
Posted: 5.11.04
Nguyễn
Mỵ NHỮNG
TÁC PHẨM DƯỚI THỜI
ĐẠI KGB (Văn Học Nga) Kể từ năm 1989,
Vitali Chentalinski, cựu vô tuyến điện báo viên vùng Bắc Cực trở thành
thi sĩ, đã thực hiện một công trình có thể nói là tuyệt vời tại
Moscou: Nhân danh là đại diện của Hội Đồng Liên Bang Những Người Thừa
Kế Các Văn Nghệ Sĩ Bị Đàn Áp, ông đã ra công tìm tòi, tra cứu các
tài liệu lưu trữ của nhà tù Loubianka, cơ sở từ lâu vẫn dùng để chứa
chấp các hồ sơ thanh trừng, hạ sát của cơ quan an ninh, mật vụ Xô Viết.
Cũng nhờ ông, dần dần từng chút, ló ra như một tảng băng lạnh buốt,
những đau khổ hành hạ được che đậy giấu diếm bấy lâu với các bản
thảo mà người ta tưởng rằng đã bị đánh mất, đốt cháy, thủ tiêu,
hoặc ngay như chưa từng được ai biết đến sự có mặt của chúng; tất
cả đã được Chentalinski lôi ra trình làng trong các nhà xuất bản. Năm 1994, ông đã cho
chào đời tại Pháp một quyển sách mang tựa đề Parole Ressuscitée (Lời
Sống Còn Trỗi Dậy) –và hẳn là còn khá lâu về sau nó mới có thể
được ra mắt tại chính đất nước ông- kể lại những lặn ngụp tìm
hiểu thấu đáo của ông trong giòng văn học tuẫn giáo thế kỷ này ở
Nga. Thế là người ta nhìn thấy những trổi dậy của những Isaac Babel,
Boris Pilniak, Andrei Platonov, Ossip Mandelstam, cũng như nhiều nam nhân, phụ nữ
khác trong bóng tối, như Nina Hagen Thorn, Gueorgui Demidov... Các tài liệu trộn
lẫn những phê bình của tác giả. Thảng hoặc có người tiếc rằng không
được đọc thấy nhiều hơn những tài liệu trong tình trạng nguyên mẫu
của chúng, thì bù lại, họ lại có được nhiều hơn mọi tin tức chính
xác, rành mạch về những vụ bắt bớ giam cầm, các bài viết “tự kiểm
điểm” của các nạn nhân, các bản án, tù đầy, hoặc ngay cả án tử
hình, học tập cải tạo nhiều năm. Có thể nói, tác phẩm Parole
Ressuscitée của Vitali Chentalinski là một bản tổng lược những khổ nhục
cực hình, cũng là viên đá đầu tiên để xây dựng một bệ đài tưởng
niệm những con người đã bỏ mạng ấy. VSEVOLOD MEYERHOLD:
Đạo diễn, sinh năm 1874, vào đảng Cộng Sản ngay từ thời kỳ đầu
1917, hiện thân cho nền kịch nghệ Cách Mạng Mới thập niên 1920. Sau đó,
giờ thất sủng đã điểm! Hí viện của ông bị giải tán năm 1938, ông bị
bắt giam năm 1939, xử bắn tháng 2/1940. Trước khi chết, ông viết một lá
thư cho Molotov, chủ tịch hội đồng cố vấn ủy ban nhân dân (tức là
ngài Thủ Tướng) để tố cáo, lên án những trò tra tấn hành hạ thể
xác và tinh thần mà ông phải chịu đựng từ những cán bộ cải tạo, quản
