
posted: 5.11.04
MỘT
SỐ TÍN LÝ VÀ GIÁO LUẬT CỦA
GIÁO HỘI LA MÃ ĐÃ CÓ TRƯỚC NGÀY
20/5/325 Nguyễn
Mạnh Quang Một
số những tín lý căn bản trong đạo Kitô đạo Kitô La Mã là những tín
lý căn bản và giáo luật được ghi rõ
Thánh Kinh của đạo Do Thái cùng với đức tín cho rằng ông Jesus là Chúa Cứu
Thế (đã có trước ngày 20 tháng 5 năm
325, khi Hội Nghị Nicaea khởi nhóm để thông qua quyết định tín lý Chúa
Ba Ngôi) cộng với những tín lý và giáo luật do Giáo Hội bịa đặt ra từ
năm 325 cho đến ngày nay. Nói theo ngôn ngữ của tóan học, ta có biểu thức
như sau: Tín
lý của đạo Kitô La Mã là (tổng hợp
của) Thánh Kinh (tín lý và giáo luật) của đao Do Thái + Tân Ước (Tín lý
về Chúa Kitô Jesus )+ Tín lý và giáo luật do Giáo Hội La Mã bịa đặt ra
từ năm 325 cho đến ngày nay. Theo
biểu thức trên đây, tín lý căn bản niềm tin của đạo Kitô La Mã có ba
phần rỗ rệt: 1.-
Thánh Kinh (Tín lý và Giáo Luật căn bản)
của đức tin trong đạo Do Thái 2.-
Tân Ước (những chuyện hoang đường để thánh hóa ông Jesus và tôn vinh
ông lên làmChúa Kitô) 3.-
Những tín lý và Giáo luật do Giáo Hội đặt ra từ năm 325. Trong Chương 3, chúng tôi chỉ trình bày phần 1 và phần 2. Còn phần 3 sẽ được
trình bày ở Chương 4.
Đạo
Gia-tô (Kitô La Mã) gọi cuốn thánh
kinh của Do Thái Giáo là Cựu Ước Kinh, Cuốn thánh kinh này có những tín
lý căn bàn làm cớ sở cho tất cả các hệ phái Thiên Chúa Giáo cùng thờ
ông Thương Đế Jehovah như Do Thái Giáo (Judaism), Gia-tô (Roman Catholicism hay
Roman Chrítianity), Chính Thống Giáo (Orthodox Church), Tin Lành (Protestantism),
Anh Giáo (Anglicanism) Hồi Giáo (Islam). Những
tín lý của niềm tin đạo Do Thái là
những tín lý về ông Thượng Đế
Jehovah được dân tộc Do Thái chọn làm đối tượng thờ phượng và những
ín lý khác cùng những giáo luật hay "lệnh" được ghi rõ trong Cựu Ước Kinh mà một
số đã được trình bày ở Chương 1.. 1.-
Tín Lý "Đức Chúa Trời sinh ra tời
đât và muôn vật" hay
là "Thiên Chúa tòan năng, tòan thiện
và có mặt ở khắp mọi nơi". Đây là ông Thượng Đế mà đạo
Do Thái tôn lên là đối tượng thờ phương có tên là Jehovah. Ông Thượng Đế Jehovah như thế nào? Tốt hay xấu, hiền lành hay
độc ác, khoan dung và độ lượng hay nặng lòng đó kỵ tị hiềm và ganh
ghét, sẵn lòng tha thứ hay ưa thích trả thù, v.v.. , tất cả đều được sách Leviticus ghi lại trong mấy
đọan dưới đây: 26.1-
"You shall not make idols for yourselves;
neither a carved image nor sacred pillar shall you rear up for yourselves; nor shall you
set up an engraved stone in your land, to bow down to it; for I am the LORD your
God".(Các ngươi không được tạo ra những hình tượng nào để sùng
bái cho chính các ngươi; các ngươi cũng không được khắc chạm một hình
ảnh nào hay dựng nên một trụ cột thiêng liêng nào để nâng cao cho
chính các ngươi; ở trong vùng các ngươi cư ngụ, các ngươi cũng không
được dựng nên một hòn đá nào có khắc chạm để cúi đầu nghiêng
mình trước nó; vì rằng Ta là Thượng Đế của các ngươi). 26.14.-
"But if you do not obey Me, and do not observe all these commandements". (Nhưng
nếu các người không nghe lời Ta, không tuân hành những lời răn dạy này). 26.15.-
"and if you despise My statutes, or if your soul abhors My judgements, so that you do
not perform all My commandements, but break My covenant". (và nếu các ngươi
khinh thường những quy luật của Ta, hay nếu linh hồn của các ngươi khinh
ghét những lời phán xét của Ta, cho nên các người không thực thi tất cả
những lời răn dạy của Ta, và không tuân hành quy ước của Ta". 26.16.-
"I also will do this to you: I Will even appoint terror over you, wasting disease and
fever which shall consume the eyes and cause sorrow of heart. And you shall sow your seed
in vain, for your enemies shall eat it". (Ta sẽ gây ra những tai họa dưới
đây cho các ngươi: Ta sẽ đem lại cho các ngươi những gì khủng khiếp nhất,
những bệnh tật tàn phá các ngươi, dịch sốt rét sẽ hủy hoại những
tròng mắt của các ngươi và nhiều cảnh đau buồn khác nữa. Những hạt
giống mà các người gieo xuống đất sẽ không nẩy mầm được nữa vì rằng
kẻ thù của các người sẽ ăn mất đi hết những hạt giống đó). 26.17.-
"I will set My face against you, and you shall be defeated by your enemies. Those who
hate you shall reign over you, and you shall flee when no one pursue you". (Ta sẽ
nhìn thẳng vào mặt các ngươi, và các ngươi sẽ bị thảm bại trước kẻ
thù. Những người nào thù ghét các ngươi sẽ đè đầu cỡi cổ các ngươi,
và các ngươi sẽ phải chạy trốn cả những khi không có người nào đuổi
bắt các ngươi). 26.18.-
"And after all this, if you do not obey Me, then I will punish you seven times more
for your sins". (Và sau hết, nếu các ngươi không nghe lời Ta, Ta sẽ trừng
phạt các ngươi bẩy lần hơn về tội lỗi của các ngươi) [i] Căn
cứ vào những đọan văn trên đây, chúng ta thấy rằng ông Thượng Đế Jehovah của đạo Do Thái này không những
vô cùng hung dữ và bạo ngược, mà còn đầy lòng ganh ghét và ưa thích trả
thù một cách hết sức dã man.. Thiết tưởng trong lịch sử loài người,
từ ngàn xưa cho đến ngày này, chưa có một tên bạo chúa nào lại có thể
bạo ngược bằng ông Thượng Đế Jehovah quái đản này. Tất cả những bạo
