
posted: 1.11.04
NHÌN LẠI CUỘC TRANH ĐẤU PHẬT GIÁO
1963 ·
Trần Chung Ngọc Thời gian trôi nhanh như bóng câu qua cửa, thấm thoắt
đã 40 năm, kể từ mốc thời gian 1963, năm mà chế độ bạo tàn của
Phán quan Tây Ban Nha (Spanish inquisitor) Ngô Đình Diệm cáo chung ở miền Nam
Việt Nam. 1963: một năm đầy sôi động tại miền Nam Việt
Nam với những cuộc biểu tình của mọi tầng lớp dân chúng, những cuộc
tự thiêu của Tăng, Ni, Phật tử, phản đối chính sách độc tài gia đình
trị, Công giáo trị của chính quyền Ngô Đình Diệm (NĐD). Như một con thú
điên cuồng sắp dãy chết, chính quyền NĐD đã bắt bớ, tra tấn, tù đầy
Tăng, Ni, sinh viên, học sinh v..v.., đi đến cao điểm là đồng loạt tấn
công chùa chiền trên khắp nước ngày 21 tháng 8, 1963, bắt bớ và giết hại
hàng ngàn Tăng, Ni, Phật tử. Chủ trương tiêu diệt Phật Giáo để “Công
giáo hóa” miền Nam vốn đã in sâu vào tâm thức của những tín đồ Công
giáo cuồng tín, tổng hợp của ngu dốt, huênh hoang và hợm hĩnh vô lối,
như Ngô Đình Diệm, theo đúng sách lược “cứu cánh biện minh cho phương
tiện” của Vatican để “Công giáo hóa toàn cầu”, tưởng rằng làm như
vậy thì có thể “vinh danh một anh thợ mộc Do thái ở trên trời”. Cuối
cùng, việc phải đến đã đến, ngày 1 tháng 11, 1963, quân đội đã đứng
lên lật đổ chế độ bạo tàn của NĐD. Một giai đoạn lịch sử đen tối nhất của miền
Nam Việt Phật Giáo đã tha thứ cho gia đình họ Ngô Đình về
những tội ác của họ đối với Phật Giáo và người dân Việt. Vì Phật
Giáo nhìn Ngô Đình Diệm như là một con người bị vô minh sai khiến, một
sự vô minh trầm trọng bắt nguồn từ ý thức hệ tối tăm dầy đặc của
Công giáo Rô Ma (Dr. Barnado: the thick darkness of Romanism). Điều mà Phật Giáo
muốn dứt bỏ là vô minh chứ không phải là con người bị vô minh sai khiến.
Giáo lý Phật Giáo khẳng định: một niệm sân hận nổi dạy có thể
thiêu đốt cả rừng công đức. Bài viết này cũng không do động cơ thù
hận thúc đẩy, mà chỉ có mục đích ôn lại chuyện cũ để biết chuyện
mới, hay nói cho đúng hơn, để cảnh giác chuyện lịch sử rất có thể
tái diễn nếu chúng ta lơ là, phó mặc mọi sự cho cuộc đời trôi chảy,
để cho Công giáo lộng hành, tự tung tự tác trong sách lược Cải Đạo
Á Châu, theo lệnh của Giáo hoàng John Paul II trong bản “Tông Huấn Giáo Hội
Tại Á Châu” (Ecclesia in Asia), tung ra cuối năm 1999. Hàng năm, vào dịp 1/11, tại một số ốc đảo Công
Giáo Việt Nam ở hải ngoại, cái gọi là “Phong Trào Phục Hồi Tinh Thần
Ngô Đình Diệm” lại tổ chức tưởng niệm Ngô Đình Diệm và đưa ra những
luận cứ hoang đường, hoàn toàn sai sự thực lịch sử để tôn vinh NĐD
như là một nhà yêu nước chống Cộng, còn cụ thì không “mất nước”
(sic) v..v... Họ không buồn quan tâm đến câu hỏi then chốt: Tại sao cụ lại
không còn, trong khi cụ vẫn tin rằng có “ơn trên” (sic) phù hộ? Tác giả
Trần Văn Kha cũng đã đưa ra câu hỏi: “Nhà Ngô đã có nhiều công mở
mang nước Chúa. Thế mà lại không được “ơn trên” phù hộ, vẫn bị
bắn chết! Tại sao?” Câu trả lời là: Thực tế đã chứng tỏ chẳng
làm quái gì có cái gọi là “ơn trên”, và “cụ không còn” chính là
luật nhân quả: ác giả ác báo. Tại sao một người như NĐD mà vẫn còn được tôn
vinh? Họ tôn vinh NĐD không phải vì ông Diệm là người có tài, có đức,
mà chỉ vì ông ta là người Công Giáo, được Tòa Thánh và Mỹ đưa về
để làm một lá bài chống Cộng cho Mỹ và cho Vatican, đi kèm với âm mưu
Công giáo hóa Việt Nam, hay ít ra là miền Nam Việt Nam. Điều này không lấy
gì làm lạ vì hành động tôn vinh NĐD cũng chẳng khác gì những việc mà
họ đã làm trước đây và tiếp tục làm bất kể đến liêm sỉ và lương
thiện trí thức: tôn vinh những tên Việt Gian như Pétrus Ký, Nguyễn Trường
