1104-logo.gif (2163 bytes)

posted: 1.11.04

THỬ XÉT Ý ĐỒ VÀ SÁCH LƯỢC CỦA VATICAN ĐỐI VỚI VIỆT NAM -
ĐỀ NGHỊ NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP ĐỐI TRỊ

·          NHẬT NAM và PHẠM PHÚ BỔN

Đã có nhiều công trình nghiên cứu công phu của những chuyên gia có thẩm quyền trên thế giới phân tích và tố cáo tính đế quốc bất biến của Vatican. Các nghiên cứu nầy đã thông qua những biến cố lịch sử và văn bản trong thư khố để trình bày các luận điểm về chiến lược xâm lăng văn hóa và chính trị toàn cầu của Công Giáo (CG) La Mã mà ngay cả đội ngũ lý thuyết gia của Vatican cũng không chối cãi hay phản biện được (1).

Cũng vậy, những trình bày về tín lý phi nhân bản và tác hại văn hóa xã hội của Thiên Chúa giáo, về những ngụy tạo lịch sử của giáo hội, về ý đồ đen tối của Vatican, và về sức mạnh khuynh loát trong hai lãnh vực chính trị và kinh tế của CG La Mã trên thế giới thì đã có hàng vạn tài liệu (xin nhấn mạnh hàng vạn) chất đầy các thư viện đại học, các trung tâm nghiên cứu, các nhà sách lớn Âu Mỹ, và dĩ nhiên rất nhiều trên mạng lưới tin học toàn cầu Internet (2) .

Hiện nay, cuộc phản tỉnh trí thức và tâm linh của các xã hội Tây phương Thiên Chúa giáo đã rời khỏi lãnh vực nghiên cứu lý luận để bước qua hiện thực của cuộc sống và trở thành một xu hướng thời đại không thể đảo ngược được nữa, mà năm biểu hiện rõ ràng nhất trong gần 10 năm qua là:

a.                   Hiện tượng phê phán và chất vấn Kinh thánh, Phúc âm, Tông huấn, Giáo hoàng đã trở thành bình thường và phổ quát. Đặc biệt, các Thánh truyền thêm thắt sau nầy của các thánh Tông Đồ để thánh hóa một Giê su lịch sử, những Huấn quyền của Tòa thánh để bảo vệ quyền lực của Giáo hội, đã từ từ bị ánh sáng lịch sử và lương tri của giới trí thức bóc trần sự thật để làm hiển lộ những dối trá không còn che đậy được nữa của Tòa thánh La Mã.

b.                   Tình trạng đóng cửa nhà thờ vì thiếu Linh mục, thiếu con chiên, thiếu nguồn tài trợ; và phong trào con chiên “bỏ đạo” một cách ồ ạt ở các nước Âu châu, Bắc Mỹ và cả một phần Nam Mỹ nữa, càng lúc càng trở nên trầm trọng.

c.                   Chiến lược phản công hốt hoảng và vụng về của Giáo triều John Paul II để cứu vãn bốn cuộc khủng hoảng giáo lý, giáo chế, giáo quyền và giáo sản của Vatican trên toàn thế giới.

d.                   Các quốc gia phi-Thiên Chúa giáo ở các vùng văn hóa khác nhau đã nâng cuộc trả đũa chiến lược xâm lăng chính trị và tôn giáo của Mỹ (sức mạnh xung kích của cái gọi là Văn minh Tây phương Thiên Chúa giáo) lên đến hình thái chiến tranh vũ lực, mà cao điểm là các phong trào khủng bố bằng bạo lực, đang lan rộng trên khắp mọi đại lục.

e.                   Các trung tâm nghiên cứu và thực hành đạo học cũng như tôn giáo Đông phương (nhất là hai tông phái Thiền tông Nhật bản và Mật tông Tây Tạng của Phật giáo) càng ngày càng được hiện đại hóa để đề nghị một giải pháp tâm linh khác, nhân bản hơn và trí tuệ hơn, đã thu hút được nhiều tầng lớp xã hội khác nhau trong các quốc gia Âu Mỹ.

Vì vậy, với xu thế thời đại rõ ràng đó, bài viết nầy không nhằm thuyết phục người đọc một hiện tượng vĩ mô toàn cầu mà rất nhiều người ở nước ngoài, vì có điều kiện nghiên cứu và cơ hội chứng kiến, nên đã biết rõ. Bài viết nầy chỉ muốn khoanh vùng chủ đề để làm sáng tỏ những động lực (và chiến lược) nào đã thúc đẩy Vatican, thông qua Giáo hội Công giáo Việt Nam, phải chống lại nhân dân và chính quyền Việt Nam để qua đó, đề nghị một vài định hướng và biện pháp đối phó với ý đồ đen tối nầy của Vatican.

Trước hết, một cách cơ bản và sâu sắc nhất, CG La Mã có bốn thuộc tính đặc biệt đã được hình thành trong quá trình khai sinh và phát triển của họ mà không một thế lực đạo hay đời nào tại Việt Nam bị vướng phải:

·          Họ được khai sinh từ, và nuôi dưỡng bằng, một truyền thống lịch sử rất gốc rễ và xuyên suốt, truyền thống khống chế Thế quyền để dùng sức mạnh của nó mà phát triển Giáo quyền. Không có truyền thống 2000 năm thấm vào máu vào thịt đó, Vatican không còn là Vatican nữa. Khi một chính quyền phi-Công giáo mà mạnh thì họ thỏa hiệp để khuynh loát và làm cho nó băng hoại, còn khi chính quyền đó yếu thì họ chống đối để lật đổ mà thay thế bằng lực lượng của họ. Đó là một yếu tính đặc trưng nổi cộm trong lịch sử 2000 năm truyền giáo của Công giáo La Mã (3)

·          Họ được thôi thúc bởi một nhiệm vụ tôn giáo cực kỳ thiêng liêng, nhiệm vụ liên tục mở mang Nước Chúa để vinh danh Thiên Chúa, mà “mở mang” ở đây phải bao gồm cả hai lãnh vực Thần quyền và Thế quyền với đối tượng cụ thể là đất đai và con người. Không làm nhiệm vụ tông đồ đó, tín hữu CG không còn là tín hữu CG nữa. Họ làm kiên trì, quyết liệt, và không từ bỏ một phương tiện (dù độc ác) nào mà cứ tưởng là đang làm chuyện thánh thiện nên mới có ý niệm “tử đạo” và “thánh chiến” trong thuật ngữ CG (4).

·          Họ thủ đắc và có khả năng sử dụng tốt những phương tiện đấu tranh hiện đại mà Việt Nam đang cần nhưng lại còn chưa nhuần nhuyễn: Kinh tế thị trường, Thông tin đại chúngHiện đại hóa, Công nghiệp hóa. Đó là các vũ khí do chính cánh tay nối dài của họ là các nước Tây phương Thiên Chúa giáo sáng chế ra và sử dụng tàn bạo trong “cuộc chơi” toàn cầu đầy lợi thế do họ áp đặt “luật chơi”.

·          Họ lại khéo léo vận dụng được Đồng minh quốc tế (lại là đồng đạo) (5) và một Đạo quân thứ Năm chuyên nghiệp và bản địa (tàn dư của 300 năm núp bóng ngoại bang) tiềm phục trong nước để phối hợp Trong-Ngoài tạo thành một lực lượng chính trị quần chúng có tổ chức và có lãnh đạo. Dĩ nhiên, lực lượng nầy lại phù hợp với quyền lợi của một số cường quốc trên thế giới trong nổ lực chiếu lên bàn cờ chính trị một hình ảnh có thể thay thế được Đảng cầm quyền và Nhà nước Việt Nam trước mắt một số đồng bào Việt Nam nhẹ dạ và thiếu thông tin cả ở trong lẫn ngoài nước.

Nối kết bốn yếu tố đó lại với nhau: Khi một lực lượng Việt Nam có truyền thốngtham vọng cầm quyền, được thôi thúc bởi một nhiệm vụ phải nắm quyền, có thế nội công ngoại kíchđồng minh hữu hiệu, lại có phương tiện và hoàn cảnh để thể hiện ý đồ và thực hiện nhiệm vụ đó, thì lực lượng nầy, đương nhiên, sẽ tự buộc vào mình “vai trò lịch sử” là cướp quyền để nắm quyền tại Việt Nam. Chỉ thiếu một trong bốn thuộc tính đó thì Vatican không làm gì được, nhưng cùng một lúc có cả bốn thuộc tính đó thì Vatican cũng không thể không làm gì. CG La Mã đã thành hình, tồn tại và kinh qua không biết bao nhiêu thành công và thất bại trong vũ trường quyền lực thế tục, thì tiềm phục đấu tranh thêm một thời gian nữa tại Việt Nam cũng là chuyện bình thường (tuy oan trái !) của lịch sử nước ta.

Nhưng cũng từ những thuộc tính / động cơ đó, ta thấy rõ một hệ luận khủng khiếp: Đó là Công giáo không (đấu tranh để) cầm quyền vì quyền lợi của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân, mà vì quyền lợi tôn giáo của một Thế lực Thần quyền ở La Mã nhân danh một Thiên Chúa hoang tưởng ở đâu đó trên một ... thiên đường mê tín dị đoan ! Những mỹ từ thời thượng mà họ sử dụng như Tự do, Dân chủ, Nhân quyền, Đa nguyên chỉ là lớp sơn bên ngoài che dấu ý đồ và mục đích thật của họ. Cũng vậy, những lên án của họ như Vô thần, Độc tài, Toàn trị, Chậm tiến chỉ là khẩu hiệu tuyên truyền để che dấu thực chất và đối sách của chính họ, hầu tạo thế đồng minh chiến lược với các lực lượng chống phá khác mà thôi.

Những luận điểm và một số thông tin sau đây là để minh họa thêm cho rõ bốn thuộc tính nói trên, và chứng minh ý đồ cũng như nỗ lực muốn chiếm quyền của CG La Mã tại Việt Nam để mở mang nước Chúa là có cơ sở:

1. Về mặt thần học, thông qua phúc âm mà Vatican độc quyền giải thích, thì tín lý CG đã trao cho mỗi tín đồ CG vinh dự và trách nhiệm được làm Dân Chúa (chứ không phải là công dân của một quốc gia trần thế tạm bợ nầy). Và mỗi tín đồ CG La Mã, tùy bị nhồi sọ ít hay nhiều, đều có thêm nhiệm vụ “mang ánh sáng của Thiên Chúa” đi cứu rỗi bằng mọi cách, kể cả hy sinh mạng sống của mình và tiêu diệt mạng sống của người khác. Họ là một Giáo hội Hoàn vũ, có tính toàn cầu, và liên tục bung ra phát triển cho đến khi mọi người trên trái đất nầy đều được “kết nạp” thành con cái của Chúa. Nhiệm vụ Phúc âm hóa toàn thể nhân loại đó thì liên tục trong bất kỳ thời gian nào, bất kỳ không gian nào, và bất kỳ trạng huống nào. Điều nầy giải thích bề dày 2000 năm lịch sử và bề rộng phủ dài từ các trung tâm giáo quyền Tây phương, cỡi lên trên các làn sóng đế quốc và thực dân (củ hay mới) để vươn ra mọi lục địa trên trái đất. Dân tộc Việt Nam và đất nước Việt nam là đối tượng đặc biệt của nhiệm vụ phúc âm hóa cấp thiết đó, mà quyết định ồ ạt phong thánh cùng một lúc 117 vị “ Tử đạo” tại Việt Nam vào năm 1988, hai năm sau khi Việt Nam quyết định đổi mới để phát triển, chính vừa là viên thuốc cứu bệnh, vừa là hiệu lệnh xung phong đầy thách đố của Vatican để động viên tín đồ Việt Nam chuẩn bị đối phó với viễn ảnh một đất nước Việt Nam hùng mạnh trong tương lai. (6)

2. Trong sứ mạng Phúc âm hóa toàn thể nhân loại đó, họ có hai kẻ thù chính:

·          Thứ nhất là những người không tin và không quy phục Thiên Chúa toàn năng, Chúa Cứu thế Giê-su, Nữ vương Maria vô nhiễm nguyên tội, Kinh Thánh, và Giáo quyền Vatican, mà lại tin vào những tôn giáo khác mà họ gọi là Ma quỹ hoặc Tà đạo, Ngoại đạo.