chúa lừng danh trong lịch sử nhân loại như Néro (37-68) của La Mã, Blood
Mary (1516-1558) của Anh, Benito Mussolini (1883-1945) của Ý, Louis XIV (1638-1715) của
Pháp, Adolf Hitler (1889-1945) của Đức, Ferdinand V (1452-1516), Isabella I
(1451-1504) và Philip II (1527-1598) của Tây Ban Nha, Tần Thủy Hoàng (259-210
B.C.), Tùy Dạng Đế (trị vì 605-617) và Mao Trạch Đông (1893-1976) của
Trung Hoa, Lê Long Đĩnh (trị vì 1005-1009), Ngô Đình Đình Diệm (1897-1963),
Ngô Đình Nhu (1910-1963), và Ngô Đình Cẩn (1911-1964) của Việt Nam, Ante
Pavelich (trong những năm 1941-1945) của
Croatia, và Giám-mục Augustin Misago (trong năm 1994)
của Rwanda (Phi Châu) đều phải ngả mũ chào thua Ông Thượng
Đế Jehovah quái đản này.. Ông
thần Jehovah hay "Đức Chúa Trời sinh ra trời đât và muôn vật " của các hệ phái Thiên Chúa Giáo bạo ngượcv,
dã man khốn nạn như vậy mà Giáo Hội
La Mã lại thương cao rao và dạy dỗ tín đồ rằng Thiên Chúa Jehovah là
"Đấng toàn năng, toàn thiện, và có mặt ở khắp mọi nơi”
và là "Đấng lòng lành vô cùng”. Như vậy rõ
ràng là Giáo Hội đã nói láo thuộc
vào hạng siêu việt, siêu việt về "tài
nghệ nói láo" và siêu việt cả về
"tính cách trơ trẽn và
trắng trợn"..Là một tôn giáo có quyền lực bao trùm lên trên
tất cả các giáo phận ở khắp các nước
trên thế giới với hơn 700 triệu tín đồ mà lại nói láo trơ trẽn như
vậy thì tất cả các cán bô (giới tu sĩ) trong hệ thống quyền lực trong
Giáo Hội và tín đồ của Giáo Hội có thoát khỏi cái truyền thống nói
láo trơ trẽn này không? 2.-
Tín lý Tội Tổ Tông:
Theo kinh sách của đạo Thiên Chúa Giáo La Mã, Thiên Chúa của tôn giáo này
tức là Chúa Cha Jahovah (thường được gọi là Chúa Cha). Theo lời rao truyền
của Giáo Hội La Mã qua các sách được
rao giảng tại các nhà thờ thì Thiên Chúa Jehovah là “Đấng toàn năng,
toàn thiện, và có mặt ở khắp mọi nơi” và là "Đấng lòng lành vô cùng”. Trong
phần này, chúng tôi chỉ trình bày về cái "toàn năng" của ông Thượng Đế
Jehovah và xin giới hạn trong phạm vi quyền năng tạo dựng nên trời đất,
nặn ra con người, và nói lướt qua về quyền năng tạo nên muôn loài
muôn vật khác. Nói
về sự hình thành vũ trụ hay là việc tạo ra trời đất, theo Kinh Sáng Thế
Ký, chúng ta được biết: Trong
Chướng 1, từ lời 1 hết lời 30 ghi rõ việc ông Chúa Cha Jahveh (Jehovah) này tạo ra trời đất, đất liền, núi đồi,
sông ngòi, biển cả, cây cối, muông
thú, côn trùng và con người nội trong sáu ngày. Riêng lời 27 nói một cách rất tổng quát về chuyện dựng nên loài người giống hình ảnh Đức
Chúa Trời và cho phép loài người được
quản trị tất cả mọi thứ ở trên mặt đất. (Thế
có nghĩa là không được quyền quản trị bất kỳ thứ gì ở ngoài trái
đất, thí dụ như mặt trăng. Như vậy
là Hoa Kỳ đã phạm tội bất tuân lời ông Chúa Cha này vì rằng
ngày19/7/1969, người Hoa Kỳ đã đổ bộ xuống mặt trăng và cắm
cờ Hoa Kỳ ở trên đó). Trong
Chương 2, từ lời 1 đến lời 3,
nói rằng sau khi làm xong các việc trên đây, Chúa nghỉ xả hơi ngày thứ bảy và đặt tên cho
ngày thứ bẩy là ngày thánh để
ăn mừng ngày Chúa đã hoàn thành xong những công việc vĩ đại này. Lời 7 nói rõ: Chúa đã dùng
đất sét (out of the clay of the ground) để
nặn hình người đàn ông và đặt tên
là Adam, rồi hà hơi vào lỗ mũi khiến
ch nó trở thành một người có đủ cả thất tình và lục dục. Những lời 8, 9 và 10 có đại ý là Chúa Trời lập một cái vườn
tên là Eden ở về hướng Đông và khiến đất mọc lên nhiều thứ cây đẹp
mắt có trái ăn ngon, giữa vườn lại
có “cây hiểu biết điều thiện điều
ác” (the tree of the knowledge of good and evil) [tạm gọi là “cây hiểu biết”
cho gọn]. Từ lời 15 đến lời 17 có đại ý là Chúa Cha đem Adam vào vườn Eden để cho anh ta sinh sống
bằng nghề trồng cây và săn sóc vườn cây, rồi căn dặn rằng anh ta được
tự do ăn hoa quả của các thứ cây trong đó, nhưng tuyệt đối không được ăn trái của “cây hiểu biết”,
và nếu ăn vào thì một mai chắc sẽ chết.
Những lời 18 đến 25
có đại ý là Chúa Trời sợ không có thịt cho Adam ăn nên lại lấy đất
nặn ra các loài thú ở đồng và các loài chim rồi dẫn đến cho anh ta đặt
tên. Sau đó, Thương Đế lựa lúc Adam
ngủ say, rồi véo cái xương sườn của anh ta
mà nặn ra hình một người con gái đặt tên là Eva và cũng hóa
phép cho cô gái này có đủ cả thất tình lục dục với mục đích giúp
cho Adam có một “hồng nhan tri kỷ” để
đêm ngày thủ thỉ với nhau trong cảnh hoang vắng ở vườn Địa Đàng
(Eden). Cặp vợ chồng đất sét này
được tất cả các hệ phái Thiên Chúa Giáo gọi là ông bà tổ của loài
người (Đúng ra là ông bà tổ của tín đồ
Thiên Chúa Giáo thôi chứ! Goi cặp vợ chồng đất sét Adam-Eva là tổ loài
người là lộng ngôn nếu không muốn
nói là "hiếp dâm ngôn ngữ") Chương
3, đại ý của các lời 1, 2,3 ,4 và 5 nói là trong vườn "Rõ
ràng trong ngọc trắng ngà. Dầy
dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên”.(Nguyễn Du) Chiều
hôm đó, Đức Chúa Trời tới vườn (Thật
là khôi hài! Kinh Thánh nói rằng, "Thiên Chúa toàn năng và ở khắp mọi
nơi", mà tại sao cặp vợ chồng Adam-Eva núp ở trong một lùm cây, Thiên Chúa cũng
vẫn không nhìn thấy? Ở đây, chúng
ta thấy rõ là những người viết Thánh
Kinh đã để lòi cái đuôi nói láo và
ngu dốt ra cho mọi nhìn thấy. Chỉ cótrừ những tín đồ Gia-tô ngoan đạo, sống đạo theo đức tin Kitô.
