
posted: 5.11.04
MỘT
SỐ NHỮNG TÍN LÝ, GIÁO LUẬT VÀ NGUYÊN
TẮC DO CHÍNH GIÁO HỘI BỊA ĐẶT THÊM Nguyễn
Mạnh Quang Sau
khi lôi kéo được Giáo Hội Ki-tô đi theo chính quyền, Hoàng Đế "Thiên
Chúa Giáo được tăng cường băng một tín điều chung. Vì ông Jesus không để lại bản văn viết nào
về tín lý cho nên mới có những tranh luận giữa các tín đồ về niềm
tin Ki-tô. Để giải quyết vấn đề này, năm 325, Hòang Đế Đây
là lần đầu tiên Giáo Hội La Mã trực
tiếp liên hệ đến việc bịa đặt ra tín lý Chúa Ba Ngôi và chọn 27 cuốn
sách được biên soạn sau khi ông Jesus chết gom lại gọi là Tân Ước. Dĩ
nhiên là trong 27 cuốn sách này có quá nhiều điều được bịa đặt. Việc
làm bất chính này khiến cho các bậc trí giả khắp nơi trên thế giới phải
sinh nghi, rồi họ bàn nhau thành lập một tổ chức điều nghiên xem tỷ lệ
bịa đặt ở trong Tân Ước chiếm tới bao nhiêu phàn trăm. Sau khi được
thành lập và sau nhiều năm miệt mài làm việc, tổ chức này đã tìm ra tỷ
lệ những chuyện bịa đặt trong những cuốn sách này (trong Tân Ước) chiếm
tới trên 82 phần trăm (82%). (Xin xem lại ở Chương 3). Việc
chíinh quyền Đế Quốc cùng Giáo Hội đàn áp và tàn sát những người chống đối tín điều Nicene (Tín điều Chúa
Ba Ngôi), học giả Charlie Nguyễn viết trong bài viết Góp Ý Với Quý Vị
Trí Thức Ngòai Công Giáo đăng trong www.giaodiem.com tháng 7/2004 như
sau: "Trong 3 thế kỷ đầu Công Nguyên, Ki-tô Giáo
không có nhà thờ mà chỉ có phòng hội (synagogue), không biết Thiên Chúa
Ba Ngôi là gì, không thờ ảnh tượng, không tin và không thờ bà Maria đồng
trinh. Thậm chí họ cũng không thờ Jesus mà chỉ coi ngài như một bậc thầy
khôn ngoan mà thôi, do đó không có thánh lễ Misa, không có phép Mình Thánh
Chúa.. Cuối thế kỷ 3, vị giám mục nổi tiếng nhất thời đó là Arius,
người Hy Lạp, đã sáng tác ra những bài thơ tóm tắt giáo lý của Ki-tô
Giáo nguyên thủy: "Thiên Chúa là đấng duy nhất không được sinh ra bởi
ai, đấng duy nhất vĩnh cửu, duy nhất thật, duy nhất khôn ngoan. Jesus là một
tạo vật giống như chúng ta". Năm 325, Arius cũng được Sách
Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm nói rõ con số nạn nhân bị Giáo Hội La Mã sát hại trong vụ tín
lý Chúa Ba Ngôi với nguyên văn như sau: "Năm
340, Đế Quốc La Mã tiêu diệt hết các giáo phái Kitô đi ngược lại các
giáo điều của Hội Nghị Nicaea do Hòang Đế Constantine triệu tập vào năm
325 và chính thức đặt tên cho Giáo Hội Kitô
mới của toàn đế quốc là Công Giáo (tiếng La-tinh là Catholica, tiếng Hy Lạp là
Katholicos, có nghĩa là tôn giáo của hoàn câu). Saint Cyril of Đây
là lần đầu tiên Giáo Hội La Mã liên hệ trực
tiếp đến việc sử dụng bạo lực khủng bố những người đồng đạo
không đồng ý về việc Giáo Hội bịa đặt ra tín điều Chúa Ba Ngôi. Kể
từ đây Giáo Hội liên tục bịa đặt thêm nhiều tín lý khác nữa và tiếp
tục sử dụng bạo lực tàn sát tín đồ còn nghi ngờ những tín điều do
Giáo Hội bịa đặt ra. Trên đà hăng say, dựa những tín điều ghi trong các
sách Leviticus (26:1-18), sách Phục Luật (12:2-3, 13: 6-9), Dân Số
(25:3-5) , Giáo Hội liên tục
dùng bạo lực để hủy diệt các tôn giáo khác và sát hại những thành
phấn không chịu khuất phục Giáo Hội bằng những chiến dịch "làm sáng danh Chúa" trong "kế hoạch Kitô Hóa" các dân tộc
thuộc các tôn giáo khác bị chinh phục. MỘT
SỐ NIÊN BIỂU HÀNH ĐỘNG TỘI ÁC CỦA
GIÁO HỘI LA MÃ Dưới
đây là một số niên biểu của một
số những hành động tiếm danh, tiếm quyền, bịa đặt ra những tín lý
và công khai hóa việc sử dụng bạo lực
để theo đuổi chính sách đế quốc nhằm thống trị tòan cầu và nô lệ
hóa nhân lọai của Giáo Hội La Mã. 1.-
Năm 325:
Tín điều Chúa Ba Ngôi được Giáo Hội cho ra đời tại Hội
Nghị Nicaea. Hội nghị này do Hoàng Đế 2.
-
Năm 383: Chính quyền Đế Quốc La Mã
và Giáo Hội chính thức sử dụng chữ "Catholíc" và sử dụng danh xưng "The Roman Catholic Church" với dã tâm tự
phong là tôn giáo của toàn cầu. Sư kiện này được sách Công Giáo: Huyền
Thoại Và Tội Ác ghi nhận như sau: "Năm 383, triều đại con cháu của 3.-
Năm 395:
Đúng 70 năm sau Hội Nghị Nicaea, năm 395, và 12 năm sau sử dụng chữ "Catholic" và "The
Roman Catholic Church", Hoàng Đế Theodosius (379-395) chính thức ban hành sắc lệnh đưa đạo Ki Tô La Mã lên hàng quốc giáo
trong đế quốc La Mã. Như vậy là kể từ đây chính quyền đế quốc và
Giáo Hội La Mã chính thức cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải sử dụng từ ngữ “catholicism” (công giáo) và phải theo
đạo Kitô mà chính quyền cho là “quốc giáo”.
Thâm ý của chính quyền đế
quốc và Giáo Hội La Mã trong việc sử dụng từ Catholic là muốn công khai
hóa cho thiên hạ biết rằng đạo Ki-tô
là tôn giáo của “toàn thể” (nhân
loại), chứ không phải chỉ giới hạn chật hẹp trong một phạm vi địa
phương nào đó. Cũng từ đó, danh xưng "Giáo Hội Do Thái" phải
lui vào trong bóng tối và biến mất dần theo số phận của phe bảo thủ
trong đạo Kitô Do Thái. [Phe bảo thủ đối nghịch với phe xu thời trở cờ
theo chính quyền của giáo chủ Sylvester I (314-335)]. "Được
đằng chân lân đằng đầu".
