1104-logo.gif (2163 bytes)
 

posted: 5.11.04

MỘT SỐ NHỮNG TÍN LÝ, GIÁO LUẬT VÀ

NGUYÊN TẮC DO CHÍNH GIÁO HỘI BỊA ĐẶT THÊM

Nguyễn Mạnh Quang

Sau khi lôi kéo được Giáo Hội Ki-tô đi theo chính quyền, Hoàng Đế Constantine nghĩ  ngay đến việc thống hợp các hệ phái Ki-tô thành một tổ chức thuần nhất với một hệ thống tín lý duy nhất dưới quyền lãnh đạo của chính quyền. ngày 20 tháng 5 năm 325, ông cho triệụ tập tất cả các giáo sĩ trong tòan đế quốc đến tham dự hội nghị được tổ chức tại Nicaea, một địa điểm thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, để thông qua một tín lý về Chúa Ki-tô và sửa lại các lời lẽ ở trong Tân Ước sao cho  phù hợp với chủ trương thống nhất tin lý Ki-tô mà ông nghĩ rằng có thể  phục vụ cho quyền lực chính quyền đế quốc của ông.  Tại Hội Nghị này, Hoàng Đế Constantine và các nhà lãnh đạo Giáo Hội Ki-tô đã dùng đến bạo lực để cưỡng bách các giáo sĩ tham dự hội phải chấp nhận những tín lý thần học đã được chính quyền và Giáo Hội biện soạn sẵn đưa ra. Sư kiện này được sách Living World History ghi lại như sau:.

"Thiên Chúa Giáo được tăng cường băng một tín điều chung. Vì ông Jesus không để lại bản văn viết nào về tín lý cho nên mới có những tranh luận giữa các tín đồ về niềm tin Ki-tô. Để giải quyết vấn đề này, năm 325, Hòang Đế Constantine cho triệu tập một hội nghị nhóm họp ở Nicaea. Hội Nghị này sọan thảo một tín điều cho rằng Thượng Đế và ông Jesus Ki-tô có cùng một linh thể. Tất cả mọi người tham dự hội nghị đều đồng ý tín điều này, ngọai trừ một tu sĩ có tên là Arius và một số đồ đệ của ông ta. Những người này cho rằng Thượng Đế và ông Jesus Ki-tô có những linh thể khác nhau. Họ bị gán cho là tà giáo và bị trục xuất ra khỏi hội nghị. Những năm sau đó, phe theo ông Arius  và phe theo quyết định tín điều Nicene tranh nhau giành quyền lãnh đạo Giáo Hội, nhưng cuối cùng thì phe Nicene chiến thắng. Thêm vào tín điều Nicene, hội nghị còn khai triển những bản văn trong Thánh Kinh. Thánh Kinh của người Do Thái mà lúc đầu Giáo Hội Kitô Do Thái chọn làm Thánh Kinh  được gọi là Cựu Ước Kinh và được thêm vào những cuốn sách biên sọan sau khi ông Jesus đã bị hành hình. Có rất nhìều cuốn đuợc biên sọan sau khi ông Jesus qua đời, nhưng chỉ có 27 cuốn được chọn, gom lại được gọi là Tân Ước Kinh." (Christianity was strengthened by a common creed. Because Jesus left no written messages, disputes about Christian beliefs arose among his followers. To resolve this conflict, the emperor Constantine convened the Council of Nicaea in 325. This body formulated a creed supporting the doctrine that God and Christ were the same substance. All members present agreed to the doctrine except a priest named Arius and his few followers, who maintained  that God and Christ were of different substances. He and his followers were therefore banished from the Church as heretics (persons who hold a belief different the accepted view). As the years passed, the Nicenes and the Arians vied for leadership in the Church, but finally, the Nicenes were victorious. In additiion to the Nicene Creed, there had developed an official book of sacred writings. To the holy writings of the Jews, which the early Christians adopted and called the Old Testament, were added religious writings compiled after the death of Jesus. Twenty-seven of these compilations, or books, were selected to make the New Testament.."  [i]

Đây là lần đầu tiên Giáo Hội La Mã  trực tiếp liên hệ đến việc bịa đặt ra tín lý Chúa Ba Ngôi và chọn 27 cuốn sách được biên soạn sau khi ông Jesus chết gom lại gọi là Tân Ước. Dĩ nhiên là trong 27 cuốn sách này có quá nhiều điều được bịa đặt. Việc làm bất chính này khiến cho các bậc trí giả khắp nơi trên thế giới phải sinh nghi, rồi họ bàn nhau thành lập một tổ chức điều nghiên xem tỷ lệ bịa đặt ở trong Tân Ước chiếm tới bao nhiêu phàn trăm. Sau khi được thành lập và sau nhiều năm miệt mài làm việc, tổ chức này đã tìm ra tỷ lệ những chuyện bịa đặt trong những cuốn sách này (trong Tân Ước) chiếm tới trên 82 phần trăm (82%). (Xin xem lại ở Chương 3).

Việc chíinh quyền Đế Quốc cùng Giáo Hội đàn áp và tàn sát những người  chống đối tín điều Nicene (Tín điều Chúa Ba Ngôi), học giả Charlie Nguyễn viết trong bài viết Góp Ý Với Quý Vị Trí Thức Ngòai Công Giáo đăng trong www.giaodiem.com  tháng 7/2004  như sau:

"Trong 3 thế kỷ đầu Công Nguyên, Ki-tô Giáo không có nhà thờ mà chỉ có phòng hội (synagogue), không biết Thiên Chúa Ba Ngôi là gì, không thờ ảnh tượng, không tin và không thờ bà Maria đồng trinh. Thậm chí họ cũng không thờ Jesus mà chỉ coi ngài như một bậc thầy khôn ngoan mà thôi, do đó không có thánh lễ Misa, không có phép Mình Thánh Chúa.. Cuối thế kỷ 3, vị giám mục nổi tiếng nhất thời đó là Arius, người Hy Lạp, đã sáng tác ra những bài thơ tóm tắt giáo lý của Ki-tô Giáo nguyên thủy: "Thiên Chúa là đấng duy nhất không được sinh ra bởi ai, đấng duy nhất vĩnh cửu, duy nhất thật, duy nhất khôn ngoan. Jesus là một tạo vật giống như chúng ta". Năm 325, Arius cũng được Constantine mời họp công đồng Nicaea cùng với các giám mục Ki-tô khác như Athanasus và Marcellus. Các vị giám mục này giữ vững niềm tin Ki-tô nguyên thủy nên không chịu ký tên công nhận kinh Tin Kính của Constantine. Kết quả là Arius bị Constantine giết chết năm 336, Athanasus và Marcellus bị bắt đưa đi đày. Hàng ngàn tín đồ Ki-tô bị đế quốc sát hại. Mười bốn năm sau, Marcellus được thả ra. Ông viết sách lên án Công Giáo là tà đạo "Tritheism" có nghĩa là đạo thờ ba Thiên Chúa ám chỉ là một thứ Đa thần giáo (Paganism) với những tín điều bịa đặt và hoàn toàn trái ngược với Ki-tô Giáo nguyên thủy là một độc thần giáo chân chính (The Real Monotheism). Năm 340, đế quốc La Mã chính thức đưa tôn giáo do chúng thành lập lên thành đạo chính thức của toàn đế quốc và đặt tên cho nó là Công Giáo (Cattolica). Tất cả những gì là đặc trưng của Công Giáo ngày nay đều do đế quốc La Mã bày đặt ra sau năm 325. Từ đó chẳng có hoàng đế La Mã nào muốn tiêu diệt người Công Giáo vì Công Giáo và đế quốc La Mã là một." [ii]

Sách Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm nói rõ con số nạn nhân  bị Giáo Hội La Mã sát hại trong vụ tín lý Chúa Ba Ngôi với nguyên văn như sau:

 "Năm 340, Đế Quốc La Mã tiêu diệt hết các giáo phái Kitô đi ngược lại các giáo điều của Hội Nghị Nicaea do Hòang Đế Constantine triệu tập vào năm 325 và chính thức đặt tên cho Giáo Hội Kitô   mới của toàn đế quốc là Công Giáo (tiếng  La-tinh là Catholica, tiếng Hy Lạp là Katholicos, có nghĩa là tôn giáo của hoàn câu). Saint Cyril of Jerusalem đã viết như sau: "Tất cả mọi người thờ Chúa đều phải qui tụ trong một hệ thống thiêng liêng đặt dưới quyền cai trị của Giáo Hoàng La Mã. Bất cứ ai không phải là thành viên của Giáo Hội  đều bị vứt bỏ ra khỏi cuộc đời này và điều quan trọng hơn là bị vứt bỏ ra đời sau". (All who worshiped God were united in one sacramental system under the government of the Roman Pontiff. Anyone not a member of the Church must be xcast out of this life anfd more important, out of next).  Đây là một lệnh cưỡng bức toàn dân thuộc đế quốc phải theo đạo Công Giáo. Mọi người chống đối đề bị giết. Riêng những người Kitô thuộc giáo phái Arius (Arian Christians) bị giết trên 3.000 người."  [iii]