·          Và thứ nhì là những người không tin vào các phạm trù Thượng đế, Linh hồn, Thiên đàng, Địa ngục nên họ gọi là Vô thần. Từ “Thần”, theo thuật ngữ CG, hàm ý là Đức Chúa Trời của họ, hoàn toàn khác với từ “Thần” vốn rất thông dụng và đa dạng trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Cho nên không những Phật giáo, Ấn giáo, Khổng giáo, Lão giáo, Thần Đạo, Đa thần giáo, Đạo thờ cúng Tổ tiên, Tín ngưỡng dân gian mà chính Tin Lành, Chính thống giáo, Do Thái giáo, Anh giáo, và Hồi giáo cùng thờ một Thiên Chúa như họ (nhưng không thừa nhận Giê-su, hoặc bà Maria lên trời cả hồn lẫn xác, hoặc Kinh thánh, hoặc Vatican) thì cũng bị Vatican lên án và / hoặc đánh phá. Ngày xưa là những Tòa án Dị giáo man rợ, 8 cuộc Thánh chiến đẫm máu kéo dài gần hai thế kỷ, và bây giờ là các điểm nóng Bắc Ái nhĩ lan, Bosnia, Kosovo, Rwanda, Đông Timor, vùng Hồi giáo Trung Đông và Đông Nam Á.

Còn người “vô Thần” mà họ cho là một trong những tay sai của Quỷ vương Satan Lucifer, thì họ đánh giá còn nguy hiểm hơn vì chỉ biết duy vật, không có cả đời sống “tâm linh” (theo nghĩa liên hệ đến một “linh hồn"; do Chúa hà hơi tạo dựng vào cục đất sét A-dong, và linh hồn nầy sẽ bị phán xét để lên Thiên đàng hay xuống Địa ngục đời đời theo cách tin đầy mê tín của họ). Chẳng những thế, những người “vô thần” nầy lại chỉ tìm cách nâng vị thế và giá trị con người lên để chối bỏ quyền sáng tạo và làm chủ thiên nhiên của Thiên Chúa. Như gần một nửa nhân loại không theo đạo nào (atheist), những người Cọng sản, hoặc những người theo khuynh hướng New Age, Scientology, ... Từ cách thế nhận diện kẽ thù như thế, thì đất nước Việt Nam đang do những người “vô thần” quản lý, và dân tộc Việt Nam tuyệt đại đa số là tín đồ “Tà ma ngoại đạo”. Do đó, trong quan điểm chiến lược hôm nay của Vatican, thì Việt Nam chính là thách thức gay gắt nhất, thí điểm tiêu biểu nhất mà họ cần phải chiến thắng.

3. Việt Nam không những là thí điểm đấu tranh mà còn là kẻ thù lịch sử của Vatican nữa. Vì năm 1954, “Cọng sản vô thần” đã huy động được toàn dân Việt Nam “ngoại đạo”đánh tan cơ đồ 300 năm theo chân Thực dân Pháp xây dựng Giáo hội tại miền Bắc. Đến năm 1975, cũng chính “Cọng sản vô thần” đó đã đuổi đạo quân của đế quốc Mỹ do Hồng Y Spellman đỡ đầu (7) và đập tan chế độ “Quốc gia chống Cọng” của hai Tổng thống CG tay sai ngoại bang ở miền Nam, nơi mà Vatican đã đổ bao nhiêu xương máu và của cải đầu tư vào, và đang thành công trong tiến trình “cải đạo”. Đó là một mối thù quyền lực. Nhưng quan trọng và sâu sắc hơn, đó là một mối thù thánh chiến.

Còn ở bình diện toàn cầu, chủ nghĩa Mác và Tổ chức Cọng sản quốc tế, lực lượng lãnh đạo các phong trào giải phóng dân tộc từ nửa đầu của thế kỷ thứ 20, là kẻ thù nguy hiểm nhất của Giáo hội CG Hoàn vũ trên cả hai mặt triết lý xã hội (8) cũng như mặt thực tiển quyền lực (9). Cho nên từ năm 1917, họ đã cho Đức Mẹ Fatima “xuất hiện” để tuyên bố “Giáo hoàng sẽ hiến dâng Nga Sô cho Mẹ”, còn tại Việt Nam thì cho Đức Mẹ “di cư” vào Nam để Giám mục Ngô Đình Thục làm chủ lễ dâng miền Nam cho Đức Mẹ La Vang mà tiếp tục chống Cọng. Riêng trong thập niên 90 thì họ hãnh diện kể công đầu trong việc khuynh loát Ba Lan đưa đến sự sụp đổ toàn diện của khối Đông Âu Xã hội chủ nghĩa. (10) Vatican đã và sẽ trực diện đối đầu với người theo Xã hội chủ nghĩa bất kỳ lúc nào, bất kỳ ở đâu, và bất kỳ trong trận tuyến nào. Ngày nay, nhờ chiến tranh chống ngoại xâm không còn nữa, nhờ thời đại đã đổi thay với những cơ hội và cạm bẫy mới, do đó đất nước Việt Nam có “đổi mới” hơn và thoáng ra rất nhiều. Đảng cầm quyền lại thực thi một số quy luật chính trị dân chủ thời bình để huy động toàn dân phát triển đất nước và bảo vệ an ninh quốc gia, thế nhưng người Công giáo vẫn “lờ” đi thực tế đó và cố tình mô tả chế độ hiện tại như một “địa ngục trần gian” của những năm Stalinist xa xưa.

4. Đó là kẽ thù. Còn đồng minh của Vatican là ai ? Họ không có đồng minh, họ chỉ có những thỏa hiệp chiến lược giai đoạn với các lực lượng thế quyền, nhất là thế quyền Tây phương trong địa bàn “văn minh Thiên Chúa giáo” (Christianism, nghĩa là Tin lành như Mỹ, và Công giáo như các nước Âu châu và Nam Mỹ). Họ khoác áo tu sĩ đi do thám tin tức và xây dựng đạo quân thứ Năm bản xứ, để sau đó được tháp tùng theo sau súng đạn của Thực dân và Đế quốc mà phá nát văn minh bản địa hầu rao giảng Tin Mừng. Bây giờ, không lộ liễu như vậy nữa, họ nấp sau chiêu bài “Thích nghi Thời đại” đã bị bỏ quên (của Công Đồng II) , nấp sau tiền bạc và kỹ thuật đầu tư của Thực dân kinh tế và Đế quốc văn hóa, rồi cụ thể bám vào những chương trình viện trợ kinh tế, giao lưu văn hóa và hoạt động nhân đạo để khôn khéo đòi hỏi áp đặt mô hình tổ chức và vận hành xã hội bản xứ sao cho thuận tiện việc mở mang Nước Chúa. Một trong kẻ đồng hành gắn bó nhất với Vatican là Mỹ, mà một nửa dân chúng và hơn một nửa các thế lực Tài phiệt – Chính trị vẫn còn cay đắng và hận thù Việt Nam, hận thù Đảng cầm quyền Việt Nam, kẻ đã để lại một hội chứng chính trị xã hội tác hại và một vết nhục không tẩy xóa được trong lịch sử cường quốc bách chiến bách thắng của Mỹ. Bóng ma Việt Nam luôn luôn là nỗi ám ảnh sâu sắc xoáy sâu trong các chính sách đối ngoại của cả hai đảng Dân Chủ và Cọng Hòa Mỹ.

Nhưng thật ra, “đồng minh”ruột thịt nhất của Vatican lại là tình trạng chậm tiến xã hội và tụt hậu dân trí. Thần học CG đặt nền móng trên ám ảnh tâm lý về Tội và trên sự hứa hẹn cứu rỗi khỏi Tội đó. Không có những tín điều về Tội Tổ tông, về Bảy mối tội đầu, về phép bí tích Rữa tội Giải tội để được ơn cứu rỗi, về hứa hẹn Thiên đàng và hăm dọa Địa ngục đời đời,… thì không có CG, lại càng không có Vatican. Cho nên một quốc gia có dân trí nhu nhược và mê muội thì dể bị khống chế tư tưởng để trồng ý niệm “Tội” vô lý và độc ác đó vào tư duy, và một cuộc sống nghèo khổ và bất công thì người dân dễ chạy theo những hứa hẹn cứu rỗi vô hình mà phải chết rồi mới kiểm chứng được đúng hay sai. Điều nầy giải thích tại sao CG La Mã đang phải chuyển dần địa bàn hoạt động từ Tây phương giàu có và văn minh, nhưng nhiều người phạm tội ác đáng lẽ cần “cứu rỗi” hơn, đến các nước Á Phi thanh bần nhưng lương thiện hơn nên không cấp bách phải “cứu rỗi”. (11) Cũng giải thích tại sao Vatican lại cực lực chống các phương pháp ngừa thai và phá thai (để sinh nhiều con hầu tạo thành gánh nặng kinh tế và giới hạn giáo dục) ngay cả trong tình trạng bị hiếp dâm hay bị loạn luân.

Cho nên, từ phân tích chiến lược của Vatican hiện nay, Việt Nam đang nghèo khổ và dân trí chưa thật cao, lại đã “mời” Thực dân kinh tế và Đế quốc văn hóa ùa vào, do đó mà chưa bao giờ cùng một lúc, bốn đồng minh chiến lược của Vatican đều đã cùng nằm trong lãnh thổ Việt Nam rồi !

5. Nhưng Vatican là ai ? Đó là một thế lực quốc tế vừa Thần quyền vừa Thế quyền. Là một đế quốc Thần chủ (Theocratic Empire) có hơn một tỉ dân và tổng trị giá tài sản gần 1200 tỉ Mỹ kim mà lại không có biên giới, và nhất là không bị ràng buộc bởi công pháp quốc tế hay các nghị quyết của Liên Hiệp Quốc. Dân của họ ở khắp nơi: từ các trung tâm quyền lực của những cường quốc tiên tiến đến những ruộng đồng ngập nước của các quốc gia chậm tiến. Từ người hết sức hiền lành đến kẻ cực kỳ độc ác, từ người thông minh xuất chúng đến kẻ ngu si đần độn. Thật ra, tuyệt đại đa số tập đoàn con chiên đó đều chỉ là nạn nhân tâm thần của lịch sử khống chế văn hóa của Vatican từ cả ngàn năm nay, nên tuy rằng cái thân xác bản địa nơi họ cư ngụ nhưng lại có phần hồn là “công dân” của quốc gia Vatican. Họ chiếm lĩnh và có mặt trong hầu hết các hình thái sinh hoạt của cuộc sống nhân loại. Trong đó, sinh hoạt chính trị, tài chánh, xã hội, văn hóa, giáo dục, tình báo và thông tin quần chúng vốn là các lãnh vực sở trường và chuyên nghiệp của Vatican.

