1104-logo.gif (2163 bytes)

posted: 7.11.04

Vài lời của web Giao Điểm:

Ở miền Nam vào các năm mở đầu chế độ Ngô Đình Diệm, dân chúng đã có dịp làm quen với tạp chí “Thế giới Tự do” do Phòng Thông Tin Mỹ ấn hành. Mặc dù là một tạp chí in đẹp, nhưng mang nội dung tuyên truyền nên chẳng có giá trị gì về việc mở mang kiến thức. Cho đến thời Nguyễn Văn Thiệu, bắt đầu từ các năm 1969, 70, cũng là lúc cụ Mai Thọ Truyền (một cư sĩ Phật giáo) làm Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn hóa, kiêm chủ tịch Ủy ban Dịch thuật, lúc ấy giới sinh viên học sinh mới có cơ hội làm quen với những cuốn sách dịch dưới sự hổ trợ của Tòa Đại sứ Mỹ, giới thiệu những tư tưởng, phát minh khoa học. Trong số đó, có những cuốn sách giới thiệu về Lý thuyết Tiến hóa tiền-Darwin (Evolution's theories) của G. Mendel, T. Malthus, Jean B. Lamarck v.v…, đặc biệt là lý thuyết "Evolution" của Charles Darwin. Do kết quả này, chúng ta có thể ghi nhận chính sách truyền bá chủ nghĩa tư bản, tinh thần tự do của Mỹ đến các quốc gia thứ ba có hai khía cạnh: Một bộ phận về chính sách văn hóa do chính quyền chủ động mang tính độc lập và hướng thượng, nhờ đó các quốc gia thứ ba hưởng được ơn ích sự truyền bá về tư tưởng văn hóa và khoa học. Khía cạnh thứ hai là về tôn giáo, vốn xuất phát từ các tổ chức truyền đạo của các giáo phái Thệ Phản (đạo Tin Lành) khác nhau, độc lập với chính phủ Mỹ và tự phát. Thực trạng truyền đạo đó, với sự thâm nhập người và cuốn sách Tân Ước có thể trở thành mâu thuẫn trên bình diện lý tưởng với tinh thần khoa học và thực dụng của Mỹ. Vì lẽ dù cơ sở tôn giáo độc lập, nhưng trong một trạng huống chính trị quốc tế nào đó họ lại dựa vào Bộ Ngoại giao và tòa Đại sứ, đồng thời chính phủ Mỹ có thể biến tôn giáo trở thành một công cụ phục vụ cho chính sách, như trường hợp hiện nay chính phủ G.W Bush đã vận dụng tôn giáo để hỗ trợ cho cuộc chiến tranh ở Afghanistan, Iraq, và các quốc gia Hồi giáo có dầu lửa nói chung, vốn nguồn gốc không phải là cuộc chiến tranh vì tôn giáo.

Đất nước Việt Nam đã độc lập và hòa bình gần ba thập niên qua, sự giao thiệp và hợp tác giữa Mỹ và Việt Nam ngày càng gắn bó là điều hiển nhiên. Vì vậy, hai khía cạnh nảy sinh trong vấn đề bang giao với Mỹ nêu trên, lịch sử có thể tái diễn dưới hình thái khác . Mặc dù trong nước hiện nay, hai khía cạnh trên chưa khởi phát những thực tế mâu thuẫn, nhưng chúng ta đã thấy những hiện tượng một số mục sư Tin Lành người Việt đã hùng hổ theo đuôi một số tổ chức Tin Lành cực đoan Mỹ, tạo ra tiền đề mới: đó là việc khập khễnh biện hộ cho thuyết Sáng Tạo (Creation) chống lại lý thuyết khoa học về Tiến Hóa đã được các nhà khoa học Mỹ và thế giới công nhận trong nhiều thập niên qua.

Đây là vấn đề rất thời sự giữa các diễn tiến đang cố lội ngược dòng của một số người Mỹ chủ xướng đem thuyết “Sáng Tạo” của Kinh thánh giảng dạy trong nhà trường, song song với thuyết “Tiến Hóa” đã được công nhận và áp dụng trong việc giảng dạy từ lâu.  Bài viết “Sáng thế ký dưới lăng kính khoa học hiện đại” của Nguyễn Lê Ân Điển, Ph.D. biểu lộ một trong những tinh thần khập khễnh đó. Do vậy, sự lên tiếng của gs Trần Chung Ngọc không những là một thái độ cần thiết để bảo vệ tinh thần khoa học nói chung, còn là sự bảo vệ tinh thần độc lập văn hóa của dân tộc Việt Nam. Trước khi đọc bài viết dưới đây, chúng tôi xin lưu ý với quý bạn đọc: Trung tâm Giáo dục Khoa học Quốc gia Mỹ (National Center for  Science Education), các trường đại học danh tiếng như Đại học Berkeley…, các Hiệp hội và các tạp chí khoa học nổi tiếng như  National Geographic đã thực hiện những số báo đặc biệt về vấn đề này. Trước hết, giới thiệu với quý bạn đọc tạp chí khoa học National Geographic trong số tháng 11-2004 này, đã đặt thẳng vấn đề : “Phải chăng thuyết Darwin sai lầm?” và họ đã khẳng định là “KHÔNG”. Khẳng định đó là một đúc kết các công trình nghiên cứu khoa học trải dài vài thế kỷ cho đến ngày nay.  Trân trọng. Phụ trách web GĐ.

                                             ________________________ 

Trần Chung Ngọc
DARWIN HAY THƯỢNG ĐẾ ??
TIẾN HÓA HAY SÁNG TẠO??
 
Nhân Đọc Bài : “Sáng Thế Ký Dưới Lăng Kính Khoa Học Hiện Đại”
Của Nguyễn Lê Ân-Điển, Ph.D.

        Trong bài Charles Darwin và Thuyết Tiến Hóa, đăng trên trang nhà Giao Điểm, tháng 9, 2003, tôi đã đưa ra khá nhiều tài liệu nói lên vị thế vững chắc của Thuyết Tiến Hóa  trong thế giới ngày nay, mà từ Giáo Hoàng John Paul II cho đến các Linh mục, Mục sư tiến bộ trong Ki-tô Giáo cũng như tuyệt đại đa số các khoa học gia và giới trí thức đã công nhận, đồng thời chứng minh rằng những chống đối thuyết Tiến Hóa từ phía bảo thủ Ki Tô Giáo đã trở thành vô vọng, và chỉ làm trò cười cho thiên hạ.  Tuy nhiên, như Giám mục Tin Lành John Shelby Spong đã nhận định trong cuốn Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Không Thì Chết (Why Christianity Must Change or Die):

   “Thuyết Tiến Hóa không dễ gì cho tổ chức  tôn giáo chấp nhận, và ngày nay vẫn còn những tiếng nói cất lên từ những miền xa xăm hẻo lánh của thế giới để chống đối thuyết này.  Những tiếng nói này sẽ không bao giờ thành công.”

   (The theory of evolution was not easy for the religious establishment to accept, and still voices are raised today in remote areas of the world to resit it.  Those voices will never succeed)

cho nên chúng ta không lấy gì làm lạ khi thấy vẫn còn những tiếng nói lác đác cất lên từ những miền xa xăm hẻo lánh để bênh vực cho thuyết Sáng Tạo trong Kinh Thánh của Ki Tô Giáo.  Một trong những tiếng nói không bao giờ có thể thành công này là của Nguyễn Lê Ân-Điển, Ph.D..

Trong Kinh Thánh của Ki-tô giáo, 1 Corinthians 13:11, thánh Paul viết rằng: “Khi tôi còn là một đứa trẻ, tôi nói năng như một đứa trẻ, tôi hiểu như một đứa trẻ, tôi nghĩ như một đứa trẻ; nhưng khi tôi đã thành người lớn thì tôi dẹp bỏ những chuyện trẻ con” (When I was a child, I spoke as a child, I understood as a child, I thought as a child; but when I became an adult, I put away childish things). 

Nhưng một trong những đại thành công của Ki-tô Giáo là có thể uốn nắn đầu óc của một số không nhỏ tín đồ, từ bậc trí thức có bằng cấp cao đến các dân đen, vào trong khuôn đúc thần học của Ki-tô Giáo, một khuôn đúc có tác dụng giữ đầu óc của họ ở trình độ của trẻ con, tiếp tục nói năng, hiểu, suy nghĩ như một đứa trẻ, và do đó tiếp tục tin vào những chuyện trẻ con, bất kể là những chuyện trẻ con trong nền thần học Ki-tô giáo đã không còn chỗ đứng trong xã hội những người văn minh tiến bộ, và bất kể là những bằng chứng hiển nhiên trong thiên nhiên, trong lô-gic, và trong khoa học, đã hoàn toàn bác bỏ những luận điệu thần học của Ki-tô giáo, thường có tính cách ngụy biện, méo mó, để biện minh cho sự hiện hữu của một ông Thượng đế đã sáng tạo ra vũ trụ muôn loài của chúng ta, như được viết trong sách Sáng Thế Ký ở đầu Cựu Ước.  Điều này chúng ta thấy rõ trong bài viết đầy tính cách ngụy biện của Nguyễn Lê Ân-Điển, Ph.D., không biết Ph.D. về bộ môn nào, nhưng chắc chắn không phải là về khoa học, tuy Nguyễn Lê Ân-Điển  đã đưa ra khá nhiều tài liệu về những khám phá của khoa học hiện đại, với những con số và niên đại, có vẻ như muốn chứng tỏ rằng ta đây hiểu rõ vấn đề để thuyết phục người đọc, lẽ dĩ nhiên là những người chẳng biết gì mấy về khoa học.  Nhưng đọc kỹ, chúng ta thấy kiến thức của Nguyễn Lê Ân-Điển về khoa học chưa đến nơi đến chốn, ngay cả những hiểu biết sơ đẳng về khoa học Nguyễn Lê Ân-Điển cũng chưa nắm vững, và nhất là thiếu lương thiện trí thức trong việc dịch thuật, trích dẫn, và diễn giải Kinh Thánh, như tôi sẽ chứng minh trong phần phân tích bài viết của ông ta.  Nhưng trước hết chúng ta hãy tìm hiểu căn nguyên của vấn đề.