Đây là lần đầu tiên Giáo Hội La Mã liên hệ  trực tiếp đến việc sử dụng bạo lực khủng bố những người đồng đạo không đồng ý về việc Giáo Hội bịa đặt ra tín điều Chúa Ba Ngôi. Kể từ đây Giáo Hội liên tục bịa đặt thêm nhiều tín lý khác nữa và tiếp tục sử dụng bạo lực tàn sát tín đồ còn nghi ngờ những tín điều do Giáo Hội bịa đặt ra. Trên đà hăng say, dựa những tín điều ghi trong các sách Leviticus (26:1-18),  sách  Phục Luật (12:2-3,  13: 6-9), Dân Số   (25:3-5) , Giáo Hội  liên tục dùng bạo lực để hủy diệt các tôn giáo khác và sát hại những thành phấn không chịu khuất phục Giáo Hội bằng những chiến dịch "làm sáng danh Chúa" trong  "kế hoạch Kitô Hóa" các dân tộc thuộc các tôn giáo khác bị chinh phục.

MỘT SỐ NIÊN BIỂU HÀNH ĐỘNG TỘI ÁC

CỦA GIÁO HỘI LA MÃ

Dưới đây là  một số niên biểu của một số những hành động tiếm danh, tiếm quyền, bịa đặt ra những tín lý và công khai hóa việc sử dụng  bạo lực để theo đuổi chính sách đế quốc nhằm thống trị tòan cầu và nô lệ hóa nhân lọai của Giáo Hội La Mã.

1.-  Năm 325: Tín điều  Chúa  Ba Ngôi được Giáo Hội cho ra đời tại Hội Nghị Nicaea. Hội nghị này do Hoàng Đế Constantine   triệu tập khởi nhóm vào ngày 20/5/235 . Sự kiện này đã được trình bày ở phần trên.

2. - Năm 383: Chính quyền Đế Quốc La Mã và Giáo Hội chính thức sử dụng chữ "Catholíc" và sử dụng danh xưng "The Roman Catholic Church" với dã tâm tự phong là tôn giáo của toàn cầu. Sư kiện này được sách Công Giáo: Huyền Thoại Và Tội Ác ghi nhận như sau:

"Năm 383, triều đại con cháu của Constantine đã đổi tên Kitô Giáo thành Công Giáo (Cattolica) có nghĩa là tôn giáo của toàn cầu  (universal church). Danh từ "Công Giáo" nói lên ý đồ nham hiểm thâm độc của Đế Quốc La Mã nhắm tới sự nô lệ hóa tòan cầu dưới chiêu bài tôn giáo."   [iv]

3.- Năm 395: Đúng 70 năm sau Hội Nghị Nicaea, năm 395, và 12 năm sau sử dụng chữ "Catholic"  "The Roman Catholic Church", Hoàng Đế Theodosius (379-395)  chính thức ban hành sắc lệnh  đưa đạo Ki Tô La Mã lên hàng quốc giáo trong đế quốc La Mã. Như vậy là kể từ đây chính quyền đế quốc và Giáo Hội La Mã chính thức cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải  sử dụng từ ngữ “catholicism” (công giáo) và phải theo đạo Kitô mà chính quyền cho là “quốc giáo”.   Thâm ý của  chính quyền đế quốc và Giáo Hội La Mã trong việc sử dụng từ Catholic là muốn công khai hóa cho thiên hạ  biết rằng đạo Ki-tô là tôn giáo của  “toàn thể” (nhân loại), chứ không phải chỉ giới hạn chật hẹp trong một phạm vi địa phương nào đó. Cũng từ đó, danh xưng "Giáo Hội Do Thái" phải lui vào trong bóng tối và biến mất dần theo số phận của phe bảo thủ trong đạo Kitô Do Thái. [Phe bảo thủ đối nghịch với phe xu thời trở cờ theo chính quyền của giáo chủ Sylvester I (314-335)].

"Được đằng chân lân đằng đầu". Tự phong là tôn giáo chính thức của toàn thể đế quốc La Mã bằng danh xưng "Catholicism" cũng vẫn chưa thỏa mãn lòng háo danh và tham quyền của các nhà lãnh đạo chính quyền Đế Quốc La Mã và Tòa Thánh Vatican. Cũng vì thế mà bọn người này còn tự phong cho Giáo Hội La Mã của các ngài  là "Hội Thánh duy nhất, thánh thiện,, công giáo và tông truyền".Sự kiện này được Linh-mục Vũ Đình Hoạt viết theo phản ứng Pavlov của một người đã bị điều kiện hóa  về cái danh xưng  bịp bợm rất Gia-tô này. Dưới đây là lời ông tu sĩ Gia-tô này viết::

"Ở đây chúng tôi thấy cần phải xác định rõ rệt vấn đề phân biệt các danh từ Thiên Chúa Giáo, Công Giáo, Kitô Giáo, Gia-tô Giáo. Trên bình diện thế giới hay là quốc tế, khi nói hoặc viết: Thiên Chúa Giáo đó chứng tỏ gồm có cả Công Giáo, cả Kitô Giáo.

Nếu nói hoặc chỉ viết nguyên Công Giáo mà thôi, thì đó phải hiểu và bắt buộc phải hiểu chứ không thể hiểu khác đi được rằng: đó chính là Giáo Hội La Mã mà Đức Giáo Hoàng là vị lãnh đạo tinh thần tối cao của toàn thể Thế Giới Công Giáo. Riêng tại Việt Nam kể từ năm 1533 cho đến năm 1954 khi mà các danh từ Thần Học và Kinh Thánh chưa được Hàn Lâm Viện Hóa, nói một cách khác chưa được Đại Chủng Viện thuần túy Việt Nam dịch thuật các sách giáo khoa và Phụng Vụ cũng như Kinh Thánh các danh từ như Thiên Chúa Giáo hoặc Gia-tô Giáo trong các sách vở lịch sử hay "Nhà Đạo" vẫn được hiểu một cách chung là Đạo Công Giáo, vì lẽ khi đó chưa có đạo Tin Lành (sic)  trên đất nước Việt Nam và các nhà truyền giáo cũng chỉ nguyên thuộc Hội Truyền Giáo Thừa Sai Ba Lê (MEP) mà thôi. Kể từ năm 1954 về sau khi mà đã có Đại Chủng Viện Việt Nam chuyên môn dịch các sách Kinh Đạo Thần (Kinh Thánh, Đạo Đức và Thần Học), lúc ấy mới có sự phân biệt rõ rết "công Giáo" (Catholic) bắt nguồn tư Kinh Tin Kính "Tôi tin có Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền". (Sách lễ giáo dân sở di trú và tị nạn USCC. Hoa Thịnh Đốn. trang 1370). Vậy kể từ năm 1954 về sau các sách vở Việt Nam, nếu muốn trực chỉ nguyên Giáo Hội La Mã hoặc Vatican, thì bắt buộc phải dùng danh từ  Công Giáo (Catholic), chứ không thể nào dùng danh từ Thiên Chúa Giáo hoặc Gia-tô hoặc Kitô được. Nếu dùng danh từ Thiên Chúa Giáo, hoặc  Gia-tô hoặc Kitô thì nó không còn là thuần túy La Mã hay Vatican nữa."    [v] 

Bản văn trên đây chứng tỏ Giáo Hội La Mã đã dựa vào chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm  với những phương tiện của nhà nước như  truyền thông (đài phát thanh, báo chi và các phẩm khác) sách giáo khoa trong học đường và văn thư hành chánh để hợp thức hóa và đại chúng hóa danh xưng "công gíao" mà từ năm 1954 trở về trước dân ta vẫn thường gọi là đạo Cơ Đốc, đạo Kitô, đạoThiên Chúa hay đạo Gia-tô. Đây là một trong muôn ngàn thủ đọan lưu manh của Giáo Hội La Mã và chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm. 