Tại sao vây? Câu trả lời là vì cuồng tín quá hóa ra ngu xuẩn cho nên mới
không nhìn thấuy cái đuôi nói láo và nu dốt của tác giả câu chuyện
hoang đường này.) Sợ
quá, vợ chồng Adam - Eva lò dò bò ra khỏi lùm cây để trình diện. Bị
Chúa Cha Jehovah vặn hỏi, Adam và Eva ngay tình nói rõ hết tự sự. Thế là
Jehovah liền nổi cơn tam bành lục tặc,
rồi ban cho
con rắn một bản án, và cặp vợ chồng Adam-Eve, mỗi người một bản án. Sự kiện này được ghi rõ
nới Chương 3 trong sách Sáng Thế Ký với nguyên văn như sau: “3:14.- Đức Chúa Trời nói với con Rắn: “Vì
mày đã làm như vậy, mày sẽ bị cấm, không được đến gần (shall be banned from) các loài vật khác, suốt
đời mày sẽ phải bò lết bằng bụng, ăn bụi đât và ở trong đất.. 3:15.-
Chúa Trời nói với người đàn bà (Eve): Tao sẽ làm cho mày và phái nữ,
dòng dõi của nữ thù nghịch với nhau. Người chồng mày sẽ giầy đạp lên
đầu mày, còn mày sẽ cắn gót chân
chồng mày. 3:16.-
Đức Chúa Trời nói tiếp với người đàn bà: “Tao sẽ làm cho mày khổ
cực bội phần khi thai nghén, đau đớn
khi sanh con; ham muốn dục vọng phải xu hướng về người chồng và người
chồng mày sẽ là ông chủ của mày. 3:17.-
Đức Chúa Trời nói với người đàn ông (Adam): Vì rằng mày đã nghe theo lời vợ mày mà dám ăn “trái cấm”
mà ta đã dặn không nên ăn, đất sẽ bị rủa sả vì mày; trọn đời mày phải cực nhọc vật
lộn cả ngày với đất mới có ra hoa mầu cho mày ăn (In toil shall you eat
its yield all the days of your life). 3:18.-
Loài cỏ gai và những cây cúc gai sẽ mọc đầy ở nơi đồng ruộng của
mày. 3:19.-
Mảy sẽ phải làm việc cực nhọc đến đổ mồ hôi trán mới có miếng
ăn cho đến ngày mày trở về với đất vì rằng mày là cát bụi và phải
trở về với cát bụi.” [ii] Cái
tội của cô vợ Eva là đã xúi giục anh chồng Adam ăn trái cây hiểu biết
gọi là tội “ăn trái cấm” và cũng
là cái tội “không vâng lời” hay “bất tuân phục” Đức Chúa Cha (tức
là không tuân phục Bề Trên). Ngoài những
bản án dã man giáng lên đầu con rắn và cặp vợ chồng đất sét Adam
-Eva, Đức Chúa Cha Jehovah "toàn thiện" và "lòng lành vô
cùng" của các đạo Chúa còn giáng cho
con cháu đời đời của Adam và Eve một
bản án ba vạ hết sức là dã man mà Giáo Hội La Mã gọi là “Tội Tổ Tông”. (Ở
đây, chúng ta lại thấy cái đuôi nói láo và ngu dốt của tác giả câu
chuyện hoang đường này hay của Giáo Hội lòi ra cả mấy thước. Giáo Hội
thường hay cao rao và dạy dỗ tín đồ rằng "Thiên Chúa tòan thiện..."
Ây thế mà Thiên Chúa tòan thiện này
ác độc đến độ ban cho con rắn và
bà Eva bản án dã man như trên! Vấn đề
đặt ra là tác giả câu chuyên hoang đương này nói láo và ngu dốt hay
Giáo Hội La Mã nói láo và ngu dốt cho nên mới để xẩy ra tìonh trạng giấu
đầu hơ đuôi như vậy. Ở vào trường hợp nào đi nữa, chi có những kẻ
nhăm măt tin vào chuyện hoang đường
trên đây rồi nhắm mắt trở thành tín đồ của
Giáo Hội La Mã mới thực sự là những kẻ ngu xuẩn, nếu
không phải là hạng người lưu manh theo đạo để được thăng quan tiến
chức như bọn Hùynh Hữu Nghĩa, Đặng Văng Quang, Lâm Văn Phát, Nguyễn Văn
Thiệu, v.v... ) Trên
đây là nội dung của chuyện hoang đường về chuyện "Tội TổTông".
Không biết tín đồ đạo Do Thái có tin cái chuyện hoang đường này
không, hay là chỉ coi nó như là một huyền thọai giống như huyền thọai
"Con Rồng Cháu Tiên" của người Việt Nam, nghĩa là tin chỉ để mà
tin cho vui, giống như người Nhật tin rằng họ là con cháu của Thái Dương
Thần Nữ. Trong khi đó thì Giáo Hội La Mã lại biến cái chuyện hoang đường
này thành một tín lý căn bản và dạy
dỗ tín đồ phải tuyệt đối tin tưởng là
một chuyện có thật trăm phần trăm.( Chuyện này giống như tín lý ông Hà Bá ở khúc sông Chương
Hà (của sông Chương Thủy) tại đất
Nghiệp Đô ở Trung Hoa đòi hỏi người dân trong
vùng phải cưới vợ cho ông ta mỗi năm một lần). Kẻ nào không tin thì sẽ bị coi là "quân tà giáo", là "hạng người man di'," Nếu những
người bị coi là "tà giáo"
hay "man di" này ở dưới quyền thống trị của Giáo Hội
thi sẽ bị tóm cổ, trói vào cọc, chụm củi khô, rồi châm lửa thiếu sống
cho chết. (Chuyện này sẽ được nói rõ ở Chương 4). . Trong
Cựu Ước Kinh không phải chỉ có hai chuyện hoang đường như đã trình
bày ở trên, mà còn có hàng vạn chuyện khác cũng hết sức hoang đường
không kém gì chuyện ông tổ của lòai người được nặn ra bằng đất sét
và chuyện con rắn biết nói tiếng người lân la đến nói chuyện với bà
Eva như đã nói ở trên. Còn có cả rừng những
chuyện khác hết sức phi
lý trong đó có chuyện thằng Cain cưới vợ, và có cả chuyện lọan luân như chuyện hai cô con
gái của ông già Lót hè nhau phục rượu cho ông bố say mèn rồi luân
phiên đè bố ra làm tình, và cả hai
cô cùng mang thai và cùng để con. Dưới
đây là nội dung cúa hai chuyện quái đản này: 1.-
Chuyện thằng Cain cưới vợ.- Sách
Sáng Thế Ký viết: "1.- Adam ăn ở với Eva, là vợ mình; người thọ
thai sinh ra Cain và nói rằng: Nhờ Đức Jehovah giúp đỡ, tôi mới sinh được
một người . 2.- Eva lại sinh ra em Cain
Abel; Abel làm nghề chăn chiên, còn Cain thì làm nghề ruộng.... 17.- Đọan,
Cain ăn ở cùng vợ mình; nàng thọ thai và sinh được Enoch,..." (Sáng Thế Ký 4:1, 2 và 17) Chuyện
thằng Cain cưới vợ trên đây làm cho ngay cả một em bé vừa học xong bậc
tiểu học cũng phải cười bể bụng vì tình
trạng dốt nát và thiêu thông minh của tác giả viết chuyện này. Không cuời
bể bụng làm sao được?, Xã hội loài người lúc đó chỉ có hai vợ chồng Adam - Eva. Vợ chóng này mờo
sinh ra hai thằng con trai là Cain và Abel, tức
là tòan bộ cộng đòng nhân lọai lúc
bấy giờ chỉ có một người đàn bà là
bà Eva, và ba người đàn ông là Adam, Cain vad Abel. Rồ thằng Cain cưới vợ... Vậy thì cô gái
hay người đàn bà nào là vợ thằng
Cain? Chẳng lẽ nói cưới mẹ nó là bà Eva hay sao? Sự
kiện này chứng tỏ tác giả viết Thánh Kinh là người ít học và thiếu
thông minh, cho nên mới rơi vào tình trạng "phi lý"
như vậy. 2.-
Một chuyện lọan luân của hai cô con gái cưng của ông già "30.- Cả
hai chuyện thăng Cain cưới vợ và chuyện cha con ông già Như
đã trình bày ở trên, ông Thượng Đế Jehovah
siêu độc ác và cũng là một thứ siêu bạo chúa vượt lên
trên tất cả các bạo chúa trong lịch sử nhân lọai. Người Trung Hoa thường
nói, "Giang sơn dị cải, bản chất nan di". Tính cách độc ác của
ông Thượng Đế Jehovah là thứ độc ác của bản chất, nghĩa là nó đã
thấm vào trong từng nhiễm thể trong từng tế bào ở khắp toàn bộ cơ thể của ông ta. Cho nên trong
bất cứ lời nói, cử chí, thái độ và hành động nào của ông ta cũng
đều phóng ra cả một cơn giông tố độc ác cho những người bất hạnh
bị ông ta chiếu cố. Việc trừng phạt con rắn, trừng phạt vợ chồng
Adam -Eva và ban cho con cháu đời đời của cặp vợ chồng nguyên thủy của
loài người cái bản án "Tội Tổ Tông" là những bằng chứng hiển
nhiên cho sự kiện này.. Đạo
Do Thái chỉ có những tín lý trên và các tín lý khác ghi trong Cựu Ước
Kinh mà thôi.
