mạnh) hay dựa vào quyền lực của nhà nước để  áp bức, bóc lột hay hà hiếp những người lép vế thế cô.

Phải biết khiêm cung, không được cao ngạo, không được tư phong hay tự coi mình hay phe cánh của mình là đệ nhất thiên hạ vì rằng "cao nhân tất hữu cao nhân trị", "Thiên hữu ngọai thiên, sơn hữu ngọai sơn";

Phải biết tu tâm dưỡng tính sửa mình sao cho lòng ngay thẳng, ngay thẳng với chính mình và ngay thẳng với mọi người;

Làm việc gì cũng phải trông cậy vào chính mình mà không được ỷ lại hay trông nhờ vào người khác;

Không được quay quắt, lặt léo lươn lẹo; không được mưu mô tính toán tìm đủ mọi phương cách mánh mung để lấn chiếm, vơ vào chiếm cho được phần hơn để thỏa mãn lòng tham lam ích kỷ của mình mà  bất cần đến danh dự, quyền lợi và sinh mạng của người khác.

Phải biết khoan dung độ lượng, rộng lòng tha thứ cho những lỗi làm của kẻ khác vì rằng "nhân vô thập toàn" và "thánh nhân còn có khi lầm".

Không được sinh lòng dố kị, tị hiềm, ganh ghét rồi tìm cách hãm hại những người khác vì rằng làm như vây là làm những việc độc ác tất nhiên sẽ bị quả báo,"tích ác phùng ác", v,v...

Người nào hành xử đúng như những lời dạy trên đây thì được gọi là chính nhân quân tử và sẽ  được mọi người nể vì và kính trọng. Người chính nhân quân tử ngẩng mặt lên không thẹn với Trời, cúi mặt xuổng không xấu hổ với đât, ngó thẳng vào mặt mọi người mà lòng phơi phới hiên ngang, và khi hồi tuởng những việc mình đã làm không  cảm thấy phải ngượng với lương tâm. 

Đọc những lời dạy trong Nho Giáo, chúng ta sẽ không tìm thấy được một câu chuyện nào hoang đường quái đản như những   tín lý trong hệ thống thần học của đạo Kitô, và cũng không tìm thấy có một "Nho luật" nào năng tính cách chuyên đoán, hà khắc với chủ ý làm phương tiện cho giai cấp thông trị và giáo sĩ để áp bức, hàp hiếp và bóc lột nhân dân, giống như những giáo luật trong  đạo Kitô La Mã. .

Sau này, lời nói "thuận thiên giả tồn, nghịch Thiên giả  vong" được bọn tướng cướp và bạo chúa sửa lại thành "Theo ta thì sống, chống ta hay không tin theo ta thì chết" 

Người viết không biết lời nói "Ai tin ông Jesus là Chúa Cứu Thề thì đước cứu sống và sẽ được đưa lên Thiên Đường, sống đời đời hưởng nhan Chúa. Ai không tin ông Jesus là Chúa Cứu Thế thì sẽ bi đầy xuống hỏa ngục." nên hiểu như lời nói "thuận Thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong" của Nho giáo hay nên hiểu  như lời nói   "Theo ta thì sống, chống ta hay không tin theo ta thì chết" của bọn tướng cướp và bạo Chúa trong xã hội  loài người?  Câu trả lời xin nhường cho độc giả.

Vấn đề được đặt ra  là, Giáo HộiLa Mã  thường dạy rằng Chúa Kitô (Jesus) "hiền lành, giầu lòng bác ái  và lòng lành vô cùng". Vậy thì  TẠI SAO Chúa lại nỡ để cho người ta  bị đày đọa xuống hỏa ngục chỉ vì người ta không tin ông Jesus là  Chúa Cứu Thế?.