giáo ở nhà tù Loubianka. Lá thư được lưu giữ trong hồ sơ của ông, bây
giờ nhờ Vitali Chentalinski, nó soi sáng cho thấy bề mặt thê thảm của những
trường hợp gọi là giáo dục cải tạo: “Tôi bị đánh đập tàn nhẫn,
tôi chỉ là một ông già 65 tuổi. Chúng bắt tôi nằm sấp xuống đất, đánh
trên lưng, dùng một cái dùi cui bao lại bằng cao su mà nện vào gót chân
tôi. Thế rồi chúng dựng tôi ngồi dậy trên một chiếc ghế, lại tiếp
tục đánh với cái dùi cui ấy. Liên tiếp những ngày sau đó, trong khi đùi
vế còn đầy bầm tím, chúng lại lôi tôi ra tra tấn trên chính những vết
bầm xanh đỏ tím vàng. Nỗi đau đớn lên đến tột cùng như thể người
ta đang đổ dầu sôi lửa bỏng lên chỗ nhậy cảm nhất giữa hai bắp vế
tôi. Tôi phải gào thét kêu khóc theo những đau đớn ấy. (...) Cái TÔI
trong tôi bị xẻ làm đôi, nửa phần phải tìm cho ra những tội ác đã phạm,
mà nếu tìm không được thì nửa phần kia phải cố bịa ra. Trường hợp
đó, cán bộ quản giáo thật là hữu hiệu trên những giúp đỡ, đã cùng
tôi tung hứng phịa ra tội ác như một cặp song ca bài trùng. Có khi những
hứng khẩu của tôi đã suy cạn, lũ cán bộ giáo huấn hai, ba tên sáp lại
phân tích tỉ mỉ từng chi tiết của bài tự kiểm (có những bài phải viết
đi viết lại 4, 5 lần.) Mọi giác quan của tôi trở nên ù lì, vô cảm.
Cán bộ cải tạo nhắc nhở không ngừng rằng: ‘Nếu mày không chịu viết
bản tự kiểm, -có nghĩa rằng nếu tôi không thể phịa ra hơn nữa- thì bọn
tao sẽ dần mày nát xương, chỉ để nguyên vẹn cái đầu và cánh tay phải
cho mày viết; tất cả phần còn lại sẽ chỉ là một đống thịt vụn đẫm
máu.” Thế là tôi phải nhắm mắt ký nhận hết thảy mọi thứ. (...)” ISAAC Trong lúc tuyệt vọng,
tất cả những tội lỗi trên đời mà Isaac đã tự gán cho mình được viết
song song với những cuộc khảo cung, là một bản tường trình cá nhân dưới
hình thức ghi chú những nhận xét. Theo Vitali Chentalinski, những tường trình
này đã được sử dụng làm bản thảo cho những bài viết chính thức
các cuộc thẩm cung của nhà nước. Các cán bộ đã cẩn thận bỏ qua những
đoạn mà Isaac tự bào chữa trách nhiệm của mình, tất nhiên là họ cũng
không quên làm nổi bật những liên hệ thâm trầm của nhà văn với vài
nhân vật chính quyền (như Makxim Gorki, Maiakovski). Tuy nhiên, không kể các bản
tự thú dường như không thật, Vitali Chentalinski đã lọc ra được vài nhận
xét của Isaac Babel rất chi tiết sống động và đầy tính sự thật; những
điều đã khéo léo qua mắt được sư dòm dõ đánh hơi của bọn tra khảo,
cho người ta thấy sự biến thái thăng hoa trí thức thầm kín của Babel.