Những
tín ly căn bản trong đạo Kitô Do Thái (Jewish Christianity) là những tín lý
căn bản của đạo Do Thái cộng thêm
tín lý về Chúa Cứu Thế và những
chuyện hoang đường khác ghi trong Tân
Ước. Một vài tín lý căn bản của đạo Do Thái đã được trình bày ở
trên. Dưới đây là tín lý về Chúa Cứu Thế. Tín
Lý về Chúa Cứu Thế: Chuyện rằng sau khi trừng phạt con cháu cặp
vợ chồng đất sét Adam - Eva mang cái
"Tội Tổ Tông" như trên, ông Thượng Đế Jehovah sai đứa con độc
nhất xuống thế (gian) chui vào lòng một
phụ nữ người Do Thái có tên là Maria, (sau đó trở thành vợ của một
người thợ mộc tên là Joseph), rồi chui
ra và được đặt tên là Jesus. Tới năm 33 tuổi, Jesus chiu chết để chuộc cho loài người cái
"Tội Tổ Tông" ba vạ trên đây. Điểm độc đáo trong câu
chuyện hoang đường này là tác giả có thòng một câu nói với chủ ý hù
dọa người đời. Câu nói hù dọa này đều được các nhà viết sử ghi
lại rõ ràng với nguyên văn như sau: "Tín
hữu Kitô thời nguyên thủy có một lý do đặc biệt về quan điểm trên
đây: Họ nghĩ rằng sắp tới ngày Chúa sẽ tái thế để phán xét loài người, ai tín Chúa thì
sẽ được Chúa cho lên Thiền Đàng, những người không tin Chúa và những
kẻ tội lỗi thì sẽ bị đầy xuống địa ngục. Quan niệm này đã khiến cho họ nghĩ rằng họ không phải
là người của thế gian này. Ngày tận thế
quả thật đã gần kề. " (The
first Christians had a specific reason for this: They thought there was very little time
left before Christ returned to Earth in his divine glory, gave a judgement about human
conduct, ended the existence world, and took his faithful believers to Heaven, condemning
the faithless and the sinners to eternal torment in “the Hell of the Damned.”
Consequently, Christians were to be in the world but not of the world. Apocalypse was at
hand." [iii] TrongTân
Ước, John 3: 18 cũng ghi rõ: "Ai tin ông
Jesus là Chúa Con sẽ không bị kết tội (được lên thiên đường); và ai
không tin ông ta là Chúa Con, đã bị kết tội, rồi sẽ bị đày đọa vĩnh viễn nơi hỏa ngục."
(Whoever believes in him will not be condemned, but whoever does not believe has already been condemned, because he has not
believed in the name of the only Son of God). Dưới
đây là những tình tiết của câu chuyện siêu hoang đường về Chúa Cứu
Thế của đạo Ki-tô: Chuyện
rằng, sau khi trừng phạt vợ chồng Adam-eve và con cháu đời đời của họ
bằng bản án không tiền kháng hậu như vậy, không biết có phải vì hối
hận hay không, ông Chúa Cha Jehovah độc ác này làm một chuyện vô cùng độc
ác khác nữa và cũng hết sức tiếu lâm
như sau: 1.-
Chúa Cha Jehovah sai người con trai độc nhất (không thấy nói đến Đức Chúa
Mẹ, và không biết làm thế nào ông ta sinh ra được ông Chúa con Jesus) đầu
thai xuống thế, (như đã nói trên) chui vào lòng một thiếu nữ Do Thái có
tên là Maria, rồi chui ra chào đời với cái tên là Jesus. Chuyện tiếu lâm
này được Giáo Hội La Mã dạy dỗ tín đồ rằng: "Ngài là Thiên Chúa hóa thân thành người"
(God in human form)". 2.-
Sau đó Jesus chịu chết để cứu chuộc cái
tội ba vạ mà chính ông (Chúa Cha) trước đó đã trừng phạt
ẩu tả bừa bãi (vô cùng phi pháp) lên đầu nhân lọai. Chuyện láo khoét
này được Giáo Hội ra rả rao truyền rằng:
"Ngài chịu chết để chuộc cái Tội Tổ
Tông của loài người". Ở đây, chúng ta thấy có nhiều điều khôi
hài: Ở
điểm này, người viết có hai thắc mắc Thứ nhất, là ngay từ khi vừa mới
chui ra từ trong lòng Ba Maria, ông Jesus
không chịu chết liền để cứu chuộc cái tội ba vạ trên đây, mà TẠI SAO lại
phải đợi tới hơn 30 năm sau, ông ta
mới chịu chết để chuộc cho loài người cái tội ba vạ bá
vơ này? Thứ hai, Ông Jesus chào đời hay đầu thai xuống thế vào năm 0 (Zêro) cách đây 2004 năm, và
lòai người đã xuất hiện trên trái đất này cả hàng mấy trăm ngàn năm
trước ông. Nếu câu chuyện này có thật, có hàng mấy trăm triệu (có thể
lên đến hàng tỉ) người sinh trước ông Je sus, trong đó có cả các ông
Abraham, Moses, Saul, David, Solomon, v.v.., làm sao họ có thể tin ông là Chúa Cứu
Thế để cho họ khỏi bị đày xuống địa ngục? Thực
ra, ngòai những người bất bình thường,
chẳng có ai mượn hay cầu khần van xin Ông Jesus chịu chết để chuộc cái
tội bá vơ này. Chỉ có tín đồ Gia-tô còn ở trong trạng thái của con người
trong thời bán khai mới tin được chuyện siêu hoang đường này. (Cũng nên
biết, theo quan niệm của dân Do Thái, người nào đã hy sinh thân xác của
mình để cứu dân độ thế thì được gọi là “Messiah”. Chữ “Messiah”
được chuyển sang tiếng Hy Lạp là “Christo”, sang tiếng Pháp và tiếng
Anh là “Christ”. Người Trung Hoa gọi là “Kitô” và người Việt 3.-
Sau khi chết được 100 ngày, Jesus bay lên trời bằng cả thân xác giống như
một con chim vỗ cánh tung bay lên thẳng lên trời, đến ngồi ở bên phải
ông Chua Cha Jehovah đôc ác ít lâu (không biết là nao nhiêu lâu), rồi sẽ
trở lại trái đất này để đưa ra những lời phán xét quái đản vừa
lưu manh và bịp bợm vừa nặng tính khủng bố tinh thần để hù dọa người
đời rằng "Ai tin ông Jesus là Chúa Cứu Thề thì đước cứu
sống và sẽ được đưa lên Thiên Đường, sống đời đời hưởng nhan
Chúa. Ai không tin ông Jesus là Chúa Cứu Thế thì đã bị kết tội đầy xuống hỏa ngục và không được
ông Jesus cứu rỗi." Nói
về ông Chúa Con Jesus và tín lý Chúa Cứu Thế
quái đản trên đây, Giáo-sư Trần Chung Ngọc viết trong bài khảo luận có nhan đề là "God Con" Từ Galilee [Giê-su] (The God From Galilee)" đăng
trong www.giaodiem.com
Tháng 4 năm 2004, trong đó có mấy đoạn với nguyên văn như sau: "Giê-su đặt căn bản giáo thuyết của mình
trên niềm tin là ngày Tận Thế đã gần tới, và ông ta sẽ trở lại để
thiết lập cái nước thiên đàng mà ông ta rao giảng. Chỉ trong Phúc Âm Matthew, Giê-su đã nói
lên điều này ít nhất là 6 lần. “Từ