4.- Năm 426: Giáo Hội bịa đặt ra thuyết lý nước Trời để làm bánh vẽ lừa gạt tín đồ. Sách Living World History nói về chuyện bịa đặt ra nước trời như sau:

"Năm 426, một vị giáo phụ khác (another of the Church Fathers)   của Giáo Hội là thánh Augustine địa phận Hippo ở châu Phi hoàn thành cuốn Đô Thị của Thiên Chúa. Cuốn sách này quy định rất nhiều cho nền tảng thần học Kitô La Mã".(In 426, another of the Church Fathers, St Augustine of Hippo in Africa, finished The City of God  book provided much of the foundation of Christian theology.)  [vi]

Nội dung cuốn City of  God  đưa ra chủ thuyết thần quyền (tôn giáo) chỉ đạo  thế quyền (chính quyền) và tôn giáo (có nghĩa là Giáo Hội La Mã được hình dung là City of God (Đô Thị Thiên Chúa), một nơi thánh thiện và hằng cửu, và các địa phương là Đô Thị Trần Gian (cõi tạm đầy tội lỗi) . Nhận xét về  thuyết lý ngược ngạo này, Giáo -sư Lý Chánh Trung đưa ra nhận xét như sau:

 "Xét trên bình diện chính trị, điều nghịch là cơ quan đầu não của Giáo Hội (được hiểu lad Đô Thị Thiên Chúa) là một quốc gia theo chế độ quân chủ chuyên chế, một quốc gia tí hon chỉ gồm vài chục mẫu đất và vài trăm dân, nhưng có đầy đủ tư cách của một quốc gia độc lập và có một thế lực đáng sợ...

Xét trên khía cạnh tôn giáo, Giáo Hội là một toàn thể như dân tộc, nhưng một toàn thể đã đạt đến mức độ hoàn hảo vì nó tự ý thức như một cơ thể duy nhất: Giáo Hội là "huyền thể" (corps mystique) của Đức Kitô, nghĩa là sự hiệp nhất giữa các tín đồ có tính cách khắng khít như giữa các tế bào trong cơ thể.

Theo đạo Công Giáo không phải chỉ là nhận Sự Thật Phúc Âm, tuân hành lời dạy của Đức Kitô, mà cốt yếu là gia nhập cộng đồng đức tin là Giáo Hội, vì Sự Thật của Phúc Âm chỉ được bộc lộ toàn diện và chín chắn trong Giáo Hội, đại diện duy nhất của Đức Kitô trong trần thế, vì sự thể hiện lời dạy của Đức Kitô đòi hỏi sự hiệp nhất với Ngài, mà sự hiệp nhất này chỉ được thực hiện trong Giáo Hội qua các phép bí tích. Chịu phép rửa tội không phải chỉ là được "tái sinh", trở thành một "con người mới" theo nghĩa đạo đức cá nhân, mà còn là gia nhập một dân tộc, mang một "quốc tịch" mới, trở thành công dân của "đô thị Thiên Chúa" (City of God)" theo lời Thánh Augustin"

Giống như dân Do-thái xưa kia, Giáo Hội cũng tự xem là   dân tộc được chọn lựa, nhưng một dân tộc "siêu dân tộc", hành trình trong thời gian để tiến về vĩnh cửu, với cái sứ mạng rao giảng "tin mừng" cho toàn thể nhân loại, giải thoát nhân loại thoát khỏi gông cùm tội lỗi và đưa nhân loại về với Thiên Chúa. Cho nên Giáo Hội trong trần gian là một Giáo Hội chiến đấu (Église militante) và chiến đấu không ngừng cho đến ngày tận thế, nghĩa là ngày hoàn tất lịch sử, nhưng chiến đấu với những võ khí tinh thần như Thánh Phaolồ đã mô tả người chiến sĩ của Đức Kitô: "thắt giây lưng chân lý, mặc áo giáp công bằng, mang lá thuẫn đức tin, đội mũ cứu rỗi và cầm gươm tinh thần, tức là lời Chúa, vì đối tượng duy nhất là tội lỗi của trần gian

Tóm lại, cũng như dân tộc, Giáo Hội là "Mẹ và Thầy": dân tộc đã sinh ra tôi và cho tôi một chỗ đứng trong "đô thị trần gian" (Tổ Quốc Việt Nam), Giáo Hội đã sinh ra tôi và cho tôi một chỗ đứng trong "đô thị Thiên Chúa" (Thiên Đàng). Điều đáng buồn là hai đô thị này khó hòa hợp được với nhau.

Đối với Giáo Hội, đô thị trần gian (quê hương đất nước) tự nó không phải là xấu: nó là một tổ chức cần thiết cho sự sinh tồn của con người trên cõi quê hương tạm bợ này. Nó chỉ trở nên xấu khi nó tự xem là một cứu cánh tự tại, khi nó đóng kín trong một ý thức tự mãn. Khi đó nó trở thành "đô thị của Satan".

"Xã hội loài người, khi tự xưng là cái Tuyệt Đối bằng cách thờ lạy dạy dân tộc, chế độ dân chủ, thuyết tiến bộ, sẽ là đô thị của Satan đối lập với đô thị Thiên Chúa". Như vậy, một xã hội có thể là rất tốt lành: tiến bộ, dân chủ, công bằng... nhưng nó vẫn là "đô thị của Satan" nếu nó tự xem là cái Tuyệt Đối, nghĩa là nếu nó không hướng về Thiên Chúa.

Mà như thấy trong phần nói về ý thức dân tộc, đô thị trần gian không thể tự xem là cái Tuyệt Đối, không thể đóng kín trong một ý thức tự mãn. Cho nên sự mâu thuẫn giữa hai đô thị phải nổ bùng thành tranh chấp: dưới mắt Thánh Augustin, lịch sử chính là cuộc tranh chấp không ngừng giữa hai đô thị: "Hai đô thị, đô thị của những kẻ tội lỗi và đô thị của những người thánh thiện cùng hành trình trong lịch sử từ ngày sáng thế đến ngày tận thế. Tất cả những người đang vui sướng trong ý chí cầm quyền, trong tinh thần thống trị, trong những ảo tưởng to lớn của danh vọng trần gian, tụ hợp trong đô thị thứ nhất... Trái lại, những người đang khiêm tốn phục  vụ sự vinh quang của Thiên Chúa, thuộc về đô thị thứ hai". Cuộc tranh chấp chỉ chấm dứt vào ngày tận thế, ngày chiến thắng của đô thị Thiên Chúa. Trong khi chờ đợi, người Công Giáo vẫn luôn bị xâu xé giữa hai "quốc tịch" của mình, vì mặc dầu thuộc "đô thị Thiên Chúa" (nước Vatican), họ vẫn phải sống trong "đô thị trần gian" (Tổ Quốc Việt Nam chẳng hạn). Nếu cái đô thị Thiên Chúa của Thánh Augustin chỉ là một cách nói ẩn dụ để chỉ sự  hiệp nhất của các tín đồ trong niềm tin nơi Thiên Chúa và trong cố gắng thánh hóa đời sống để xứng đáng vào nước Thiên Đường, thì cuộc tranh chấp nói trên chỉ diễn đạt dưới một hình thức gay gắt hơn, sự xung đột trường cửu giữa ý thức tôn giáo và ý thức dân tộc mà tôi đã phân tách trong phần trên.

Nhưng đô thị Thiên Chúa không phải là một hình ảnh tượng trưng: nó là Giáo Hội Công Giáo La Mã do Tòa Thánh Vatican lãnh đạo. Mà Tòa Thánh Vatican là quốc gia. Dầu chỉ là một quốc gia tí hon, nó vẫn có những quyền lợi riêng tư, không nhất thiết dính liền với quyền lợi của đạo Công Giáo mà có thể mâu thuẫn với quyền lợi của một quốc gia khác.

Nó cũng có một đường lối chính trị. Lẽ dĩ nhiên, cứu cánh tối hậu của đường lối này là "mở mang nước Chúa", nhưng sự mở mang nước Chúa đôi khi đi ngược lại quyền lợi của một số dân tộc. Chẳng hạn từ thời Phục Hưng cho tới những năm gần đây chánh sách Vatican, trên căn bản, vẫn là cấu kết với các cường quốc Tây Phương, theo gót những đoàn quân viễn chinh để giảng đạo, và tại các nước thuộc địa, thì biến các giáo hội thành những rường  cột của chế độ thực dân.

Mặt khác, Giáo Hội La Mã là tôn giáo đầu tiên đã phân biệt rõ rệt thần quyền (pouvoir spirituel) với thế quyền (pouvoir temporel) và luôn luôn đòi hỏi sự độc lập của thần quyền.  Sự phân biệt nói trên rất hợp lý và là một tiến bộ lớn so với sự lẫn lộn đạo với đời trong  những tôn giáo cổ sơ. Sự căng thẳng giữa hai quyền bính có thể là điều kiện tốt để cả hai bên cùng tự cải thiện, đồng thời tránh được sự lợi dụng lẫn nhau, ít ra là trên nguyên tắc. Nhưng sự phân biệt giữa thần quyền và thế quyền đã gây ra nhiều mâu thuẫn nhất giữa Giáo Hội và các quốc gia, và như Linh-mục Jacques Leclercq đã viết: "những khó khăn này sẽ không bao giờ được san bằng".