Ví dụ như: “Tôi đã tuyên bố rằng không phải sự thay đổi con người
mà chính là thay đổi cả những thế hệ sắp đến trên đất nước chúng
ta (...) rằng người ta sẽ bắt giữ hết các nhân vật chính trị, quân
nhân, những người tài ba nhất của đất nước. Tôi phàn nàn cho điều
thiếu sót trong cái nhìn chung với cái vẻ xám xịt của dòng văn học Xô
Viết mà theo tôi, chính là hậu quả của thời đại, của khoảng không
gian mà chúng ta đang sống, đang hít thở bây giờ. Đồng thời tôi lại thấy
mình đang đi vào một con đường không lối thoát. (...)” MIKHAIL BOULGAKOV:
Ngày 7/5/1926, công an chính trị thực hiện một cuộc tảo thanh, tịch thu tại
nhà Boulgakov, khi đó đang là tâm điểm của những môn đồ văn học Xô Viết,
lấy đi hai bản thảo viết tay “tràn trề sinh lực” của ông: một truyện
ngắn, Tấm Lòng Chó Chết và ba tập nhật ký ghi từ 1922-1925. Sau nhiều
phen thỉnh cầu, vận động, cuối cùng ông đã đòi lại được chúng vào
năm 1929 để đốt bỏ. Tuy nhiên ngày hôm nay, người ta vẫn có được một
bản để đọc: “Mật vụ KGB đã sao chép lại trong thời gian tịch thu
chúng.” Năm 1930, Boulgakov viết
một lá thư gửi lên Staline để phản đối sự ngược đãi đối với
ông (tác phẩm không được in, ông không được hành nghề đạo diễn), và
xin được cùng vợ xuất ngoại. Ngày 18/4/1930, một buổi thứ Sáu, đang ngủ
trưa, Boulgakov bị lôi dậy với tiếng chuông điện thoại: “Mikhail
Afanassievitch Boulgakov đấy à?” “Chính tôi.” “Đồng chí lãnh tụ
Staline muốn nói chuyện với ông.” “Cái gì? Staline à? Đúng là
Staline chứ?” Thế rồi một giọng
nói đặt sệt vùng Cuộc đàm thoại trở
nên là một huyền thoại, cho thấy có lợi về phần Boulgakov hơn là phía
Staline, bởi vì trong cách đối xử với giới trí thức văn nghệ sĩ,
Staline không bao giờ có thói quen điện thoại riêng như thế. Theo lời đồn,
Staline đã từng đi xem đến 15 lần vở kịch tựa đề Những Ngày
Ở Rourbine của Boulgakov; vậy mà vẫn không chấp thuận để Boulgakov xuất
ngoại, nhưng chắc chắn là Staline đã ra lệnh cho trưởng công an mật vụ
Iahoda phê vào hồ sơ Boulgakov như sau: “Phải dành mọi sự dễ dãi cho
ông ta có việc làm, bất cứ chỗ nào theo ý ông ta muốn.” Điều này
đã được thực thi. Từ quãng thời gian sống này, Boulgakov đã mắc bệnh
tâm thần là hay lo sợ bị đánh mất những bản thảo tác phẩm viết tay
của mình. Những ngày trước khi qua đời, 1940, ông cứ ngờ vực rằng mật
vụ sắp đến tịch thu tác phẩm Ông Chủ Và Cô Marguerite (chỉ được
xuất bản sau khi ông đã chết) đến nỗi nằng nặc bắt vợ phải ngó chừng
trong nhà đâu đó, mới yên lòng. PAVEL FLORENSKI: Gần
như là một Leonardo da Vinci của Nga mà bây giờ rất nhiều người cố làm
sao cho ông được phong thánh, dù ông chỉ là một nhà tu chính thống giáo,
sinh 1882, bị tống giam nhiều lần và cuối cùng bị xử bắn ngày 8/2/1937,
sau nhiều năm bị giam trong các trại cải tạo. Là nhà toán học, vật lý
học, kỹ sư, thần học, triết gia, thi sĩ, sử gia nghệ thuật, tác giả của
nhiều tác phẩm đồ sộ (như Rường Cột Và Nền Móng Của Sự Thật,
được dịch sang Pháp ngữ năm 1975), Pavel Florenski bị kết tội là đầu não
của một âm mưu được mệnh danh là “Áo Quốc Phát Xít.” BORIS PILNIAK: Thời