Như một lực lượng đế quốc trần tục, để lãnh đạo, quản lý và huy động “nhân dân” (thường được cố tình gọi dưới tên một con vật đần độn và dễ bảo là “con chiên”), họ có một ý thức hệ nhất quán và bất khoan dung là nền Thần học Thiên Chúa giáo; một tổ chức chặt chẻ và cực kỳ độc tài quan liêu từ trung ương Vatican xuống đến cơ sở các Họ Đạo để quản lý nhân lực, tiền bạc, cơ sở vật chất; và một đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp gồm Hội đồng Hồng Y để điều động từ Tổng Giám Mục xuống đến những Linh mục, Mẹ Bề trên, Sư huynh, Bà phước, Cha xứ địa phương... Tất cả được đặt dưới quyền lãnh đạo của một lãnh tụ tối cao “đại diện cho Thiên Chúa” nên “không thể sai lầm” được (infallible) về mặt tín lý và đạo đức là Giáo hoàng tại Vatican. Đó là mô hình tổ chức hình tháp chặt chẽ của một “đảng” độc tài toàn trị.

Nhưng quan trọng hơn cả, bằng những hứa hẹn về Cứu rỗi và Thiên đàng, những hăm dọa về Tội lỗi và Địa ngục không kiểm chứng được và chỉ nhắm mắt mà tin, bằng một nhiệm vụ Tông đồ có tính thiên hựu (providential) nên không thể từ chối được, họ theo đuổi một chủ nghĩa đế quốc tôn giáo tinh vi và quy mô, bành trướng mãi cho đến khi khống chế được toàn thể nhân loại. Điều nầy được công khai giảng dạy, rộng rãi rao truyền, và được Giáo hoàng cùng Kinh thánh xác nhận. Mọi kết hợp gọi là Liên Tôn, mọi đối thoại gọi là để Giao thoa Thần học, mọi chính sách gọi là “đoàn kết tôn giáo” với các tôn giáo “bạn” hay trường phái triết học khác, chỉ là những thỏa hiệp chiến lược, những chiêu bài giai đoạn để Vatican vận dụng như những công cụ chiến lược mà thôi.

Chủ nghĩa đế quốc tôn giáo đó không phải lúc nào cũng được thể hiện bằng các hình thức tín ngưỡng. Ngược lại là khác, nó thường được ngụy trang tinh vi để tiến hành dưới dạng văn hóa, nghệ thuật, xã hội, chính trị, nhân đạo và kinh tế tài chánh. Nó trắng trợn, phi lý và độc ác đến nỗi mới sinh ra là phải rửa tội “kết nạp” liền, kết hôn là người phối ngẫu dị giáo phải “theo đạo” liền, đóng tiền cho Nhà thờ là được “ân sủng” Thiên Chúa liền, “đổi mới” thần học là bị dứt phép thông công liền, v.v... Đó là chưa nói đến bạo lực quân sự và chiến tranh tình báo mà họ không ngần ngại sử dụng (12). Chính Giáo hoàng Pie XII, năm 1953, đã đồng tình với chính phủ Mỹ trong dự định dội 6 quả bom nguyên tử bậc trung xuống đất Việt Nam để giải vây cho quân đội thực dân Pháp tại lòng chảo Điện Biên Phủ (13)

Trong buổi giao thời của hai thiên niên và trong trật tự thế giới mới của Mỹ áp đặt sau chiến tranh lạnh, sách lược và kịch bản chính trị của Vatican đối với Việt Nam gồm “bốn mặt giáp công”:

·          Đòi hỏi Nhân quyền mà Tự do tôn giáo là thế tiến công mủi nhọn. Vừa để động viên giáo dân Việt Nam trong và ngoài nước, vừa tập hợp được các tôn giáo khác dưới quyền điều động của mình, vừa trao cho các quốc gia thù nghịch với Việt Nam một vũ khí sắc bén hầu tạo thế tiến công chính trị và kinh tế vào Việt Nam, để cuối cùng, dùng nó như một trao đổi thương lượng với chính quyền Việt Nam để bảo toàn và phát triển lực lượng CG trong nước.

·          Lợi dụng nhu cầu phát triển của Việt Nam để hợp tác giúp đỡ hoặc xâm nhập hoạt động hầu kinh tài cho CG Việt Nam ở ngoài nước, tài trợ cho CG Việt Nam ở trong nước, đồng thời góp phần nuôi dưỡng, kích thích và khuếch đại tình trạng tham nhũng để làm băng hoại bộ máy Đảng cầm quyền và Nhà nước tại Việt Nam.

·          Tuyên truyền khai thác những mặt tiêu cực của Đảng cầm quyền và Nhà nước Việt Nam bằng các phương tiện thông tin đại chúng hiện đại, để tạo tâm lý bất mãnnổi loạn trong quần chúng hầu chuẩn bị cho một cơ hội chuyển quyền đột biến hoặc tiệm tiến tại Việt Nam, bằng lá phiếu (kiểu Đông Timor) hay bằng súng đạn (kiểu Afghanistan), do quốc tế ép buộc và dàn dựng.

·          Xây đựng một lực lượng chính trị nòng cốt ở hải ngoại, thống hợp và lãnh đạo các tổ chức “chống Cọng” của chính quyền Công giáo miền Nam củ, dưới sự yểm trợ của các thành phần thù địch với Việt Nam trong giới chính trị và kinh tế ngoại quốc, đặc biệt là Mỹ, để làm áp lực với chính quyền Việt Nam phải thay đổi xã hội và chế độ, và chuẩn bị cho việc cầm quyền sau nầy.

Cả bốn mặt giáp công nầy đều núp dưới những mỹ từ hiền lành và hấp dẫn do chính Tây phương đặt tên như Nhân quyền, Tự do Tôn giáo, Dân chủ Đa nguyên, Toàn cầu hóa, Kinh tế Thị trường, Ô nhiễm môi sinh, Cách mạng thông tin, Chuyển giao Công nghệ mà họ gọi chung là “xu thế thời đại”. Chúng trở thành những viên thuốc độc bọc đường hấp dẫn của các quốc gia phía Đầu Cho (the Deliver) chuyển giao cho những quốc gia phía Đầu Nhận (the Receiver). Các định chế quốc tế đối tác với Việt Nam, vô tình hay cố ý, trở thành những vũ khí hữu hiệu cho họ trong bốn mặt trận nầy.

Trong mặt trận gọi là “Nhân quyền”, họ đòi hỏi Việt Nam phải tôn trọng những giá trị xã hội và văn hóa Tây phương mà họ cho là có tính “phổ quát” mà không lý đến những khác biệt trong quá trình hình thành và nội dung đặc thù của truyền thống văn hóa Việt Nam. Thậm chí họ cố tình lờ đi những khác biệt quan trọng (nhiều khi còn đối chọi) về giá trị đạo đức và lịch sử phát triển cấu trúc / vận hành của xã hội Việt Nam cận đại cũng như hiện đại. Họ căn cứ vào bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, một bản văn có ý đồ chính trị do Tây phương chủ động viết vì quyền lợi của Tây phương Thiên Chúa giáo ngay sau thế chiến II và trong thời kỳ mở đầu căng thẳng của cuộc chiến tranh lạnh vào năm 1948, xem đó như khuôn vàng thước ngọc, rồi đem công cụ đó làm tiêu chuẩn đánh giá và kết án những thuộc tính đặc thù của mô hình phát triễn xã hội Việt Nam hiện tại. (14)

Tuy nhiên, ai cũng biết đó chỉ là cái cớ để họ can thiệp vào nội tình của Việt Nam, mà chiêu bài “tự do tôn giáo” đã được Vatican sử dụng cực kỳ lợi hại. Chĩa mũi dùi chỉ vào một số quốc gia là đối tượng thù địch của Vatican mà thôi, trong số đó có Việt Nam mà không có các quốc gia đang bách hại tôn giáo nhưng lại thuộc khối Tây phương Thiên Chúa giáo, CG La Mã đã thông qua CG Việt Nam để khôn khéo vận dụng và chỉ đạo hầu hết những hoạt động “chống Cọng” khác của thành phần cựu quan chức, cựu quân nhân miền Nam củ, và một vài đoàn thể tôn giáo Việt Nam ở nước ngoài (nhất là một số chùa Phật giáo “liên tôn” với họ). Họ ồn ào đòi hỏi “tự do tôn giáo” để cung cấp “bằng cớ” và tạo cơ hội cho các nước Tây phương gây áp lực, khuynh loát, xúi dục nhằm tạo bất mãn và hỗn loạn trong nội bộ Việt Nam, hầu tạo điều kiện thuận tiện cho một thay đổi chính trị, kinh tế và xã hội có lợi cho chiến lược xâm nhập để bành trướng của Vatican.

Trong mặt trận gọi là “Tự do tôn giáo” tại Việt Nam , chính Giáo hoàng John Paul II đã công khai và trực tiếp động viên, yểm trợ và lãnh đạo tinh thần cho lực lượng CG “chống Cọng” của người Việt tại nước ngoài, đặc biệt tại Mỹ: Việc nâng cấp và bổ nhiệm Hồng y Nguyễn văn Thuận, cháu ruột của Ngô Đình Diệm và là kẻ công khai thù địch với Đảng cầm quyền tại Việt Nam, làm Chủ tịch Hội đồng Công lý và Hòa bình của Tòa thánh để làm “Tư lệnh” mặt trận nầy; việc Giáo hoàng động viên tín đồ “đừng sợ” trong một cuốn sách xuyên tạc phỉ báng Phật giáo, Hồi giáo và Do Thái giáo (15) được phổ biến rộng rãi cho giáo dân Việt Nam trong và ngoài nước; việc Cha Nhất bảo trợ cho nhóm Thông Luận ở Paris, đòi hỏi “Dân chủ Đa nguyên” để tập hợp một số trí thức chuyên viên Công giáo Việt Nam ở nước ngoài cho một “chính quyền” tương lai; việc Đức Ông Nguyễn Đức Tiến xác quyết rằng muốn chống Cọng thành công thì nội dung “nhân quyền chỉ có thể là quyền được làm con Chúa” và “Tuyên ngôn nhân quyền duy nhất là Bài giảng Bát phúc trên núi của Chúa Giêsu(16); và nhất là việc Tòa thánh liên tục đưa ra các yêu sách vô lý, xâm phạm quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam để tấn công nhà nước Việt Nam trước công luận thế giới, đã nói lên ý đồ và quyết tâm chiến lược của Vatican trong mặt trận Nhân quyền nầy. Việt Nam đã ký vào bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân Quyền là đã đồng ý với nội dung của bản Tuyên ngôn đó. Tuy nhiên, cũng như tất cả mọi quốc gia đồng ký khác, chính sách chính trị và xã hội để vận dụng thế nào cho phù hợp với điều kiện văn hóa và xã hội mỗi nước, và sữ dụng thế nào cho phù hợp với điều kiện lịch sử và chính trị đặc thù của mỗi nước lại là vấn đề của từng dân tộc, không nước nào giống nước nào, và không có chuẩn mực duy nhất để đo lường. Mọi nhân danh bản tuyên ngôn nầy để vi phạm Độc lập dân tộc và quyền Dân tộc tự quyết đều chỉ là hành động xâm lăng nhằm can thiệp vào nội tình Việt Nam. Hiện nay, trong không khí chính trị cực hữu của cuộc “chiến tranh chống khủng bố” toàn cầu nhân sự cố “11 tháng 9”, chính quyền Mỹ đã ban hành những đạo luật hoàn toàn vi hiến, xâm phạm một số quyền tự do căn bản của con người mà có thấy Vatican, hoặc các nước Âu châu Thiên Chúa giáo nào lên tiếng phản đối Mỹ đâu?.