Trước hết, hai lãnh vực đạo và đời, trong thực tế, chồng chéo lên nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và không thể phân biệt rõ rệt như trong lý thuyết. Cho nên dầu cho chánh quyền có chấp nhận sự phân biệt, thì vẫn còn có cơ hội để xung đột với giáo quyền trong những phạm vi gọi là "pha chè" (domaine mixte), nghĩa là những phạm vi mà cả hai bên đều có những quyền lợi phải bảo vệ, chẳng hạn phạm vi giáo dục. Giáo Hội cần có một nền giáo dục Công Giáo độc lập như một môi trường thiết yếu, không những để truyền bá giáo lý mà còn để đào tạo thanh thiếu niên theo tinh thần Công Giáo. Nhưng quốc gia cũng cần nắm giữ tất cả thanh thiếu niên của mình để đào tạo chúng theo tinh thần quốc gia.

Nếu quan niệm về "tinh thần quốc gia" mâu thuẫn với tinh thần Công Giáo (chẳng hạn trong một quốc gia theo xã hội chủ nghĩa) thì sự xung đột nổ bùng và hầu như không thể giải quyết êm thắm được. Nhưng ngay trong những quốc gia không có một ý thức mâu thuẫn với đạo Công Giáo hoặc do chính người Công Giáo lãnh đạo, sự xung đột vẫn ngấm ngầm

Thứ đến, quan niệm của Tòa Thánh Vatican về sự độc lập của thần quyền rất là đặc biệt: Tòa Thánh không phải chỉ độc lập đối với quốc gia, mà còn đòi hỏi đứng trên và chế ngự quốc gia như Linh-mục Lecclercq viết:

"Cứu cánh tinh thần là cứu cánh tối hậu cao quý nhất, là điều duy nhất đáng được gọi là cứu cánh. Còn cứu cánh trần gian chỉ là phương tiện cho nên cái xã hội có sứ mạng dìu dắt con người đạt tới cứu cánh tinh thần (tức là Giáo Hội) phải ở trên cái xã hội chỉ lo cho những cứu cánh trần gian. Cứu cánh tinh thần phải đứng đầu, nếu không thì sẽ không còn cứu cánh tinh thần. Giáo Hội phải đứng trên quốc gia, nếu không thì sẽ không còn Giáo Hội"

Lập luận nói trên thật là lô-gích, nhưng các nhà lãnh đạo quốc gia khó lòng mà nuốt cho trôi cái lô-gich siêu việt đó, dầu họ là người Công Giáo. Nói cho đúng, Tòa Thánh chỉ đòi hỏi cái địa vị "ăn trên ngồi trước" đối với các quốc gia Công Giáo, nghĩa là những quốc gia mà toàn thể hoặc đại đa số dân chúng là Công Giáo và được cai trị bởi một chính quyền Công Giáo. Còn đối với các quốc gia không công giáo, Tòa Thánh chỉ yêu cầu được xem như một tổ chức độc lập có nhiệm vụ chăm sóc "phần đạo" của các tín đồ. Nhưng đây chỉ là một thực trạng (état de fait) mà Tòa Thánh phải chấp nhận như một điều bất như  ý: cái lý tưởng vẫn là một thế quyền Công Giáo tùng phục thần quyền của Tòa Thánh.

Mà ngay như sự độc lập của Tòa Thánh xem như "bất như ý" đó, đã là một vấn đề lớn cho quốc gia, vì trước hết nó có nghĩa là chính quyền không có quyền can thiệp vào sự bổ nhậm hàng giáo phẩm bản xứ (nghĩa là các Đức Giám-mục). Hàng giáo phẩm hoàn toàn độc lập với chính quyền và chỉ tuân phục Đức Giáo Hoàng. Nếu Đức Giáo Hoàng chỉ là một giáo chủ thuần túy thì không có gì đáng ngại. Nhưng Ngài cũng là nguyên thủ của một quốc gia mà những quyền lợi có thể mâu thuẫn với những quốc gia khác. Và khi có mâu thuẫn, thái độ của hàng giáo phẩm bản xứ sẽ là một mối lo ngại lớn cho quốc gia. Vì lẽ đó, các chính quyền ôn hòa đều tìm cách thỏa hiệp với Tòa Thánh La Mã để có thể tham dự phần nào vào sự bổ nhiệm hàng giáo phẩm, và các chính quyền cực đoan sẽ tìm cách tách rời hàng giáo phẩm ra khỏi Tòa Thánh, chẳng hạn tạo ra những phong trào "giáo hội tự trị" như tại Trung Quốc vào những năm 1951-1952. Những phong trào này không phải là sáng kiến độc đáo của các chánh quyền "vô thần", vì ngay từ thế kỷ 17, dưới triều nhà vua Công Giáo Louis XIV, cũng nẩy sinh một phong trào tự trị trong giáo hội Pháp do Giám-mục Bossuet khởi xướng. Thật ra những phong trào nói trên chỉ biểu hiện một cách cực đoan về sự mâu thuẫn giữa chủ quyền quốc gia và sự độc lập của Giáo Hội, một giáo hội mà cơ quan đầu não lại là một quốc gia.  Cho nên, cuối cùng, vấn đề nằm ở đây: sự phận biệt thần quyền và thế quyền mà chính giáo hội đòi hỏi, giáo Hội lại không tôn trọng ở ngay trong quốc gia Vatican. Nơi đây, giáo quyền và chánh quyền là một. Đức Giáo Hoàng vừa là Hoàng Đế vừa là Giáo Chủ, và không có một sự phân biệt nào giữa quốc gia Vatican và những cơ quan trung ương điều khiển Giáo Hội phổ biến. Sự hàm hồ đó là nguyên nhân căn bản của sự nghi kỵ sâu xa của những người không Công Giáo đối với Giáo Hội và là nguồn gốc của hầu hết những sự xung đột giữa Tòa Thánh và các chánh quyền Công Giáo cũng như không Công Giáo" .[vii] . 

Qua những đoạn văn trên đây, chúng ta đã thấy rằng, khi đưa ra lý thuyết Đô Thị Thiên Chúa Giáo, Giáo Hội có chủ tâm muốn dùng lý thuyết này đề nhồi sọ tín đồ  tin rằng Giáo Hội có quyền chiếm giữ cái thế "ăn trên ngồi trước" trong xã hội lòai người. Đối với những người có chút lương tri, dù là tín đồ của Giáo Hội thì cũng không thể nào chấp nhận được cái lập luận trịch thượng này. Khi đưa ra chủ thuyết này, Giáo Hội biết rõ là nó ngược ngạo, ngược đời và sẽ làm cho người nghe, nghe thấy trái tai, rồi sẽ chống lại. Biết rõ như vậy, cho nên Giáo Hội phải tìm cách cấm tự do, không cho phát biểu tư tuởng và tự do báo chí:

"Trong xã hội loài người, Giáo Hội không bao giờ công nhận cho các tôn giáo khác hoặc cho những người không công giáo cái quyền ăn nói ngang hàng với mình, bởi các lý do giản  dị là chỉ có Giáo Hội mới có sự thật mà chỉ có có sự thật mới có quyền ăn nói. Người sai lầm thì chỉ có mỗi một quyền sửa sai. Trong thông điệp ngày 29-4-1814 gửi Đức Giám-mục địa phận Troyes, Đức Giáo Hoàng Pie VII viết: "Người ta lẫn lộn sự thật với sự sai lầm, người ta đặt Hiền thê thánh thiện và tinh tuyền của Đức Kitô (tức Giáo Hội Công Giáo) ngang hàng với những giáo phái lạc đạo và ngay cả với bọn Do Thái bất tín". Đức Giáo  Hoàng Grégoire XVI đã gọi tự do báo chí là "thứ tự do tai hại nhất, đáng ghét nhất, kinh tởm nhất mà một số người dám đòi hỏi một cách ồn ào cuồng nhiệt và quảng bá khắp nơi.. .". (8) [viii]

5.- Năm 431:  Sau khi bịa đặt tín lý Chúa Ba Ngôi, Giáo Hội La Mã mới thấy rằng, nếu không làm một cái gì để sửa lại tư thế  của bà Mary (một người đàn bà không những đã thực sự mang thai và  sinh ra ông Jesus một cách rất bình thường như tất cả các phụ nữ khác đã mang thai và sinh con, mà còn có cả 5, 6 người con khác nữa),  thì chẳng hóa ra cái tín lý Chúa Ba Ngôi trở thành trơ trẽn  và lố lăng quá. Cũng vì thế mà năm 431, Giáo Hội mới đưa ra tín điều Đức Mẹ Đồng Trinh. Chuyện bịa đặt này được ông Charlie Nguyễn ghi nhận trong cuốn Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm như sau:

"Sau khi tiêu diệt đạo Ki-tô nguyên thủy, các tu sĩ Vatican triệu tập Công Đồng Ephesus vào năm 431 để thiết lập giáo lý về Đức Mẹ. Tại Ephesus có đền thờ nữ thần Diana của La Mã vốn được mệnh danh là nữ thần Đồng Trinh (Goddess of Virginity). Tại cuộc họp này, các nhà lãnh đạo Giáo Hội chủ trương biến  Đức Mẹ Maria thành nữ thần Đồng Trinh, mục đích là để thu hút tín đồ của Đa Thần Giáo La Mã (Babylon Mystery Religion - p.11)" (9)  [ix].