Nếu sự đời xẩy ra đúng như lời phán xét trên đây thì ông Jesus không những đã không có một chút gì được gọi là bác ái hay nhân đạo, mà còn là hạng người vô cùng bạo ngược và cực kỳ dã man, không kém gì ông Chúa Cha Jehovah. Chỉ vì  không tin ông ta là Chúa Cứu Thế mà ông ta nỡ để cho nạn nhân phải bị đày xuống hỏa ngục  thì có phải là độc ác đến cùng độ của độc ác và dã man đến cùng độ của dã man hay không? Như vậy là ông Jesus đã dùng bạo lực để hù dọa hay khủng bố những người KHÔNG TIN những điều nói láo của ông ta. Như thế  thì làm sao có thể gọi ông ta là toàn thiện được?  Đây cũng là một trường hợp "nói láo lòi đuôi ra".

Ông  Chúa Cha Jehovah và Chúa Con Jesus của Giáo Hội độc ác và dã man như vậy mà Giáo Hội vẫn cứ bô bô  rêu rao rằng, "Thiên Chúa lòng lành vô cùng" , :"Thiên Chúa Toàn Năng, Toàn Thiện...". Cái miệng của Giáo Hội La Mã quả thật là trơ trẽn, lươn lẹo và bịp bợm! Tính cách bịp bợm này được ông Charlie Nguyễn ghi lại như sau:

“Trong tác phẩm “The Jesus Connection” (The Crossroad Publishing Co., xuất bản năm 1985), học giả Do Thái  Leonard Yassen viết: “Jesus đã chết với tư cách không phải là Chúa Kitô mà Ngài đã chết với tư cách là một công dân Do Thái. Ngài không hề biết danh từ Kitô là gì và Ngài cũng không hề nghĩ rằng mình là nhà sáng lập một đạo mới, tách rời khỏi đạo Do Thái là đạo của Ngài”. (Jesus died not as a Christian but as a Jew. He had never heard the world Christianity and he had no idea he could be called the founder of a separatist religion from his Judaism). Theo ông, người lập đạo Kitô chính là Paul (thánh Phaolô) và St. Ausgustine.   Đây cũng là nhận xét chung của hầu hết các nhà nghiên cứu đạo Kitô có quan điểm khách quan vô tư trên phương diện lịch sử.

St. Paul  xác nhận là người lập đức tin Kitô Giáo. Đức tin này hoàn toàn dựa trên cái gọi là “sự mặc khải” (revelation) và vượt ra ngoài mọi sự lý luận. Đức tin Kitô Giáo của Paul có thể tóm tắt như sau: Chúa Jesus là con Thiên Chúa, đã xuống thế làm người, chịu nạn chịu chết để chuộc tội tổ tông. Ba ngày sau, Ngài đã sống lại lên trời ngự bên hữu Chúa Cha Jehovah (Johovah = El/ Bull – Chỉ có Bull El – con bò – mới có bên tả bên hữu, còn Thiên Chúa thiêng liêng vô hình như không khí thì làm gì có bên tả bên hữu?) Ngài sẽ xuống thế gian lần thứ hai vào ngày tận thế để phán xét kẻ sống và mọi kẻ đã chết từ thời thượng cổ, trong đó có những vị thánh nhân đã sinh trước Jesus mấy thế kỷ như Socrate, Pythagoras, Đức Khổng Tử, Đức Lão Tử và Đức Thích Ca! Ai tin Jesus là Kitô (Chúa Cứu Thế) sẽ được Ngài cứu rỗi và được sống đời đời trên thiên đàng. Ai không biết tới tên tuổi và không tin Jesus là Chúa Cứu Thế sẽ bị hư mất, tức là sẽ bị đầy xuống hỏa ngục. Đó là toàn bộ được gọi là “Đức Tin Kitô”. Đức tin “độc đáo” này còn được gọi là khoa thần học của Thánh Phao Lô (The Pauline Theology). Chính bản thân ChúaJesus cũng không biết tí gì về môn thần học rất “cao siêu” này.