7. Trong mặt trận Kinh tế, lợi dụng tình trạng toàn cầu hóa thị trường với chính sách viện trợ phát triển và ngoại thương ưu đãi của các nước Tây phương, lợi dụng nhu cầu hiện đại hóa của Việt Nam bằng mô thức Kinh tế thị trường, lợi dụng chính sách mở cửa làm bạn với mọi người của Việt Nam để thúc đẩy quá trình đổi mới đất nước, Vatican đánh lá bài “bắt cá hai tay”để xâm nhập và lũng đoạn Việt Nam.

Một mặt họ vận động và áp lực các chính phủ Tây phương phải đặt điều kiện “tôn trọng nhân quyền” để gây khó khăn cho Việt Nam trong nỗ lực làm ăn buôn bán với các quốc gia nầy; mặt khác, họ lại khuyến khích chuyên viên thuộc mọi ngành nghề (nhất là kinh tế và kỹ thuật) và doanh gia vào VN làm ăn hoặc xâm nhập vào các công ty ngoại quốc có đối tác tại Việt Nam để lũng đoạn thị trường trong nước. Nguy hiểm hơn cả là trong quá trình hợp tác kinh doanh với các cơ quan nầy, họ đã tạo quan hệ tốt với cả viên chức nhà nước lẫn thành phần bất mãn với chế độ để thực hiện các ý đồ xấu. Đồng thời, dưới lớp áo kinh doanh và chuyên viên, họ mua chuộc, lũng đoạn và làm ung thối bộ máy nhà nước bằng cách đóng góp thêm vào các hoạt động tham nhũng, hối lộ, móc ngoặc, và khuyến khích các tệ đoan xã hội khác. Trong khi đó thì tại nước ngoài, họ lại xuyên tạc chất lượng của sản phẩm xuất khẩu Việt Nam, im lặng trước những hiệp ước thương mãi thuận lợi mà Việt Nam đạt được, và phổ biến những bài “nghiên cứu khoa học” gian dối để cường điệu hóa tình trạng ô nhiễm môi sinh trong nước hầu làm suy giảm khả năng cạnh tranh của các sản phẩm Việt Nam trên thương trường quốc tế.

Nhưng quan trọng hơn cả, họ “cấy” vào đầu óc thế hệ trẻ Việt Nam, cùng một số quan chức Nhà nước thiếu bản lĩnh, một ý thức “toàn cầu hóa” triệt để và toàn diện (thay vì chỉ trên lãnh vực kinh tế mà thôi) và một tiêu lệnh “Hiện đại hóa chính là Tây phương hóa” để thủ tiêu căn cước văn hóa và bản sắc dân tộc Việt Nam.

8. Còn trên mặt tuyên vận, lợi dụng tối đa những kẻ hở trong chính sách mở cửa của Nhà nước Việt Nam trên ba mặt kinh doanh, du lịch và giao lưu văn hóa; và khai thác triệt để các phương tiện thông tin đại chúng hiện đại nhất, lực lượng CG Việt Nam nước ngoài đã tự mình chủ động và/hoặc gián tiếp huy động các phe nhóm “chống Cọng” khác của chính quyền miền Nam củ, để tuôn vào Việt Nam những thông tin và tuyên truyền nhằm bôi đen xã hội và cuộc sống của nhân dân, đánh phá Đảng cầm quyền và Nhà nước Việt Nam, và kêu gọi đồng bào các giới trong nước tối thiểu là bất mản với chế độ, còn tối đa là đứng lên đòi thay đổi chế độ. Họ kiểm soát hầu hết các công cụ thông tin nầy về cả số lượng lẫn chất lượng (17) . Tuy không có một thống kê chính xác, nhưng nếu bình tỉnh và sâu sắc theo dõi, ta có thể khẳng định rằng tuyệt đại đa số các cơ sở thông tin bằng tiếng Việt ở nước ngoài là của lực lượng CG, hoặc do CG chi phối, hoặc có cảm tình với lực lượng CG chống phá Việt Nam nầy.

Cụ thể, về nội dung:

·          Họ khai thác và phổ biến các tin tức tiêu cực, và chỉ tiêu cực mà thôi, trích từ các báo xuất bản tại Hà Nội và Thành phố HCM và từ một vài hãng thông tấn Tây phương, về các cuộc chống đối mà họ gọi là “khủng hoảng chính trị” (Thái Bình, Xuân Lộc, Đồng bào dân tộc ở Cao nguyên, cắm mốc biên giới Việt-Trung), thất bại kinh tế (Đầu tư suy giảm, Lạm phát gia tăng), tệ đoan xã hội (Tham nhũng, Tội ác băng đảng, bệnh AIDS), xuống cấp y tế giáo dục (Thiếu bệnh viện, bán bằng cấp). Thậm chí các thiệt hại do thiên tai gây ra như bảo lụt, hạn hán, cháy rừng cũng được họ thông tin với tất cả sự hân hoan của một kẽ ngoại cuộc vô tình. Dĩ nhiên hoàn toàn không có một thông tin nào đề cập đến rất nhiều thành quả tích cực, tốt đẹp, hướng thượng khác của đất nước, của nhân dân và của chính quyền Việt Nam.

·          Họ điện thoại hoặc email phỏng vấn một số cá nhân bất mãn với chế độ như các ông Hoàng Minh Chính, Nguyễn Trấn, Tiêu Dao Bảo Cự, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Thanh Giang, Bùi Minh Quốc, Trần Độ, Lê Chí Quang... và sau đó phổ biến rộng rãi các bài viết / nói của các nhân vật nầy. Đặc biệt, họ chuyển ngược về lại trong nước với những phóng đại dối trá về sự ủng hộ của quốc tế và đồng bào nước ngoài để động viên các thành phần nầy tiếp tục làm kẽ lót đường “chống Cọng” cho họ. Một vài nguời bất mãn trong nước đang bị họ tinh vi sử dụng như những “món hàng” rao bán với ngoại nhân trong một chiến lược làm tay sai cho giặc mà không biết.

·          Họ vinh danh vài cá nhân chống đối nhưng đã được Nhà nước phóng thích cho xuất ngoại hoặc đào thoát như Nguyễn Chí Thiện, Lý Tống, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Thanh Liêm, Bùi Tín, Vũ Thư Hiên ..., bằng cách đăng bài viết, tổ chức hội luận và giúp đỡ các người nầy ra điều trần trước Quốc hội Mỹ, viết sách, tổ chức đi diễn thuyết, thậm chí còn kiếm cả việc làm cho họ, mà không cho biết tác động nhỏ nhoi, thậm chí nhiều khi còn phản tác dụng, của những hoạt động nầy trong chính giới Mỹ.

·          Họ tổ chức, rồi thông tin và tường thuật có tính cách kích động những cuộc biểu tình chống các cá nhân, quan chức hoặc phái đoàn trong nước đi công tác tại nước ngoài, kể cả các đoàn trình diễn nghệ thuật văn hóa hoặc kinh tế thương mãi như cựu TT Võ văn Kiệt, Tham vụ Nguyễn An Trung, giáo sư Đặng Phong, Nhạc sĩ Đặng Thái Sơn, ca sĩ Mỹ Linh, Thanh Lam, nghệ sĩ Cải lương Bạch Tuyết, Hòa thượng Phật giáo Thích Thanh Từ, Đoàn Múa rối nước Thăng Long, Đoàn Hát Chèo Hà Nội ...

Hai điều đáng nói là (1) Có những hoạt động tưởng như không quan hệ đến họ như của Cộng đồng người Việt, của Phật giáo, của Hòa Hảo, hay ngay cả những hoạt động có vẽ có ích cho Việt Nam như cứu lụt, tặng học bổng, nhưng nếu truy cho đến cùng thì thế nào hoạt động đó cũng bị Công giáo chi phối để lợi dụng dưới hình thức tiền bạc, nhân sự hay sách lược. (2) Họ có thông tin từ trong nước tuơng đối khá nhanh và chính xác, khi chuyển tin về trong nước cũng nhanh và đúng đối tượng.

Sở dĩ trong mặt trận tuyên vận ở nước ngoài họ thành công là vì họ có một đạo quân thứ Năm trong nước, và họ được chỉ đạo cũng như yểm trợ của Vatican với sự tiếp tay của những thế lực chính trị Mỹ, mà chủ yếu là thuộc đảng Cọng Hòa và / hoặc theo Thiên Chúa giáo, còn thù nghịch với Việt Nam.

Trong quá khứ, Đạo quân thứ Năm nầy đã đóng hai vai trò tình báo và lính đánh thuê khi nổ trận, thì bây giờ cũng thế thôi. Có khác chăng là bây giờ họ tinh vi, linh động, đa diện và đa năng hơn. Bây giờ họ có thể là đảng viên, là chuyên viên, là ca sĩ, là doanh gia trên một chiến trường phức tạp hơn. Bây giờ không những họ thu lượm tin tức mà chính họ còn dùng những thông tin đó như vũ khí để tại chỗ, thông qua cương vị mà họ đang hợp pháp sinh hoạt, để tìm cách khuynh loát, làm ung thối, và phá hoại cả đất nước lẫn chế độ nữa.