đó, Giê-su bắt đầu giảng dạy: Hãy thống hối, vì nước thiên đàng đã
gần đến” (Mat. 4: 17). Những lời
này dập khuôn những lời của John the Baptist, mà nhiều người tin lầm là
Messiah (Mat. 3: 2)... "Giê-su
đã mô tả ngày tận thế trong nhiều trường hợp. Khi trở lại lần thứ hai (Second coming)
ông ta sẽ thiết lập một “nước của God Cha” cho người Do Thái
(establish the Jewish Và
Giê-su khẳng định:
“Ta quả quyết, thời đại này chưa chấm
dứt, các biến cố ấy đã xảy ra rồi” (Mat. 24:34). “Ta
quả quyết, thế hệ này chưa qua đi thì các biến cố đó đã xảy ra rồi”
(Mark 13:30) “Ta cho các con biết, một vài người đang đứng
đây sẽ còn sống cho đến khi nhìn thấy nước trời thiết lập với uy
quyền vĩ đại” (Mark 9: 1) [Đọc
những đoạn trên mà không cho rằng Giê-su điên thì chính người đọc điên. Rõ ràng là những lời trên phát xuất từ
một đầu óc bất bình thường, như chính mẹ và các em Giê-su đã nhận
định trong Tân Ước [out of his mind]. Thực
tế là, đã hai ngàn năm nay rồi, Giê-su vẫn biệt tăm, và ngày tái lâm của
ông ta vẫn là một ẩn số vĩ đại, nếu thực sự ông ta có thể tái
lâm khi thân thể đã rũa nát qua bao thế kỷ. Chuyện ông ta sống lại và
bay lên thiên đàng chỉ là những chuyện chỉ để cho trẻ con tin và ngày
nay cần phải dẹp bỏ, theo như nữ giáo sư thần học Ca Tô Giáo Rô Ma
Uta Ranke-Heinemann Giê-su
nói nhiều về sự phán xét và đầy đọa hỏa ngục vĩnh viễn để
gieo rắc sự sợ hãi như là động cơ cho niềm tin vào vai trò cứu
chuộc của ông ta cho một nhân loại tội lỗi, do đó, kết hợp sự sợ
hãi về một hình phạt vật chất với mặc cảm tội lỗi. Có phần nào mâu thuẫn khi tin rằng một sự
phán xét hành động của con người là cần thiết, vì một thông điệp của
Phúc âm là chỉ cần tin Giê-su là đấng cứu chuộc, đó là tất cả để
được cứu rỗi. (John 3: 16). [Đây cũng chính là câu Giáo Hoàng John Paul II
viện dẫn từ Tân Ước để trả lời mà không trả lời câu hỏi: “Tại
sao nhân loại cần đến sự cứu rỗi?” trong cuốn Bước Qua Ngưỡng
Cữa Hi Vọng, trang 76. TCN] Sự
phán xét như được viết trong Tân Ước thì tức thời, không có cuộc xử
án và xét đến những điều kiện xung quanh nội vụ, một hệ thống không
có luật nhân quyền, không có mức độ nặng nhẹ của tội lỗi hay trừng
phạt. Trên trái đất này, các ông
tòa thường cảm thấy đắn đo và khó khăn khi quyết định tuyên án làm
sao cho nó đúng luật, và những cuộc xử án lâu dài thường cần thiết
để xác định tội lỗi. Nhưng sự phán
xét của God Cha hay God Con thì ngay lập tức và khô khan: tội nhân đứng
trước ngai của ân huệ (throne of grace) không thể hi vọng vào lòng nhân từ
hay thương hại của một ông Cha trên trời: “Ai tin God Con sẽ không bị kết
tội (được lên thiên đường), ai không tin đã bị kết tội rồi (bị đày
đọa vĩnh viễn nơi hỏa ngục)” (John 3: 18). Giê-su
thường thốt ra những lời độc ác khó nghe đối với những người không
tin ông ta là cứu tinh của dân Do Thái hay là God Con, hay không có đủ đức
tin như ông ta mong muốn. Sau đây là
vài thí dụ: 1.-
Hỡi loài rắn, dòng dõi rắn lục kia, làm sao các ngươi có thể tránh khỏi
sự đầy đọa hỏa ngục. [Với những người Pharisees] (Matthew 23:33) 2..-
Hỡi dòng dõi không tin và gian tà kia, Ta sẽ
ở với các ngươi cho đến chừng nào? Ta sẽ chịu đựng các ngươi cho đến
chừng nào? [Với các đệ tử] (Matthew 17:17) 3.-
Hãy theo Ta, hãy để cho kẻ chết chôn kẻ chết [Với một người muốn chôn
cất cha trước khi đi theo Giê-su] (Matthew 8:22) 4.-Hỡi
dòng dõi rắn lục, bay vốn là loài xấu, làm sao nói được những lời tốt
lành [Với người Pharisees] (Matthew 12:34) 5.-
Dòng dõi gian dâm hung ác này.. [Với người Pharisees] (Matthew 12:39) 6.-
Nếu ai không tiếp rước, không nghe lời các ngươi, khi ra khỏi nhà đó,
hay thị trấn đó, hãy phủi bụi đã dính chân các ngươi. Quả thật, ta nói cùng các ngươi, đến ngày
phán xét, thì xứ 7.-
Người anh sẽ nộp em để cho bị giết đi, người cha sẽ nộp con để
cho bị giết đi, con cái sẽ nổi lên chống lại cha mẹ, và làm cho cha mẹ
bị chết [Nói về những bất hòa xảy ra trong gia đình gây ra bởi Ki Tô
Giáo] (Matthew 10:21) 8.-
Chớ tưởng rằng ta đến để đem sự bình an cho thế gian; ta đến, không
phải đem sự bình an mà là gươm giáo. Ta
đến để chia rẽ con trai với cha, con gái với mẹ, con dâu với mẹ chồng. Và kẻ thù của con người ở ngay trong nhà
hắn. [Đây là lời tiên tri duy nhất của Giê-su thực sự đã xảy ra] (Matthew
10:33-36) 9.-
Hãy đứng ra sau ta, Satan: ngươi là một sự xúc phạm đối với ta [Nói với
Phê-rô, người về sau chối Chúa ba lần, nhưng vẫn được chọn để kế
thừa sự nghiệp của Giê-su} (Matthew 16:23) 10.-
Nếu người nào không ở cùng ta, hãy ném nó đi như một cành cây khô, và
người ta sẽ nhặt nó ném vào lửa cho cháy rụi [Những lời này đã là
tiền đề cho Ki Tô Giáo thiêu sống những kẻ lạc đạo] (John 15:6) 11.-
Người đàn bà kia, ta với ngươi có mắc mớ
gì với nhau? [Nói với mẹ: Woman! What I have to do with thee. (John 2:4)] 12.-
Ai là mẹ ta? Ai là những em trai em gái ta? [Với các đệ tử khi được báo
tin là mẹ và các em chờ ở ngoài, muốn nói chuyện với Giê-su] (Matthew
12:48). [Trên
đây chỉ là một số nhỏ những lời điển hình khó nghe của Giê-su mà
bà Ruth Hermence Green trích dẫn từ Tân Ước để chứng tỏ tư cách con người
của Giê-su. Còn rất nhiều lời tương
tự rải rác trong Tân Ước. Cách duy
nhất để biết những lời độc ác khó nghe phát ra từ miệng Chúa là mở
cuốn Tân Ước ra đọc kỹ. Đã có
nhiều tác phẩm liệt kê hầu hết những lời này. TCN] Có
vẻ như Giê-su là một ông thầy giảng khá quyến rũ và hấp dẫn vì ông
ta đã thu hút được một số đông tín đồ, nam cũng như nữ. Nhưng khác xa với những thuộc tính khả
ái mà người ta thường gán cho Giê-su, ông ta thường tỏ ra độc đoán như
được viết trong Tân ước, với những thái độ không thể nào kết hợp
với một đấng thần linh đầy tình thương.