Tự phong là tôn giáo chính thức của toàn thể đế quốc La Mã bằng danh
xưng "Catholicism" cũng vẫn chưa thỏa mãn lòng háo danh và tham quyền
của các nhà lãnh đạo chính quyền Đế Quốc La Mã và Tòa Thánh "Ở
đây chúng tôi thấy cần phải xác định rõ rệt vấn đề phân biệt các
danh từ Thiên Chúa Giáo, Công Giáo, Kitô Giáo, Gia-tô Giáo. Trên bình diện
thế giới hay là quốc tế, khi nói hoặc viết: Thiên Chúa Giáo đó chứng
tỏ gồm có cả Công Giáo, cả Kitô Giáo. Nếu nói hoặc chỉ viết nguyên Công Giáo mà
thôi, thì đó phải hiểu và bắt buộc phải hiểu chứ không thể hiểu
khác đi được rằng: đó chính là Giáo Hội La Mã mà Đức Giáo Hoàng là
vị lãnh đạo tinh thần tối cao của toàn thể Thế Giới Công Giáo. Riêng
tại Việt Nam kể từ năm 1533 cho đến năm 1954 khi mà các danh từ Thần
Học và Kinh Thánh chưa được Hàn Lâm Viện Hóa, nói một cách khác chưa
được Đại Chủng Viện thuần túy Việt Nam dịch thuật các sách giáo
khoa và Phụng Vụ cũng như Kinh Thánh các danh từ như Thiên Chúa Giáo hoặc
Gia-tô Giáo trong các sách vở lịch sử hay "Nhà Đạo" vẫn được
hiểu một cách chung là Đạo Công Giáo, vì lẽ khi đó chưa có đạo Tin Lành
(sic) trên đất nước Việt Nam và
các nhà truyền giáo cũng chỉ nguyên thuộc Hội Truyền Giáo Thừa Sai Ba
Lê (MEP) mà thôi. Kể từ năm 1954 về sau khi mà đã có Đại Chủng
Viện Việt Nam chuyên môn dịch các sách Kinh Đạo Thần (Kinh Thánh, Đạo
Đức và Thần Học), lúc ấy mới có sự phân biệt rõ rết "công
Giáo" (Catholic) bắt nguồn tư Kinh Tin Kính "Tôi tin có Hội Thánh
duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền". (Sách lễ giáo dân sở di trú và tị nạn
USCC. Hoa Thịnh Đốn. trang 1370). Vậy kể từ năm 1954 về sau các
sách vở Việt Nam, nếu muốn trực chỉ nguyên Giáo Hội La Mã hoặc
Vatican, thì bắt buộc phải dùng danh từ Công
Giáo (Catholic), chứ không thể nào dùng danh từ Thiên Chúa Giáo hoặc
Gia-tô hoặc Kitô được. Nếu dùng danh
từ Thiên Chúa Giáo, hoặc Gia-tô hoặc
Kitô thì nó không còn là thuần túy La Mã hay Bản
văn trên đây chứng tỏ Giáo Hội La Mã đã dựa vào chính quyền tay sai
Ngô Đình Diệm với những phương tiện
của nhà nước như truyền thông (đài
phát thanh, báo chi và các phẩm khác) sách giáo khoa trong học đường và văn
thư hành chánh để hợp thức hóa và đại chúng hóa danh xưng "công gíao" mà từ năm 1954 trở về
trước dân ta vẫn thường gọi là đạo Cơ Đốc, đạo Kitô, đạoThiên
Chúa hay đạo Gia-tô. Đây là một trong muôn ngàn thủ đọan lưu manh của
Giáo Hội La Mã và chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm. 4.-
Năm 426: Giáo Hội bịa đặt ra thuyết
lý nước Trời để làm bánh vẽ lừa gạt tín đồ. Sách Living World
History nói về chuyện bịa đặt ra nước trời như sau: "Năm 426,
một vị giáo phụ khác (another of the Church Fathers)
của Giáo Hội là thánh Augustine địa phận Hippo ở châu Phi
hoàn thành cuốn Đô Thị của Thiên Chúa. Cuốn sách này quy định rất nhiều
cho nền tảng thần học Kitô La Mã".(In 426, another of the Church
Fathers, St Augustine of Hippo in Africa, finished The City of God book provided much of the foundation of Christian
theology.) [vi]
Nội
dung cuốn City of God đưa ra chủ
thuyết thần quyền (tôn giáo) chỉ đạo thế
quyền (chính quyền) và tôn giáo (có nghĩa là Giáo Hội La Mã được
hình dung là City of God (Đô Thị Thiên Chúa), một nơi thánh thiện và hằng
cửu, và các địa phương là Đô Thị Trần Gian (cõi tạm đầy tội lỗi)
. Nhận xét về thuyết lý ngược ngạo
này, Giáo -sư Lý Chánh Trung đưa ra nhận xét như sau: "Xét
trên bình diện chính trị, điều nghịch là cơ quan đầu não của Giáo
Hội (được hiểu lad Đô Thị Thiên Chúa) là một quốc gia theo chế độ
quân chủ chuyên chế, một quốc gia tí hon chỉ gồm vài chục mẫu đất và
vài trăm dân, nhưng có đầy đủ tư cách của một quốc gia độc lập và
có một thế lực đáng sợ... Xét
trên khía cạnh tôn giáo, Giáo Hội là một toàn thể như dân tộc, nhưng
một toàn thể đã đạt đến mức độ hoàn hảo vì nó tự ý thức như một
cơ thể duy nhất: Giáo Hội là "huyền thể" (corps mystique) của Đức
Kitô, nghĩa là sự hiệp nhất giữa các tín đồ có tính cách khắng khít
như giữa các tế bào trong cơ thể. Theo
đạo Công Giáo không phải chỉ là nhận Sự Thật Phúc Âm, tuân hành lời
dạy của Đức Kitô, mà cốt yếu là gia nhập cộng đồng đức tin là
Giáo Hội, vì Sự Thật của Phúc Âm chỉ được bộc lộ toàn diện và
chín chắn trong Giáo Hội, đại diện duy nhất của Đức Kitô trong trần
thế, vì sự thể hiện lời dạy của Đức Kitô đòi hỏi sự hiệp nhất
với Ngài, mà sự hiệp nhất này chỉ được thực hiện trong Giáo Hội
qua các phép bí tích. Chịu phép rửa tội không phải chỉ là được
"tái sinh", trở thành một "con người mới" theo nghĩa đạo
đức cá nhân, mà còn là gia nhập một dân tộc, mang một "quốc tịch" mới, trở thành công dân của "đô thị Thiên
Chúa" (City of God)" theo lời Thánh Augustin" Giống
như dân Do-thái xưa kia, Giáo Hội cũng tự xem là
dân tộc được chọn lựa, nhưng một dân tộc "siêu dân tộc",
hành trình trong thời gian để tiến về vĩnh cửu, với cái sứ mạng rao