Bên cạnh tám mặt mạnh đó, Vatican nói chung và CG Việt Nam nói riêng lại có những mặt yếu rất cơ bản khiến cho ý đồ và chiến lược của họ chưa chắc đã thành tựu:

9. Giáo hội Công giáo hoàn vũ và quyền lực toàn cầu của Tòa thánh Vatican đang trên đà suy thoái, thậm chí còn có thể bị tiêu vong, ở chính ngay các nước Tây phương, vốn là cái nôi và cũng là hậu phương lớn của họ vì ba lý do:

a.                   Tiến bộ và thành tựu của các ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội đã dần dần làm hiển lộ những tín lý gian dối, mê tín và dị đoan của nền thần học Thiên Chúa giáo, khiến các chức sắc và tín đồ bình thường phải đối diện với những vấn nạn trí thức và đạo đức mà nền thần học nầy không cách nào giải đáp thỏa đáng được.

b.                   Định chế gọi là Tòa thánh Vatican với đội ngũ các chức sắc tôn giáo, càng ngày càng hiện rõ bản chất phi tôn giáo của nó và trở thành một đại tập đoàn chính trị kinh tế có quyền lực toàn cầu, với chức năng và hoạt động của một lực lượng thế quyền mà những tranh chấp quyền lực nội bộ, những vụ gián điệp ngoại giao, những cuộc khủng hoảng tài chánh, những tội ác xã hội của tập đoàn các Hồng Y và Linh mục, ... đã luôn luôn bị luật pháp trừng trị và dư luận thế giới lên án không khác gì một đế quốc thế quyền.

c.                   Những mâu thuẩn tôn giáo truyền kiếp giữa Vatican với Tin Lành giáo, Chính Thống giáo, Do Thái giáo và Hồi giáo càng ngày càng trở nên gay gắt, thậm chí biến thành các tranh chấp có vũ trang hầu như xảy ra hàng ngày trên mọi phần đất của thế giới, không những đã làm cho thế giá và hình ảnh của Vatican bị trầy trụa, mà còn làm tiêu hao luôn niềm tin tôn giáo và những nguồn năng lực tài chánh, nhân sự và tổ chức để nuôi dưỡng sự sống còn của Vatican.

Tuy gốc rễ đã bị ruỗng nát như thế, nhưng những ngọn ngành tại châu Á và châu Phi xa xôi của Vatican thì còn tươi tốt nhờ đa số dân chúng còn nghèo đói và không khí trí thức thì còn trì trệ. Các dân tộc nầy lại đang ngây ngất nhìn về cuộc sống vật chất và các giá trị văn hóa Tây Phương như mô thức mẫu mực cần bắt chước để phát triển xã hội. Cho nên Vatican luôn luôn hướng về mảnh đất Việt Nam và các dân tộc chậm tiến khác với hy vọng còn có thể phát triển được nước Chúa.

10. Còn riêng Giáo hội Công giáo tại Việt Nam thì dù có ngụy trang dưới hình thức nào để đóng vai trò đạo quân thứ Năm, vẫn đang phải đối diện với ba khó khăn cơ bản sau đây:

a.                   Tổ chức của họ là một bộ phận trực thuộc hoàn toàn vào một quyền lực nước ngoài vốn có những liên hệ lịch sử oan trái với dân tộc ta. Hiện nay, họ có quan hệ hữu cơ chặt chẽ về mặt đường lối, chính sách, cơ cấu, nhân sự, và tài chánh với mẫu quốc Vatican, dù đang hiện diện và vận hành trong xã hội Việt Nam như một định chế xã hội và một thành phần của quốc gia. Sự trực thuộc về mặt tổ chức và điều hành nầy hoàn toàn phản bội lại tâm tình, lịch sử và truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam (18) nên chắc chắn Vatican sẽ gặp khó khăn trong nỗ lực biện giải cho những chống đối hay hợp tác của Giáo hội với các lực lượng khác. Cũng vì vậy mà từ hơn 10 năm nay, họ (và một số nhà gọi là “nghiên cứu lịch sử” ở trong nước) đã nỗ lực không những viết sách báo lên án các phong trào yêu nước Văn Thân và Cần Vương mà còn “chạy tội” để “vinh danh” cho những tên Việt gian Công giáo như Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký, Trần Lục, hoặc những tên cố đạo xâm lược như Alexandre de Rhodes, cha Cả Pigneau de Béhaine ... và tìm cách phản biện rằng hợp tác với thực dân Pháp lúc bấy giờ để “đổi mới” là yêu nước hầu bào chữa cho lịch sử phản quốc của Giáo hội CG Việt Nam. (19).

b.                   Họ không tạo dựng được một lực lượng chính trị quy mô nên phải phục hồi lại cái gọi là “tinh thần Ngô Đình Diệm” ở nước ngoài như một tụ điểm lý thuyết và hành động để triển khai tổ chức. Nhưng “tinh thần” đó thì đã từng chống lại kháng chiến, đàn áp các tôn giáo khác, hết làm tay sai cho Pháp lại đến làm con nuôi của Mỹ để thi hành một chính sách độc tài, tôn giáo trị và gia đình trị nên đã bị đồng bào miền Nam khước từ và tiêu diệt vào năm 1963. Hai chiêu bài thường được CG Việt Nam khiên cưỡng tô vẽ, kể cả việc trắng trợn bóp méo sự thật lịch sử, cho “lãnh tụ” Ngô Đình Diệm là ... tinh thần yêu nước chống Mỹ (!) và có tư cách đạo đức theo cung cách Khổng giáo, với hy vọng rằng thời gian sẽ xóa nhòa ký ức và khả năng khống chế lãnh vực tuyên truyền tại nước ngoài sẽ giúp họ “viết lại lịch sử” hầu xây dựng được một thế đứng chính trị khi thời cơ đến. Nhưng rõ ràng là nỗ lực xây dựng một đội ngũ chính trị dựa trên “tinh thần” Ngô Đình Diệm đó đã gặp những phản kháng của đồng bào ở nước ngoài (20), và trong tương lai, những chống đối của đồng bào trong nước, nhất là đồng bào ở miền Nam (21).

c.                   Lấy sức mạnh truyền thông của lực lượng chính trị Công giáo Việt Nam tại nước ngoài làm đội quân tiền phong mũi nhọn, họ phạm vào một lỗi lầm chiến thuật quan trọng: Bộ phận truyền thông nầy, khi cố gắng mô tả một bức tranh đen tối ở trong nước đã không thể nói gì hơn ngoài những thông tin và bình luận gian dối hoặc thiếu sót. Mỗi năm có hơn 600 ngàn lượt về của Việt kiều thăm quê hương chủ yếu vào ba dịp Tết Tây, Tết Ta và Hè. Những Việt kiều nầy có chứng kiến tận mắt một số hiện tượng tiêu cực của xã hội Việt Nam, nhưng bên cạnh đó cũng có rất nhiều mặt tích cực không thể chối cãi được. Quan trọng hơn, nhờ về nhiều lần, họ thấy được tiến độ của các công trình của nhân dân và chính phủ Việt Nam trên nhiều hình thái sinh hoạt của xã hội, nên khi về lại nước ngoài, họ đánh giá rất thấp những xuyên tạc, ngụy tạo đầy tính tuyên truyền của các báo / đài “chống Cọng” của CG. Ngoài ra, thành phần chuyên viên trí thức trẻ, vừa được trang bị bằng một tinh thần khoa học khách quan, vừa xa lạ với những sáo ngữ tuyên truyền kiểu Việt Nam Cọng hòa củ, nên có một tình cảm đặc biệt với quê hương đất nước mà không một lời tuyên truyền “chống Cọng” mị dân nào có thể lừa dối họ được. Vũ khí truyền thông lợi hại của CG Việt Nam, ít nhất là ở nước ngoài, với thời gian sẽ không còn hiệu nghiệm nữa.

Phần trên là để liệt kê tám yếu tố thuận lợi và sáu yếu tố bất lợi của Giáo hội Công giáo Vatican trong chiến lược đấu tranh để tiến đến việc nắm quyền tại Việt Nam. Lẽ dĩ nhiên, còn nhiều yếu tố khác tác động đến phương trình đấu tranh quyền lực nầy, mà Nhà nước Việt Nam và nhân dân Việt Nam phải được kể là hai yếu tố quan trọng nhất.

Cho đến nay, có vẽ như nhà nước Việt Nam vẫn chưa có một ý thức đúng đắn về mối hiểm họa to lớn do Công giáo La Mã gây ra trong tương lai. Có bốn lý do để giải thích vì sao:

·          Không có những nghiên cứu sâu sắc và đầy đủ, hoặc có mà không được cập nhật để thoát ra khỏi cơ sở lý luận của Mác và Ang-ghen, về nội dung thật sự của Thần học Thiên Chúa giáo nên cho rằng mọi tôn giáo đều xuất sinh từ mối quan hệ biện chứng kinh tế-xã hội, và có thể giải quyết nó trong biện chứng nầy. Thậm chí gần đây còn có khuynh hướng cho rằng mọi tôn giáo (bản chất) đều tốt, chỉ có phần thể dụng (hiện tượng) là có khi xấu. Điều nầy thì đúng cho các tôn giáo khác nhưng lại hoàn toàn không đúng cho Thần học và tín lý Thiên Chúa giáo.

·          Không có những nghiên cứu sâu sắc và đầy đủ, hoặc có mà không được cập nhật đúng đắn, về lịch sử và chức năng của CG La Mã, lại không theo dõi cặn kẽ và liên tục chiến lược và hoạt động toàn cầu của Vatican trên thế giới, nên thiếu cảnh giác, do đó sách lược đối phó vừa không đúng hướng lại chẳng đúng tầm.

·          Bị choáng váng phần nào trước những thành tựu “văn minh” của phương Tây nên sai lầm trên hai tiền đề lý luận: (1) Văn minh phương Tây là văn minh Thiên Chúa giáo, và (2) Trong văn minh phương Tây có một số khuôn mẩu nên theo để phát triển đất nước. Hai điều nầy đều sai hoàn toàn cả vừa lý thuyết lẫn thực tế: Thứ nhất những tiến bộ khoa học và nhân văn của thế giới Âu Mỹ trong cả ngàn năm qua không dính líu gì đến tín lý Thiên Chúa giáo cả, ngược lại là khác, chính Thần học Thiên Chúa giáo đã kìm hãm các tiến bộ nầy (22). Thứ nhì, phương Tây đang phải trả giá rất đắt cho tội ác phá hủy con người và thiên nhiên trong quá trình phát triễn xã hội sai lầm của họ.

·          Chủ quan cho rằng trong quá khứ CG Việt Nam theo Tây theo Mỹ bán nước nhưng bây giờ có thể họ đã phản tỉnh và trở thành thành phần yêu nước, có thể đóng góp cho sự nghiệp đổi mới. Nhận định nầy không rốt ráo, thiếu cơ sở lại chưa được kiểm nghiệm. Pháp lệnh Tôn giáo của nhà nước Việt Nam chỉ là một bản văn tắc trách và không phản ánh lịch sử và hiện thực nước ta, không phân biệt được ai là bạn ai là thù, và nhất là không đánh giá đúng chức năng và vai trò của từng Tôn giáo trong sinh hoạt quốc gia.

Thật vậy, những quyết định của Nhà nước chấp nhận vụ Phong Thánh; cho phép các Linh mục xuất ngoại thường xuyên đi Âu Mỹ; đặt lại tên đường Alexandre de Rhodes; vinh danh tên Việt gian Nguyễn Trường Tộ; cho phép đặt lại tên trường mới cho viên gián điệp Petrus Ký; nhượng bộ yêu sách chiếm đất của nhà thờ Xuân Lộc; không cứu xét đơn của Tỉnh hội Phật giáo Quảng Trị xin hoàn trả chùa Lá Vằng bị cha cố chiếm đoạt trong thời đô hộ Pháp để xây nhà thờ La Vang (mà sau nầy Ngô Đình Thục nâng cấp gọi là Pháo đài Tinh thần của Quốc gia); tại Thành phố Hồ Chí Minh, buông lỏng an toàn giao thông và an ninh công cọng trong ngày lễ Noel để biến thành một lễ hội lớn nhất nước, hơn cả ngày lễ quan trọng nhất của quốc gia là lễ kỷ niệm vua Hùng hoặc Độc Lập 2/9 ... …là những sự cố xác định rõ ràng tình trạng phòng vệ bị động vì chưa có một ý thức dứt khoát của Đảng cầm quyền và Nhà nước Việt Nam đối với CG Việt Nam nói riêng và đối với Vatican nói chung.