kỳ vinh quang Xô Viết của Boris Pilniak không kéo dài bao nhiêu. 1929 là năm
bẽ quặt của vụ Pilniak và Zamiatine. Cũng năm đó, tại ngoại quốc, tác
phẩm Chúng Tôi của Zamiatine và những truyện ngắn của Pilniak tựa
đề Truyện Cổ Tích Của Mặt Trăng Không Bao Giờ Tối và Cây Đại
Thụ Đỏ được phát hành rầm rộ vì đã viết theo chiều hướng phê
phán chỉ trích cuộc cách mạng vô sản Nga. “Phải chấm dứt ba cái
trò vô trách nhiệm của giới văn nghệ sĩ”, lời tuyên bố sấm sét
của Maiakovski đã kéo theo hồi còi cáo chung của giới nghệ sĩ. Zamiatine tìm
cách thoát khỏi tình trạng lưu đày, còn Boris Pilniak không chống chỏi
được, đã tỏ ra ăn năn hối hận trước quần chúng và từ đấy cố sáng
tác những tác phẩm hoàn toàn ngoan ngoãn, nằm trong đường lối chỉ thị
của Đảng. Ngày 28/10/1937, ông bị câu lưu trước mắt Boris Pasternak (hàng
xóm của ông). Bị kết tội là Troskist (do những liên lạc với Victor
Serge, ông còn bị lên án là đã bài bác chế độ Xô Viết với André
Gide, Panait Istrati) và bị kết án tử hình, hành quyết ngày 21/4/1938. Mặc
dù đã được phục hồi nhân phẩm năm 1956 nhưng tác phẩm ông chỉ thật
sự được in ra tại Nga năm 1976. OSSIF MANDELSTAM:
Mãi đến ngày nay, tác phẩm của Ossif Mandelstam cũng chưa được xuất bản
là bao trên thế giới cũng như tại Nga. Không những thế, ông lại còn bị
mang bản ác tội ác với nhân dân cho tới 1987 mới được phục hồi nhân
phẩm. Trong mớ hồ sơ tàng trữ tại Loubianka, người ta đọc thấy ngày từ
trần, 27/12/1938, biết được hai kỳ giam cầm và những cảnh huống sống
của ông. Khởi sự là một bài thơ cực kỳ ngạo nghễ, dám phạm húy
Staline, sáng tác tháng 11/1933, được ngâm nga trong vòng thân hữu hạn hẹp,
Ossif Mandelstam đã phải trả giá bằng lần câu lưu thứ nhất vào tháng 5/
1934. Bài thơ như sau: Chúng ta sống
không cảm nhận đất nước dưới chân đi Mười bước tới,
muôn lời nghe đã nghẹn Một vài câu đã
thấy hiện giống hung tàn Ôi đỉnh cao vời
vợi điện Cẩm Linh Thì thào trên đôi
môi mỏng Những ngón tay Hắn
thô bạo, tròn mập Tựa hồ những
giòng thơ đen thẫm đậm nét chữ to Và những lời Hắn
nói như đinh đóng cột Phán xuống nặng
ngàn cân Mang đến nỗi
đau buồn Nhưng kìa đôi mắt
Hắn giễu cợt cười ruồi Nhìn xuống đôi
ủng da láng coóng! Vậy là Ossif
Mandelstam bị lưu đầy trong ba năm tại vùng băng giá Oural, trở nên tàng
tàng điên điên. Nhờ sự vận động can thiệp của Boukharine và Pasternak,
ông được phép quay về sống gần thủ đô. Tuy nhiên vào năm 1937, trong lúc
sống sót nhờ vào sự bố thí, sinh kế ám muội, ông đã viết một lá thư
cho một bạn văn sĩ cũng đang chết dở trong cảnh đời “chó chết” rằng:
“Tôi chỉ còn là một chiếc bóng. Tôi không thật hiện hữu nữa.”
Rồi từ trong hố thẳm điên rồ, tuyệt vọng, lần này ông lại... cả
gan viết hẳn một bài tình thi cho… Staline, cả quyết rằng chỉ mỗi
nhân vật nói trên mới khả dĩ giải quyết cho ông một điều gì đó. Thật
là mệt! Tháng 3/1938, bí thư Hội Đồng Liên Hiệp Nhà Văn viết cho ủy viên
Công An Nhân Dân bấy giờ là Ejov rằng: “Vấn đề Ossif Mandelstam gây
ra nhiều cuộc tranh luận căng thẳng trong một nhóm thuộgiới văn học.”