giảng "tin mừng" cho toàn thể nhân loại, giải thoát nhân loại
thoát khỏi gông cùm tội lỗi và đưa nhân loại về với Thiên Chúa. Cho
nên Giáo Hội trong trần gian là một Giáo Hội chiến đấu (Église
militante) và chiến đấu không ngừng cho đến ngày tận thế, nghĩa là
ngày hoàn tất lịch sử, nhưng chiến đấu với những võ khí tinh thần như
Thánh Phaolồ đã mô tả người chiến sĩ của Đức Kitô: "thắt
giây lưng chân lý, mặc áo giáp công bằng, mang lá thuẫn đức tin, đội
mũ cứu rỗi và cầm gươm tinh thần, tức là lời Chúa, vì đối tượng
duy nhất là tội lỗi của trần gian Tóm
lại, cũng như dân tộc, Giáo Hội là "Mẹ và Thầy": dân tộc đã
sinh ra tôi và cho tôi một chỗ đứng trong "đô thị trần gian" (Tổ
Quốc Việt Đối
với Giáo Hội, đô thị trần gian (quê hương đất nước) tự nó không phải
là xấu: nó là một tổ chức cần thiết cho sự sinh tồn của con người
trên cõi quê hương tạm bợ này. Nó chỉ trở nên xấu khi nó tự xem là một
cứu cánh tự tại, khi nó đóng kín trong một ý thức tự mãn. Khi đó nó
trở thành "đô thị của Satan". "Xã
hội loài người, khi tự xưng là cái Tuyệt Đối bằng cách thờ lạy dạy
dân tộc, chế độ dân chủ, thuyết tiến bộ, sẽ là đô thị của Satan
đối lập với đô thị Thiên Chúa". Như vậy, một xã hội có
thể là rất tốt lành: tiến bộ, dân chủ, công bằng... nhưng nó vẫn là
"đô thị của Satan" nếu nó tự xem là cái Tuyệt Đối, nghĩa là
nếu nó không hướng về Thiên Chúa. Mà
như thấy trong phần nói về ý thức dân tộc, đô thị trần gian không thể
tự xem là cái Tuyệt Đối, không thể đóng kín trong một ý thức tự
mãn. Cho nên sự mâu thuẫn giữa hai đô thị phải nổ bùng thành tranh chấp:
dưới mắt Thánh Augustin, lịch sử chính là cuộc tranh chấp không ngừng
giữa hai đô thị: "Hai đô thị, đô thị của những kẻ tội lỗi
và đô thị của những người thánh thiện cùng hành trình trong lịch sử
từ ngày sáng thế đến ngày tận thế. Tất cả những người đang vui sướng
trong ý chí cầm quyền, trong tinh thần thống trị, trong những ảo tưởng
to lớn của danh vọng trần gian, tụ hợp trong đô thị thứ nhất... Trái
lại, những người đang khiêm tốn phục vụ
sự vinh quang của Thiên Chúa, thuộc về đô thị thứ hai". Cuộc tranh
chấp chỉ chấm dứt vào ngày tận thế, ngày chiến thắng của đô thị
Thiên Chúa. Trong khi chờ đợi, người Công Giáo vẫn luôn bị xâu xé giữa
hai "quốc tịch" của mình, vì mặc dầu thuộc "đô thị Thiên
Chúa" (nước Vatican), họ vẫn phải sống trong "đô thị trần gian"
(Tổ Quốc Việt Nam chẳng hạn). Nếu cái đô thị Thiên Chúa của Thánh
Augustin chỉ là một cách nói ẩn dụ để chỉ sự hiệp nhất của các tín đồ trong niềm
tin nơi Thiên Chúa và trong cố gắng thánh hóa đời sống để xứng đáng
vào nước Thiên Đường, thì cuộc tranh chấp nói trên chỉ diễn đạt dưới
một hình thức gay gắt hơn, sự xung đột trường cửu giữa ý thức tôn
giáo và ý thức dân tộc mà tôi đã phân tách trong phần trên. Nhưng
đô thị Thiên Chúa không phải là một hình ảnh tượng trưng: nó là Giáo
Hội Công Giáo La Mã do Tòa Thánh Nó
cũng có một đường lối chính trị. Lẽ dĩ nhiên, cứu cánh tối hậu của
đường lối này là "mở mang nước Chúa", nhưng sự mở mang nước
Chúa đôi khi đi ngược lại quyền lợi của một số dân tộc. Chẳng
hạn từ thời Phục Hưng cho tới những năm gần đây chánh sách Vatican,
trên căn bản, vẫn là cấu kết với các cường quốc Tây Phương, theo gót
những đoàn quân viễn chinh để giảng đạo, và tại các nước thuộc địa,
thì biến các giáo hội thành những rường cột
của chế độ thực dân. Mặt
khác, Giáo Hội La Mã là tôn giáo đầu tiên đã phân biệt rõ rệt thần
quyền (pouvoir spirituel) với thế quyền (pouvoir temporel) và luôn luôn đòi hỏi
sự độc lập của thần quyền. Sự
phân biệt nói trên rất hợp lý và là một tiến bộ lớn so với sự lẫn
lộn đạo với đời trong những tôn
giáo cổ sơ. Sự căng thẳng giữa hai quyền bính có thể là điều kiện tốt
để cả hai bên cùng tự cải thiện, đồng thời tránh được sự lợi dụng
lẫn nhau, ít ra là trên nguyên tắc. Nhưng sự phân biệt giữa thần quyền
và thế quyền đã gây ra nhiều mâu thuẫn nhất giữa Giáo Hội và các quốc
gia, và như Linh-mục Jacques Leclercq đã viết: "những khó khăn này sẽ
không bao giờ được san bằng". Trước
hết, hai lãnh vực đạo và đời, trong thực tế, chồng chéo lên nhau, ảnh
hưởng lẫn nhau và không thể phân biệt rõ rệt như trong lý thuyết. Cho
nên dầu cho chánh quyền có chấp nhận sự phân biệt, thì vẫn còn có cơ
hội để xung đột với giáo quyền trong những phạm vi gọi là "pha
chè" (domaine mixte), nghĩa là những phạm vi mà cả hai bên đều có những
quyền lợi phải bảo vệ, chẳng hạn phạm vi giáo dục. Giáo Hội cần
có một nền giáo dục Công Giáo độc lập như một môi trường thiết yếu,
không những để truyền bá giáo lý mà còn để đào tạo thanh thiếu niên
theo tinh thần Công Giáo. Nhưng quốc gia cũng cần nắm giữ tất cả thanh
thiếu niên của mình để đào tạo chúng theo tinh thần quốc gia. Nếu
quan niệm về "tinh thần quốc gia" mâu thuẫn với tinh thần Công
Giáo (chẳng hạn trong một quốc gia theo xã hội chủ nghĩa) thì sự xung đột
nổ bùng và hầu như không thể giải quyết êm thắm được. Nhưng ngay