Nhìn lại trong 30 năm đánh Tây đuổi Mỹ, đối diện với bộ máy chiến tranh khổng lồ của Thực dân và Đế quốc, Việt Nam thắng được kẻ thù chủ yếu là nhờ ba lý do: Thứ nhất là có chính nghĩa nên phát huy và huy động được truyền thống yêu nước chống xâm lăng của dân tộc, thứ hai là giỏi quyền biến nên sử dụng nhuần nhuyễn khoa học tổ chức và đấu tranh của Lenine, và thứ ba là có bản lĩnh nên nắm vững được ưu khuyết điểm của ta, của bạn và của địch để thiết kế và tiến hành các chiến lược đấu tranh. Ba lý do đó có thể gói trọn trong một quy luật chiến tranh cổ điển: “biết mình biết người” thì tất yếu phải thắng.

Bây giờ, trật tự thế giới đổi thay, quy luật lịch sử đổi thay,… xu thế thời đại đổi thay, đất nước đổi thay, kẽ thù đổi thay, đồng minh đổi thay, ta còn “biết mình biết người” như ngày xưa nữa không ? Và khi biết rồi thì thiết kế và tiến hành sách lược đối trị như thế nào ?

Người viết xin mạnh dạn đề nghị bốn định hướng và một số biện pháp sau đây:

A – Trong đoản kỳ, chấp nhận sự hiện diện của Giáo hội CG Việt Nam và các tín đồ của họ trên đất nước ta như một thành phần của dân tộc dù chúng ta thích hay không thích, muốn hay không muốn. Vả lại, cũng trong đoản kỳ và cứ theo đà nầy, số tín đồ CG Việt Nam sẽ càng ngày càng đông và tỉ số tín đồ trên tổng dân số quốc gia, do đó, sẽ càng ngày càng cao, dù tỉ số đó thì lại suy giảm trên tầm mức quốc tế. Vậy thì trừ ra họ trở thành một đe dọa tức thì và áp đảo trước khi họ tự tàn lụi theo xu thế tiêu vong tất yếu của Công giáo La Mã ngày nay trên thế giới, không cần phải có những biện pháp quyết liệt để gạt bỏ họ ra khỏi cộng đồng dân tộc. Tuy nhiên, trong khi chờ đợi quy trình tự hủy đó hoàn tất, và để tránh những manh động liều lĩnh cuối cùng của họ, cần phải ý thức dứt khoát rằng họ, bảy triệu tín đồ CG tại Việt Nam và những “bạn bè đồng minh” ngây thơ của họ cả ở trong lẫn ngoài chính quyền, là một loại ung thư cực kỳ nguy hiểm trong cơ thể quốc gia, cần tìm cách cô lập chặt chẽ và giới hạn tối đa sức bành trướng và công phá để kéo dài cuộc sống của nó (23).

B – Trong nước, Nhà nước Việt Nam nên thực hiện một chính sách đối với CG Việt Nam đặt trên năm cơ sở:

(1) Lấy sự thật lịch sử, sự thật khoa học, sự thật văn hóa, và sự thật xã hội làm vũ khí để giáo dục và giúp họ phản tỉnh.

(2) Tránh tạo ra mâu thuẩn giữa CG Việt Nam và dân tộc, giữa CG Việt Nam và kẻ thù tín ngưỡng số một mà họ luôn luôn tìm cách tiêu diệt là Phật giáo Việt Nam.

(3) Giới hạn tối đa quan hệ giữa CG Việt Nam và Vatican để, trong tương lai, cổ vũ họ thành lập một Giáo hội CG Việt Nam độc lập, dân tộc và không thống thuộc Vatican trên cả hai mặt giải thích và sống theo Tín lý, cũng như tổ chức và điều hành Giáo hội Việt Nam (24).

(4) Triệt để tách rời Tôn giáo ra khỏi Chính trị, sinh hoạt tôn giáo phải nằm trong khuôn khổ của Hiến pháp và Luật pháp. Trừng trị triệt để những kẻ lợi dụng Công giáo (hoặc bất kỳ tôn giáo nào) để làm chính trị.

(5) Phát huy các giá trị văn hóa và đạo đức dân tộc, hiện đại hóa đạo Thờ cúng Tổ tiên và Tam Giáo, nhất là Phật giáo, một tôn giáo có nội dung xã hội, nhập thế, nhân bản và hòa bình, để tín đồ CG Việt Nam có một lối thoát cho nhu cầu tâm linh của họ.

Năm cơ sở đó đặt trên một hiện thực nền tảng: Giáo dân Việt nam, trừ một thiểu số mù quáng giáo điều hoặc tập đoàn chức sắc đã chọn con đường vong thân nhận Vatican làm tổ quốc, tuyệt đại đa số còn lại chỉ là nạn nhân của lịch sử khống chế văn hóa do Vatican tiến hành từ cả ngàn năm nay. Họ là người Việt bị nhiễm độc “Vatican hóa”, chỉ cần giáo dục để tẩy rửa cái tín lý mê tín thần quyền và phát huy Việt tính Việt tình trong tâm thức họ, là họ lại trở về với Tổ quốc, tìm về với Dân tộc ngay.

C - Đối với các cộng đồng Công giáo Việt Nam ở nước ngoài, với gần 20 vạn giáo dân được sự lãnh đạo, giúp đỡ và xúi dục tận tình của Vatican, của các Giáo hội CG địa phương, và của các thế lực chính trị / tài phiệt CG thế giới, Nhà nước Việt Nam cần đặc biệt quan tâm và có đối sách tương xứng.

Xin đan cử một sự kiện có thật của lực lượng nầy để mô tả tâm thức và lập trường của họ: Tại Orange County, miền Nam California, nơi tập trung đông đảo giáo dân Việt Nam nhất ở nước ngoài và cũng là nơi có nhiều hoạt động chính trị nhất của người Việt hải ngoại, Giáo phận tại đấy có xuất bản tạp chí “Hiệp Nhất”, cơ quan ngôn luận chính thức của Giáo phận, do 17 linh mục và 12 chủ tịch cộng đoàn Công giáo chủ trương. Trong số 121, phát hành vào tháng 1 năm 2003, có hai bài viết với những trích dẫn nguyên văn (kể cả sai văn phạm) sau đây với phần nhấn mạnh của người viết:

·          Sau khi bày tỏ sự sửng sốt và lòng thương tiếc trước sự kiện Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận (cháu của Ngô Đình Diệm và là “Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hòa bình tại Giáo triều Vatican”) và Đức Ông Vinh Sơn Trần Ngọc Thụ (“Bí thư” của Giáo hoàng John Paul II) đã “được ơn Chúa gọi” về Thiên đàng trong năm 2002, tác giả Nguyễn Quang Tuyền viết: “Việt Nam ta có câu “Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí”, thế là Mẹ Việt Nam đã mất đi trong vòng hai tháng trời, đã vui vẻ và thưa hai tiếng “Xin Vâng”, để dâng tiến lên Gia Vê hai người con tài trí, thông minh, thánh thiện, dũng cảm, đã được Vị Đại Diện Thánh cả Phêrô chọn cả hai người con Việt Nam này ...” (25). Tác giả Công giáo nầy đã xem hành động Mẹ Việt Nam sẽ thưa hai tiếng “Xin Vâng” để “dâng tiến lên Gia Vê” (Thiên Chúa) là chuyện đương nhiên (“thế là”). Thái độ nầy không những phản ánh tâm lý quy phục hèn mọn trước Giáo quyền nhưng lại dám hỗn xược với Tổ quốc, mà còn nói lên lập trường phản dân tộc và sẵn sàng làm tay sai bán “Mẹ Việt Nam” cho Vatican nữa.

·          Trong một bài phân tích Giáo hội trong sinh hoạt chính trị Mỹ, sau khi than phiền các đồng đạo người Tây Ban Nha tại California đã bỏ phiếu cho các ứng viên đảng Dân Chủ (chủ trương cho phép phá thai trong một số điều kiện đặc biệt), tác giả Đức Ông Nguyễn Đức Tiến viết: “Theo linh mục Carlos Gonzalez, phụ tá Cha Sở giáo xứ St Andrew tại Pasadena, thì những người này họ không nhìn theo khía cạnh chủ trương phá thai hay không, mặc dầu trước đó ngài đã khuyên họ đừng bỏ phiếu theo đảng, nhưng bỏ phiếu theo cá nhân ứng cử viên có hợp với niềm tin Công Giáo hay không(26). Đó là nguyên tắc làm chính trị hay cung cách cai trị quốc gia của người Công giáo: Phải “hợp với niềm tin Công giáo” chứ những tiêu chuẩn khác chỉ là thứ yếu.

Với cách nhìn đất nước vong bản như thế, với hành xử chính trị giáo điều như thế sau 28 năm được tiếp cận với những tiến bộ tri thức của nhân loại thì không còn gì để suy nghĩ hoặc cân nhắc về người Công giáo Việt Nam nữa ngoài một tiếng thở dài tuyệt vọng ! Tuy nhiên, trong đoản kỳ, hai việc cụ thể và có thể làm được là giới hạn tác hại của hai công cụ chính trị của CG Việt Nam tại nước ngoài là “Phong trào Phục hồi Tinh thần Ngô Đình Diệm” và các tổ chức “Nhân quyền” và “Liên tôn” trá hình. Chỉ cần phổ biến rộng rãi tài liệu và sách vở của chính Ủy ban Đoàn kết Công giáo trong nước sáng tác, viết về tình tự dân tộc, về vai trò của Giáo hội theo Tây theo Mỹ trong quá khứ, về những tâm tình của một tuyệt đại thiểu số tín hữu CG chọn đứng về phía cách mạng trong thời kháng chiến dành độc lập, về tương lai của một Giáo hội dân tộc độc lập thoát khỏi sự khống chế của Vatican. Nghiên cứu, dịch thuật và phổ biến các tác phẩm của các tác giả ngoại quốc (nhất là của chính các học giả và chức sắc CG thế giới) viết về tội ác của CG trong quá khứ tại Việt Nam (27) và ý đồ hiện tại của Vatican trên thế giới.

D - Đối ngoại, Nhà nước cần đề cao cảnh giác mọi quan hệ với Vatican và với các quốc gia trong địa bàn “văn minh Thiên Chúa giáo”, đặc biệt trong năm lãnh vực giao lưu văn hóa, viện trợ nhân đạo, yểm trợ giáo dục, viện trợ kinh tế, và hợp tác trong công nghệ thông tin đại chúng. Ngược lại, cần hợp tác chặt chẽ, nếu cần thì tạo các chiến tuyến văn hóa tôn giáo (hoặc liên minh chung) với các nước trong khu vực văn minh Đông phương về các lãnh vực nầy. Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Hàn quốc, Đài Loan, Thái Lan vừa phát triển thịnh vượng vừa giử gìn và phát huy được bản sắc đậm đà của dân tộc mà có cần phải vay mượn gì của tín lý Công giáo đâu. Ngược lại là khác, chính nhờ họ đã biết khước từ những tín lý nầy.