Và đề nghị Ejov hãy “đóng góp vào công cuộc lợi ích chung bằng
cách dứt điểm vấn đề Ossif Mandelstam!” kẻ đã được nhiều người
xem như “ông thánh tuẫn đạo, thi sĩ thiên tài không được nhìn nhận.” Lập tức, ngày 3/5 năm
ấy (1938), Ossif Mandelstam lần nữa bị bắt giam, học tập cải tạo ngắn
hạn, nhưng các bác sĩ nhà tù đã phê rằng “một kẻ mắc bệnh tâm
thần, có khuynh hướng về những ý kiến cố định, không mấy cách mạng
đổi mới, điên rồ nhảm nhí…” Ngày 2/8/1938, ông bị kết án tuyên
truyền phá hoại nhà nước Xô Viết, phải cải tạo 5 năm. Dù vợ ông đã
cố chạy chọt, ông vẫn bị đưa đến miền NIKOLAI KLIOUIEV:
Từ nhà viết nhạc tình ca, dân dã, mộ đạo và giữ gìn truyền thống, kẻ
đã cực kỳ phản đối chính sách Xô Viết và bị chính quyền coi như kẻ
thù không đợi trời chung của nhân dân vì đã theo chủ nghĩa ngu dân, ngụy
quyền, đầy tội ác; chúng ta chẳng biết được gì nhiều ngoại trừ những
phê bình ngưỡng mộ của Alexandre Blok, Andréi Biély hay của Ossif Mandelstam
về ông. Xuyên qua hồ sơ tội nhân còn lưu trữ ở Loubianka (ông bị bắt
giam hai lần vào năm 1934 và 1937, xử bắn ngày 13/10/1937), thì đó là một
người lang thang khất thực, khăng khăng ngoan cố, hơi kỳ bí. Cũng giống
như Ossif Mandelstam, ông nhất định không để bị mua chuộc, nhượng bước
trước bọn cán bộ cai tù. Trong đống hồ sơ sấm sét được đọc thấy
ngày hôm nay, từ Nikolai Klioiuev, ta có hằng mớ bản thảo chưa bao giờ in,
trong có một bài thơ đi trước thời đại rất xa, giống như một lời sấm
truyền, rêu rao báo trước cuộc tự sát giết người trên biển Aral, sự
tai hại kinh hoàng vì nguyên tử ở Tchernobyl; hoặc như bài thơ có tựa Ca
Dao Của Mẹ Tối Thượng Quyền Năng dài 4000 câu, trình bày thế kỷ
Xô Viết đã nhúng tay góp phần vào việc làm chao đảo tàn phá thế giới,
một cuộc tận thế như trong Thánh Kinh đã viết. ANDRÉI PLATPONOV:
Mặc dù không bị bắt giam nhưng ông vẫn có một hồ sơ lý lịch tối
thui, giữ mật tại Loubianka và có cả một truyện dài bị tịch thu năm
1933 tựa đề Tiểu Thuyết Kỹ Thuật chưa từng xuất bản, được
viết vào tuổi 33; chịu trận bao nhiêu khó khăn kể từ lần xuất bản
truyện ngắn Lưu Trữ vào năm 1930, một câu chuyện trào phúng về đời
sống ở những vùng Kinh Tế Mới của chủ nghĩa. Còn cuốn Tiểu Thuyết
Kỹ Thuật thì kể về hai kỹ sư trẻ tuổi, hăng say, lý tưởng, sâu
xé nhau trước viễn ảnh tương lai sáng lạn của chủ nghĩa cách mạng, kẻ
thì âu lo vì những hậu quả không lường được trên con người, kẻ lại
mù lòa bởi giấc mộng “cải tổ nhân bản” và “chân lý sáng ngời của
lịch sử nhân loại.” Platonov đã hoài công xin xỏ ân huệ với Makxim
Gorki để bao che cho đứa con trai của ông mới 15 tuổi, nhưng không được.