            Vấn đề là, tại sao trong thời buổi này mà còn có người, kể cả những người có bằng cấp cao, còn có thể tin vào những chuyện trẻ con, thí dụ như thuyết Sáng Tạo trong Cựu Ước, hay những chuyện “chuộc tội”, “cứu rỗi” trong Tân Ước?  Câu trả lời không khó nếu chúng ta chịu khó tìm hiểu đầu óc của hai lớp người trong thời đại ngày nay: lớp người của thời đại khoa học, văn minh tiến bộ, và lớp người sống trong bóng tối của ý thức hệ Ki-tô đã lỗi thời: lớp tín đồ Ki-tô Giáo cuồng tín, đầu óc chưa qua được trình độ của trẻ con, nghĩa là chưa trưởng thành.  Sự khác nhau về đầu óc của hai lớp người này rất rõ rệt. 

Trong một vũ trụ có khoảng 100 tỷ thiên hà, mỗi thiên hà có hàng trăm tỷ ngôi sao [nguyên trong giải ngân hà mà Thái Dương Hệ nằm trong đó cũng có khoảng 400 tỷ “mặt trời”], ngôi sao nhỏ nhất cũng có cỡ của mặt trời (đường kính khoảng 864000 miles), lớn hơn trái đất (đường kính khoảng 8000 miles) vào khoảng 10800 lần, thì trái đất mà những người Ki Tô Giáo tin rằng Thiên Chúa của họ đã đặc biệt “sáng tạo” ra để phục vụ riêng con người, chẳng qua chỉ là một hạt bụi trong vũ trụ và không có gì đặc biệt hơn hàng tỷ các hạt bụi khác trong vũ trụ.  Do đó, lớp người của thời đại khoa học, văn minh tiến bộ, nhìn vào thực tế và ý thức được vị trí của mình trên trái đất, một hạt bụi của một hạt bụi trong một vũ trụ vô biên.  Nhưng lớp người này tin rằng đầu óc con người có khả năng thấy được ý nghĩa của cuộc sống trong thế giới chúng ta đang sống trên đó.   Họ chấp nhận bản chất tiến hóa của thiên nhiên và bằng lòng sống với sự bất định (uncertainty) nào đó của thiên nhiên.  Họ thường có đầu óc lạc quan, sáng tạo, và tin tưởng vào sự tiến bộ.  Đối với họ, không có gì là tuyệt đối, cho nên lớp người này thường có lòng khoan dung đối với những sự khác biệt giữa các nền văn hóa và tôn giáo.  Họ quan tâm nhiều hơn đến việc tìm hiểu thiên nhiên để hoàn chỉnh sự hiểu biết của họ về thiên nhiên thay vì đi thuyết phục người khác phải tin vào những quan điểm của họ.  Nếu họ là những tín đồ của một tôn giáo thờ thần, họ luôn luôn có một đầu óc hoài nghi và do đó, luôn luôn vật lộn với niềm tin của họ về Thượng đế mà càng ngày họ càng cảm thấy vô nghĩa.  Đọc những tác phẩm nghiên cứu về căn bản niềm tin trong Ki-tô Giáo của một số không ít những tác giả trí thức trong Ki-tô Giáo, kể các bậc lãnh đạo trong Ki-tô giáo, chúng ta thấy rõ điều này.

Trái lại, lớp tín đồ Ki-tô Giáo bảo thủ, cuồng tín, phần lớn thuộc những thành phần thấp kém trong xã hội, đầu óc yếu kém, chưa trưởng thành, thiếu tự tin, nên không tin vào khả năng của con người để quyết định số phận của mình.  Họ hi vọng tìm được sự giúp đỡ từ bên ngoài – từ Thượng đế và những hiện tượng siêu nhiên, những phép lạ.  Thế giới của họ là hoặc trắng hoặc đen.  Họ tìm kiếm một vài chân lý đơn giản, cung cấp bởi một cuốn sách duy nhất, cuốn Kinh Thánh, một cuốn sách viết bởi một số người Do Thái cách đây khoảng 3000 năm, mà họ cho là đáng tin hơn là tất cả những sự thật khám phá ra bởi đầu óc con người trong quá trình tiến hóa.  Họ đứng tại chỗ, nếu không muốn nói là đi giật lùi, trong khi người khác tiếp tục tiến tới. Họ thỏa mãn với một vũ trụ tỷ lệ với kích thước của con người và với đầu óc nhỏ hẹp của họ.  Họ e ngại trước những sự khác biệt, cảm thấy thoải mái trong những tín điều dễ dãi và tuân phục quyền hành của các bề trên.   Họ thường đi truyền bá, nhiều khi cưỡng bách áp đặt chân lý mà họ tin rằng họ hiểu, trên người khác, tin tưởng rằng đó là một hành động đúng, để “vinh danh Thiên Chúa của họ ở trên trời”, cho rằng Thiên Chúa toàn năng toàn trí của họ cần đến những hành động đần độn ác ôn, vô đạo đức, của đám tín đồ thấp kém như họ để vinh danh ông ta.  Họ là những người đang sống nhưng như chết và cảm thấy được “sống lại” (born-again) nếu đặt hoàn toàn niềm tin vào Dê-su, một người Do Thái mà không ai biết ngày sinh, tháng đẻ và ở đâu, và khi nào chết, nghĩa là, một con người không có một tiểu sử [Xin đọc cuốn Hãy Dẹp Đi Những Chuyện Trẻ Con (Putting Away Childish Things), trang 2, của Nữ Giáo-sư thần học Ca-tô Uta Ranke-Heinemann: “We encounter this truth in the person of Jesus.  We know neither when and where he was born, nor when he died: He is a man without a biography”]  Họ được dạy để tin rằng họ sinh ra trong tội lỗi và họ sẽ được chuộc tội đó nếu họ tin vào Dê-su, và tin rằng đến ngày tận thế, họ sẽ được Dê-su cứu rỗi phần hồn, làm cho xác chết của họ sống lại, bất kể là chết từ bao giờ và chết như thế nào, nhập với phần hồn, và sống cuộc sống đời đời cùng Dê-su ở trên thiên đường.  Họ thường bi quan trong đời sống hiện tại, và tin tưởng rằng sẽ có một đời sống tốt đẹp hơn ở phía bên kia của những nấm mồ.

Hiểu được sự khác biệt về đầu óc của hai lớp người trên, chúng ta sẽ không còn lấy làm lạ trước những ý nghĩ, quan niệm của những tín đồ bảo thủ cuống tín Ki-tô Giáo, những ý nghĩ, quan niệm về một thế giới trong đầu óc ở mức trẻ con của họ, trái ngược hẳn với thế giới văn minh tiến bộ thực sự mà chúng ta đang sống trong đó.  Và hiển nhiên, không có một lý luận, lô-gic trí thức nào có thể thay đổi đầu óc của họ, trừ khi chính họ đã giác ngộ qua sự hiểu biết như hàng triệu tín đồ Ki-tô Giáo trên thế giới đã ý thức được những sai lầm hiển nhiên trong giáo lý và trong cuốn Kinh Thánh của Ki-tô Giáo.

Thật vậy, trong cuốn Đám Tang Thượng Đế (God’s Funeral), tác giả A. N. Wilson đã viết, trong phần mở đầu, trang x:

Những người người theo phái Darwin, những người đã chỉ rõ sự khám phá ra DNA vào giữa thế kỷ 20 như là một sự khẳng định không còn nghi ngờ gì nữa, là thuyết Chọn Lọc Tự Nhiên (của Darwin) là đúng, không thể làm gì để thay đổi những niềm tin của những người trong phái Sáng Tạo.

(The Darwinian who points to the mid-twentieth century discovery of DNA as a confirmation beyond reasonable doubt, that the theory of Natural Selection was correct, can do nothing to alter the beliefs of the Creationists)

Một đặc điểm của những đầu óc thuộc lớp người thứ hai này là đóng sập cửa vào mặt chân lý khi chân lý đích thân đến gõ cửa.  Họ lập tức loại bỏ bất cứ điều gì trái ngược với những điều viết trong Kinh Thánh mà họ tin rằng đó chính là những lời mạc khải của một ông Thượng đế nào đó, cho nên không thể sai lầm, dù rằng  những điều này chỉ là những kết quả nghiên cứu của các chuyên gia, học giả về cuốn Kinh Thánh, hay những kết quả khám phá bất khả phủ bác của khoa học.  Đối với họ, Kinh Thánh là lời của Chúa cho nên không thể sai lầm.  Chấm hết.  Không còn gì cần phải bàn cãi.  Nhưng vấn nạn chính của một số trong lớp người này, ngay cả những người tương đối có đôi chút hiểu biết, lại không giữ những niềm tin của trẻ con này cho riêng mình, mà lại cứ ra công quảng bá trên những diễn đàn công cộng những niềm tin đã lỗi thời, tin tưởng rằng đầu óc của ai cũng ấu trĩ, cả tin như đầu óc của họ.  Thảm thay, lòng mộ đạo của họ không tỷ lệ với kiến thức tổng quát của họ, cho nên những tiếng nói của họ không bao giờ có thể thành công, như Giám mục Spong đã nhận định, nếu không muốn nói là chỉ chứng tỏ trình độ hiểu biết thấp kém của họ về khoa học cũng như về tôn giáo.  Để chứng minh điều này, sau đây tôi xin phân tích vài đoạn trong bài Sáng Thế Ký Dưới Lăng Kính Khoa Học Hiện Đại của Nguyễn Lê Ân Điển, “Ph. D”. 