Tại Việt Nam hiện nay, mọi công dân đều có quyền có niềm tin tôn giáo riêng và hành sử quyền tín ngưỡng cá nhân đó một cách tự do, kể cả quyền không có niềm tin tôn giáo nào (và đây là điểm son của Hiến Pháp 1992), cho nên trong đời sống tâm linh, ai “khôn” người đó nhờ ai “dại” người đó chịu, chẳng ai có quyền can thiệp chuyện của người khác trong vấn đề tín ngưỡng cá nhân cả. Nhưng khi Công Giáo tự cho mình là chân lý duy nhất, rồi sử dụng sức mạnh của các thế lực ngoại bang để áp bức và tiêu diệt các tôn giáo khác, hầu áp đặt tôn giáo của mình lên trên cả một dân tộc, thì điều đó không thể chấp nhận được. Nhất là khi tôn giáo của họ cũng chẳng mang lại an vui và thịnh vượng gì cho đất nước và dân tộc ta cả. Ngược lại là khác, chỉ mang lại ngoại xâm, nô lệ, mê tín dị đoan, thủ tiêu trí tuệ, .... mà cho đến giờ nầy, sau bao nhiêu lần được lịch sử và dân tộc giúp cảnh tỉnh, chính họ cũng chưa thấy ra điều đau đớn xót xa đó.

Nói cho tận cùng và thật lương thiện, tôn giáo chỉ là sản phẩm của con người để phục vụ con người, do đó phải nằm trong một khế ước xã hội do con người đồng thuận với nhau. Khi Công Giáo xé bỏ khế ước đó, hạ con người xuống thành nô lệ của (và phục vụ cho) tôn giáo, lại cấu kết với các thế lực xấu bên ngoài để bắt những người khác trong xã hội cũng trở thành nô lệ như mình thì cần phải có những tiếng nói cảnh báo lương thiện, những quyết định đột phá sáng suốt để lưu ý những ai, cả trong lẫn ngoài chính quyền, còn thật sự quan tâm đến vận mệnh của đất nước và an vui của đồng bào rằng chính Lực lượng Công Giáo La Mã mới là mối nguy cơ có thật và nguy hiểm nhất cho Tổ quốc Việt Nam.

Nhật Nam và Phạm Phú Bổn
California, 2/2003

CƯỚC CHÚ :

1. Không phải là chuyên ngành của mình, nhưng chỉ riêng hai tác giả bài viết nầy mà thôi thì cũng đã có được ít nhất 300 đầu sách, hoặc phúc trình, hoặc luận án, hoặc bài trình bày (essays), hoặc phim tài liệu tiêu biểu và cập nhật nhất, trực tiếp hay gián tiếp liên hệ đến chủ đề nầy, của các giáo sư đại học, chuyên viên nghiên cứu thần học, Linh mục đang tại chức hoặc đã cởi áo, sử gia, cựu quan chức nhà nước, nhà báo, ... thuộc nhiều quốc tịch khác nhau.

Cho bài viết này, chỉ xin liệt kê ra đây 20 tác giả quen thuộc: 1. Unholy Trinity: How The Vatican's Nazi Networks Betrayed Western Intelligence to the Soviets, Mark Aarons & John Loftus; 2. The Vatican Empire, Nino Lo Bello; 3. American Freedom and Catholic Power, Paul Blanshard; 4. a. Gia Tô Thực dân Sử liệu, b. Sách lược Gia tô Thực dân Thống trị toàn cầu, c.Gia tô Thực dân Chính sử, Chu văn Trình; 5. Pope, Premier, President, Roland Flamini; 6. Catholicisme et Sociétés Asiatiques, Alain Forest & Yoshiharu Tsuboi; 7. The Roman Catholic Church in Colonial Latin America, Richard E. Greenleaf; 8. The Catholic Church in World Politics, Eric O. Hanson; 9. Les Missions étrangères et la Pénétration Francaise au Viet-Nam, Nicole-Dominique Lê; 10. The Missionaries: God Against the Indians, Norman Lewis; 11. a. Catholic Imperialism and World Freedom, b. Vietnam: Why Did We Go?, c. The Vatican's Holocaust, Avro Manhattan; 12. The Vietnamese Response to French Intervention:1862-1874, Mark W. McLeod; 13. Công giáo Chính sử: 2000, Trần Chung Ngọc; The Politics of the Vatican, Peter Nichols; 14. Christ or Evil? The Corrupt Face of Christianity in Africa, Anene Obianyido; 15. The Holy Humbugs, Padchi; 16. Missionaries, Julian Pettifer & Clive Prince; 17. The Roman Catholic Church in Modern Latin America, Karl M. Schmit; 18. Histoire de la Pénétration Francaise au Vietnam (1858-1897), Nguyễn Xuân Thọ; 19. Đạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt-Nam, Cao Huy Thuần; 20. Dieu et César: Les Catholiques dans L'histoire du Vietnam, Trần Tam Tĩnh.

(2). Đêm 26-1-2003, lúc 11.25 tối (giờ Thái Bình dương PST), người viết đánh ba chữ "Catholicism, Vatican và Crime." Công giáo, Vatican va tội Ác) vào cửa sổ SEARCH của www.yahoo.com thì Server nầy liệt kê 8,070 danh mục tra cứu. Nếu chịu khó vào thêm rất nhiều các Servers khác ở Âu châu, Á châu, Nam Mỹ, Trung Đông, ... thì có lẽ ta sẽ có cả mấy trăm ngàn danh mục về Tội Ác của Công giáo Vatican ... Xin kể ra đây 20 nghiên cứu được nhiều người biết đến: 1. A History of God, Karen Armstrong; 2. The Bible Handbook, W.P.Ball, G.W. Foote et al..; 3. a. The Gospel of Love Versus Crime, b. The Shadow of the Deamon, Jack Bays; 4. Going By The Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority, Ernie Bringa; 5. Dieu Contre Dieu, Robert Dalian; 6. Christianity Cross-Examined, William Floyd; 7. Who Wrote the Bible?, Richard Elliott Friedman; 8. One Hundred Contradictions in the Bible, Marshall J. Gauvin; 9. Deceptions and Myths of the Bible, Lloyd M. Graham; 10. a. The Book of Ruth, b. The Born Again Skeptic's Guide to the Bible, Ruth Hermence Green; 11. Mythology's Last Gods: Yahweh and Jesus, William Harwood; 12. Some Mistakes of Moses, Robert G. Ingersoll; 13. All the Obscenities in the Bible, Gene Kasmar; 14. The Bible Unmasked, Joseph Lewis; 15. The Case Against Christianity, Michael Martin; 16. a. Resurrection: Myth or Reality, b. Born a Woman: A Bishop Rethinks the Birth of Jesus, John Shelby Spong; 17. Jesus and the Riddle of the Dead Sea Scrolls, Barbara Thiering; 18. The Bad News Bible: The New Testament, David Voas; 19. Fictional Transfiguration of Jesus, Theodore Ziolkowski; 20. The Five Gospels: What Did Jesus Say?, The Jesus Seminar.

(3). The Decline and Fall of the Roman Church của Malichi Martin, Battam Books, New York, 1988.

(4). Một số vấn đề lịch sử Thiên Chúa giáo ở Việt Nam, Đỗ Quang Hưng, Tủ sách Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1991, Thư của Hội đồng Giám mục Việt Nam – Hồng y Giuse Maria Trịnh văn Căn: “Trong số các Tử đạo đã được phong Chân phúc có cả những vị người Pháp, người Tây Ban Nha; vừa Giám mục, vừa Linh mục đã ngã chết trên bãi chiến trường của Giáo hội. Không thể diễn tả cho hết lòng quả cảm, ý chí kiên cường, cũng như những đau khổ, những hy sinh đã chịu vì công cuộc truyền đạo”.

(5). Đón Giáng sinh trên Đất Mỹ, Nghĩ về Việt Nam của Nguyễn An Quý, tạp chí Hiệp Nhất số 121, tháng 1/2003 (Hiệp Nhất là cơ quan ngôn luận chính thức của Cộng đồng Công giáo Việt Nam – Giáo phận Orange County, bang California).

Viết về Hoa Kỳ, tác giả Nguyễn An Quý nhận xét một cách thán phục: “Hoa Kỳ là quốc gia đã được Chúa ban cho nhiều ân huệ đặc biệt mà bất cứ nước nào trên thế giới cũng đang thèm khát. Hoa Kỳ cũng là quốc gia luôn luôn đặt niềm tin vào Thiên Chúa, vào Thượng Đế, có thể nói là bậc nhất thế giới ... Cả dân tộc nầy coi trọng việc Tạ Ơn nên họ đã được Chúa nâng đỡ mọi mặt trong cuộc sống. Mọi người, mọi sắc dân sống trên đất nước này cũng đều được hưởng nhờ nhiều Hồng Ân mà Chúa đã ban cho Hoa Kỳ từ ngày Lập Quốc

Còn viết về Việt Nam, tác giả nhận định: “... việc lãnh đạo quốc gia chẳng may đã rơi vào tay lớp người không có Thiện Tâm cho nên đất nước đã không có sự An Bình, người dân luôn sống trong cảnh sợ sệt, nghi kỵ lẫn nhau, không ai tin ai cả và cái gì cũng đề phòng hết, cuộc sống trở nên gian dối, đất nước trở nên nghèo nàn lạc hậu ... Họ là những người công khai chối bỏ Thiên Chúa, chối bỏ Thượng Đế cho nên chuyện diệt tôn giáo là mục đích chính của ho ... tập đoàn lãnh đạo đất nước luôn luôn chối bỏ sự hiện hữu của Thượng Đế thì quả là mối Nguy Hại cho dân tộc Việt Nam ...”

(6). Một số vấn đề lịch sử Thiên Chúa giáo ở Việt Nam, Đỗ Quang Hưng, Tủ sách Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1991, Thư của Bề trên Dòng Đa Minh, Roma – Giáo sĩ Damian Byrne: “Ngày 24 tháng 11 năm nay (1985), kỷ niệm lần thứ 25 ngày thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam và trong cùng ngày nầy, Đức Thánh cha đã gửi cho hàng Giám mục nước này một thư trong đó có nhắc lại rằng “Truyền thống Công giáo của các con, trải qua ba thế kỷ, nhiều lần đã mang dấu ấn bằng máu của các đấng Tử vì đạo” và phản ánh rằng: “Nếu như số phận của hạt giống gieo vào đất đai của lịch sử đã được như vậy thì mùa nở hoa cũng sẽ quan trọng đối với Giáo hội trong tương lai

(7). The American Pope: Life and Times of Francis Cardinal Spellman của John Coney, Random House, 1984.