Tộ, Trần Lục, Nguyễn Bá Tòng, Lê Hữu Từ v..v.. chỉ vì những người có
danh này, dù là danh xấu vạn niên đối với tuyệt đại đa số người dân
Việt Tại sao những người Công Giáo, trong thời buổi
này, mà vẫn còn tiếp tục làm những công việc bất lương trí thức như
vậy. Vì họ có một mặc cảm tôn giáo. Từ xưa tới nay, họ được giáo
hội dạy rằng, sau khi rửa tội họ đương nhiên thuộc một “hội thánh”,
đạo của họ là một tôn giáo thiên khải, thánh thiện, người Công Giáo
đương nhiên phải là những người thánh thiện, và các vị chăn chiên, từ
giáo hoàng trở xuống tới các linh mục đều là những người thay Chúa
có thể ban phúc lành cho họ hay cầm giữ họ không cho họ lên thiên đường
sau khi chết. Những niềm tin thuộc loại mê tín, phi lý, lỗi thời này đã
được cấy vào đầu óc họ từ khi họ còn nhỏ, chưa đủ trình độ và
khả năng suy nghĩ để phân biệt phải trái trắng đen. Cho nên, khi lớn
lên, họ không có cách nào dứt bỏ được những niềm tin này, nhất là
khi họ thuộc lớp người nghiện đạo, có đầu óc khuyết tật, không chịu
tìm hiểu về ngay chính tôn giáo của mình. Nhưng ngày nay, trước những sự thật về lịch sử
tàn bạo của giáo hội, về bản chất dối trá của giáo hội, và nhất
là trước những sự thật xã hội liên quan đến vấn đề đạo đức của
giới chăn chiên, từ giáo hoàng trở xuống tới các linh mục, càng ngày
càng được phanh phui phơi bầy, họ không đủ can đảm để đối diện với
sự thật, do đó cố tìm cách tự vệ và bảo vệ đức tin của mình, bất
kể là những hành động tự vệ hay bảo vệ này là những hành động bất
chính, bất lương trí thức. Trong bài “Tản Mạn Chung Quanh Cuốn “Linh Mục
Trần Lục: Thực Chất Con Người Và Sự Nghiệp của Bùi Kha và Trần
Chung Ngọc”, đăng trong Giao Điểm số 35, tác giả Nguyễn Ngọc Quỳ ở “...Kết hợp người “nâng”, cách “nâng”,
và đối tượng được “nâng” lại với nhau trong một phương trình,
tôi giật mình tìm ra được đáp án cho hiện tượng quái đản; Cứ người
Công giáo làm thì Công giáo Việt Nam phải nhắm mắt mà khen. Bất chấp
chuyện làm có xấu mấy đi chăng nữa. Họ không lý đến sự thật, và cũng
chẳng cần đắn đo xem có xúc phạm đến dân tộc hay không. Tình cảm
tôn giáo của người Công giáo Việt Nam mạnh hơn liên đới của họ với
đất nước Việt Nam, và áp đảo hẳn một chút lương thiện trí thức
nào đó còn sót lại của tinh thần đại học mà họ đã tiếp thu. Họ chỉ
có một tiêu chuẩn để đánh giá: Có lợi hay có hại cho Công giáo? Cho
nên, để có lợi cho Công giáo, họ đã lạy Trần Lục thì làm sao mà thờ
Đinh Công Tráng và Phan Đình Phùng được, vì có điều này thì không thể
có điều kia” Rồi tác giả tự hỏi: “...Tôi vẫn thắc mắc tự hỏi không biết
các “bộ óc chiến lược” của người Công Giáo ở đâu mà không thấy
rằng càng ngụy biện bào chữa thì tội bán nước của Giáo hội càng bị
phát hiện nhiều thêm, càng tô son trét phấn cho cái gọi là “tinh thần
Ngô Đình Diệm” thì chân tướng phi dân tộc của tinh thần đó càng bị
phát lộ.” Tôi cho rằng không phải là những “bộ óc chiến
lược” của người Công Giáo không thấy vấn đề này, nhưng đó là
sách lược cố hữu của giáo hội, một sách lược đã ăn sâu vào xương
tủy của người Công Giáo, và vì với một tâm cảnh nô lệ, được dạy
phải “quên mình trong vâng phục”, cho nên họ khó mà có thể làm khác
được. Ở đây, lương tâm trí thức không phải là vấn đề đối với họ,
vấn đề chính là phải theo đường lối của giáo hội: “Cứ người Công
Giáo làm, bất kể người đó là Ta, là Tây hay Tàu, thì Công Giáo Việt
Nam phải nhắm mắt mà ca tụng.”, dù nhiều khi những sự ca tụng vô căn
cứ của họ đã trở thành khôi hài, lố bịch, làm trò cười cho thiên hạ.