Đôi khi, ông ta cũng tỏ vẻ từ tốn, nhưng một sinh viên
nghiên cứu những thái độ của ông ta trong Tân Ước cũng có thể gán cho
Giê-su những thuộc tính sau đây: dễ
cáu kỉnh, nhẫn tâm, hống hách, ưa báo thù, hão huyền, cục cằn, nhầm lẫn,
dễ nổi nóng, tiền hậu bất nhất, tự mãn, đáng khinh bỉ (impatient, heartless, imperious, vengeful, vain,
rude, misinformed, quick-tempered, inconsistent, smug, and scornful.) Từ các Phúc Âm, người đọc có thể gán
cho ông ta bất cứ thuộc tính nào như trên mà mình muốn..."
[iv] VỀ
LỜI TUYÊN BỐ "AI TIN TA THÌ..." CỦA ÔNG JESUS Trước
khi ông Jesus chào đời, ở Đông Phương, Nho Giáo có lời dạy "Thuận Thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong"..
Chữ "thiên" ở đây có nghĩa là ông Trời. Ông Trời theo quan niệm
của người Đông Phương được coi như là một phán quan tối cao, một bậc
chí công vô tư, công minh chính đại, thẳng băng như mực Tầu, giống như
ông Bao Công đời nhà Tống ở Trung Hoa. Và "thuận thiên" là
"thuận theo đạoTrời" hay "xuôi theo lẽ Trời". Lời dạy
"Thuận Thiên giả tồn, nghịch thiên
giả vong" có nghĩa là thuận theo lẽ Trời hay đạo Trời thì sống,
và đi ngược với lẽ Trời là bơi ngược dòng lịch sử thì sẽ chết
hay bị diệt vong, giống như ông Trời đã trừng phạt cha con cháu chắt của
dòng họ Ngô Đình về tội ác ba đời nối tiếp nhau làm Việt gian bán nước
cho đế quốc Vatican, cho Pháp, cho Nhật và cho siêu cường Hoa Kỳ như người
viết đã trình bày trong cuốn Nhìn Lại Biến Cố 11/11/1960 (Houston, TX: Văn
Hóa, 1997) nơi các trang 112-3 và 119-20: Cũng
theo quân niệm của Nho giáo, "Đạo Trời"
hay "lẽ Trời" là những lời dạy
người đời "phải hành xử sao cho vừa
mắt ta ra mắt người" (Ký sở bất dục, vật thi ư nhân". Triết
lý của lời dạy này phải được hiểu rõ ràng là "không đươc đòi hỏi hay cưỡng bách những
người khác phải làm hay chấp nhận những điều hay những vỉệc làm mà
nếu chính mình ở vào địa vị bị cưỡng bách như vậy mình cũng phản
kháng quyết liệt." Ngòai ra, Nho Giáo còn có cả mấy pho sách chứa
đựng những lời dạy thánh thiện
với hy vọng nếu tất cả mọi người đều nghe theo cả thì xã hội lòai người sẽ không còn những hạng
người xấu xa đê tiện, hung hãn, háo chiến, háo thăng, háo sát, khát
máu, đòi chém giết những người khác
tốn giáo, như chúng ta đã từng thấy ở Âu Châu và ở những nơi nào có
những tín đồ của Giáo Hội nhẩy lên bàn độc thao túng chính quyền. Dưới
đây là một vài lời dạy thánh thiện
trong những pho sách Nho Giáo. Không
được ỷ thế (dựa vào thế mạnh) hay dựa vào quyền lực của nhà nước
để áp bức, bóc lột hay hà hiếp những
người lép vế thế cô. Phải
biết khiêm cung, không được cao ngạo, không được tư phong hay tự coi mình
hay phe cánh của mình là đệ nhất thiên hạ vì rằng "cao nhân tất hữu cao nhân trị",
"Thiên hữu ngọai thiên, sơn hữu ngọai
sơn"; Phải
biết tu tâm dưỡng tính sửa mình sao cho lòng ngay thẳng, ngay thẳng với
chính mình và ngay thẳng với mọi người; Làm
việc gì cũng phải trông cậy vào chính mình mà không được ỷ lại hay
trông nhờ vào người khác; Không
được quay quắt, lặt léo lươn lẹo; không được mưu mô tính toán tìm
đủ mọi phương cách mánh mung để lấn chiếm, vơ vào chiếm cho được
phần hơn để thỏa mãn lòng tham lam ích kỷ của mình mà bất cần đến danh dự, quyền lợi và
sinh mạng của người khác. Phải
biết khoan dung độ lượng, rộng lòng tha thứ cho những lỗi làm của kẻ
khác vì rằng "nhân vô thập toàn"
và "thánh nhân còn có khi lầm".