trong những quốc gia không có một ý thức mâu thuẫn với đạo Công Giáo
hoặc do chính người Công Giáo lãnh đạo, sự xung đột vẫn ngấm ngầm Thứ
đến, quan niệm của Tòa Thánh Vatican về sự độc lập của thần quyền
rất là đặc biệt: Tòa Thánh không phải chỉ độc lập đối với quốc
gia, mà còn đòi hỏi đứng trên và chế ngự quốc gia như Linh-mục
Lecclercq viết: "Cứu
cánh tinh thần là cứu cánh tối hậu cao quý nhất, là điều duy nhất đáng
được gọi là cứu cánh. Còn cứu cánh trần gian chỉ là phương tiện cho
nên cái xã hội có sứ mạng dìu dắt con người đạt tới cứu cánh tinh
thần (tức là Giáo Hội) phải ở trên cái xã hội chỉ lo cho những cứu
cánh trần gian. Cứu cánh tinh thần phải đứng đầu, nếu không thì sẽ
không còn cứu cánh tinh thần. Giáo Hội phải đứng trên quốc gia, nếu
không thì sẽ không còn Giáo Hội" Lập
luận nói trên thật là lô-gích, nhưng các nhà lãnh đạo quốc gia khó
lòng mà nuốt cho trôi cái lô-gich siêu việt đó, dầu họ là người Công
Giáo. Nói cho đúng, Tòa Thánh chỉ đòi hỏi cái địa vị "ăn trên
ngồi trước" đối với các quốc gia Công Giáo, nghĩa là những quốc
gia mà toàn thể hoặc đại đa số dân chúng là Công Giáo và được cai trị
bởi một chính quyền Công Giáo. Còn đối với các quốc gia không công
giáo, Tòa Thánh chỉ yêu cầu được xem như một tổ chức độc lập có
nhiệm vụ chăm sóc "phần đạo" của các tín đồ. Nhưng đây
chỉ là một thực trạng (état de fait) mà Tòa Thánh phải chấp nhận như một
điều bất như ý: cái lý tưởng vẫn
là một thế quyền Công Giáo tùng phục thần quyền của Tòa Thánh. Mà ngay như sự độc lập của Tòa Thánh xem
như "bất như ý" đó, đã là một vấn đề lớn cho quốc gia, vì
trước hết nó có nghĩa là chính quyền không có quyền can thiệp vào sự
bổ nhậm hàng giáo phẩm bản xứ (nghĩa là các Đức Giám-mục). Hàng
giáo phẩm hoàn toàn độc lập với chính quyền và chỉ tuân phục Đức
Giáo Hoàng. Nếu Đức Giáo Hoàng chỉ là một giáo chủ thuần túy thì
không có gì đáng ngại. Nhưng Ngài cũng là nguyên thủ của một quốc
gia mà những quyền lợi có thể mâu thuẫn với những quốc gia khác. Và
khi có mâu thuẫn, thái độ của hàng giáo phẩm bản xứ sẽ là một mối
lo ngại lớn cho quốc gia. Vì lẽ đó, các chính quyền ôn hòa đều tìm
cách thỏa hiệp với Tòa Thánh La Mã để có thể tham dự phần nào vào sự
bổ nhiệm hàng giáo phẩm, và các chính quyền cực đoan sẽ tìm cách
tách rời hàng giáo phẩm ra khỏi Tòa Thánh, chẳng hạn tạo ra những phong
trào "giáo hội tự trị" như tại Trung Quốc vào những năm
1951-1952. Những phong trào này không phải là sáng kiến độc đáo của
các chánh quyền "vô thần", vì ngay từ thế kỷ 17, dưới triều
nhà vua Công Giáo Louis XIV, cũng nẩy sinh một phong trào tự trị trong giáo
hội Pháp do Giám-mục Bossuet khởi xướng. Thật ra những phong trào nói
trên chỉ biểu hiện một cách cực đoan về sự mâu thuẫn giữa chủ quyền
quốc gia và sự độc lập của Giáo Hội, một giáo hội mà cơ quan đầu
não lại là một quốc gia. Cho nên, cuối
cùng, vấn đề nằm ở đây: sự phận biệt thần quyền và thế quyền
mà chính giáo hội đòi hỏi, giáo Hội lại không tôn trọng ở ngay trong
quốc gia Qua
những đoạn văn trên đây, chúng ta đã thấy rằng, khi đưa ra lý thuyết
Đô Thị Thiên Chúa Giáo, Giáo Hội có chủ tâm muốn dùng lý thuyết này
đề nhồi sọ tín đồ tin rằng Giáo
Hội có quyền chiếm giữ cái thế "ăn
trên ngồi trước" trong xã hội lòai người. Đối với những người
có chút lương tri, dù là tín đồ của Giáo Hội thì cũng không thể nào
chấp nhận được cái lập luận trịch thượng này. Khi đưa ra chủ thuyết
này, Giáo Hội biết rõ là nó ngược ngạo, ngược đời và sẽ làm cho người
nghe, nghe thấy trái tai, rồi sẽ chống lại. Biết rõ như vậy, cho nên
Giáo Hội phải tìm cách cấm tự do, không cho phát biểu tư tuởng và tự
do báo chí: "Trong
xã hội loài người, Giáo Hội không bao giờ công nhận cho các tôn giáo
khác hoặc cho những người không công giáo cái quyền ăn nói ngang hàng với
mình, bởi các lý do giản dị là chỉ
có Giáo Hội mới có sự thật mà chỉ có có sự thật mới có quyền ăn
nói. Người sai lầm thì chỉ có mỗi một quyền sửa sai. Trong thông điệp
ngày 29-4-1814 gửi Đức Giám-mục địa phận Troyes, Đức Giáo Hoàng Pie VII
viết: "Người ta lẫn lộn sự thật với sự sai lầm, người ta đặt
Hiền thê thánh thiện và tinh tuyền của Đức Kitô (tức Giáo Hội Công
Giáo) ngang hàng với những giáo phái lạc đạo và ngay cả với bọn Do
Thái bất tín". Đức Giáo Hoàng
Grégoire XVI đã gọi tự do báo chí là "thứ tự do tai hại nhất, đáng
ghét nhất, kinh tởm nhất mà một số người dám đòi hỏi một cách ồn
ào cuồng nhiệt và quảng bá khắp nơi.. .".
(8) [viii]
5.-
Năm 431: Sau khi bịa đặt tín lý Chúa Ba Ngôi, Giáo
Hội La Mã mới thấy rằng, nếu không làm một cái gì để sửa lại tư
thế của bà Mary (một người đàn
bà không những đã thực sự mang thai và sinh
ra ông Jesus một cách rất bình thường như tất cả các phụ nữ khác
đã mang thai và sinh con, mà còn có cả 5, 6 người con khác nữa), thì chẳng hóa ra cái tín lý Chúa Ba Ngôi
trở thành trơ trẽn và lố lăng quá.