Đọc bài của Nguyễn Lê Ân Điển, chúng ta thấy rõ sự vùng vẫy cố gắng của một số tín đồ  Việt Nam, hoặc do cha truyền con nối, hoặc mới vào đạo nhưng đã nghiện nặng đạo, để bảo vệ những niềm tin trong Ki-tô giáo đã lỗi thời, qua những thủ đoạn diễn giải ngụy biện, nói dựng đứng lấy được bất kể sự thật, vì  Ki-tô Giáo đã bị dồn đến chân tường trước những sự tiến bộ của khoa học và xã hội, những sự tiến bộ đã làm cho Ki-tô giáo mất dần dần chỗ đứng trong những xã hội văn minh tiến bộ, và làm cho con người càng ngày càng có nhiều người bỏ Ki-tô giáo vì những niềm tin trong Ki tô giáo ngày nay đã không còn mấy giá trị, ít ra là đối với lớp người hiểu biết trên thế giới. 

Trước thuyết Tiến Hóa, một thuyết đề xướng bởi Charles Darwin vào giữa thế kỷ 19 và trải qua 150 năm nay đã được nhiều bộ môn khoa học kiểm chứng, hoàn chỉnh, mà ảnh hưởng của thuyết này đã phá đổ toàn bộ thuyết Sáng Tạo trong Kinh Thánh, tuy rằng thuyết Tiến Hóa chỉ có mục đích tìm hiểu và giải thích các hiện tượng thiên nhiên chứ không có mục đích chống đối tôn giáo, những nhà bảo thủ Ki-tô Giáo, sau những phong trào chống đối thuyết Tiến Hóa hoàn toàn thất bại, đã thay đổi chiến lược, cố nặn óc tạo ra cái gọi là “khoa học sáng tạo” (Creation-science) để “chứng minh” là thuyết Sáng Tạo trong Kinh Thánh rất phù hợp với khoa học.  Nhiều tổ chức, học viện của Ki Tô Giáo đã được thành lập để nghiên cứu khía cạnh khoa học của thuyết Sáng Tạo, đưa ra nhiều lý luận ngụy biện, để trình bày thuyết Sáng Tạo như một khoa học. 

Thay vì tích cực chống đối, ra luật cấm đoán không cho dạy thuyết Tiến Hóa trong các trường học như trước [Vụ án John Scopes ở Tennessee năm 1925], luật này đã bị coi là vi hiến và bãi bỏ vào năm 1968, những tổ chức này đưa ra một sách lược mới: đòi hỏi “khoa học sáng tạo” phải được dạy song song với thuyết Tiến Hóa trong các trường học.  Họ đã thành công ở vài tiểu bang như Arkansas năm 1981 và sau đó vài năm ở tiểu bang Louisiana, không phải vì  thuyết Sáng Tạo có một “đặc tính khoa học” nào đó, mà vì áp lực của Ki-tô Giáo ở những vùng miền Nam nước Mỹ, được biết là vùng “vòng đai Kinh Thánh” (Bible Belt).  Nhưng rồi phán quyết của Pháp Viện Tối Cao Hoa-Kỳ đã khẳng định là Khoa học Sáng Tạo không phải là khoa học, không theo đúng những tiêu chuẩn của khoa học, và nhất là không có một bằng chứng khoa học nào có thể chứng minh thuyết Sáng Tạo trong Kinh Thánh, tất cả chỉ là chỉ là niềm tin tôn giáo.   Kết quả là vài thành công tạm thời ở vài địa phương trên của phái Sáng Tạo đã bị dẹp bỏ bởi những phán quyết của những Tòa Án  Liên Bang, và cho đến ngày nay, trong các trường công lập trên đất Mỹ, thuyết Sáng Tạo không được phép dạy song song với thuyết Tiến Hóa trong khoa học.   Trước những sự kiện như trên, chúng ta hãy tự hỏi, Nguyễn Lê Ân-Điển có thể thành công thuyết phục độc giả với đề tài “Sáng Thế Ký Dưới Lăng Kính Khoa Học Hiện Đại” hay không?

Sau đây chúng ta hãy thử duyệt qua vài đoạn trong bài của Nguyễn Lê Ân Điển.  Lập luận của Nguyễn Lê Ân Điển không khác gì lập luận của Mục sư Nguyễn Hữu Ninh mà tôi đã phê bình trước đây trên trang nhà Giao Điểm, trong bài dịch Những Lời Châu Ngọc Về Cuốn Thánh Kinh (Gems Concerning The Holy Bible) của Robert G. Ingersoll.   Phương pháp luận của Nguyễn Lê Ân-Điển, cũng như của một số tân tòng Tin Lành như Lê Anh Huy, Phan Như Ngọc, Nguyễn Huệ Nhật v..v.., là theo đúng sách vở của những tổ chức “Khoa học Sáng tạo” của Ki-tô giáo: viết lên những bài về khoa học, diễn giải lệch lạc những sự kiện khoa học mà họ thực sự không hiểu rõ, để lừa bịp những người thấp kém, ít học hay vô học, cuồng tín cả tin, không biết gì mấy về khoa học cũng như về Ki-tô Giáo.   Họ thường viết một cách dựng đứng, không nêu xuất xứ, thí dụ như: “Khoa học ngày nay đã bác bỏ thuyết Tiến Hóa; Thuyết Tiến Hóa không thể kiểm chứng; Ngày nay thuyết Tiến Hóa đã chết”; “Thuyết Big-Bang đã chết, không kiểm chứng được”   v.. v..  mà không bao giờ đưa ra các tài liệu chứng minh hay bất cứ một lý luận nào có tính cách thuyết phục.  Họ thường bỏ qua những thành quả ngoạn mục tràn ngập trong khoa học, chỉ tập trung vào một vài chi tiết nhỏ nhặt chưa được giải quyết trong thuyết Tiến Hóa, trong khi khoa học nói chung vẫn còn nhiều khiếm khuyết [Bản chất của khoa học là vậy.  Einstein đã nói: “Cái dụng cụ quan trọng nhất nhà khoa học là cái giỏ rác” (The most important tool of the scientist is the waste basket), hàm ý cái gì không còn đúng thì phải vứt bỏ.] để đưa ra lập luận ngớ ngẩn hoang đường rằng: những chi tiết còn phải giải quyết trong thuyết Tiến Hóa đã chứng minh sự hiện hữu của Thượng đế của Ki-tô Giáo và thuyết Sáng Tạo trong Kinh Thánh.

Với lập luận dựa vào những khiếm khuyết trong khoa học để chứng minh sự hiện hữu của Thượng đế sáng tạo, họ không bao giờ nghĩ rằng như vậy thì Thượng đế của họ chỉ ngự trị trên sự “không biết” và khi con người “đã biết” thì Thượng đế mất chỗ trị vì, nếu không muốn nói là cùng chung số phận với những thứ nằm trong giỏ rác của Einstein.  Chẳng vậy mà Giáo sư Vật Lý nổi tiếng Paul Davies đã đưa ra nhận xét:

Phải viện tới Thượng đế như là một quy tắc bao quát để giải thích những gì chưa giải thích được là làm cho Thượng đế là bạn hữu của vô minh.  Nếu có thể tìm thấy Thượng đế, thì đó phải là ở nơi những gì chúng ta khám phá ra về thế giới, chứ không phải ở những gì chúng ta chưa khám phá ra.

(To invoke God as a blanket explanation of the unexplained is to make God the friend of ignorance.  If God is to be found, it must be through what we discover about the world, not what we fail to discover).

Nhận xét trên hàm ý những điều chúng ta khám phá ra về thế giới đã loại bỏ sự hiện hữu của một Thượng đế như được viết trong Kinh Thánh của Ki-tô Giáo, và tin vào một Thượng đế không ai thấy, không thể hiểu được (incomprehensible) là tin vào cái không giải thích được.