6.- Thập niên 450: Năm 451, Đế Quốc La Mã suy yếu trước sức tấn công như vũ như bão của người hùng Hung Nô Attila từ Châu Á tiến vào. Bạng duật tường trì, ngư ông đắc lợi. Nhân cơ hội này, Giáo Hội nhẩy ra xin làm kẻ trung gian và được Hoàng Đế Valentinian (419-455) của Đế Quốc La Mã giao cho sứ mạng Tô Tần đi thương lượng. Thế là uy tín của Giáo Hội bắt đầu vươn lên và thoát khỏi thân phận của một giáo hội quốc doanh. Kể từ đó, Giáo Hội nhẩy lên sân khấu chính trị nắm giữ vai trò chủ chốt trong chính quyền Đế Quốc La Mã, và bắt đầu thủ vai Chúa Trịnh, dồn Hoàng Đế của Đế Quốc La Mã vào cái thế ngồi làm vì giống như vua Lê trong thời Trịnh Nguyễn Phân Tranh hay các vua bù nhìn nhà Nguyễn từ thời Đồng Khánh đến Bảo Đại. Hành động lấn chiếm tiếm đọat quyền lực chính trị ở thời điểm này là việc Giáo Hoàng Leo I (440-461) đã nhiều lần mạnh mẽ tuyên bố thẳng thừng cho mọi người biết rằng:,

"Quyền hành của Giáo Hòang phải bao trùm tất cả các quyền hành của các nhà cầm quyền thế tục" (Leo has strongly and repeatedly asserted the primacy of  Rome's bishop over all other Christian bishops. Not too much new there except perhaps the two adverbs. But more than that, he has declared the authority of the Roman bishop over all temporal rulers as well."   [x]

Việc Giáo Hoàng Leo I đòi hỏi như vậy là ông dựa vào lý thuyết City of God của  Saint Augustine (như đã trình bày ở trên) để lấn chiếm tiếm đọat  thêm quyền lực cho Giáo Hội.Thế nhưng, đây cũng chỉ là cái tham vọng  trong tư tưởng và Giáo Hội tưởng rằng thời cơ đã đến để cho Giáo Hội có thể đem cái tham vọng này biến thành cụ thể. Kể từ đó cho đến cuối thế kỷ thứ 8, Giáo Hội cứ ngỡ rảng thời cơ đã đến, nhưng trong thực tế nó  vẫn chưa đến mà chỉ là ảo tưởng, vì rằng  Đế Quốc La Mã vừa sụp đổ thì Đế Quốc Byzantine (lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) vươn tới thay thế. Tới cuối thế kỷ VIII, Đế Quốc Byzantine suy yếu và co lại ở vùng Cận Đông (rồi sụp đổ vào năm 1453), thì Giáo Hội La Mã lại rơi vào tình trạng lăn qua lăn lại như một trái banh hết lọt vào tay cầu thủ  Pháp [từ thời vua Charlemagne (768-814)], rồi đến cầu thủ Ý và sau đó thì đến cầu thủ   Đức. Đồng thời, khì bắt đầu có thêm quyền lực chính trị, thì các ông chức sắc cao cấp trong Giáo Hội lại rơi vào  tình trạng  xấu xé thanh tóan lẫn nhau để tranh giành quyền lực.

Hậu quả của tình trạng  Giáo Hội bị các thế lực Pháp, Ý và Đức tranh giành dùng làm công cụ để lòe bịp nhân dân dưới quyền và hậu quả của tình trạng nội bộ xâu xé lẫn nhau đưa đến những tình trạng thảm thương là hàng trăm ông giáo hoàng bị truất phế, bị bắt giam, bị hành hình, bị mưu sát, bị đầu độc và bị gọi là ngụy giáo hoàng (anti-pope). Cựu giáo-sĩ Peter de Rosa kể ra trong mục danh sách các giáo hoàng trong tác phẩm Vicars of Christ có tới 37 ông nguy giáo hoàng, tức là có tới 37 lần Giáo Hội chia ra làm hai hay ba phe, mỗi phe tôn lên một minh chủ để đối đầu trong cuộc chiến tàn sát  lẫn nhau   hầu giành chiếm ngôi vị giáo hòang   theo quy luật "được làm vua, thua làm giặc" (đựoc làm giáo hòang hay đức thánh cha và thua thì bị gán cho là ngụy gíao hòang hay ngụy thánh cha.)  Nói về tình trạng các phe phái trong giáo triều Vatican của Giáo Hội vừa phải làm đầy tớ cho các chính quyền Âu Châu  vừa gầm gừ, cấu xé  và tàn sát lẫn nhau để tranh giành ảnh hưởng và quyền lực, học giả Gia-tô Phan Đình Diệm viết trong bản Kiến Nghi 5 Về Đông  như sau:

"Kể từ thế kỷ IV, từ ngày Thánh Giáo Hòang Miltiades (311-314) tiếp nhận Cung Điện Lateran, tặng phẩm của Hòang Hậu Fausta và Hoàng Đế Constantine Đệ Nhất, Giáo Hội Công Giáo Roma một nửa là thuộc về Caesar, một nửa thuộc về Thiên Chúa. Giáo Hội làm tôi hai chủ, Giáo Hội khởi bước từ từ tách ra xa "con đường truyền giáo và cứu độ" của Đức Giê-su Kitô, Sư Phụ Nazareth. Giáo Hòang tuân lệnh Hòang Hậu triệu họp Synod (hội nghị) năm 313 trong cung điện này, mở màn cho 8 Công Đồng Chung tiếp theo từ 325 (Nicaea I) đến 870 (Constantinopla IV) được triệu họp bởi 7 Hòang Đế và một Nữ Hoàng.Từ Công Đồng Thứ Nhất Nicaea I Giáo hội đã tự chia thành hai khối, các nghị phụ Tây Phương và các nghị phụ Đông Phương, cứ thế hơn 400 năm, hai khối Giáo Hội Đông và Tây hiệp thông - bằng mặt chứ không bằng lòng - tại 8 Công Đồng..."    [xi]

(Tình trạng các ông chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatcan gầm gừ, cấu xé  và tàn sát lẫn nhau để tranh giành ảnh hưởng và quyền lực sẽ được trình bày đầy đủ o Chương 15).

7.- Năm 600: Vào năm này, Giáo Hội dựa vào  tín lý "Chúa là Đấng tòan năng, tòan thiện, có mặt ở khắp mọi nơi", "kẻ nào tin có Chúa thì sẽ được lên Thiên Đường, kẻ nào  không tin có Chúa thì sẽ phải bị đày xuống Hỏa Ngục" của người Do Thái để bịa đặt ra  Nơi Luyện Ngục hầu lừa gạt tín đồ. Chuyện đại bịp này được ông Charlie Nguyễn viết trong cuốn Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm với nguyên văn như sau:

"Kinh Cầu Hồn và Ngày Lễ Các  Linh Hồn xuất hiện do sự phát minh ra Lò Luyện Ngục của Giáo Hòang Gregory the Great (590-604) vào.năm 600.