Cũng vì thế mà năm 431, Giáo Hội mới đưa ra tín điều Đức Mẹ Đồng
Trinh. Chuyện bịa đặt này được ông Charlie Nguyễn ghi nhận trong cuốn
Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm như sau: "Sau khi tiêu diệt đạo Ki-tô nguyên thủy, các
tu sĩ Vatican triệu tập Công Đồng Ephesus vào năm 431 để thiết lập giáo
lý về Đức Mẹ. Tại Ephesus có đền thờ nữ thần Diana của La Mã vốn
được mệnh danh là nữ thần Đồng Trinh (Goddess of Virginity). Tại cuộc họp
này, các nhà lãnh đạo Giáo Hội chủ trương biến Đức Mẹ Maria thành nữ thần Đồng Trinh,
mục đích là để thu hút tín đồ của Đa Thần Giáo La Mã ( 6.-
Thập niên 450:
Năm 451, Đế Quốc La Mã suy yếu trước
sức tấn công như vũ như bão của người hùng Hung Nô Attila từ Châu Á tiến
vào. Bạng duật tường trì, ngư ông đắc
lợi. Nhân cơ hội này, Giáo Hội nhẩy ra xin làm kẻ trung gian và
được Hoàng Đế Valentinian (419-455) của Đế Quốc La Mã giao cho sứ mạng
Tô Tần đi thương lượng. Thế là uy tín của Giáo Hội bắt đầu vươn lên
và thoát khỏi thân phận của một giáo hội quốc doanh. Kể từ đó, Giáo
Hội nhẩy lên sân khấu chính trị nắm giữ vai trò chủ chốt trong chính
quyền Đế Quốc La Mã, và bắt đầu thủ vai Chúa Trịnh, dồn Hoàng Đế
của Đế Quốc La Mã vào cái thế ngồi làm vì giống như vua Lê trong thời
Trịnh Nguyễn Phân Tranh hay các vua bù nhìn nhà Nguyễn từ thời Đồng Khánh
đến Bảo Đại. Hành động lấn chiếm tiếm đọat quyền lực chính trị
ở thời điểm này là việc Giáo Hoàng Leo I (440-461) đã nhiều lần mạnh
mẽ tuyên bố thẳng thừng cho mọi người biết rằng:, "Quyền hành của Giáo Hòang phải bao trùm tất
cả các quyền hành của các nhà cầm quyền thế tục" (Leo has strongly and repeatedly asserted the primacy
of Việc
Giáo Hoàng Leo I đòi hỏi như vậy là ông dựa vào lý thuyết City of God của Saint Augustine (như đã trình bày ở trên)
để lấn chiếm tiếm đọat thêm quyền
lực cho Giáo Hội.Thế nhưng, đây cũng chỉ là cái tham vọng trong tư tưởng và Giáo Hội tưởng rằng
thời cơ đã đến để cho Giáo Hội có thể đem cái tham vọng này biến
thành cụ thể. Kể từ đó cho đến cuối thế kỷ thứ 8, Giáo Hội cứ
ngỡ rảng thời cơ đã đến, nhưng trong thực tế nó vẫn chưa đến mà chỉ là ảo tưởng, vì
rằng Đế Quốc La Mã vừa sụp đổ
thì Đế Quốc Byzantine (lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) vươn tới thay thế.
Tới cuối thế kỷ VIII, Đế Quốc Byzantine suy yếu và co lại ở vùng Cận
Đông (rồi sụp đổ vào năm 1453), thì Giáo Hội La Mã lại rơi vào tình
trạng lăn qua lăn lại như một trái banh hết lọt vào tay cầu thủ Pháp [từ thời vua Charlemagne (768-814)], rồi
đến cầu thủ Ý và sau đó thì đến cầu thủ
Đức. Đồng thời, khì bắt đầu có thêm quyền lực chính trị,
thì các ông chức sắc cao cấp trong Giáo Hội lại rơi vào tình trạng xấu
xé thanh tóan lẫn nhau để tranh giành quyền lực. Hậu
quả của tình trạng Giáo Hội bị
các thế lực Pháp, Ý và Đức tranh giành dùng làm công cụ để lòe bịp
nhân dân dưới quyền và hậu quả của tình trạng nội bộ xâu xé lẫn
nhau đưa đến những tình trạng thảm thương là hàng trăm ông giáo hoàng
bị truất phế, bị bắt giam, bị hành hình, bị mưu sát, bị đầu độc
và bị gọi là ngụy giáo hoàng (anti-pope). Cựu giáo-sĩ Peter de Rosa kể ra
trong mục danh sách các giáo hoàng trong tác phẩm Vicars of Christ có tới 37
ông nguy giáo hoàng, tức là có tới 37 lần Giáo Hội chia ra làm hai hay ba
phe, mỗi phe tôn lên một minh chủ để đối đầu trong cuộc chiến tàn
sát lẫn nhau
hầu giành chiếm ngôi vị giáo hòang
theo quy luật "được làm
vua, thua làm giặc" (đựoc làm giáo hòang hay đức thánh cha và thua thì
bị gán cho là ngụy gíao hòang hay ngụy thánh cha.) Nói về tình trạng các phe phái trong giáo
triều Vatican của Giáo Hội vừa phải làm đầy tớ cho các chính quyền
Âu Châu vừa gầm gừ, cấu xé và tàn sát lẫn nhau để tranh giành ảnh hưởng
và quyền lực, học giả Gia-tô Phan Đình Diệm viết trong bản Kiến Nghi 5
Về Đông như sau: "Kể
từ thế kỷ IV, từ ngày Thánh Giáo Hòang Miltiades (311-314) tiếp nhận Cung
Điện Lateran, tặng phẩm của Hòang Hậu Fausta và Hoàng Đế Constantine Đệ
Nhất, Giáo Hội Công Giáo Roma một nửa là thuộc về Caesar, một nửa thuộc
về Thiên Chúa. Giáo Hội làm tôi hai chủ, Giáo Hội khởi bước từ
từ tách ra xa "con đường truyền giáo và cứu độ" của Đức Giê-su
Kitô, Sư Phụ Nazareth. Giáo Hòang tuân lệnh Hòang Hậu triệu họp Synod (hội nghị)
năm 313 trong cung điện này, mở màn cho 8 Công Đồng Chung tiếp theo từ 325
(Nicaea I) đến 870 (Constantinopla IV) được triệu họp bởi 7 Hòang Đế và
một Nữ Hoàng.Từ Công Đồng Thứ Nhất Nicaea I Giáo hội đã tự chia
thành hai khối, các nghị phụ Tây Phương và các nghị phụ Đông Phương,
cứ thế hơn 400 năm, hai khối Giáo Hội Đông và Tây hiệp thông - bằng
mặt chứ không bằng lòng - tại 8
Công Đồng..." [xi] (Tình
trạng các ông chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatcan gầm gừ, cấu xé và tàn sát lẫn nhau để tranh giành ảnh hưởng
và quyền lực sẽ được trình bày đầy đủ o Chương 15). 7.-
Năm 600:
Vào năm này, Giáo Hội dựa vào tín
lý "Chúa là Đấng tòan năng, tòan thiện,
có mặt ở khắp mọi nơi", "kẻ
nào tin có Chúa thì sẽ được lên
Thiên Đường, kẻ nào không tin có
Chúa thì sẽ phải bị đày xuống Hỏa Ngục" của người Do Thái
để bịa đặt ra Nơi Luyện Ngục hầu
lừa gạt tín đồ. Chuyện đại bịp này được ông Charlie Nguyễn viết
trong cuốn Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm với nguyên văn như sau: "Kinh
Cầu Hồn và Ngày Lễ Các Linh Hồn xuất
hiện do sự phát minh ra Lò Luyện Ngục của Giáo Hòang Gregory the Great
(590-604) vào.năm 600. Kinh
Thánh Cựu Ước cũng như Tân Ước chỉ nói tới Thiên Đàng và Hỏa Ngục,
chứ không hề nói tới một nơi thứ ba để tạm giam giữ các linh hồn. Vào
năm 600, Giáo Hoàng Gregory I (590-604) công bố giáo lý mới là một nơi
thứ ba giam giữ các linh hồn để thanh tẩy hết mọi tội nhẹ trước khi