Một đặc điểm của một số tín đồ Ki-tô người Việt viết về những đề tài khoa học và tôn giáo, kể cả tôn giáo của chính họ là Ki-tô giáo, thực sự lại không nắm vững những điều mình viết.  Điều này chúng ta có thể  thấy rõ trong các bài viết của Lê Anh Huy, Nguyễn Huệ Nhật, Phan Như Ngọc, Huỳnh Thiên Hồng v..v.. và của Nguyễn Lê Ân-Điển.  Chúng ta hãy đọc Nguyễn Lê Ân-Điển viết trong phần mở đầu:

   “Sáng Thế Ký tường thuật lại căn nguyên của vũ trụ, của con người, và của mọi sinh vật sống. Hơn nửa lịch sử nhân loại được chép lại chi tiết trong năm mươi chương của sách. Sáng Thế Ký chứa đựng những chân lý làm nền tảng cho triết lý, đạo đức, và tín lý thần học căn bản. Sách Sáng Thế Ký cho biết bản chất thiêng liêng bất diệt của linh hồn, tương quan mật thiết giữa loài người và Thượng đế, bản chất và căn nguyên của sự cám dỗ, tội lỗi, tội ác, và sự cần thiết của chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Sáng Thế Ký là một trong Ngũ kinh do Môi-se nhận được mặc khải của Thiên Chúa viết lại cách đây khoảng hơn 3400 năm... Bài viết sau đây so sánh và đối chiếu một số dữ kiện quan trọng trong chương đầu của Sáng Thế Ký với những khám phá mới nhất của khoa học hiện đại, đặc biệt là thiên văn học, vật lý, hóa học, sinh vật học phân tử, di truyền học, và nhân chủng học.”

            Chỉ trong một đoạn ngắn như trên chúng ta đã có thể thấy những sai lầm trầm trọng trong vấn đề học thuật (scholarship).

 “Sáng Thế Ký tường thuật lại căn nguyên của vũ trụ, của con người, và của mọi sinh vật sống.”  Đúng, tuy chữ “sống” hơi thừa, vì sinh vật là vật sống.   Nhưng vấn đề không phải là Sáng Thế Ký tường thuật cái gì, mà là tường thuật có đúng không.  Trên thế giới có nhiều tường thuật về căn nguyên của vũ trụ và con người, tùy theo các nền văn hóa khác nhau, khoan kể đến tường thuật phản ánh kết quả của những khám phá ngoạn mục và những bằng chứng không thể phủ bác của khoa học, thuyết Big Bang.  Vậy vấn đề chính là tường thuật nào đúng, tường thuật nào sai, và do đó đã trở thành mê tín, lỗi thời?  Đối với giới trí thức hiểu biết và lương thiện ngày nay thì sách Sáng Thế Ký nói riêng, và toàn bộ Kinh Thánh của Ki-tô Giáo nói chung, chứa rất nhiều điều sai lầm về khoa học cũng như về thần học, không có gì đáng tin cậy.  Cho nên, câu mở đầu trên của Nguyễn Lê Ân-Điển không nói lên bất cứ điều gì ngoài sự mô tả sách Sáng Thế Ký đã viết cái gì.  Và vấn đề của chúng ta trong thế giới văn minh tiến bộ ngày nay không phải là cứ mù lòa tin bướng tin càn vào những điều viết trong sách Sáng Thế Ký của Ki-tô giáo, mà phải xét xem những tường thuật trong đó có giá trị hay không.  Có một điều mà giới hiểu biết về Kinh Thánh đã biết ngay từ đầu thế kỷ 20 là:

“Các học giả Âu Châu đã phân tích cuốn Kinh Thánh kỹ hơn bao giờ hết, và kết luận của họ là: Kinh Thánh không phải là cuốn sách do Thượng đế [của Ki-tô giáo] mạc khải mà viết ra, như các Ki Tô hữu đã tin, do đó không thể sai lầm.   Thật ra, đó chỉ là một hợp tuyển lộn xộn những huyền thoại cổ xưa, truyền thuyết, lịch sử, luật lệ, triết lý, bài giảng đạo, thi ca, chuyện giả tưởng, và một số ngụy tạo rất hiển nhiên.” (European scholars were scrutinizing the Bible more closely than ever before.  They had concluded that it (the Bible) was not, as Christians had long believed, a book dictated by God and therefore infallibly true.  It was, instead, a disorderly anthology of ancient myths, legends, history, law, philosophy, sermons, poems, fiction, and some outright forgeries.).

Do đó, ngày nay, không ai có thể mang bất cứ điều gì viết trong Kinh Thánh, coi đó như là chân lý, để có thể thuyết phục người đọc.  Ngày nay, hầu hết những tuyên xưng “Kinh Thánh viết rằng..” đã trở thành “Kinh Thánh đã viết sai rằng...” đối với giới trí thức, hiểu biết, trên khắp thế giới.

Câu tiếp theo: “Hơn nửa lịch sử nhân loại được chép lại chi tiết trong năm mươi chương của sách.”   Rõ ràng là Nguyễn Lê Ân-Điển không biết đọc Kinh Thánh.  Lịch sử nhân loại đã trải dài ít ra là vài triệu năm.  Những gì viết trong sách Sáng Thế Ký thuần túy là những điều hoang đường theo trí tưởng tượng của người Do Thái viết về lịch sử và ước muốn của Do Thái chứ chẳng dính dáng gì đến nhân loại.  Chúng ta hãy bỏ qua những điều Nguyễn Lê Ân-Điển viết về bản chất thiêng liêng bất diệt của linh hồn [Ngày nay, khoa học đã dứt khoát bác bỏ sự hiện hữu của một linh hồn riêng biệt trong con người], tương quan mật thiết giữa loài người và Thượng đế  [nếu có một Thượng đế mà chưa có ai có thể chứng minh được sự hiện hữu, do đó trên 4 tỷ người trên thế gian chẳng cần quan tâm đến mối tương quan mật thiết hoang đường này], bản chất và căn nguyên của sự cám dỗ, tội lỗi, tội ác, và sự cần thiết của chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa dành cho nhân loại [tất cả những luận điệu thần học về nguyên tội và chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa đã hoàn toàn không còn đứng vững trong thế giới văn minh tiến bộ ngày nay, vì thuyết Tiến Hóa nói riêng, khoa học và thực tế nói chung, đã đạp đổ tất cả những luận điệu này] và đi thẳng vào câu tiếp theo: Sáng Thế Ký là một trong Ngũ kinh do Môi-se nhận được mặc khải của Thiên Chúa viết lại cách đây khoảng hơn 3400 năm.”  Câu này chứng tỏ Nguyễn Lê Ân-Điển có trình độ hiểu biết về Kinh Thánh trước đây vài thế kỷ.  Tại sao?

Bởi vì, ngày nay, không một ai trong giới hiểu biết, kể cả những nhà Thần học trong mọi tông phái Ki Tô, mà không phải chấp nhận sự kiện là Ngũ Kinh không do Môi-se (Moses) viết mà do nhiều tác giả viết ra trong nhiều thế kỷ, trải dài trong khoảng 400 năm. Huyền thoại về Moses được viết ra trong 2 phẩm Xuất Ê-Díp-Tô (Exodus) và Dân Số (Numbers).

      Đây là kết quả nghiên cứu của những chuyên gia nghiên cứu Kinh Thánh mà chính các giáo hội Ki Tô cũng phải chấp nhận. Bằng chứng?  Tên các vị Vua xứ Edom viết trong Sáng Thế 36 là những vị Vua sống trong những thời kỳ sau khi Moses đã chết từ lâu.  Trong Phục Truyền 34 có kể cả chuyện Moses chết ra làm sao, chẳng lẽ Moses lại tả chuyện chính mình chết?  Cho nên Moses không thể là tác giả của Ngũ Kinh.  

Điều thú vị khi đọc Kinh Thánh của Ki-tô Giáo là chúng ta biết được trong Tân Ước, chính “Chúa” Dê-su và các tông đồ Paul, John đều tin vào sách Sáng Thế Ký và khẳng định rằng Moses (Môise) là tác giả của Ngũ Kinh (John 5:46 - Luke 24:27 - Luke 16:31) trong khi thực sự thì Moses không viết. Vậy, nếu chính Dê-su đã sai lầm về một sự kiện lịch sử nhỏ nhặt như trên, không biết đến cả tác giả Ngũ Kinh là ai mà lại cho đó là Moses,  được sự mặc khải của Thiên Chúa viết lại, thì làm sao chúng ta có thể tin được những lời nói về những chuyện trên trời, và nhất là những lời tự tôn của Dê-su, cho mình chính là  Con Thiên Chúa toàn năng, toàn trí, và có quyền năng thần thánh “chuộc tội” và “cứu rỗi”, lẽ dĩ nhiên, những người không có mấy đầu óc, tin rằng mình sinh ra trong tội lỗi của Adam và Eve và cần đến sự chuộc tội và cứu rổi. 

Cũng vì vậy mà Mục sư Rubem Alves đã đưa ra nhận định sau đây trong cuốn Protestantism and Repression, trang 63:

   Ai viết Ngũ Kinh?  Câu trả lời của giáo hội Ki Tô lịch sử cho câu hỏi trên là khẳng định: "Moses viết".  Nếu Moses không hề viết Ngũ Kinh thì các tông đồ (Paul và John) đã sai lầm khi họ nói rằng Moses viết.  Nếu họ sai lầm trong vấn đề này thì làm sao chúng ta có thể tin họ khi họ nói về những vấn đề như thiên đường và đời sau?  Nếu Moses không viết Ngũ Kinh thì Dê-su đã nói láo hay sai lầm khi ông ta nói rằng Moses viết. (John 5:46 - Luke 24:27 - Luke 16:31).    Nếu Dê-su thực sự không biết ai viết, tuy rằng ông ta nói rằng ông ta biết, làm sao chúng ta có thể tin ông ta được khi ông ta nói những chuyện trên trời?