Augustine là người đã làm cho khoa thần học của Phao Lô có thêm tính cách mới, đó là tính cách triết học. Augustine thực chất là một triết gia,. Ông chịu ảnh hưởng nặng nề của nền văn hóa Hy Lạp. Ông nghiên cứu sâu sắc các triết thuyết của các tôn giáo khác như Ấn Độ Giáo, Phật Giáo và Sherman (nhất là Thần Giáo). Ông xác tín vào một điều căn bản: Có một Thiên Chúa xuất phát từ hư không (ex-nihilo). Ông đưa ra một định nghĩa như sau về Thiên Chúa: Thiên Chúa không phải là một thực tế khách quan mà là sự hiện hữu thuộc tinh thần trong chiều sâu phức tạp của bản thân Ngài (God was not an objective reality but a Spiritual Presence in the complex depth of the self.)”  [v] .

Điều khôi hài trong Tân Ước lại có chuyện ông Chúa Con Jesus dạy người ta làm chuyện đại nghịch bất đạo. Dưới đây là ngyên văn câu chuyện này:

"Christ Brings Divisions: 34.- "Do not think that I came to bring peace on earth. I did not come to bring peace but a sword" (Chớ tưởng rằng ta đến để đem sự bình an cho thế gia; ta đến, không phải đem sự bình an, màlà đem gươm dáo). 35.- For I have come to "set a man against his father, a daughter against  her mother, and a daughter-in-law against her mother-in law." (Ta đến để con trai chống lại bố, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng);. 36.-"And a man's foes will be those of his own household," và làm cho những người trong cùng một gia đình trở thành thù nghịch  với nhau).. 37.- He who loves father or mother more than Me is not worthy of Me. And he who loves  son or daughter more than Me is not worthy of Me." (Kẻ nào yêu cha mẹ hơn Ta thì không đáng cho Ta. Kẻ nào yêu con trai hay là con gái hơn ta thì cũng không đáng cho ta. 38.- And he who does not take his cross and follow Me is not worthy of Me." (Kẻ nảo không vác cây thậy tự  đi theo Ta, thì cũng đáng cho Ta.." (Mattiew, 10"34-38)

Luke (14:26) "Nếu kẻ nào đến với ta mà không căm ghét cha mẹ, vợ con, anh chị em và ngay cả đời sống của hắn, thì hắn không thể là môn đồ của ta."

Nói rằng, "Ta đến đây để cho con trai chống lại bố, con gái chống lại mẹ,..." và ""Nếu kẻ nào đến với ta mà không căm ghét cha mẹ, vợ con, anh chị em .." có nghĩa là dạy cho người đời làm chuyện đạị nghịch bất, có phải không các vị chức sắc trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã?

Không những thế, lại còn có chuyện chính bản thân ông Jesus nêu gương làm chuyện đại nghịch bất đạo. Xin mời quý vị theo dõi hai chuyện dưới đây::

1.- "Water Turned to Wine": 2:1.-  On the third day there was a wedding in Cana of Galilee, and the mother of Jesus was there. (Vào ngày thứ ba có đám cưới ở Cana thuộc Galilee, bà mẹ của Jesus cũng ở đó).  2:2.-  Now both Jesus and disciples were invited to the wedding. (Cả Jesus và các môn đệ cùng được mời tham dự).   2:3.- And when they ran out of wine, the mother of Jesus said to Him, "They have no wine." (Khi hết rượu, bà mẹ của Jesus nói với Jesus "Không có rượu."). 2:4.- Jesus said to her, "Woman, what does your concern  have to do with Me?  My hour has not yet come." Jesus nói với mẹ của ông ta, Này bà kia! Ta với bà có liên hệ gì chăng? Giờ của ta chưa đến?"...(John, 2:1-4)