vào Thiên Đàng, nơi đó Giáo Hoàng gọi là Nơi Luyện Ngục (Purgatory). Năm
1459, Công Đồng Việc
thu tiền lễ cầu hồn là một thủ đọan làm tiền trắng trợn của bọn
cha cố lưu manh. Tại Ái Nhĩ Lan là nước toàn
tòng Công Giáo có câu ca dao nổi
tiếng như sau: "High money high Mass; low money, low Mass; no money, no Sách
The Decline And Fall Of The Roman Church nói
về phương cách mà Giáo Hội và bọn cán bộ tay sai của Giáo Hội khai
thác cái huyền thoại "Nơi Luyện Ngục"
để làm tiền này như sau: "Bốn
năm trước, Giáo Hoàng Leo X (1513-1521)
thương thuyết với ông Hoàng Albert và đạt được thỏa hiệp rất tinh vi
và phức tạp, nhưng cả hai bên đều có lợi. Theo thỏa hiệp này, Ông Hoàng Albert được kiêm nhiệm ba chức
giám mục cai quản ba giáo khu Mainze, Để
làm cho tư thế của ông có thêm uy tín như là một nguồn tình thương yêu
đối với linh hồn tín đồ đang chịu đau khổ trong Nơi Luyện Tội, ông
Hoàng Albert phải có một cái gì đặc biệt. Đó là công trình sưu tầm
các thánh tích của ông. (Dĩ nhiên, tất cả là đồ giả): một nạm cỏ khô (nói là) lấy từ mang cỏ đêm
Giáng Sinh đầu tiên khi Chúa hài đồng mới chào đời, bốn (4) sợi tóc
và 14 miếng vải quần áo của Đức Bà Đồng Trinh, một (1) sợi
râu của ông Jesus, một cái đinh lấy từ cây thánh giá đóng ghim ông
Jesus lúc bị hành hình, và khoảng 19,
093 mảnh xương các thánh và những người tử đạo. Bất kỳ người nào
- từ ông hoàng cho đến những người bần cùng -, nếu trả tiền vào cửa đề sùng kính những thánh tích
này thì có thể làm giảm thời gian bị giam
cầm ở trong Nơi Luyện Ngục của những linh hồn
những người thân thương từ 1,902,202
năm và 270 ngày...." ["Four
years ago, Leo negotiated a vey delicate, intricate, but mutually profitable agreement
with Albert, prince-archbishop of three dioceses, Mainze, "To
enhance his position as a source of mercy for the faithful suffering in Purgatory, Prince
Albert had something special, his collection of relics (all of course, fraudulent): a wisp
of straw from the manger where the baby Jesus lay on the first Christmas night, four hairs
from the Virgin's head, fourteen pieces of her
clothing, a strand of Christ's bears, a nail from Christ's cross, a little over 19,093
sacred bone parts of saints and matyrs. For venerating all this and a payment, anyone - prince or pauper - could
shorten the stay of any close friend of
relative in Purgatory by 1,902,202 years and 270 days. [xiii]
8.-
Trong thế kỷ thứ 9:
Nhận thấy những lời dạy có sẵn trong Cựu Uớc và những
tín lý cũng những giáo điều đã được đặt ra từ ngày ông Jesus qua đời
cũng vẫn chưa đủ hấp dẫn để lối cuốn người dân khờ khạo tin
theo, và cũng vẫn không đủ mãnh lực để khống chế những bọn trí thức
nửa mùa còn bán tín bán nghi, chưa chịu tin tưởng hoàn toàn vào chủ thuyết
độc tôn tôn giáo của Giáo Hội, các nhà lãnh đạo thần quyền cho rằng
cần phải có thêm những món quà mới lạ với những ý niệm mới dựa
trên một tâm lý mới cho nó có vẻ hấp dẫn hơn. Một loạt ý niệm mới
được lệnh đưa ra rao giảng rằng một người là tổng hợp giữa cơ thể
và linh hồn. Linh hồn có tâm linh tính (spirituality), có tự do chọn lựa
và bất tử. Cơ thể thì có các giác quan và có những tính say mê và khát
vọng (passions). Linh hồn con người thì bất diệt như Thượng Đế. Thể xác
con người thì cũng giống như thể xác loài vật. Muốn cho linh hồn lớn
lên trong tình thương của Thượng Đế và kiềm chế những dục vọng cứng
đầu cùng những cảm giác bất thường, người tín hữu Ki Tô La Mã phải
tuyệt đối tin vào bẩy lễ thức gọi
là bẩy phép bí tích: rửa tội, thêm sức, sám hối, dọn mình rước lễ,
hôn phối, phong chức, sức dầu thánh khi lâm chung. Có như vậy thì
mới đủ điều kiện được Chúa chọn cho lên nước trời. Không theo đúng
như vậy là mất linh hồn. Và mất linh hồn sẽ khốn khổ vô cùng. Sự kiện
này được hai nhà viết sử Arnold Schrier & T. Walter Wallbank ghi lại như
sau: : “Giáo Hội đã đặt ra một hệ thống tín lý
cho các tín đồ phải tin theo. Quan trọng hơn cả là bảy phép bí tích:
phép rửa tội, phép thêm sức, phép mình thánh Chúa, phép hôn phối, phép
giải tội, phép truyền chức thánh, và phép sức dầu thánh. Giáo Hội dạy
rằng trong lễ rửa tội, người theo đạo nhận thêm một tên thánh vào
khi làm lễ; trong phép thêm sức, tín đồ mới thực sự được thâu nhận
vào Giáo Hội; qua phép giải tội, ngưòi phạm tội đã biết ăn năn thống
hối thì tội lỗi sẽ được giải trừ; khi cử hành lễ dâng mình thánh
thể, vị tu sĩ dâng lễ sử dụng bánh và rượu để nhớ lại Bữa Cơm
Chiều Cuối Cùng của Chúa; phép hôn phối công nhận và ban phước lành
cho lễ hôn nhân của cặp uyên ương người mới thành đôi; phép truyền
chức thánh cho những người được thụ phong linh mục; phép sức dầu
thánh được ban cho cho người hấp hối. Tín đồ của Giáo Hội chấp nhận
rằng tiếp nhận những phép bí tích là điều cốt yếu trong việc cứu rỗi,
và chỉ có các ông tu sĩ của Giáo Hội mới được làm lễ ban hành các
phép bí tích này”. ("The
Church had developed a body of beliefs which everyone became a Christian accepted. Most
important were the seven sacraments: baptism, confirmation, penance, the Holy Eucharist,
matrimony, holy orders, and extreme unction. The Church ruled that in partaking of
baptism, a person was to become and to receive a Christian name in a christening ceremony;
when the sacrament of confirmation was administered to him, he was received into the
Church; by penance, a penitent wrongdoer was absolved of sins. In the celebration of the
Holy Eucharist, the priest consecrated bread and wine in commemoration of the Last Super;
and marriage was recognized when it was blessed and regulated by the sacrament of
matrimony. The sacrament called holy orders was conferred upon men who entered the
priesthood. The sacrament of extreme unction was administered by the priest to the dying.