(Who wrote the Pentateuch?  The response of the historical Christian Church to that question is definite: “Moses wrote them”.  If Moses did not write the Pentateuch, then the apostles (e.g., Paul and John) made a mistake when they said that he did.  If they erred on this matter, how can we believe them when they deal with truths concerning heaven and the future life?  If Moses did not write the Pentateuch, then Jesus lied or erred when he said Moses did.  If Jesus did not know this, though he said he did know, how can we believe him when he talks about the thing of heaven?

            Cho nên, chúng ta không lấy gì làm lạ, khi thấy những tôi tớ của Dê-su, như những tín đồ Ki-tô thường tự nhận là “tôi tớ hầu việc Chúa”, có trình độ hiểu biết không hơn gì Dê-su.  Rất có thể vì Dê-su đã phán: “Đầy tớ không hơn được chủ.”

            Để cho vấn đề được rõ ràng với nhiều chi tiết hơn, sau đây là những kết quả nghiên cứu về đề tài “Ai Viết Ngũ Kinh?”

     Trước hết, tất cả các học giả nghiên cứu Kinh Thánh, ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki Tô, đều đồng thuận ở một điểm: Ngũ Kinh (5 sách đầu trong Cựu Ước) không phải là do Môi-se viết mà là do nhiều người khác nhau, thuộc nhiều môn phái khác nhau, viết trong khoảng thời gian 400 năm, từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 6 trước thời đại thông thường ngày nay (B.C.E = Before Common Era), hay Trước Tây Lịch (TTL) trong khi Môi-se sống trong khoảng thế kỷ 13 TTL.   Các môn phái khác nhau đó là :

   - Môn phái Yahwistic (viết tắt là J) vì gọi Chúa là Jehovah.

   - Môn phái Elohistic (viết tắt là E) vì gọi Chúa là Elohim.

   - Môn phái Deuteronomic (viết tắt là D) viết sách Deuteronomy.

   - Môn phái Priestly (viết tắt là P) viết sau khi dân Do Thái đi lưu đày (sau 500 TTL).   

     Tôi có thể tin chắc là Nguyễn Lê Ân-Điển không hề biết đến những tác phẩm nghiên cứu về Kinh Thánh của Ki Tô Giáo, và chỉ viết theo những gì ông đã được dạy, hoặc tin bướng tin càn vào Kinh Thánh, cho nên ông ta mới có thể viết lên một câu trong Sáng Thế Ký mà tất cả các học giả, ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki-tô, đã bác bỏ từ lâu vì hoàn toàn sai sự thật. Thật vậy, nếu đọc kỹ, ông ta phải biết rằng trong Phục Truyền Luật Lệ Ký 34: 5-7, Môi-se viết về cái chết của chính mình như sau: “Vậy Môi-se, tôi tớ Chúa qua đời trong đất Mô-Áp, như Chúa đã phán.  Ngài (tức là Chúa) chôn ông ta (ngôi ba đấy nhé) tại một thung lũng đối ngang...Môi-se qua đời lúc ông ta (ngôi ba đấy) được 120 tuổi ...”

 Nếu đúng là Môi-se viết thì ông không thể dùng ngôi ba “ông ta” để chỉ chính ông.   Mặt khác, Môi-se sống trong thế kỷ 13 TTL và chỉ sống có 120 tuổi, trong khi Cựu Ước chỉ được viết từ thế kỷ 9 TTL, vậy bằng cách nào mà Môi-se viết Ngũ Kinh?  Tôi đề nghị ông “Ph.D.” Nguyễn Lê Ân-Điển hãy đọc ít nhất là cuốn Ai Viết Thánh Kinh? (Who wrote the Bible?, 1987) của Richard Elliott Friedman, và cuốn The Bible Unearthed: Archaelogy’s New Vision of Ancient Israel and The Origin of its Sacred Texts của Israel Filkelstein & Neil Asher Silberman, mới xuất bản năm 2002.  Nhưng đề nghị này có vẻ không có tác dụng gì đối với những người như Nguyễn Lê Ân-Điển vì tôi rất hiểu đầu óc của họ.  Đầu óc của họ đã được đúc khuôn trong tam đoạn luận sau đây mà họ thường dùng như là khuôn vàng thước ngọc để chấm dứt mọi “lý luận”:

-          Tất cả những gì trong Kinh Thánh đều đúng (Everything in the Bible is true)

-          Kinh Thánh viết Moses là tác giả của Ngũ Kinh (The Bible says that Moses is the author of the Pentateuch)

-          Vậy thì Moses phải là tác giả của Ngũ Kinh (Therefore Moses is the author of the Pentateuch)

Câu tiếp theo trong đoạn mở đầu của Nguyễn Lê Ân-Điển là:

Bài viết sau đây so sánh và đối chiếu một số dữ kiện quan trọng trong chương đầu của Sáng Thế Ký với những khám phá mới nhất của khoa học hiện đại, đặc biệt là thiên văn học, vật lý, hóa học, sinh vật học phân tử, di truyền học, và nhân chủng học.”

 Đọc câu này, người đọc hi vọng ông Nguyễn Lê Ân-Điển sẽ viện dẫn những kết quả trong các môn khoa học nêu trên để “so sánh” và “đối chiếu” với tác phẩm “sáng tạo” của Thượng đế của Ki-tô giáo.  Nhưng người đọc sẽ thất vọng, vì từ đầu đến cuối bài viết, người đọc chỉ thấy tác giả liệt kê một số nhỏ những khám phá của khoa học trong vài bộ môn kể trên, nhiều khi rất sai lầm, rồi quy kết một cách rất gượng ép là những sự khám phá khoa học này phù hợp với những điều viết trong sách Sáng Thế Ký, chứ không đưa ra bất cứ một chứng minh nào có thể nói là rõ ràng, hợp lý, chưa kể là tác giả đã giải thích sách Sáng Thế Ký một cách tùy tiện, phi lô-gic và phản khoa học. 

Nếu người đọc đặt một câu hỏi với Nguyễn Lê Ân-Điển như sau:  nếu đúng như Nguyễn Lê Ân-Điển viết, thì tại sao thuyết Sáng Tạo trong sách Sáng Thế Ký lại không được Hàn Lâm Viện Khoa Học Hoa Kỳ chấp nhận như trong tài liệu sau đây, tại sao thuyết Sáng Tạo không được phép dạy song song với thuyết Tiến Hóa trong các trường công lập ở Mỹ, một quốc gia mà khoảng gần 90% dân số theo Ki-tô Giáo?  Không biết ông Nguyễn Lê Ân-Điển sẽ trả lời sao cho suôi đây nếu ông tin rằng thuyết sáng tạo rất phù hợp với những khám phá khoa học.  Có lẽ ông Nguyễn Lê Ân-Điển cũng như các đồng đạo của ông không biết rằng, năm 1984, Hàn Lâm Viện Quốc Gia về Khoa Học của Hoa Kỳ đã nhận định vấn đề trong bài Khoa Học và Chủ Thuyết Sáng Tạo: Một Quan Điểm Của Viện Hàn Lâm Quốc Gia về Khoa Học (Science and Creationism: A View From the National Academy of Sciences) như sau:

     “Thật là quan trọng phải làm sáng tỏ bản chất của khoa học và giải thích tại sao chủ thuyết sáng tạo không thể được coi như là một bộ môn khoa học.  Đòi hỏi phải dạy cả hai (thuyết tiến hóa và thuyết sáng tạo) đồng đều trong cùng một lớp học  phản ánh sự hiểu lầm về thế nào là khoa học và khoa học đã được theo đuổi như thế nào.  Những nhà nghiên cứu khoa học tìm hiểu các hiện tượng thiên nhiên bằng quan sát trực tiếp và thực nghiệm.  Những diễn giải về những sự kiện khoa học luôn luôn chỉ có tính cách tạm thời và phải được kiểm chứng.  Những lời phán quyết từ bất cứ một quyền lực nào, lời mạc khải nào, hay viện đến đấng siêu nhiên không thích hợp với quá trình khoa học này vì không có bằng chứng để chứng minh.  Tuy nhiên, trong thuyết sáng tạo, cả hai, quyền lực cũng như mạc khải, được đặt trên những bằng chứng.  Những kết luận của những người theo thuyết sáng tạo không hề thay đổi, cũng không thể coi là đúng khi đặt trong sự kiểm chứng của những phương pháp khoa học.  Do đó, có một sự khác biệt sâu đậm giữa niếm tin tôn giáo vào sự sáng tạo đặc biệt và những giải thích khoa học trong thuyết Tiến Hóa.  Sự trình bày cả hai chủ thuyết trên đồng đều trong lớp học chỉ mang đến kết quả là sự hoang mang, không có ích lợi gì.” 

     (It is important to clarify the nature of science and to explain why creationism cannot be regarded as a scientific pursuit.  The claim that equity demands balanced treatment of the two in the same classroom reflects misunderstanding of what science is and how it is conducted.  Scientific investigators seek to understand natural phenomena by direct observation and experimentation.  Scientific interpretations of facts are always provisional and must be testable.  Statements made by any authority, revelation, or appeal to the supernatural are not germane to this process in the absence of supporting evidence.  In creationism, however, both authority and revelation take precedence over evidence.  The conclusions of creationism do not change, nor can they be validated when subjected to test by the methods of science.  Thus, there are profound differences between the religious belief in special creation and the scientific explanations embodied in evolutionary theory.  Neither benefits from the confusion that results when the two are presented as equivalent approaches in the same classroom.)