2.- Jesus' Mother anf Brothers Send for Him: (Matthiew, 12:46-50) 12:46 - While  He was  speaking ti the crowds, his mother and his brothers appeared  outside, wishing to speak with him. Jesus đang nói chuyện với dân chúng thì thân mẫu và anh em của ông đứng ở ngoài, muốn nói chuyện với ông). 12:47 Somwone ttold him, "Your mother and your brothers are standing outside, asking to speak with You." (Có người đến cho ông hay là thân mẫu và anh em của ông đang chờ ở ngòai và mong được nói chuyện với ông). 12:48.- But he said in reply to the one who told him,."Who is my mother and who are my brothers?" (Nhựng Jesus lại hỏi lại người này rằng, "Ai là mẹ Ta, và ai là anh em của Ta?) . 12:49.- And stretching out his hand toward his disciples and said, "Here are my mother and my brothers" (Rồi Jesus vươn tay ra về phía các môn đệ và nói, "Đây là mẹ Ta và các anh em của Ta.". 12:50 "For whoever does the will of my heavenly Father is my brother and sister and mother." (Vì rằng hễ người nào làm theoi ý muốn của Cha Ta ở trên thiên đàng thì người đó là anh em, chị em của Ta và là mẹ Ta). (Matthiew, 12:45-50)

Theo quan niệm đạo lý Đông Phương, cung cách hành xử và thái độ của Jesus đối với thân mẫu của ông ta qua những lời nói  với môn đệ của ông ta cho thấy rằng hoặc là ông ta là người bất bình thường, điên diên khùng khùng, hoặc là ông ta là một đứa con đại nghịch bất đạo.

Ngoài  những chuyện dạy đời và nêu gương làm chuyện đại nghịch bất đạo như trên, các   tác giả Tân Ước còn bịa đặt ra cả hàng rừng chuyện hoang đường khác để tô vẽ quyền năng  và thánh hóa  ông Chúa Con Jesus, nhưng vì thánh hóa quá lố  cho nên mới trở thành lố bịch và  trơ trẽn. Cũng vì thế mà có khá nhiều chuyện, tác giả đã  để  lòi cái đặc tính "huênh hoang khóac lác" trong đó có "ý đồ" vừa   bịp bợm   vừa hù dọa  hoặc khủng bố . Những chuyện hoang đường này đều có nội dung với những tình tiết  chỉ có thể thích hợp với người dân trong thời bán khai ở nước Do Thái cách đây hơn hai ngàn năm.. Dưới đây là 2 chuyện điển hình nói láo không tiền khoáng hậu với mục đích lòe đời và lừa gạt tín đồ:

1- Chuyện Chúa Jesus hóa phép năm  cái bánh và hai con cá  thành một khối lượng bánh và cá nhiều đến nỗi cả hơn 5 (năm) ngàn người ăn không hết: Chuyện như sau:

"15.- Buổi chiều tối, môn đồ tới gần Ngài mà thưa rằng: Ở đây vắng vẻ, và trời tối rồi, xin thầy cho dân chúng về, để họ đi vào các làng đặng mua đồ ăn. 16,- Đức Chúa Jesus phán rằng: Không cần họ phải đi; chính các ngươi hãy cho họ ăn. 17- Môn đồ thưa rằng: Chúng tôi có đây năm cái bánh và hai con cá mà thôi. 18.- Ngài phán rằng: Hãy đem đây cho ta. 19.- Ngài bèn truyền cho chúng ngồi xuống trên cỏ, đoạn, lấy năm cái bánh và hai con cá đó, ngửa mặt lên trời và tạ ơn; rồi bẻ bánh ra đưa cho môn đồ, môn đồ phát cho dân chúng. 20.- Ai nấy đều ăn no, còn bánh thừa lại thâu được đầy 12 giỏ. 21.- Số người ăn ước chừng năm ngàn, không kể đàn bà con nít." (Matthiew 14:15-21)