People accepted the rule that partaking of the sacraments was essential to salvation and
that the sacraments could be administered only by the clergy.”) .[xiv] 9.-
Cuối thế kỷ 11:
Trong thời Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085), Giáo Hội cho ban hành hành tuyên
cáo "Dictatus papae" gồm 27 điều
gọi là nguyên tắc có hiệu lực như luật. Nguyên do vì vào những
năm này, Giáo Hội La Mã vừa mới thoát ra khỏi sự khống chế của Đế
Quốc Byzantine và các thế lực chính
trị Pháp, Ý, Đức bất đầu suy yếu, Giáo
Hoàng Gregory liền thừa thắng xông lên, nhẩy lên bàn độc, đưa ra bản
tuyên ngôn "Dictatus papae"
quái đản với 27 nguyên tắc thật là ghê gớm, trong đó có cả nguyên tắc
đòi các ông hoàng đế hay vua chúa khi đến viếng thăm giáo hoàng thì phải
quỳ mọp xuống chờ ông ta (giáo hoàng) đưa bàn chân ra mà hôn hít để tỏ
lòng tôn kính. Dưới đây là toàn bộ 27 nguyên tắc này được ghi trong tài
liệu THE HUMAN RECORD - sources of global story", Vol I, Andrea-Overfield,
University of Vermont, 1999, tr. 225-226), do
nhà biên khảo Vũ Huy Quang ghi lại đầy
đủ, nguyên văn như sau: THE
POPE'S PROCLAMATION 1.-
That the Roman church was established by God alone. 2.-
That the Roman pontiff alone is rightly called universal. 3.-
That he alone has the power do depose reinstate bishops. 4
.- That his legate, even if he be of lower esclesiastical rank, presides over bishops in
council, and he has the power to give sentence of deposition against them. 5.-
That the pope has the power do depose those who are absent (i.e., without giving them a
hearing). 6.-
That, among other things, we ought not to remain in the same house with those whom he has
excommuncated. 7.-
That he alone has the right, according to the necessity of the occasion, to make the new
laws, to create new bishoprics... 8.-
That he alone may use the imperial insignia. 9.-
That all princes shall kiss the foot of the pope alone. 10.-
That his name alone is to be recited in the churches. 11.-
That the name applied to him belongs to him alone. 12.-
That he has the power to depose emperors. 13.-
That he has the right to transfer bishops from one see to another when it becomes
necessary. 14.-
That he has the right to ordain as a cleric anyone from any part of the church whatsoever. 15.-
That anyone ordained by him may rule (as bishop) over another church. 16.-
That no genaral synod may be called without his order. 17.-
That no action of a synod and no book shall be regarded as canonical without his
authority. 18.-
That his decree can be annulled by no one, and that he can annul the decrees of anyone. 19.-
That he can be judged by no one. 20.-
That no one shall dare to condemn a person who has appealed to the apostolic seat [to the
pope). 21.-
That the important cases of any church whatsoever shall be referred to the Roman Church
[to the pope]. 22.-
That the Roman church has never erred and will never err to all eternity, according to
testimony of the holy scriptures. 23.-
That the Roman pontiff who has been canonically ordained is made holy by the merits of St.
Peter... 24.-
That by his command or permission subjects may accuse their rulers . 25.-
That he can depose and reinstate bishops without the calling a synod. 26.-
That no one can be regarded as catholic who does not agree with the Roma church. 27.-
That he has the power to absolve subjects from their oath of fidelity to wicked rullers
." (15)[xv]
. Xin
chuyển dịch tài liệu trên sang Việt ngữ như sau: TUYÊN
CÁO CỦA GIÁO HOÀNG 1.-
Rằng Giáo Hội La Mã do một mình Thiên Chúa lập nên. 2.-
Rằng chỉ có Giáo Hội La Mã được quyền cai quản toàn cầu. 3.-
Rằng chỉ có Giáo Hoàng mới có quyền
bổ nhiệm hay bãi chức các giám mục. 4.-
Rằng đại diện của Giáo Hoàng dù là có cấp bậc thấp hơn trong hàng
giáo phẩm cũng có quyền chủ tọa hội đồng giám mục và có quyền truất
bỏ các giám mục. 5.-
Rằng Giáo Hoàng có quyền truất phế những người vắng mặt (nghĩa là
không cho bị cáo được điều trần). 6.-
Rằng, dù bất cứ lý do nào, không ai được sống chung hay sống cùng một mái nhà với những người
đã bị Giáo Hội rút phép thông công (bị phạt vạ tuyệt thông). 7.-
Rằng, tùy theo nhu cầu của hoàn cảnh, chỉ có Giáo Hoàng mới có quyền làm giáo luật mới để thiết lập
một chức vụ giám mục mới. 8.-
Rằng chỉ có Giáo Hoàng mới được mang huy hiệu đế quốc. 9.-
Rằng tất các ông hoàng đế và vua
chúa sẽ được hôn bàn chân của Giáo Hoàng. 10.-
Rằng chỉ có tên Giáo Hoàng mới được đọc lớn ở các giáo đường. 11.-
Rằng danh hiệu đã được áp dụng đối với Giáo Hoàng sẽ chỉ có một
mình Ngài được sử dụng. 12.-
Rằng Giáo Hoàng có quyền truất phế tất cả các ông hoàng đế. 13.-
Rằng, nếu cần, Giáo Hoàng có quyền thuyên chuyển các giám mục ra khỏi
giáo phận đương nhiệm. 14.-
Rằng Giáo Hoàng có quyền phong chức cho bất kỳ người nào ở bất kỳ nơi
nào vào bất kỳ chức vụ nào trong Giáo Hội. 15.-
Rằng bất kỳ người nào đã được Giáo Hoàng phong chức đều có thể
quản nhiệm một nhà thờ khác. 16.-
Rằng không có một đại hội nghị tôn giáo nào được nhóm họp nếu
không có lệnh của Giáo Hoàng. 17.-
Rằng không có một quyết định của một hội nghị tôn giáo được coi là
giáo luật và cũng không có một sách
nào được coi là giáo luật nếu
không có quyết định của Giáo Hoàng ở trong đó. 18.-
Rằng không ai có quyền hủy bỏ sắc luật của Giáo Hoàng và rằng Giáo
Hoàng có thể hủy bỏ sắc luật của bất kỳ người nào. 19.-
Rằng không ai có quyền xét đoán Giáo Hoàng. 20.-
Rằng không ai có thể dám lên án một người đã cầu cứu đến Giáo
Hoàng. 21.-