     Và năm 1998, trong một cuốn sách hướng dẫn cho các thầy giáo, phụ huynh học sinh,  nhà trường, và các chuyên gia định chính sách giáo dục, Hàn Lâm Viện Quốc Gia về Khoa Học (Hoa Kỳ) đã viết:

      “Trong cộng đồng khoa học, không còn có sự tranh luận về sự tiến hóa có xảy ra hay không, không có bằng chứng nào chứng tỏ là sự tiến hóa đã không xảy ra.”

     (“There is no debate within the scientific community over whether evolution has occured, and there is no evidence that evolution has not occured”, the National Academy of Sciences said in a guidebook intended for teachers, parents, school administrators and policymakers.)

Cho nên, mọi toan tính của ông Nguyễn Lê Ân-Điển viện dẫn “ngụy khoa học” để chứng minh cho thuyết sáng tạo trong sách Sáng Thế Ký chỉ là công việc đội đá vá trời trước giới trí thức, khoa học, chỉ có thể thành công đối với những người có cùng loại đầu óc như Nguyễn Lê Ân-Điển.  Thật vậy, mở đầu cho toan tính dùng ngụy khoa học để chứng minh thuyết sáng tạo, Nguyễn Lê Ân-Điển viết:

“Buổi ban đầu "Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên Trời Đất" (1:1). Lời tuyên ngôn tuy ngắn gọn nhưng ý nghĩa vô cùng sâu xa trong câu mở đầu của Sáng Thế Ký. Câu này cho biết cả thế gian có (1) buổi ban đầu, và (2) do Thiên Chúa tạo dựng.”

(1): “Thế gian có buổi ban đầu”.  Đúng.  Nhưng ban đầu theo nghĩa nào.  Ban đầu của mọi ban đầu, hay ban đầu của một chu trình (cycle) mới trong hằng hà sa số chu trình tạo nên những vũ trụ khác nhau trong quá khứ?  Tất cả tùy thuộc tổng số khối lượng vật chất trong vũ trụ, nhưng tôi không muốn đi vào chi tiết của những giả thuyết về ban đầu và tương lai của vũ trụ. Quan niệm thế giới thành lập của Phật Giáo là vũ trụ, thế giới của chúng ta không phải là duy nhất và không chỉ có một “ban đầu” và một “tận cùng”.  Trong khoa học cũng có thuyết là vũ trụ của chúng ta ngày nay chỉ là một trong những chu trình thành lập, và ngoài vũ trụ của chúng ta, có thể có những vũ trụ khác (multiuniverse theory), trong đó những định luật thiên nhiên và những hằng số vật lý có thể rất khác với những định luật trong vũ trụ của chúng ta, nhưng cho tới bây giờ, khoa học chỉ có thể nói: “Có thể là như vậy” chứ chưa đến mức có thể khẳng định..

Nhưng (2): “do Thiên Chúa tạo dựng” thì đây không phải là một chứng minh khoa học.  Bởi vì nếu không ai biết được Thiên Chúa là như thế nào, chỉ cho rằng có một Thiên Chúa và chưa có ai có thể chứng minh được sự hiện hữu của Thiên Chúa đó, thì câu trên hoàn toàn vô nghĩa, nhất là đối với những người tin rằng không có cái gì có thể gọi là Thiên Chúa.  Câu trên chỉ là niềm tin của số người tin rằng tất cả những gì viết trong sách Sáng Thế Ký phải là đúng vì “do chính Thiên Chúa của họ mặc khải cho Môi-se (sic) viết lại” trong khi thực ra thì Môi-se đã chết 80 đời rồi (chết vào thế kỷ 12 TTL và Cựu Ước chỉ mới được viết bắt đầu từ thế kỷ 9 TTL), niềm tin vào truyền thuyết sáng tạo của dân Do Thái, không dựa trên bất cứ một bằng chứng khả tín nào.  Cũng vì vậy mà Pháp Viện Tối Cao Hoa Kỳ đã phán quyết  là các trường công lập không thể dạy là Thiên Chúa tạo ra vũ trụ (The Supreme Court ruled that public schools cannot teach that God created the universe.)

Về phương diện lý luận, giả thử tôi tạm chấp nhận là "Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên Trời Đất" như được viết trong Sáng Thế Ký 1:1, rồi tôi tìm hiểu xem trong Kinh Thánh “Trời” và “Đất” mà Thiên Chúa dựng nên là như thế nào?  Nếu Nguyễn Lê Ân-Điển đã đọc Kinh Thánh thì phải biết rõ.  Còn nếu chưa thì tôi có thể đọc giúp ông như sau:

Thiên Chúa của ông Nguyễn Lê Ân-Điển dựng lên một vòm trời (He made a firmament) và gọi nó là Trời [Gen 1:8: And God called the firmament Heaven].  Vòm trời này để làm gì?  Để phân tách nước ở dưới đất dưới vòm trời và để giữ nước ở trên vòm trời. [Gen: 1:7: Thus God made the firmament, and divided the waters which were under the firmament from the waters which were above the firmament].  Cái vòm trời đó làm bằng gì?  Nó cứng như là làm bằng kim loại sáng như gương. [Job 37:18: Have you (God) spread out the skies, strong as a cast metal mirror?]  Trên vòm trời đó có những cửa sổ, để làm gì?  Để mở ra cho nước tuôn xuống thành mưa và tạo nên Hồng Thủy giết hại toàn thể nhân loại [vì có tội với Thượng đế] trừ gia đình của một tên say rượu Noah [Gen. 7:11-12: ...and the windows of heaven were opened.  And the rain was on the earth forty days and forty nights]  và giết luôn cả mọi sinh vật khác không hề phạm tội đối với Thượng đế nhân từ của ông Nguyễn Lê Ân-Điển, trừ mỗi giống một cặp.  [Mở ngoặc. Hiện nay Cung Đình Chúa Dê-su và Ngai Ngài ngồi đều đặt trên vòm trời đó (Psalm 11:4). Và các tín đồ như Nguyễn Lê Ân-Điển hi vọng sau khi chết sẽ lên đó ngồi cùng Chúa để có cuộc sống đời đời. Đóng ngoặc]  Đó là tác phẩm “sáng tạo” tuyệt vời “Trời” của Thiên Chúa. 

Thế còn “Đất” của Thiên Chúa dựng lên thì sao?   Trái đất có nhiều cột chống đỡ (Job 27:11).  Đất đã được Chúa đặt vững trên mặt nước (Psalm 136:6).  Đất muôn đời đứng yên một chỗ (terra in aeternum stabat, Vulgate, Eccl. 1:4).  Và “trái đất” phẳng, dẹt, có 4 góc (Rev. 7). Chúng ta lại có một tác phẩm “sáng tạo” về “Đất” của Thiên Chúa.  Chúng ta hãy tự hỏi:  Những người ngày nay còn tin vào những tác phẩm “sáng tạo” như trên của Thiên Chúa là những người có đầu óc như thế nào?

Nguyễn Lê Ân-Điển đã viết đúng như trong Kinh Thánh: "Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên Trời Đất".   Nhưng hiển nhiên là Trời và Đất mà Thiên Chúa của Nguyễn Lê Ân-Điển cũng như của tất cả các tín đồ Ki-tô Giáo dựng nên tuyệt đối không phải là Trời và Đất mà chúng ta đang sống trong đó, nếu không muốn nói là tác phẩm “sáng tạo” nên Trời và Đất của Thiên Chúa đã  mạ lỵ đầu óc của con người thời nay.  Vậy thì Trời với Đất mà Thiên Chúa dựng nên có giá trị gì đối với chúng ta?  Hỏi tức là trả lời. 

Nói tóm lại, toàn thể bài viết Sáng Thế Ký Dưới Lăng Kính Khoa Học Hiện Đại” của Nguyễn Lê Ân-Điển không phải là so sánh Sáng Thế Ký với các khám phá khoa học hiện đại mà chỉ là viết chuyện nhảm nhí cho những đầu óc trẻ con, dùng mánh mưu trích dẫn một câu lạc lõng trong Kinh Thánh, ngoài toàn bộ vấn đề (out of context), rồi diễn giải một cách gượng ép.   Chúng ta cũng nên để ý là Nguyễn Lê Ân-Điển còn dùng bản Kinh Thánh tiếng Việt của Tin Lành mà không biết rằng Tin Lành đã thiếu lương thiện trí thức trong việc dịch Kinh Thánh sang tiếng Việt khi dịch câu Gen: 1:7: Thus God made the firmament, and divided the waters which were under the firmament from the waters which were above the firmament như sau: "Ngài làm nên khoảng không, phân rẽ nước ở dưới khoảng không cách với nước ở trên khoảng không" (1:7) để tránh né sự hoang đường hiển nhiên trong tác phẩm sáng tạo ra một vòm trời cứng như kim loại của Thượng đế.   Firmament tuyệt đối không phải là khoảng không, bởi vì khoảng không thì không thể nào phân rẽ nước ở dưới khoảng không cách với nước ở trên khoảng không, và “khoảng không” không thể nào có những cửa sổ để mở ra cho nước tuôn xuống.  Hơn nữa, khoảng không là bao nhiêu?  Có phải là vũ trụ rộng khoảng 15 tỷ năm ánh sáng mà chúng ta đã biết rõ ngày nay không?  Ông Nguyễn Lê Ân-Điển định viết cho ai đọc đây, cho những người không biết thế nào là nước, là khoảng không?  Thời buổi này mà Nguyễn Lê Ân-Điển, Ph.D., còn viết lên được những câu vô nghĩa như trên thì chắc hẳn Nguyễn Lê Ân-Điển phải có Ph.D. về thần học Ki-tô Giáo.