Kinh Thánh Cựu Ước cũng như Tân Ước chỉ nói tới Thiên Đàng và Hỏa Ngục, chứ không hề nói tới một nơi thứ ba để tạm giam giữ các linh hồn. Vào năm 600, Giáo Hoàng Gregory I (590-604) công bố giáo lý mới là một nơi thứ ba giam giữ các linh hồn để thanh tẩy hết mọi tội nhẹ trước khi vào Thiên Đàng, nơi đó Giáo Hoàng gọi là Nơi Luyện Ngục (Purgatory). Năm 1459, Công Đồng Florence (Pháp) đã biến phát minh này thành tín điều hiện hành  buộc tín đồ phải tin (an actual dogma). Nhờ có tín điều này, Giáo Hội Công Giáo đã trở thành giáo hội giầu nhất thế giới do tiền của giáo dân nộp cho cha cố nhà thờ để xin lễ cầu hồn cho các thân nhân quá cố. Ngòai ra, trong thời Trung Cổ, Vatican còn tổ chức nhiều đại lý ở khắp nơi để rao bán ơn đại xá của Tòa Thánh (indulgence sales) đã thu về  cho Rome những nguồn tài sản kếch sù gồm đủ  thứ vàng bạc nữ trang và báu vật. Nhờ vào những nguồn lợi lớn lao này, giáo hoàng và tu sĩ cao cấp ở Vatican đã có một lối sống hết sức xa hoa tội lỗi. Chính điều này là động lực trực tiếp thúc đẩy Martin Luther từ bỏ Công Giáo lập ra đạo Tin Lành. Ông nói: Những kẻ bán ơn tha tội là những kẻ phạm tội lớn nhất (Those who sold indulgence to sinners were great sinner themselves).

Việc thu tiền lễ cầu hồn là một thủ đọan làm tiền trắng trợn của bọn cha cố lưu manh. Tại Ái Nhĩ Lan là nước toàn   tòng Công Giáo có câu ca dao  nổi tiếng như sau: "High money high Mass; low money, low Mass; no money, no Mass." (Nhiều tiền lễ lớn, ít tiền lễ nhỏ, không tiền không lễ). Thành thử chỉ những linh hồn có thân nhân giầu có mới hy vọng được vào nước Thiên Đàng của Chúa mà thôi. Trải qua nhiều thế kỷ bị bọn cường quyền cấu kết với bọn tu sĩ lưu manh áp lực, bóc lột và lừa bịp, đám dân nghèo ở Âu Châu vào đầu thế kỷ 19 đã lên tiếng đòi hỏi Giáo Hội phải tổ chức một ngày lễ cầu hồn miễn phí chung cho những người thiếu may mắn vì không có thân nhân bỏ tiền ra xin lễ. Họ gọi những linh hồn này là những linh hồn bị bỏ quên trong Nơi Luyện Ngục (The forgotten souls in Purgatory). Năm 1856, Vatican đã đáp ứng lời yêu cầu của đám dân nghèo bằng cách lập ra ngày Lễ Các Linh Hồn (All Souls Day) vào ngày 2 tháng 11 hàng năm, tương tự như lễ cúng các cô hồn vào ngày rằm tháng 7 của ta.. Vì vậy, một số các bài kinh cầu hồn đã được sáng tác để đáp ứng nhu cầu này. Quả thật sự phát minh (bịa đặt) ra Nơi Luyện Ngục của Giáo Hoàng Gregory I (590-604), tiếp theo là các lễ cầu hồn, đã biến Núi Sọ (Golgotha) của Chúa thành Núi Vàng (Golconda( của Giáo Hội Công Giáo La Mã."   [xii]

Sách The Decline And Fall Of The Roman Church  nói về phương cách mà Giáo Hội và bọn cán bộ tay sai của Giáo Hội khai thác cái huyền thoại "Nơi Luyện Ngục" để làm tiền này như sau:

"Bốn năm trước, Giáo Hoàng Leo X  (1513-1521) thương thuyết với ông Hoàng Albert và đạt được thỏa hiệp rất tinh vi và phức tạp, nhưng cả hai bên đều có lợi. Theo thỏa hiệp này,  Ông Hoàng Albert được kiêm nhiệm ba chức giám mục cai quản ba giáo khu Mainze, Magdeburg và Halberstag. Thực ra, đây là một việc làm bất chính và bất hợp pháp, vì một người cai quản cả ba giáo khu là vi phạm giáo luật và là một trọng tôi. Nhưng Giáo Hoàng Leo X cho phép làm như vậy để ông nhận được một khoản tiền 21 ngàn ducats về việc ban cấp cho ông Hoàng Albert được cai quản cả ba giáo khu này, và một khoản tiền khác nữa là 20 ngàn  ducats về việc để cho ông Hoàng Albert được tiếp tục cai quản ba giáo khu này một cách bất hợp pháp. Dĩ nhiên là ông Hoàng Albert đã cho Giáo Hoàng Leo X biết   là ông ta không có tiền, nhưng có thể vay số tiền này của nhà ngân hàng Jacob Fugger. Giáo Hoàng Leo phải cho phép ông Hoàng Albert bán một món hàng đặc biệt là giấy xá tội trong cả ba giáo khu để ông lấy tiền trả nợ cho nhà ngân hành Fuggers. Giá bán  giấy xá tội từ một nửa tiền vàng florin (cho người rất nghèo) tới  3 (ba) tiền vàng florins (cho các ông thày tu khất thực), 5 (năm) tiền vàng florins (cho các ông tiến sĩ hay bác sĩ) và cao hơn nữa  tới 25 tiền vàng florins cho những người trong giới quý tộc và hoàng gia.

Để làm cho tư thế của ông có thêm uy tín như là một nguồn tình thương yêu đối với linh hồn tín đồ đang chịu đau khổ trong Nơi Luyện Tội, ông Hoàng Albert phải có một cái gì đặc biệt. Đó là công trình sưu tầm các thánh tích của ông. (Dĩ nhiên, tất cả là đồ giả): một nạm  cỏ khô (nói là) lấy từ mang cỏ đêm Giáng Sinh đầu tiên khi Chúa hài đồng mới chào đời, bốn (4) sợi tóc14 miếng vải quần áo của Đức Bà Đồng Trinh, một (1) sợi râu của ông Jesus, một cái đinh lấy từ cây thánh giá đóng ghim ông Jesus lúc bị  hành hình, và khoảng 19, 093 mảnh xương các thánh và những người tử đạo. Bất kỳ người nào - từ ông hoàng cho đến những người bần cùng -, nếu trả tiền  vào cửa đề sùng kính những thánh tích này thì có thể làm giảm thời gian bị  giam cầm ở trong Nơi Luyện Ngục của những linh hồn   những người thân thương từ  1,902,202 năm và 270 ngày...."

["Four years ago, Leo negotiated a vey delicate, intricate, but mutually profitable agreement with Albert, prince-archbishop of three dioceses, Mainze, Magdeburg, and Halberstag. Actually, it was illegal, a felony violation of church law, to hold three dioceses at one time. But Leo permitted it - for a consideration: 21,000 ducats for being granted the dioceses; 20,000 ducats for being allowed to keep them illegally. Albert, of course, told Leo he was penniless, but he borrowed the money from the Jacob Fugger banking house. Leo allowed Albert to sell a special inventory of indulgences in all three dioceses, in order to pay back the Fuggers. Price of indulgences went from half a gold florins (for the very poor), to three gold florins (for mendicans), five gold florins (for doctors), and so on to twenty-five gold florins for nobility and royalty."

"To enhance his position as a source of mercy for the faithful suffering in Purgatory, Prince Albert had something special, his collection of relics (all of course, fraudulent): a wisp of straw from the manger where the baby Jesus lay on the first Christmas night, four hairs from the Virgin's head, fourteen  pieces of her clothing, a strand of Christ's bears, a nail from Christ's cross, a little over 19,093 sacred bone parts of saints and matyrs. For venerating all this  and a payment, anyone - prince or pauper - could shorten  the stay of any close friend of relative in Purgatory by 1,902,202 years and 270 days.  [xiii]

8.- Trong thế kỷ thứ 9:   Nhận thấy những lời dạy có sẵn trong Cựu Uớc và những tín lý cũng những giáo điều đã được đặt ra từ ngày ông Jesus qua đời cũng vẫn chưa đủ hấp dẫn để lối cuốn người dân khờ khạo tin theo, và cũng vẫn không đủ mãnh lực để khống chế những bọn trí thức nửa mùa còn bán tín bán nghi, chưa chịu tin tưởng hoàn toàn vào chủ thuyết độc tôn tôn giáo của Giáo Hội, các nhà lãnh đạo thần quyền cho rằng cần phải có thêm những món quà mới lạ với những ý niệm mới dựa trên một tâm lý mới cho nó có vẻ hấp dẫn hơn. Một loạt ý niệm mới được lệnh đưa ra rao giảng rằng một người là tổng hợp giữa cơ thể và linh hồn. Linh hồn có tâm linh tính (spirituality), có tự do chọn lựa và bất tử. Cơ thể thì có các giác quan và có những tính say mê và khát vọng (passions). Linh hồn con người thì bất diệt như Thượng Đế. Thể xác con người thì cũng giống như thể xác loài vật. Muốn cho linh hồn lớn lên trong tình thương của Thượng Đế và kiềm chế những dục vọng cứng đầu cùng những cảm giác bất thường, người tín hữu Ki Tô La Mã phải tuyệt đối tin vào bẩy lễ thức gọi là bẩy phép bí tích: rửa tội, thêm sức, sám hối, dọn mình rước lễ, hôn phối, phong chức, sức dầu thánh khi lâm chung. Có như vậy thì mới đủ điều kiện được Chúa chọn cho lên nước trời. Không theo đúng như vậy là mất linh hồn. Và mất linh hồn sẽ khốn khổ vô cùng. Sự kiện này được hai nhà viết sử Arnold Schrier & T. Walter Wallbank ghi lại như sau: :