Rằng mọi vấn đề quan trọng trong bất cứ
thánh đường nào cũng phải đệ trình lên Giáo Hoàng. 22.-
Rằng Giáo Hội La Mã không bao giờ sai lầm trước mọi vấn đề thuộc về
vĩnh cửu đúng theo như kinh thánh. 23.-
Rằng ngôi vị Giáo Hoàng đã được thánh hóa từ sự vinh quang của Thánh
Peter. 24.-
Rằng theo lệnh hay phép của Giáo Hoàng, thần dân (nhân dân) trong nước có
quyền tố cáo nhà cầm quyền của họ (với Giáo Hội). 25.-
Rằng Giáo Hoàng có quyền truất phế hay tái phong chức cho các giám mục
mà không cần phải triệu tập một hội nghị tôn giáo để quyết định. 26.-
Rằng không ai được coi như là tín đồ Giatô nếu người đó không đồng
thuận với Giáo Hội La Mã. 27.-
Rằng Giáo Hoàng có thể "giải trừ cho nhân dân khỏi phải làm bổn
phận đối với các ác quyền bất công." Nguyên
tắc "Chỉ có Giáo Hoàng mới được
đưa bàn chân ra cho các ông hoàng hôn hít" trên đây được bọn cán
bộ truyền giáo đến Việt Nam biến thành tục lệ đòi hỏi các ông tu sĩ bản địa phải
"sụp lạy và quỳ mọp
xuống hôn hít giầy dép các nhà tuyền giáo" (sẽ được nói rõ
ở phần sau) và giáo dân thì phải sụp lạy rồi qùy mọp và gục mặt xuống
hôn hít chiếc nhẫn đeo tay của các ông giám mục". Về tục lệ "hôn nhẫn" của các ông giám mục, độc giả có thể tìm đọc trong cuốn
"Hơn Nửa Đời Hư" của cụ
Vương Hồng Sển (Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1995, tr 484-488) để biết rõ cái hình ảnh khúm núm hèn hạ đến lợm
giọng của giáo dân Gia-tô trong lúc hành xử cái tục lệ quái đảnvà dã
man sặc mùi phong kiến này.. 10.-
Năm 1095: Giáo Hội phát động chiến
tranh thập tự.- Sau khi đã công khai tuyến bố tóm thâu hết
cả thần quyền và thế quyền vào trong tay, tháng 11 năm 1095, Giáo Hòang Urban II (1088-1099), ra lệnh
phát động các cuộc thập tự chiến, truyền lệnh cho bọn vua chúa Anh,
Pháp, Đức và Ý đem quân thập tự tiến vào vùng Cận Đông và miền Nam
nước Pháp để vừa tiêu diệt Hôi Giáo, Do Thái Giáo, Chính Thống Giáo
và giáo phái Cathari vừa hủy diệt nền
văn hóa của họ. Trận chiến này khởi đầu cho nhiều trận chiến khác cũng
mang tên là "Thập Tự Chiến" mà Giáo Hội tôn vinh là "Thánh
Chiến". Cuộc chiến này kéo theo hàng chục cuộc chiến thập tự khác khiến cho nhân dân Âu Châu và vùng Cận Đông lâm vào cảnh chém giết
triền miên kéo dài tới 197 năm. Sự kiện này được các nhà viết sử
ghi lại như sau: "Giáo
Hoàng kêu gọi phát động cuộc chiến thập tự. Giáo Hoàng Urban II (1088-1099) hăng say phát động
cuộc chiến thập tự để thâu hồi lại Đất Thánh. Năm 1095, ông trịệu
tập một đại hội gồm các tu sĩ chức sắc và các nhà quý tộc Pháp nhóm họp tại Clemont, Pháp. Ông thúc dục
các nhà quý tộc có quyền thế hãy ngừng
đánh phá lẫn nhau để tham gia vào một cuộc chiến lớn chống lại những
người tà giáo (những người thuộc các
tôn giáo khác.). Người
ta gia nhập vào các Đoàn Quân Thập Ác này vì nhiều lý do. Giáo Hoàng hứa
hẹn sẽ ban thưởng cho họ vừa lên thiên đường vừa được hưởng những
phần thưởng vật chất thiết thực ở nơi trần thế. Mọi tội lỗi của
nguời lính Thập Ác đều được tha thứ. Tài sản và gia đình của họ
được Giáo Hội bảo đảm, trông nom săn sóc trong thời gian họ xa nhà đi
chiến đấu. Những ai còn mang nợ sẽ được xóa bỏ hết nợ nần và những
tội đồ sẽ được xóa bỏ hết tội ác, miễn bị trừng phạt nếu họ
gia nhập vào đoàn quân Thập Ác của Giáo Hội. Nhiều ông hiệp sĩ chóa mắt
vì những miếng mồi quyến rũ về những đất đai và của cải mà họ hy
vọng sẽ ăn cướp được ở vùng Cận Đông giầu có. Các thương gia thì thấy đây là cơ hội bằng vàng cho họ kiếm
được những món lời lớn trong việc kinh doanh. Các cuộc viễn chinh của
Đoàn Quân Thập Ác này một phần mang tính cách tôn giáo, nhưng cũng là một
cuộc chiến tranh khích động lòng yêu thích phiêu lưu của con người, lòng
hám lợi và khát vọng trốn thoát khỏi cảnh nợ nần, tù tội và buồn
chán." ("The pope's call for a crusade.- Pope Urban II
(1088-1099) was eager to promote the idea of Christian offensive to regain the Men
joined the Crusades for many different
reasons. The pope promised both heavenly and earthly rewards. All the sins of a crusader
were forgiven. His property and family were guaranteed protection by the Church during his
absence. A debtor who took the cross had his debts canceled; a criminal was relieved of
punishment. Knights were dazzled by the lure of lands and plunder in the rich Near East.
Merchants saw and chance for commercial gain. The Crusades were partly religious
expeditions, but they appealed to men's love of adventure, hope of gain, and desire to
escape debts, punishment, or boredom." (16) [xvi]
Bản
văn sử trên đây cho chúng ta thấy rõ Giáo Hội có chủ trương khơi động và nuôi dưỡng
lòng ích kỷ, tham lam, háo danh, háo lợi của tín đồ và người đời để
lôi cuốn họ lao vào làm những tên lính cảm tử hy sinh mạng sống phục
vụ cho mưu đồ bất chính, đại gian và đại ác của Giáo Hội trong việc
chinh phục đất đai. Bị khích động bởi những hứa hẹn của Giáo Hội,
những người lính thập ác trong đòan quân viễn chinh của Giáo Hội đã
phóng tay giết người, đốt nhà, đốt
chùa, phá miếu, phá đình, tàn sát đàn ông, hãm hiếp đàn bà con gái, và vơ vét của cải mang đi tất cả những
gì có thể mang đi được. Những hành động dã man tàn ác của các đạo
quân thập tự này quả thật là độc nhất vô nhị trong lịch sử nhân loại.
Mấy bản băn sử dưới đây cho chúng ta thấy rõ sự kiện này.Sách Men
and Nations - A World History viết: "Trong cuộc chiến Thập Ác Thứ Nhất,… Sau một
thời gian bao vây, quân Thập Ác chiếm được thành Sách
Lòng Tin Âu Mỹ Đấy ghi lại: "Năm 1209, Giáo Hoàng Innocent III (1198-1216) ra lệnh
thánh chiến diệt họ (khối nhân dân ở vùng |