Năm 1938 cậu nhỏ vẫn bị bắt đi học tập cải tạo với tội danh “khủng
bố, gián điệp, phá hoại cơ sở” và chết trong tù. Về phần ông, bị
cấm in sách, trở thành công nhân quét dọn, lau chùi ở Viện Văn Học thủ
đô, qua đời năm 1951 vì bệnh lao phổi. MAKXIM GORKI: Đây
là chương viết đáng ngạc nhiên nhất trong quyển sách của Vitali
Chentalinski, cho thấy rằng văn sĩ được sủng ái nhất của chế độ lại
là kẻ bị nghiêm nhặt theo dõi, bám sát nhất mà cái chết xẩy ra tháng
6/1936 mang đầy nghi vấn, kỳ quặc như một cuộc ám sát rùng rợn. Người
được coi là bần cố nông cách mạng vô sản của nền văn học Nga, đã
49 tuổi lúc Cộng Sản Bolshevik cướp chính quyền năm 1917. Bất kể lòng
ưu ái thân tình đối với Lénine, ông vẫn cố ý xông vào vụ Tcheka, bênh
vực giới trí thức và nghe theo lời bỏ nhỏ của Lénine, đã chọn lựa sự
từ bỏ xứ sở, lưu đày năm 1921, sống nhiều năm phè phỡn trong một
ngôi biệt thự tại Ý dưới thời Phát Xít trước khi quyết định trở về
sống vĩnh viễn trên quê hương Xô Viết vào năm 1933. Sự trở về cố hương của
ông được rình rang chào đón, và Staline lợi dụng cơ hội để mặc nhiên
gán ghép cho ông ngai vị đại văn hào của chế độ, lại dành cho nhiều
ưu đãi, đặc quyền. Song song là những biện pháp theo dõi, rình rập chặt
chẽ; thư ký của ông là một cán bộ chính trị; giới lân cận chỉ toàn
một lũ mật vụ, công an. Theo tài liệu được phanh phui, ngày nay người
ta biết rằng đã có một cuộc họp gặp gỡ tất cả những kẻ cầm đầu
Xô Viết tại nhà ông tháng 10/1933 và Staline đã nhờ vào uy tín ông để
ban hành chỉ thị về một lý thuyết nghệ thuật mới được gọi là “hiện
thực xã hội chủ nghĩa.” Tháng 3/1934, con trai
của nhà văn chết bất ngờ. Bốn năm sau, Iagoda, cựu thủ trưởng của nhà
tù Loubianka bị thất sủng và bị kết án là đã ám sát chàng thanh niên bởi
anh ta là tình nhân của vợ Iagoda. Mệt mỏi vì cái chết con trai, lại nhận
ra mình bị “giam cầm, cấm cố, chung thân” trong cái “lồng son thếp
vàng”, nhà văn chán đời, không muốn xuất đầu lộ diện ngoài phạm vi
của căn biệt thự đẹp đẽ ở bờ biển Crímée nữa. Tất cả mọi thư
từ đều bị sàng lọc kỹ trước khi đến tay ông. Những cuộc điện đàm
cũng vậy. Đến nỗi tờ nhật báo lúc ông đọc cũng bị giả mạo, dối
trá tin tức. Trong khi đó, dần dần, chính ông trở nên khùng điên, lảm
nhảm những dự phóng, muốn được cùng với sự hỗ trợ của 100 nhà văn
khác để “viết lại từng chút một tất cả nền văn học của toàn
thế giới.” Mùa xuân 1936, André
Malraux cùng với Isaac Babel đến viếng ông trước khi ông ngã bệnh ngày
30/5 và qua đời ngày 18/6 trong cùng năm. Theo Vitali Chentalinski, ít nhất phải
có đến hằng bảy, tám giả thuyết về cái chết Gorki, cho rằng hoặc
chính Iagoda, hoặc tên thư ký riêng đã ám sát ông để trả thù. Rốt cuộc,
trong tài liệu tìm thấy, chúng ta có Sổ Sức Khỏe của Gorki và những giòng chữ viết
tay như sau: “Tôi nghi là mình đã mắc bệnh lao phổi và sẽ không chống
chỏi được nó. Tôi không thể đọc sách, cũng không ngủ được.
Đó là hồi kết của một tiểu thuyết, một nhân vật, một tác giả.” [] |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com