Giáo Hội đã đặt ra một hệ thống tín lý cho các tín đồ phải tin theo. Quan trọng hơn cả là bảy phép bí tích: phép rửa tội, phép thêm sức, phép mình thánh Chúa, phép hôn phối, phép giải tội, phép truyền chức thánh, và phép sức dầu thánh. Giáo Hội dạy rằng trong lễ rửa tội, người theo đạo nhận thêm một tên thánh vào khi làm lễ; trong phép thêm sức, tín đồ mới thực sự được thâu nhận vào Giáo Hội; qua phép giải tội, ngưòi phạm tội đã biết ăn năn thống hối thì tội lỗi sẽ được giải trừ; khi cử hành lễ dâng mình thánh thể, vị tu sĩ dâng lễ sử dụng bánh và rượu để nhớ lại Bữa Cơm Chiều Cuối Cùng của Chúa; phép hôn phối công nhận và ban phước lành cho lễ hôn nhân của cặp uyên ương người mới thành đôi; phép truyền chức thánh cho những người được thụ phong linh mục; phép sức dầu thánh được ban cho cho người hấp hối. Tín đồ của Giáo Hội chấp nhận rằng tiếp nhận những phép bí tích là điều cốt yếu trong việc cứu rỗi, và chỉ có các ông tu sĩ của Giáo Hội mới được làm lễ ban hành các phép bí tích này”.

("The Church had developed a body of beliefs which everyone became a Christian accepted. Most important were the seven sacraments: baptism, confirmation, penance, the Holy Eucharist, matrimony, holy orders, and extreme unction. The Church ruled that in partaking of baptism, a person was to become and to receive a Christian name in a christening ceremony; when the sacrament of confirmation was administered to him, he was received into the Church; by penance, a penitent wrongdoer was absolved of sins. In the celebration of the Holy Eucharist, the priest consecrated bread and wine in commemoration of the Last Super; and marriage was recognized when it was blessed and regulated by the sacrament of matrimony. The sacrament called holy orders was conferred upon men who entered the priesthood. The sacrament of extreme unction was administered by the priest to the dying. People accepted the rule that partaking of the sacraments was essential to salvation and that the sacraments could be administered only by the clergy.”)  .[xiv] 

9.- Cuối thế kỷ 11: Trong thời Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085), Giáo Hội cho ban hành hành tuyên cáo "Dictatus papae" gồm 27 điều   gọi là nguyên tắc có hiệu lực như luật. Nguyên do vì vào những năm này, Giáo Hội La Mã vừa mới thoát ra khỏi sự khống chế của Đế Quốc Byzantine và các  thế lực chính trị Pháp, Ý, Đức bất đầu suy yếu,  Giáo Hoàng Gregory liền thừa thắng xông lên, nhẩy lên bàn độc, đưa ra bản tuyên ngôn "Dictatus papae" quái đản với 27 nguyên tắc thật là ghê gớm, trong đó có cả nguyên tắc đòi các ông hoàng đế hay vua chúa khi đến viếng thăm giáo hoàng thì phải quỳ mọp xuống chờ ông ta (giáo hoàng) đưa bàn chân ra mà hôn hít để tỏ lòng tôn kính. Dưới đây là toàn bộ 27 nguyên tắc này được ghi trong tài liệu THE HUMAN RECORD - sources of global story", Vol I, Andrea-Overfield, University of Vermont, 1999, tr. 225-226),  do nhà biên khảo Vũ Huy Quang  ghi lại đầy đủ, nguyên văn như sau:

THE POPE'S PROCLAMATION

1.- That the Roman church was established by God alone.

2.- That the Roman pontiff alone is rightly called universal.

3.- That he alone has the power do depose reinstate bishops.

4 .- That his legate, even if he be of lower esclesiastical rank, presides over bishops in council, and he has the power to give sentence of deposition against them.

5.- That the pope has the power do depose those who are absent (i.e., without giving them a hearing).

6.- That, among other things, we ought not to remain in the same house with those whom he has excommuncated.

7.- That he alone has the right, according to the necessity of the occasion, to make the new laws, to create new bishoprics...

8.- That he alone may use the imperial insignia.

9.- That all princes shall kiss the foot of the pope alone.

10.- That his name alone is to be recited in the churches.

11.- That the name applied to him belongs to him alone.

12.- That he has the power to depose emperors.

13.- That he has the right to transfer bishops from one see to another when it becomes necessary.

14.- That he has the right to ordain as a cleric anyone from any part of the church whatsoever.

15.- That anyone ordained by him may rule (as bishop) over another church.

16.- That no genaral synod may be called without his order.

17.- That no action of a synod and no book shall be regarded as canonical without his authority.

18.- That his decree can be annulled by no one, and that he can annul the decrees of anyone.

19.- That he can be judged by no one.

20.- That no one shall dare to condemn a person who has appealed to the apostolic seat [to the pope).

21.- That the important cases of any church whatsoever shall be referred to the Roman Church [to the pope].

22.- That the Roman church has never erred and will never err to all eternity, according to testimony of the holy scriptures.

23.- That the Roman pontiff who has been canonically ordained is made holy by the merits of St. Peter...

24.- That by his command or permission subjects may accuse their rulers .

25.- That he can depose and reinstate bishops without the calling a synod.

26.- That no one can be regarded as catholic who does not agree with the Roma church.

27.- That he has the power to absolve subjects from their oath of fidelity to wicked rullers ." (15)[xv] .

Xin chuyển dịch tài liệu trên sang Việt ngữ như sau:

TUYÊN CÁO CỦA GIÁO HOÀNG

1.- Rằng Giáo Hội La Mã do một mình Thiên Chúa lập nên.

2.- Rằng chỉ có Giáo Hội La Mã được quyền cai quản toàn cầu.

3.- Rằng chỉ có  Giáo Hoàng mới có quyền bổ nhiệm hay bãi chức các giám mục.

4.- Rằng đại diện của Giáo Hoàng dù là có cấp bậc thấp hơn trong hàng giáo phẩm cũng có quyền chủ tọa hội đồng giám mục và có quyền truất bỏ các giám mục.

5.- Rằng Giáo Hoàng có quyền truất phế những người vắng mặt (nghĩa là không cho bị cáo được điều trần).

6.- Rằng, dù bất cứ lý do nào, không ai được sống chung  hay sống cùng một mái nhà với những người đã bị Giáo Hội rút phép thông công (bị phạt vạ tuyệt thông).

7.- Rằng, tùy theo nhu cầu của hoàn cảnh, chỉ có Giáo Hoàng mới  có quyền làm giáo luật mới để thiết lập một chức vụ giám mục mới.

8.- Rằng chỉ có Giáo Hoàng mới được mang huy hiệu đế quốc.

9.- Rằng tất các  ông hoàng đế và vua chúa sẽ được hôn bàn chân của Giáo Hoàng.

10.- Rằng chỉ có tên Giáo Hoàng mới được đọc lớn ở các giáo đường.

11.- Rằng danh hiệu đã được áp dụng đối với Giáo Hoàng sẽ chỉ có một mình Ngài được sử dụng.

12.- Rằng Giáo Hoàng có quyền truất phế tất cả các ông hoàng đế.

13.- Rằng, nếu cần, Giáo Hoàng có quyền thuyên chuyển các giám mục ra khỏi giáo phận đương nhiệm.

14.- Rằng Giáo Hoàng có quyền phong chức cho bất kỳ người nào ở bất kỳ nơi nào vào bất kỳ chức vụ nào trong Giáo Hội.

15.- Rằng bất kỳ người nào đã được Giáo Hoàng phong chức đều có thể quản nhiệm một nhà thờ khác.

16.- Rằng không có một đại hội nghị tôn giáo nào được nhóm họp nếu không có lệnh của Giáo Hoàng.

17.- Rằng không có một quyết định của một hội nghị tôn giáo được coi là giáo luật  và cũng không có một sách nào được coi là giáo luật  nếu không có quyết định của Giáo Hoàng ở trong đó.

18.- Rằng không ai có quyền hủy bỏ sắc luật của Giáo Hoàng và rằng Giáo Hoàng có thể hủy bỏ sắc luật của bất kỳ người nào.