Không
được sinh lòng dố kị, tị hiềm, ganh ghét rồi tìm cách hãm hại những
người khác vì rằng làm như vây là làm những việc độc ác tất nhiên sẽ
bị quả báo,"tích ác phùng ác",
v,v... Người
nào hành xử đúng như những lời dạy trên đây thì được gọi là chính
nhân quân tử và sẽ được mọi người
nể vì và kính trọng. Người chính nhân quân tử ngẩng mặt lên không thẹn
với Trời, cúi mặt xuổng không xấu hổ với đât, ngó thẳng vào mặt mọi
người mà lòng phơi phới hiên ngang, và khi hồi tuởng những việc mình đã
làm không cảm thấy phải ngượng với
lương tâm. Đọc
những lời dạy trong Nho Giáo, chúng ta sẽ không tìm thấy được một câu
chuyện nào hoang đường quái đản như những
tín lý trong hệ thống thần học của đạo Kitô, và cũng không
tìm thấy có một "Nho luật" nào năng tính cách chuyên đoán, hà khắc
với chủ ý làm phương tiện cho giai cấp thông trị và giáo sĩ để áp bức,
hàp hiếp và bóc lột nhân dân, giống như những giáo luật trong đạo Kitô La Mã. . Sau
này, lời nói "thuận thiên giả tồn,
nghịch Thiên giả vong" được
bọn tướng cướp và bạo chúa sửa lại thành "Theo ta thì sống, chống ta hay không tin theo ta
thì chết" Người
viết không biết lời nói "Ai tin ông
Jesus là Chúa Cứu Thề thì đước cứu sống và sẽ được đưa lên Thiên
Đường, sống đời đời hưởng nhan Chúa. Ai không tin ông Jesus là Chúa Cứu
Thế thì sẽ bi đầy xuống hỏa ngục."
nên hiểu như lời nói "thuận Thiên
giả tồn, nghịch thiên giả vong" của Nho giáo hay nên hiểu như lời nói
"Theo ta thì sống, chống
ta hay không tin theo ta thì chết" của bọn tướng cướp và bạo
Chúa trong xã hội loài người? Câu trả lời xin nhường cho độc giả. Vấn
đề được đặt ra là, Giáo HộiLa
Mã thường dạy rằng Chúa Kitô (Jesus)
"hiền lành, giầu lòng bác ái và lòng lành vô cùng". Vậy thì TẠI SAO Chúa lại nỡ để cho người ta bị đày đọa xuống hỏa ngục chỉ vì người
ta không tin ông Jesus là Chúa Cứu Thế?.
Nếu
sự đời xẩy ra đúng như lời phán xét trên đây thì ông Jesus không những
đã không có một chút gì được gọi là bác ái hay nhân đạo, mà còn là
hạng người vô cùng bạo ngược và cực kỳ dã man, không kém gì ông
Chúa Cha Jehovah. Chỉ vì không tin ông
ta là Chúa Cứu Thế mà ông ta nỡ để cho nạn nhân phải bị đày xuống
hỏa ngục thì có phải là độc ác đến
cùng độ của độc ác và dã man đến cùng độ của dã man hay không? Như
vậy là ông Jesus đã dùng bạo lực để hù dọa hay khủng bố những người
KHÔNG TIN những điều nói láo của ông ta. Như thế thì làm sao có thể gọi ông ta là toàn thiện
được? Đây cũng là một trường hợp
"nói láo lòi đuôi ra". Ông Chúa Cha Jehovah và Chúa Con Jesus của Giáo Hội
độc ác và dã man như vậy mà Giáo Hội vẫn cứ bô bô rêu rao rằng, "Thiên Chúa lòng lành vô cùng" ,
:"Thiên Chúa Toàn Năng, Toàn Thiện...".
Cái miệng của Giáo Hội La Mã quả thật là trơ trẽn, lươn lẹo và bịp
bợm! Tính cách bịp bợm này được ông Charlie Nguyễn ghi lại như sau: “Trong
tác phẩm “The Jesus Connection” (The Crossroad Publishing Co., xuất bản năm
1985), học giả Do Thái Leonard Yassen viết:
“Jesus đã chết với tư cách không phải là Chúa Kitô mà Ngài đã chết với
tư cách là một công dân Do Thái. Ngài không hề biết danh từ Kitô là gì
và Ngài cũng không hề nghĩ rằng mình là nhà sáng lập một đạo mới, tách
rời khỏi đạo Do Thái là đạo của Ngài”. (Jesus died not as a Christian but
as a Jew. He had never heard the world Christianity and he had no idea he could be called
the founder of a separatist religion from his Judaism). Theo ông, người lập đạo
Kitô chính là Paul (thánh Phaolô) và St. Ausgustine.
Đây cũng là nhận xét chung của hầu hết các nhà nghiên cứu
đạo Kitô có quan điểm khách quan vô tư trên phương diện lịch sử. Augustine
là người đã làm cho khoa thần học của Phao Lô có thêm tính cách mới,
đó là tính cách triết học. Augustine thực chất là một triết gia,. Ông
chịu ảnh hưởng nặng nề của nền văn hóa Hy Lạp. Ông nghiên cứu sâu
sắc các triết thuyết của các tôn giáo khác như Ấn Độ Giáo, Phật
Giáo và Điều
khôi hài trong Tân Ước lại có chuyện ông Chúa Con Jesus dạy người ta làm
chuyện đại nghịch bất đạo. Dưới đây là ngyên văn câu chuyện này: "Christ Brings Divisions: 34.- "Do not think that I came to bring peace on earth. I did
not come to bring peace but a sword" (Chớ tưởng rằng ta đến để đem sự
bình an cho thế gia; ta đến, không phải đem sự bình an, màlà đem gươm dáo).
35.- For I have come to "set a man against his father, a daughter against her mother, and a daughter-in-law against her
mother-in law." (Ta đến để con trai chống lại bố, con gái chống lại
mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng);. 36.-"And a man's foes will be those of
his own household," và làm cho những người trong cùng một gia đình trở
thành thù nghịch với nhau).. 37.- He who
loves father or mother more than Me is not worthy of Me. And he who loves son or daughter more than Me is not worthy of
Me." (Kẻ nào yêu cha mẹ hơn Ta thì không đáng cho Ta. Kẻ nào yêu con
trai hay là con gái hơn ta thì cũng không đáng cho ta. 38.- And he who does not
take his cross and follow Me is not worthy of Me." (Kẻ nảo không vác cây thậy
tự đi theo Ta, thì cũng đáng cho Ta.."