Căn bản sáng tạo của Thượng đế trong Kinh Thánh mà Nguyễn Lê Ân-Điển đưa ra đã quá sức lỗi thời rồi, nếu không muốn nói là quá nhảm nhí, do đó không có liên quan gì đến thế giới mà chúng ta đang sống trên đó.  Vậy tất cả những luận điệu tiếp theo của Nguyễn Lê Ân-Điển để chứng minh Sáng Thế Ký phù hợp với khoa học thực ra hoàn toàn vô giá trị. Tuy nhiên, tôi cảm thấy cần phải đi vào vài điểm khác trong bài viết của Nguyễn Lê Ân-Điển để cho vấn đề được rõ ràng hơn. Những điểm về khoa học và về Kinh Thánh của Ki-tô Giáo mà ông Nguyễn Lê Ân-Điển viết cần phải làm sáng tỏ, vì tôi biết ông Nguyễn Lê Ân-Điển không biết gì nhiều về khoa học cũng như chỉ đọc Kinh Thánh với đầu óc của một con chiên, chỉ diễn giải Kinh Thánh theo sách vở thuộc loại ngu dân của Ki-tô Giáo.  Tuy nhiên, vì không muốn phí thì giờ cho nên tôi sẽ không phê bình hết những điểm sai trái trong bài viết của ông Nguyễn Lê Ân-Điển, mà chỉ lướt qua vài điểm điển hình.

            Sau khi quy kết một câu hết sức ngớ ngẩn là “Thế gian có buổi ban đầu” thì tất nhiên phải “do Thiên Chúa tạo dựng”, Nguyễn Lê Ân-Điển đi vào phần chi tiết để chứng minh mà không phải là chứng minh.  Ông ta nêu ra một loạt những khám phá của khoa học về nguồn gốc vũ trụ, rằng vũ trụ đang bành trướng, bắt đầu bằng một Big Bang [nghĩa là ông ta không thể bác bỏ thuyết Big Bang] v..v.. để chỉ nói lên một điểm: Thế giới có khởi nguyên”.

Lẽ dĩ nhiên là thế giới có khởi nguyên.  Nhưng thế giới của chúng ta đâu có phải là thế giới viết trong Sáng Thế Ký?  Nhập nhằng đánh đồng thế giới của chúng ta ngày nay với thế giới sáng tạo bởi Thiên Chúa trong Sáng Thế Ký là một thủ đoạn bất lương trí thức. Nguyễn Lê Ân-Điển viết: “Gần đây hơn, Arno Penzias và Robert Wilson (1965) khám phá sự tồn tại của tia bức xạ vũ trụ (cosmic bacground radiation) cho biết vũ trụ bắt đầu với một vụ nổ lớn (Big Bang) cách đây khoảng 15 tỉ năm.” và đưa ra vài khám phá khoa học khác để kết luận là “vũ trụ rất bao la nhưng có buổi ban đầu.” 

Tuy nhiên, câu viết về Big Bang ở trên chứng tỏ Nguyễn Lê Ân-Điển chưa nắm vững vấn đề.   Thứ nhất cosmic bacground radiation không phải là tia bức xạ vũ trụ mà đúng ra phải là bức xạ nền trong vũ trụ, nghĩa là bức xạ có khắp trong vũ trụ, có ý nghĩa khác hẳn với tia bức xạ vũ trụ.  Trong vũ trụ có đủ loại bức xạ nhưng chỉ có bức xạ nền trong vũ trụ (cosmic background radiation) mới là dấu tích của Big Bang.  Không phải là Arno Penzias và Robert Wilson cho biết là vũ trụ bắt đầu với một Big Bang mà hai sinh viên này chỉ kiểm chứng tiên đoán của ông thầy George Gamow về sự hiện hữu của một bức xạ nền trong vũ trụ, một dấu tích tất nhiên của Big Bang.  Thật ra thì thành quả dò ra được một bức xạ nền trong vũ trụ của Arno Penzias và Robert Wilson năm 1965 cũng không thể kết luận dứt khoát là vũ trụ bắt đầu với một Big Bang, mà còn một mắt xích cuối cùng trong thuyết Big Bang cần phải giải quyết.  Mãi tới năm 1992, phi thuyền COBE (COsmic Backgroung Explorer) mới tháo gỡ được cái mắt xích cuối cùng này và đưa đến sự hoàn chỉnh của thuyết Big Bang.  Đó là phi thuyền COBE dò ra được những vân (ripples) trong bức xạ nền của vũ trụ, trong khi bức xạ nền trong vũ trụ mà Arno Penzias và Robert Wilson dò ra được thì vô cùng nhuyễn, đồng nhất như nhau trong chín phương trời mười phương Phật, không phù hợp với thực tại của vũ trụ. [Xin đọc chi tiết trong bài Câu Chuyện Big Bang của Trấn Chung Ngọc trên trang nhà Giao Điểm trước đây].

Trong phần tiếp theo, ông Nguyễn Lê Ân-Điển viết về chủ đề (2): Thế giới được thiết lập một cách siêu nhiên và có mục đích và lập luận như sau:

Các khám phá khoa học trong ngành vật lý hạt cơ bản cho biết có sự tương quan rất chặt chẽ giữa các hằng số trong định luật khoa học và sự hình thành sự sống... Cho đến năm 1993, các nhà khoa học xác nhận có khoảng 25 hằng số và định luật vật lý căn bản trong vũ trụ được coi là bất di bất dịch. Nếu một trong những hằng số hoặc định luật này chỉ xê dịch một chút, thế giới sự sống sẽ không thể hình thành. Những hằng số và định luật này được thiết kế chính xác hơn bất cứ một dụng cụ tối tân con người có thể làm ra. Ba trong hai mươi lăm hằng số này nếu chỉ xê xích một phần 1037, thế giới này sẽ không thể nảy sinh hoặc duy trì sự sống. Như vậy khoa học chứng minh vũ trụ đã được thiết kế một cách mầu nhiệm bởi một Đấng Sáng Tạo khôn ngoan nhằm duy trì và phát triển hoạt động

của mọi sinh vật sống (sic) trong đó có con người.

      Trước những sự sai lầm hiển nhiên trong Kinh Thánh về khoa học, các nhà bào chữa cho Ki-tô giáo đã có thời đưa ra sự giải thích là: Kinh Thánh không có ý định dạy về khoa học mà chỉ nói lên sự liên hệ giữa con người và Thượng đế.  Nhưng trong vài thập niên gần đây, như trên đã nói, phái bảo thủ Ki-tô Giáo đã không thể tránh né khoa học và tìm cách giải thích Kinh Thánh một cách khoa học.   Lẽ dĩ nhiên đây chỉ là một thủ đoạn dùng “cưỡng từ” để “đoạt lý.”. Theo đúng thủ đoạn này, ông Nguyễn Lê Ân-Điển muốn chứng minh là Kinh Thánh phù hợp với khoa học, khoa học hiện đại của thế giới chúng ta ngày nay, chứ không phải là khoa học của những người viết Kinh Thánh mù tịt về khoa học.  Tuy nhiên, luận cứ chứng minh của ông Nguyễn Lê Ân-Điển rất gượng ép, vì không có bất cứ một bằng chứng khoa học nào hay lý do nào để cho chúng ta có thể kết luận là sự hiện hữu của những định luật và hằng số chính xác trong vũ trụ là do một Đấng Sáng Tạo khôn ngoan thiết kế nhằm duy trì và phát triển hoạt động của mọi sinh vật sống (sic) trong đó có con người.  Nhưng ngay chính câu này cũng là viết bậy, vì ông Nguyễn Lê Ân-Điển không biết rằng trên thế giới đã có biết bao chủng loại sinh vật đã sinh ra rồi lại bị tiêu diệt, thí dụ như loài khủng long, vậy thì Thượng đế của ông khôn ngoan ở chỗ nào?  Câu quy kết là khoa học chứng minh vũ trụ đã được thiết kế một cách mầu nhiệm bởi một Đấng Sáng Tạo cũng giống như câu quy kết ở trên là “thế giới có buổi ban đầu” nên tất nhiên phải là do Thượng đế của ông ta tạo dựng.  Khoan nói đến vũ trụ mà chúng ta không biết rõ những chi tiết, chỉ nói riêng đến trái đất mà chúng ta sống trên đó có đầy những thiên tai bất hạnh thì chúng ta có thể đánh giá sự mầu nhiệm trong sự thiết kế vũ trụ của Đấng Sáng Tạo là như thế nào?