19.- Rằng không ai có quyền xét đoán Giáo Hoàng.

20.- Rằng không ai có thể dám lên án một người đã cầu cứu đến Giáo Hoàng.

21.- Rằng mọi vấn đề quan trọng trong bất cứ   thánh đường nào cũng phải đệ trình lên Giáo Hoàng.

22.- Rằng Giáo Hội La Mã không bao giờ sai lầm trước mọi vấn đề thuộc về vĩnh cửu đúng theo như kinh thánh.

23.- Rằng ngôi vị Giáo Hoàng đã được thánh hóa từ sự vinh quang của Thánh Peter.

24.- Rằng theo lệnh hay phép của Giáo Hoàng, thần dân (nhân dân) trong nước có quyền tố cáo nhà cầm quyền của họ (với Giáo Hội).

25.- Rằng Giáo Hoàng có quyền truất phế hay tái phong chức cho các giám mục mà không cần phải triệu tập một hội nghị tôn giáo để quyết định.

26.- Rằng không ai được coi như là tín đồ Giatô nếu người đó không đồng thuận với Giáo Hội La Mã.

27.- Rằng Giáo Hoàng có thể "giải trừ cho nhân dân khỏi phải làm bổn phận đối với các ác quyền bất công."

Nguyên tắc "Chỉ có Giáo Hoàng mới được đưa bàn chân ra cho các ông hoàng hôn hít" trên đây được bọn cán bộ truyền giáo đến Việt Nam biến thành tục lệ  đòi hỏi các ông tu sĩ bản địa phải "sụp lạy quỳ  mọp xuống hôn hít giầy dép các nhà tuyền giáo" (sẽ được nói rõ ở phần sau) và giáo dân thì phải sụp lạy rồi qùy mọp và gục mặt xuống hôn hít chiếc nhẫn đeo tay của các ông giám mục".  Về tục lệ "hôn nhẫn" của các ông giám  mục, độc giả có thể tìm đọc trong cuốn "Hơn Nửa Đời Hư" của cụ Vương Hồng Sển (Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1995, tr 484-488) để biết rõ  cái hình ảnh khúm núm hèn hạ đến lợm giọng của giáo dân Gia-tô trong lúc hành xử cái tục lệ quái đảnvà dã man sặc mùi phong kiến này..

10.- Năm 1095:  Giáo Hội phát động chiến tranh thập tự.- Sau khi đã công khai tuyến bố tóm thâu hết cả thần quyền và thế quyền vào trong tay, tháng 11 năm 1095, Giáo Hòang Urban II (1088-1099), ra lệnh phát động các cuộc thập tự chiến, truyền lệnh cho bọn vua chúa Anh, Pháp, Đức và Ý đem quân thập tự tiến vào vùng Cận Đông và miền Nam nước Pháp để  vừa tiêu diệt  Hôi Giáo, Do Thái Giáo, Chính Thống Giáo và giáo phái Cathari  vừa hủy diệt nền văn hóa của họ. Trận chiến này khởi đầu cho nhiều trận chiến khác cũng mang tên là "Thập Tự Chiến" mà Giáo Hội tôn vinh là "Thánh Chiến". Cuộc chiến này kéo theo hàng chục cuộc chiến  thập tự khác khiến cho nhân dân Âu Châu  và vùng Cận Đông lâm vào cảnh chém giết triền miên kéo dài tới 197 năm. Sự kiện này được các nhà viết sử ghi lại như sau:

"Giáo Hoàng kêu gọi phát động cuộc chiến thập tự. Giáo Hoàng Urban II (1088-1099) hăng say phát động cuộc chiến thập tự để thâu hồi lại Đất Thánh. Năm 1095, ông trịệu tập một đại hội gồm các tu sĩ chức sắc và các nhà quý tộc Pháp  nhóm họp tại Clemont, Pháp. Ông thúc dục các nhà quý tộc có quyền thế hãy  ngừng đánh phá lẫn nhau để tham gia vào một cuộc chiến lớn chống lại những người  tà giáo (những người thuộc các tôn giáo khác.).

Người ta gia nhập vào các Đoàn Quân Thập Ác này vì nhiều lý do. Giáo Hoàng hứa hẹn sẽ ban thưởng cho họ vừa lên thiên đường vừa được hưởng những phần thưởng vật chất thiết thực ở nơi trần thế. Mọi tội lỗi của nguời lính Thập Ác đều được tha thứ. Tài sản và gia đình của họ được Giáo Hội bảo đảm, trông nom săn sóc trong thời gian họ xa nhà đi chiến đấu. Những ai còn mang nợ sẽ được xóa bỏ hết nợ nần và những tội đồ sẽ được xóa bỏ hết tội ác, miễn bị trừng phạt nếu họ gia nhập vào đoàn quân Thập Ác của Giáo Hội. Nhiều ông hiệp sĩ chóa mắt vì những miếng mồi quyến rũ về những đất đai và của cải mà họ hy vọng sẽ ăn cướp được ở vùng Cận Đông giầu có. Các thương gia thì  thấy đây là cơ hội bằng vàng cho họ kiếm được những món lời lớn trong việc kinh doanh. Các cuộc viễn chinh của Đoàn Quân Thập Ác này một phần mang tính cách tôn giáo, nhưng cũng là một cuộc chiến tranh khích động lòng yêu thích phiêu lưu của con người, lòng hám lợi và khát vọng trốn thoát khỏi cảnh nợ nần, tù tội và buồn chán."

("The pope's call for a crusade.- Pope Urban II (1088-1099) was eager to promote the idea of Christian offensive to regain the Holy Land from Moslems. In 1095 he called a great meeting of churchmen and French nobles at Clemon, France. He urged the powerful nobles to stop warring among themselves and join in one great war against unbelievers....

Men joined the Crusades  for many different reasons. The pope promised both heavenly and earthly rewards. All the sins of a crusader were forgiven. His property and family were guaranteed protection by the Church during his absence. A debtor who took the cross had his debts canceled; a criminal was relieved of punishment. Knights were dazzled by the lure of lands and plunder in the rich Near East. Merchants saw and chance for commercial gain. The Crusades were partly religious expeditions, but they appealed to men's love of adventure, hope of gain, and desire to escape debts, punishment, or boredom." (16) [xvi]

Bản văn sử trên đây cho chúng ta thấy rõ Giáo Hội có chủ trương khơi động và nuôi dưỡng lòng ích kỷ, tham lam, háo danh, háo lợi của tín đồ và người đời để lôi cuốn họ lao vào làm những tên lính cảm tử hy sinh mạng sống phục vụ cho mưu đồ bất chính, đại gian và đại ác của Giáo Hội trong việc chinh phục đất đai. Bị khích động bởi những hứa hẹn của Giáo Hội, những người lính thập ác trong đòan quân viễn chinh của Giáo Hội đã phóng tay giết người,  đốt nhà, đốt chùa, phá miếu, phá đình, tàn sát đàn ông, hãm hiếp đàn bà con gái,  và vơ vét của cải mang đi tất cả những gì có thể mang đi được. Những hành động dã man tàn ác của các đạo quân thập tự này quả thật là độc nhất vô nhị trong lịch sử nhân loại. Mấy bản băn sử dưới đây cho chúng ta thấy rõ sự kiện này.Sách Men and Nations - A World History viết: 

"Trong cuộc chiến Thập Ác Thứ Nhất,… Sau một thời gian bao vây, quân Thập Ác chiếm được thành Jerusalem. Họ tàn sát dân Hồi giáo thật là vô cùng rùng rợn. Một vị chỉ huy quân Thập Ác viết cho Giáo Hoàng rằng con chiến mã của ông ta phải đi băng qua những xác chết  và máu người lênh láng lên đến đầu gối." ("The crusaders captured Jerusalem after a short siege and slaughtered the Moslem inhabitants in a terrible massacre. One leader wrote to the pope that his horse' s legs had been bloodstained to the knees from riding among the bodies of the dead.")   [xvii]

Sách Lòng Tin Âu Mỹ Đấy ghi lại:

"Năm 1209, Giáo Hoàng Innocent III (1198-1216) ra lệnh thánh chiến diệt họ (khối nhân dân ở vùng Toulouse thuộc miền Nam nuớc Pháp ngày nay. Lý do là vì họ không tin theo cái lối thờ phượng quái đản của Giáo Hội)… Đám quân thập ác dưới quyền chỉ huy của giáo sĩ Armaud Amauri, đại diện Giáo Hoàng, bao vây thành Béziers. Thành bị hạ vào ngày 22-7-1209. Toàn dân ở trong thành đều bị giết hết kể cả đàn bà và trẻ con."