(8). Marks i Engels o Religii (Mác và Ăng-ghen bàn về Tôn giáo) của Kryvelev I.A., Nauka, Moskva, 1964: “Như vậy, theo cách nói của Mác, tôn giáo là một sản phẩm xã hội. Nó được quy định và quyết định bởi lịch sử. Và vì cơ sở của quá trình lịch sử là sự phát triển của các điều kiện vật chất của đời sống xã hội, nên nguồn phát sinh các biểu tượng tôn giáo cũng ở ngay trong điều kiện sinh sống của con người. Những lực lượng trần tục thống trị con người đè nặng lên ý thức của họ và được phản ánh vào trong ý thức của họ một cách hoang đường, đã sinh ra những biểu tượng siêu tự nhiên. Những hình ảnh và biểu tượng tôn giáo trong ý thức con người chính là những tồn tại lịch sử xã hội được phản ánh. Học thuyết của Mác và Ăng-ghen về sự phản ánh hoang đường hiện thực với tính cách là nguồn sản sinh và nội dung của lòng tin tôn giáo, đã giáng một đòn quyết định vào các quan niệm thần học, vào các quan niệm tầm thường nông cạn của chủ nghĩa siêu hình trong vấn đề nguồn gốc của tôn giáo”.

(9). Lenin o religii (Lê-Nin bàn về Tôn giáo) của Kryvelev I.A., AN, Moskva, 1960: “Biện pháp thực tế duy nhất để khắc phục tôn giáo là xóa bỏ căn nguyên xã hội của nó. Đó là việc thủ tiêu chế độ bóc lột và xây dựng một xã hội mới, xã hội chủ nghĩa. Nói một cách khác, cuộc đấu tranh chính trị và kinh tế thắng lợi sẽ tạo những điều kiện cần thiết cho cuộc cách mạng ý thức để đi đến hoàn toàn thủ tiêu tôn giáo”.

(10). His Holiness: John Paul II and the History of our Time của Carl Bernstein và Marco Politi, Penguins Books, New York, 1996.

(11). Chính Giáo hoàng John Paul II đã xác định rõ ràng trong bài diễn văn đọc tại Phi Luật Tân năm 1996 rằng: “Tương lai của Giáo hội Công giáo La Mã sẽ nằm ở Á châu”. Ngoài ra, cần đọc thêm “Tông huấn Giáo hội tại Châu Á” (Ecclesia in Asia) của Giáo hoàng John Paul II, được chính thức ban hành nhân chuyến công du mục vụ vào tháng 11 năm 1999, để biết rõ về những dinyh hướng cho các hoạt động truyền giáo của Vatican tại châu Á trong thiên niên kỷ thứ ba.

(12). Tiến sĩ Lịch sử tôn giáo tỉ giảo Michel Dousse đã phân tích cặn kẻ nội dung của Kinh thánh Cựu Ước, Tân Ước và Kinh Coran để chứng minh tính bạo lực triệt để đã chảy xuyên suốt nội dung thần học của ba tôn giáo Độc thần cùng thờ một Chúa (Thiên Chúa giáo, Do Thái giáo và Hồi giáo) trong tác phẩm Dieu En GuerreLa Violence au Coeur des Trois Monothéismes, Edition Albin Michel Spiritualités, Paris, 2002. Ngoài ra, xin xem thêm The Clash of Civilization của Samuel Huntington, Touchstone Books, New York, 1997 và The Keys of this Blood của Malichi Martin, Touchstone Books, New York, 1990. Riêng tại Việt Nam, nghiên cứu thêm nội dung chính trị của Đảng Cần Lao và các chính sách cai trị của chế độ Công giáo trị chống Cọng của chính quyền Ngô Đình Diệm.

(13). Vietnam, Why Did We Go ? của Avro Manhattan, Chicks Publication, 1984.

(14). Cựu nghị sĩ miền Nam củ là Nguyễn văn Chức, Tổng Thư ký Liên đoàn CG Việt Nam tại Mỹ, đã tuyên bố nhân dịp Giáo hoàng John Paul II qua chủ tọa buổi lễ khánh thành Đại hội Quốc tế Giới Trẻ tại thành phố Denver, bang Colorado, vào ngày 15/8/1993 rằng “quyển Kinh Thánh sẽ là cẩm nang trong sứ mạng phục hưng con người và đạo lý tại Việt Nam”.

(15). Crossing the Threshold of Hope, Alfred A. Knopf, 1994.

(16) Đức Ông Nguyễn Đức Tiến đọc trên đài phát thanh VNCR cho người Việt nước ngoài tại “thủ đô tị nạn” Little Saigon, bang California, sáng ngày lễ Giêsu Giáng sinh, 25-12-1998.

(17). Chỉ tại miền Nam California mà thôi, ta có thể kể Nhật báo Người Việt, Nguyệt báo Thế Kỹ 21, tuần báo Việt Tide, Sàigòn Nhỏ, bản tin Diễn Đàn Nhân Quyền, các chương trình phát thanh tiếp vận đài Á châu Tự do của Quốc hội Mỹ, VNCR, SàiGòn Radio Hải ngoại, Sống trên đất Mỹ, và gần 50 chương trình phát thanh trên hai kênh 106.3 FM và 1480 AM, đài truyền thanh và truyền hình Little Saigon, trang chính trị http://www.kicon.com, trang nhân quyền http://www.vnhr-coalition.org , đó là chưa kể đến hàng trăm cơ sở thông tin/báo chí ngoại vi và những báo/đài CG khác như Diễn đàn Giáo dân, Diễn đàn Ky tô hữu, Hiệp Nhất, Trái tim Đức Mẹ, trang sinh hoạt http://www.vietcatholic.org ...

(18). Xin xem thêm: Việt Nam Pháp thuộc Sử, Phan Khoang; Tìm về Dân tộc, Lý Chánh Trung; Lịch sử nội chiến Việt Nam, Tạ Chí Đại Trường; Việt sử Toàn thư, Phạm văn Sơn; Việt Nam Văn hóa Sử cương, Đào Duy Anh; Lịch sử Đạo Thiên Chúa tại Việt Nam, Fr. Drapiet; Việt Nam Văn minh Sử Lược khảo, Lê văn Siêu; Phan Đình Phùng, Đào Trinh Nhất; Công giáo-Huyền thoại và Tội ác, Charlie Nguyễn; Việt Nam thời Đô hộ Pháp, Nguyễn Thế Anh; Thực chất của Giáo hội La Mã, Nguyễn Mạnh Quang; Vatican, Thú tội và Xin lỗi, Nhiều tác giả/Giao Điểm.

(19). Xin đọc thêm các tác phẩm sau đây của Giao Điểm Publications, California, phản bác lại các luận điểm ngụy biện của các “nhà nghiên cứu” trong nước: Alexandre de Rhodes, Người đầu tiên vận động Pháp chiếm Việt Nam - Nguyễn Trường Tộ yêu nước ?- Trần Lục, Thực chất con người và sự nghiệp - Pétrus Trương Vĩnh Ký, Nhìn từ những khía cạnh và nhận thức khác nhau.

(20). Hai mươi tác phẩm tiêu biểu có thể tìm mua ở nước ngoài: 1. Ngàn năm soi mặt, Vũ Ngự Chiêu; 2. Le Dragon d’Annam, Bảo Đại; 3. Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm và Mặt trận Giải phóng, Hồ Sĩ Khuê ; 4. Việt Nam Phật giáo Sử Luận, Nguyễn Lang; 5. Cần Lao Cách mạng Đảng, Chu Bằng Lĩnh; 6. Bên dòng Lịch sử, Cao văn Luận; 7. Việt Nam Máu lửa Quê hương tôi, Hoành Linh Đỗ Mậu; 8. Vietnamese Engaged Buddhism, Quán Như Phạm văn Minh; 9. Việt Nam Đệ nhất Cọng hòa Toàn thư, Nguyễn Mạnh Quang; 10. Những ngày chưa quên, Đoàn Thêm ... và 11. Vietnam a Political History, Joseph Buttinger; 12. The two Vietnam, Bernard Fall; 13. US Intervention and the Fall of Diem, William Hammond; 14. Vietnam a History, Stanley Karnow; 15. Our Own Worst Ennemies, William Lederer; 16. New Face of Buddha, Jerrold Schecter; 17. The Lost Revolution, Robert Shaplen; 18. The Bright Shining Lie, Neil Sheehan; 19. The Pentagon Papers, Neil Sheehan; 20. The Last Confucian, Dennis Warner.

(21). Phong Trào Phật giáo Miền Nam Việt Nam của Lê Cung, Nhà Xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999 – Miền Nam giữ vững Thành đồng của Trần văn Giàu, Nhà Xuất bản Khoa học, Hà Nội, 1966 – Nhìn vào Cuộc Đảo chánh vừa qua ở Miền Nam và Số kiếp Ngô Đình Diệm của Trần Huy Liệu, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 58, Hà Nội, 1964 – Sáu Tháng Pháp Nạn 1963 của Vũ Văn Mẫu, Thành phố Hồ Chí Minh, 1984.

(22). Xin tìm đọc các phát biểu hoặc những tác phẩm có đề cập đến quan hệ Khoa học-Triết học-Tôn giáo của một số các khoa học gia và tư tưởng gia Tây phương sau đây : Issac Asimov, Francis Bacon, Niels Bohr, Charles Darwin, Paul Dirac, Albert Einstein, Ralph Waldo Emerson, Giuseppe Gibaraldi, Stephen Hawking, Werner Heisenberg, Davis Hume, Thomas Huxley, Robert Ingersoll, Max Jammer, Thomas Jefferson, Immanual Kant, Pierre-Simon de Laplace, Leon Lederman, Charles Louis de Montesquieu, Thom Paine, Max Planck, Bertrand Russell, Carl Sagan, Arthur Schopenhauer, Erwin Schrodinger, Francois-Marie Voltaire, Alfred Whitehead, ...

(23). Tư liệu của Phạm Phú Bổn: Theo hãng Thông tấn FIDES của Tòa thánh Vatican thì từ năm 1975 đến năm 2000, đã có nhiều cuộc nổi dậy của Thiên Chúa giáo (Công giáo và Tin Lành) chống đối Nhà nước Việt Nam tại 22 địa phương sau đây: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Buôn Mê Thuột, Cái Sắn, Hà Giang, Hà Nam Ninh, Hà Tây, Hải Hậu, Kontum, Lâm Đồng, Lào Cai, Nam Hà, Nghệ An, Ninh Bình, Phát Diệm, Phú Khánh, Quảng Trị (La Vang), Thái Bình, Thừa Thiên (Huế), Tuyên Quang, Xuân Lộc, và Yên Bái.

(24). Tư liệu của Nhật Nam: Chủ tịch Nhà nước Hồ Chí Minh, trong lần tham dự hội nghị Fontainebleau tại Pháp năm 1946, đã nói với Việt kiều Công giáo tại Paris rằng Giáo hội Công giáo Việt Nam cần theo đuổi để thực hiện cho được 3 chủ trương: “Tự truyền, Tự quản và Tự dưỡng”. Tự truyền là nói về một nền giáo lý Công giáo dân tộc, Tự quản là nói về một tổ chức giáo hội quốc gia, và Tự dưỡng là nói về một chính sách phát triển giáo hội độc lập với Vatican.

(25). Giáo hội Mẹ Việt Nam trong Năm qua của Nguyễn Quang Tuyến, Hiệp Nhất số 121, tháng 1/2003, Orange County, California.

(16). Giáo hội trong Thế giới Ngày nay của Đức Ông Nguyễn Đức Tiến, Hiệp Nhất số 121, tháng 1/2003, Orange County, California.