Tôi không muốn luận bàn về những vấn đề khoa học trong đoạn trên của ông Nguyễn Lê Ân-Điển.  Không phải là tôi không đủ khả năng nhưng vì tôi tin rằng, đối với một đầu óc như của ông Nguyễn Lê Ân-Điển, một cuộc đối thoại về khoa học thật là vô ích.  Hơn nữa, đi vào những chi tiết khoa học để phản bác những luận điểm của Nguyễn Lê Ân-Điển thì khá mất thì giờ và dài, trong đó có những lý thuyết mà tôi tin ông Nguyễn Lê Ân-Điển không thể hiểu nổi, vì qua bài viết của ông tôi thấy ngay cả những hiểu biết sơ đẳng về khoa học ông cũng không hiểu rõ, cho nên tôi không muốn mất nhiều thì giờ đi làm công việc này.  Những bài viết của tôi về thuyết Big Bang và về thuyết Tiến Hóa của Darwin đã bác bỏ khá nhiều những luận điểm của ông Nguyễn Lê Ân-Điển. Thực tế là, tất cả những luận điểm trong bài viết của ông Nguyễn Lê Ân-Điển đã bị đánh đổ dứt khoát bởi giới khoa học từ lâu.  Một phần những luận cứ đánh đổ nền thần học mới về “khoa học sáng tạo” của ông Nguyễn Lê Ân-Điển đã được kết tập trong một cuốn sách mới xuất bản năm 2003: Cuốn Khoa Học Và Tôn Giáo: Chúng Có Tương Thích Hay không? (Science and Religion: Are They Compatible?, Prometheus Books, New York, 2003) do Chủ Biên Paul Kurtz biên tập.  Tôi không nghĩ là ông Nguyễn Lê Ân-Điển có thể tiêu hóa được những luận cứ khoa học trong cuốn sách này.  Tuy nhiên, tôi có thể tóm tắt rất sơ lược vài điều chính yếu trong nội dung cuốn sách.

Cuốn Science and Religion: Are They Compatible? gồm có 5 phần, mỗi phần gồm có vài bài do các chuyên gia, học giả, khoa học gia v... v... có tên tuổi viết, trong đó chúng ta có thể nêu vài tên như Steven Weinberg, Nhà Thiên Văn (Astronomer) đã được giải Nobel, Nhà Vật Lý (Physicist) Victor J. Stenger, Nhà Toán Học (Mathematicien) David Shotwell, Nhà Thiên Văn Owen Gingerich ở Harvard, Nhà Vật Lý Thiên Văn (Astrophysicist) Neil deGrasse, Sử gia Vern Bullough, Sir Hermann Bondi, Các Nhà Khoa Học Richard Dawkins, Stephen Jay Gould v..v..  Tôi nghĩ rằng ông Nguyễn Lê Ân-Điển nên đọc ít nhất là Phần I trong cuốn sách này để biết rằng những luận cứ ông đưa ra về chủ đề “Thế giới được thiết lập một cách siêu nhiên và có mục đích” hoàn toàn không có cơ sở lý luận vững chắc nếu không muốn nói rằng những luận cứ đó chỉ là sự phối hợp của ngụy khoa học và mê tín.

Phần I có chủ đề “Vũ Trụ Học và Thượng Đế” (Cosmology and God) trong đó tác giả Steven Weinberg, trong bài “A Designer Universe?” , đã đưa ra những luận cứ khoa học chống luận điểm “cứu cánh” hay “thiết kế” (Design) của Ki-tô Giáo.  Victor J. Stenger, trong bài “Anthropic Design: Does The Cosmos Show Evidence of Purpose”  đã phá đổ thuyết những định luật vật lý và hằng số vật lý chính xác đã được thiết kế để cho sự sống có thể xảy ra, đặc biệt là đời sống của con người.  David Shotwell, trong bài “From The Anthropic Principle To The Supernatural” cho rằng nguyên lý tạo dựng nhân loại  thực ra là phải viện đến chủ thuyết siêu nhiên, một chủ thuyết thừa thãi, không cần đến trong khoa học (The Anthropic principle really invokes supernaturalism in science, which is unwarranted).  

Ngoài ra, tôi nghĩ ông Nguyễn Lê Ân-Điển cũng nên đọc thêm những bài sau đây trong cuốn sách trên để mở mang thêm một chút kiến thức về khoa học và Ki-tô Giáo: “Big-Bang Cosmology and Atheism: Why the Big Bang Is No Help To Theist” của Quentin Smith; “Holy Wars: An Astrophysicist Ponders The God Question” của Neil DeGrasse Tyson; “Creationism Versus Evolution” của Kendrick Frazier;  và nhất là bài “Does The Soul Exist? From The Mythological Soul To The Conscious Brain” của Jerome W. Elbert.

      Sau đây, chúng ta hãy nghe vài giải thích Kinh Thánh bằng khoa học của ông Nguyễn Lê Ân-Điển.  Giải thích câu 1:2 trong Sáng Thế Ký: "Vả, đất là vô hình và trống không, sự mờ tối ở trên mặt vực; Thần của Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước"(1:2), Nguyễn Lê Ân-Điển viết:

“Câu này mô tả tình trạng trống vắng và mờ tối của trái đất lúc ban đầu. Khoa học [Khoa học nào?] xác nhận hình ảnh này phù hợp với tình trạng ban đầu của địa cầu. Các nhà thiên văn vào cuối thập niên 1970 khám phá rằng mọi hành tinh đều bắt đầu bằng lớp khí quyển dầy đặc bao gồm hỗn hợp khí hydrogen, helium, methane, và ammonia... Chính lớp khí quyển dày đặc ngăn cản không cho ánh sáng mặt trời xuyên qua bề mặt của địa cầu, tạo nên tình trạng tối tăm trong thời kỳ phôi thai. Bề mặt địa cầu lúc bấy giờ được bao quanh bởi nước, là phân tử phong phú nhất hiện diện trong vũ trụ.”

Thứ nhất, "Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên Trời Đất" nhưng Trời lại không phải là Trời, đất cũng không phải là đất, mà chỉ là một lớp khí quyển dầy đặc bao gồm hỗn hợp khí hydrogen, helium, methane, và ammonia....  Hơn nữa đất lại vô hình (invisible), có nghĩa là không ai có thể trông thấy được, nhưng lại có những vực sâu chứa nước để cho Thần của Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước. Nhưng ông có biết là quá trình thành hình một hành tinh là bao lâu không?   Theo Sáng Thế Ký thì Thượng đế tạo dựng nên mọi vật bằng một lời phán, nhưng sự thành hình của một hành tinh như trái đất thì không phải là do một lời phán của Thiên Chúa mà là một quá trình trải dài nhiều triệu năm. 

Trái đất được hình thành như thế nào?  Có nhiều tài liệu giáo khoa chi tiết nhưng cần phải có một trình độ nào đó để có thể hiểu rõ.  Cho nên tôi chọn một tài liệu đơn giản, dễ hiểu, tóm tắt trong 4 trang, có tính cách phổ thông trong đại chúng, để giảng cho ông Nguyễn Lê Ân-Điển: Tài liệu khoa học số 9 về Thái Dương Hệ (The Solar System) của International Masters Publishers AB về những Bí Mật Của Vũ Trụ (IMP AB Secrets of the Universe):

“Ban đầu có một đám mây khí và bụi lớn quay cuồng trong vũ trụ.  Hầu hết khí trong đó là Hydrogen và một số ít Helium; bụi là những lượng nhỏ các lọai nước đá, hỗn hợp Oxy và kim loại (oxides), carbon và một vài nguyên tố nặng như sắt.  Hầu hết Hydrogen và Helium được tạo ra từ lúc đầu của vũ trụ.  Và những chất khác là từ trong những thế hệ trước của các ngôi sao đã tận kỳ sống.  Vào khoảng 4,6 tỷ năm trước, do tác dụng của lực vạn vật hấp dẫn, đám mây bắt đầu sụp vào và quay, làm cho nó có dạng của một chiếc đĩa.  Áp suất do sự sụp vào này làm cho đám mây nóng lên.  Ở trung tâm, nhiệt và áp suất trở thành quá nóng và quá lớn cho nên bắt đầu có những phản ứng hạch tâm và sinh ra mặt trời.  Xung quanh mặt trời, bụi bị bốc hơi.  Những nguyên tố khó bị bốc hơi như sắt và Silicon kết tụ lại tương đối ở gần mặt trời để hình thành những hạt cứng.  Xa mặt trời, chất dễ bốc hơi kết tụ thành nước đá.

Những hạt vật chất cứng dần dần tụ lại với nhau thành ra những tảng rồi họp thành những hành tinh nhỏ gọi là planetesimals - có đường kính lên tới 10 cây số.  Những hành tinh nhỏ này, khi quay xung quanh mặt trời, va chạm mạnh vào nhau và trở thành những hành tinh lớn hơn gọi là planetoids.  Rồi những hành tinh lớn hơn này lại họp với nhau thành những hành tinh (như trái đất) mà chúng ta biết ngày nay..”

(In the beginning there was a vast, swirling cloud of gas and dust.  The gas was largely hydrogen, along with some helium; the dust was made up of small amounts of various ices, oxides, carbon and some heavier elements such as iron.  Most of the hydrogen and helium were created at the beginning of the universe.  The other material originated inside an earlier generation of stars that explodes in supernovae at the end of their lives.  Around 4.6 billion years ago, under the force of its own mounting gravitational pull, the cloud began to collapse and start spinning, causing it to flatten into a disk shape.  The compression accompanying the collapse caused the cloud to heat up.  In the center, the heat and pressure became so great that nuclear reactions started, signaling the birth of the Sun.

Around the Sun, the dust was vaporized.  Less volatile (harder to vaporise) elements such as iron and silicon condensed again relaticely close to the Sun to form solid particles.  Farther out in space, the more volatile matter condensed to form ice.

The particles of solid matter gradually collected together into larger lumps, eventually forming s0-called planetesimals -–tiny planets up to 6 miles across.&nb