(Mattiew, 10"34-38) Luke
(14:26) "Nếu kẻ nào đến với ta mà
không căm ghét cha mẹ, vợ con, anh chị em và ngay cả đời sống của hắn,
thì hắn không thể là môn đồ của ta." Nói
rằng, "Ta đến đây để cho con trai chống
lại bố, con gái chống lại mẹ,..." và ""Nếu kẻ nào đến với ta mà không căm ghét
cha mẹ, vợ con, anh chị em .." có nghĩa là dạy cho người đời làm
chuyện đạị nghịch bất, có phải không các vị chức sắc trong hệ thống
quyền lực của Giáo Hội La Mã? Không
những thế, lại còn có chuyện chính bản thân ông Jesus nêu gương làm
chuyện đại nghịch bất đạo. Xin mời quý vị theo dõi hai chuyện dưới
đây:: 1.-
"Water
Turned to Wine": 2:1.- On the third day there was a wedding in Cana of 2.-
Jesus' Mother anf Brothers Send for Him: (Matthiew,
12:46-50) 12:46 - While He was speaking
ti the crowds, his mother and his brothers appeared outside,
wishing to speak with him. Jesus đang nói chuyện với dân chúng thì thân mẫu
và anh em của ông đứng ở ngoài, muốn nói chuyện với ông). 12:47 Somwone
ttold him, "Your mother and your brothers are standing outside, asking to speak with
You." (Có người đến cho ông hay là thân mẫu và anh em của ông đang
chờ ở ngòai và mong được nói chuyện với ông). 12:48.- But he said in reply
to the one who told him,."Who is my mother and who are my brothers?" (Nhựng
Jesus lại hỏi lại người này rằng, "Ai là mẹ Ta, và ai là anh em của
Ta?) . 12:49.- And stretching out his hand toward his disciples and said, "Here are
my mother and my brothers" (Rồi Jesus vươn tay ra về phía các môn đệ và
nói, "Đây là mẹ Ta và các anh em của Ta.". 12:50 "For whoever
does the will of my heavenly Father is my brother and sister and mother." (Vì rằng
hễ người nào làm theoi ý muốn của Cha Ta ở trên thiên đàng thì người
đó là anh em, chị em của Ta và là mẹ Ta). (Matthiew, 12:45-50) Theo
quan niệm đạo lý Đông Phương, cung cách hành xử và thái độ của Jesus
đối với thân mẫu của ông ta qua những lời nói với môn đệ của ông ta cho thấy rằng hoặc
là ông ta là người bất bình thường, điên diên khùng khùng, hoặc là
ông ta là một đứa con đại nghịch bất đạo. Ngoài những chuyện dạy đời và nêu gương làm
chuyện đại nghịch bất đạo như trên, các
tác giả Tân Ước còn bịa đặt ra cả hàng rừng chuyện hoang
đường khác để tô vẽ quyền năng và
thánh hóa ông Chúa Con Jesus, nhưng vì
thánh hóa quá lố cho nên mới trở
thành lố bịch và trơ trẽn. Cũng vì
thế mà có khá nhiều chuyện, tác giả đã để lòi cái đặc tính "huênh hoang khóac lác" trong đó
có "ý đồ" vừa bịp bợm
vừa hù dọa hoặc khủng
bố . Những chuyện hoang đường này đều có nội dung với những
tình tiết chỉ có thể thích hợp với người dân trong
thời bán khai ở nước Do Thái cách đây hơn hai ngàn năm.. Dưới đây
là 2 chuyện điển hình nói láo không tiền khoáng hậu với mục đích lòe
đời và lừa gạt tín đồ: 1-
Chuyện Chúa Jesus hóa phép năm cái
bánh và hai con cá thành một khối lượng
bánh và cá nhiều đến nỗi cả hơn 5 (năm) ngàn người ăn không hết:
Chuyện như sau: "15.- Buổi chiều tối, môn đồ tới gần Ngài
mà thưa rằng: Ở đây vắng vẻ, và trời tối rồi, xin thầy cho dân
chúng về, để họ đi vào các làng đặng mua đồ ăn. 16,- Đức Chúa Jesus
phán rằng: Không cần họ phải đi; chính các ngươi hãy cho họ ăn. 17- Môn
đồ thưa rằng: Chúng tôi có đây năm cái bánh và hai con cá mà thôi. 18.-
Ngài phán rằng: Hãy đem đây cho ta. 19.- Ngài bèn truyền cho chúng ngồi xuống
trên cỏ, đoạn, lấy năm cái bánh và hai con cá đó, ngửa mặt lên trời
và tạ ơn; rồi bẻ bánh ra đưa cho môn đồ, môn đồ phát cho dân chúng.
20.- Ai nấy đều ăn no, còn bánh thừa lại thâu được đầy 12 giỏ. 21.-
Số người ăn ước chừng năm ngàn, không kể đàn bà con nít."
(Matthiew 14:15-21) 2.-
Chuyên Chúa Jesus hóa phép làm cho cây vả (sung) khô héo:
Chuyện này khá độc đáo, xin quý vị theo dõi:
Chuyên như sau: "18.- Sáng mai, khi trở lại thành thì Ngài đói.
19.- Thấy một cây vả ở bên đường, Ngài bèn lại gần, song chỉ thấy
những lá mà thôi, thì Ngài phán rằng: Mày chảng khi nào sinh ra trái nữa! Cây vả tức thi khô (héo) đi..
20.- Môn đồ thấy đều (điều) đó, lấy làm kỳ, nói rằng: Cớ sao trong
giây phút mà cây vả liền khô đi vậy? 21.- Đức Chúa Jesus đáp rằng: Quả
thật, ta nói cùng các ngươi, nếu các ngươi có đức tin, và không nghi ngờ
chi hết thì chẳng những các ngươi làm được điều đã làm cho cây vả
mà thôi, song dầu các ngươi biểu hòn núi này rằng: Hãy cất mình lên và
quăng xuống biển, điều đó cũng sẽ làm được. 24.- Trong khi cầu nguyện
các người hãy lấy đức tin xin việc gì bất kỳ, thẳy đều được."
(Matthiew 21: 18-24) Đọc
qua hai chuyện này, những người có lý trí không thể nhịn cười
được vì nó vừa hết sức tiếu lâm
vừa hàm chứa ý đồ bịp bợm một cách quá trơ trén và hết sức trắng
trợn: Thứ
nhất.-
Trong chuyện 1 cho ta thấy rằng ông Chúa Jesus có khả năng biến hóa năm cái
bánh và hai con cá cho hơn năm ngàn người ăn mà vẫn còn thừa tới 12 giỏ
bánh, nhưng tới chuyện 2 lại cho thấy i ông ta lại bất lực không thể biến hóa ra thức ăn
để mà ăn, và bất lực không thể làm cho cây vả (sung) có trái cho ông
ta ăn đỡ khi đói lòng. Thư
hai.-
Giáo Hội thường rao truyền rằng Chúa Jesus
"toàn thiện" và
"lòng lành vô cùng", trong khi đó
thì Tân Ước lại mô tả ông Chúa này độc ác đến độ làm cho cây sung (vả)
khô héo đi mà chết chỉ vì nó không có trái vào khi ông ta đi qua trong lúc
đói lòng. Cây sung không có tội gì cả mà ông cũng ban cho nó bản án tử hình. Như vậy thì
hành động của ông còn tàn ngược hơn cả những hành động của bất kỳ
một bạo chúa nào trong lịch sử nhân loại. Tâm địa của ông độc ác
quá đi! Đây là cái tâm địa "không
được ăn thì đạp đổ". Nếu
ông để cho cây sung sống, thi tới thời điểm thích hợp (tới mùa), nó sẽ
ra trái để cho những người khác ở
trong vùng sử dụng. Cái tâm địa độc ác "không được ăn thì đạp đổ"
này đang được cái thế lực mà văn
hào Voltaire gọi là "cái tôn giáo ác
ôn" đang rung tiếng chuông cho đàn chó Pavlov người Việt thi hành
đối với tổ quốc và chính quyền Việt Nêu
Chúa Jesus thực sự độc ác như Tân Ước đã mô tả như trên thì rõ ràng là Giáo Hội La Mã đã
nói láo, đã biến hóa ông Jesus cực kỳ độc ác
thành một ông Jesus "toàn thiện" và "lòng lành vô
cùng". Thực
ra, các tác giả viết về ông Jesus đều tưởng tượng rồi phóng ngôn
thêu dệt ra không biết bao nhiêu chuyện láo để
thần thánh hóa ông ta như một đáng thầnh linh đầy quyền
năng và cũng là để lòe đời. Còn Giáo Hội La Mã thi sao? Xin thưa rằng, thành tích nói láo của Giáo Hội trùng trùng như sóng đại dương và cao chất nhất như đỉnh núi Thái Sơn! Cũng vì t |