2.- Chuyên Chúa Jesus hóa phép làm cho cây vả (sung) khô héo: Chuyện này khá độc đáo, xin quý vị theo dõi:    Chuyên như sau:

"18.- Sáng mai, khi trở lại thành thì Ngài đói. 19.- Thấy một cây vả ở bên đường, Ngài bèn lại gần, song chỉ thấy những lá mà thôi, thì Ngài phán rằng: Mày chảng khi nào sinh ra  trái nữa! Cây vả tức thi khô (héo) đi.. 20.- Môn đồ thấy đều (điều) đó, lấy làm kỳ, nói rằng: Cớ sao trong giây phút mà cây vả liền khô đi vậy? 21.- Đức Chúa Jesus đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu các ngươi có đức tin, và không nghi ngờ chi hết thì chẳng những các ngươi làm được điều đã làm cho cây vả mà thôi, song dầu các ngươi biểu hòn núi này rằng: Hãy cất mình lên và quăng xuống biển, điều đó cũng sẽ làm được. 24.- Trong khi cầu nguyện các người hãy lấy đức tin xin việc gì bất kỳ, thẳy đều được." (Matthiew 21: 18-24)

Đọc qua hai chuyện này, những người có lý trí không thể  nhịn  cười được vì  nó vừa hết sức tiếu lâm vừa hàm chứa ý đồ bịp bợm một cách quá trơ trén và hết sức trắng trợn:

Thứ nhất.- Trong chuyện 1 cho ta thấy rằng ông Chúa Jesus có khả năng biến hóa năm cái bánh và hai con cá cho hơn năm ngàn người ăn mà vẫn còn thừa tới 12 giỏ bánh, nhưng tới chuyện 2 lại cho thấy i ông ta lại  bất lực không thể biến hóa ra thức ăn để mà ăn, và bất lực không thể làm cho cây vả (sung) có trái cho ông ta ăn đỡ khi đói lòng.

Thư hai.- Giáo Hội thường rao truyền rằng Chúa Jesus   "toàn thiện" và "lòng lành vô cùng", trong khi đó thì Tân Ước  lại mô tả ông Chúa  này độc ác đến độ làm cho cây sung (vả) khô héo đi mà chết chỉ vì nó không có trái vào khi ông ta đi qua trong lúc đói lòng. Cây sung không có tội gì cả mà ông cũng  ban cho nó bản án tử hình. Như vậy thì hành động của ông còn tàn ngược hơn cả những hành động của bất kỳ một bạo chúa nào trong lịch sử nhân loại. Tâm địa của ông độc ác quá đi! Đây là cái tâm địa "không được ăn thì đạp đổ".  Nếu ông để cho cây sung sống, thi tới thời điểm thích hợp (tới mùa), nó sẽ ra trái  để cho những người khác ở trong vùng sử dụng. Cái tâm địa độc ác "không được ăn thì đạp đổ" này đang được cái  thế lực mà văn hào Voltaire gọi là "cái tôn giáo ác ôn" đang rung tiếng chuông cho đàn chó Pavlov người Việt thi hành đối với tổ quốc và chính quyền Việt Nam hiện nay.

Nêu Chúa Jesus thực sự độc ác như Tân Ước đã mô tả  như trên thì rõ ràng là Giáo Hội La Mã đã nói láo, đã biến hóa ông Jesus cực kỳ độc ác   thành một ông Jesus "toàn thiện" và "lòng lành vô cùng".

Thực ra, các tác giả viết về ông Jesus đều tưởng tượng rồi phóng ngôn thêu dệt ra không biết bao nhiêu chuyện láo để   thần thánh hóa ông ta như một đáng thầnh linh đầy quyền năng và cũng là để lòe đời.

Còn Giáo Hội La Mã thi sao? Xin thưa rằng, thành tích nói láo của Giáo Hội trùng trùng như sóng đại dương và cao chất nhất như đỉnh núi Thái Sơn! Cũng vì t