Họ tin rằng, chỉ có như vậy họ mới hi vọng lên được thiên đường,
sống cuộc sống đời đời với một người Do Thái đã cùng hai tên ăn
trộm bị đóng đinh trên thập giá, chết và táng xác cách đây 2000 năm.
Đó là cái vòng kim cô đã xiết chặt trên đầu những người Công Giáo
trong nhiều thế kỷ. Phật Giáo đã từng là nạn nhân của sự áp bức
và bạo hành của Công giáo, dựa thế thực dân Pháp, kể từ khi Pháp xâm
chiếm nước ta. Nhà Thờ Lớn Hà Nội, Nhà Thờ Đức Bà ở Sài-Gòn, nhà
thờ La Vang ở Quảng Trị v..v.. đều được xây trên đất cưỡng chiếm,
nói nôm na là ăn cướp, của Chùa. Nhưng chưa bao giờ sự bạo hành đối
với Phật Giáo lại lên đến mức độ như trong 9 năm cầm quyền của Ngô
Đình Diệm. Dung túng cho các Linh mục lộng hành, cưỡng chiếm bất động
sản, cưỡng ép cải đạo, giết người ngoại đạo, tấn công phá hủy
chùa chiền, bạo hành giết chóc sư sãi, Phật tử v..v.. Đó là những vết
nhơ không bao giờ có thể rửa sạch trên khuôn mặt của chính quyền Công
giáo Ngô Đình Diệm. Người Phật tử biết ít nhiều về đạo Phật đôi
khi cũng phải để tâm suy nghĩ: Cuộc tranh đấu của Phật Giáo cách đây
40 năm ở miền Nam Việt Nam đúng hay sai? Bản chất cuộc tranh đấu đó như
thế nào, và bắt nguồn từ đâu? Đã có nhiều tài liệu viết về vấn
đề này, và gần đây nhất, cuốn sách dày hơn 500 trang: “Vietnamese
Engaged Buddhism – The Struggle Movement of 1963-1966”, tạm dịch là “Phật
Giáo Việt Nam Dấn Thân – Phong Trào Tranh Đấu 1963-1966” , của Quán Như
Phạm Văn Minh, Văn Nghệ xuất bản, CA., 2002, có thể nói là cuốn sách đầy
đủ nhất và chính xác nhất trong việc giải đáp những vấn đề trên.
Ở đây, tôi chỉ quan tâm đến một khía cạnh của phong trào tranh đấu
Phật Giáo xuyên qua chính sách cai trị của chính quyền Ngô Đình Diệm. Để tránh việc độc giả có thể quy kết là những
tài liệu trích dẫn thuộc loại thân Cộng Sản hay thân Quốc Gia, tôi sẽ
không trích dẫn tài liệu của những tác giả Việt Nam thuộc hai phía Quốc,
Cộng. Điều này không có nghĩa là trong những tài liệu đó không có những
chi tiết đúng. Việc trích dẫn những tài liệu ngoại quốc không có nghĩa
là vọng ngoại, hay tất nhiên những tài liệu đó phải là đúng. Nhưng tôi
tin rằng, những người ngoại quốc viết về Việt Nam như các ký giả,
giáo sư đại học, chính khách, nhà phân tích chính trị, quân sự, xã hội
v..v.., trước và sau 1975, trong thế giới Tây phương, rất có thể có
thiên kiến trong việc diễn giải sự kiện, nhưng không thể sai lầm trong
chính tự thân các sự kiện. Lương tâm nghề nghiệp, chỗ đứng trong xã
hội, và tiêu chuẩn trí thức trong những xã hội Tây phương không cho
phép họ gian dối, bịa đặt ra bất cứ một sự kiện nào. Họ có thể
có khuynh hướng thân Cộng hay thân Quốc Gia nhưng không thuộc phe nào và
không chịu áp lực của bất cứ thế lực nào, cho nên họ không có nhiệm
vụ phải tuyên truyền sai sự thực để ủng hộ bên nào. Do đó, phối hợp
những tài liệu của nhiều tác giả khác nhau về cùng một chủ đề, nếu
chúng ta thấy có những điểm tương đồng thì chúng ta phải tin tưởng rằng
những điểm đó không khác với sự thực là bao nhiêu. Sau đây tôi sẽ trích dẫn một số nhận định về
con người Ngô Đình Diệm và chính quyền Ngô Đình Diệm của một số
tác giả ngoại quốc có tên tuổi. Qua những trích dẫn này, tôi hi vọng
độc giả có thể nhìn thấy ý nghĩa đích thực của phong trào tranh đấu
Phật Giáo 40 năm trước đây và không còn bị lừa dối bởi những luận
điệu quái gở như Phật Giáo thân Cộng, Phật Giáo làm “mất nước”
(sic) v..v..của một đoàn thể đã nổi tiếng là “đã phi dân tộc thì thể
nào cũng phản dân tộc.” 1. "Vietnam: Crisis of Conscience" by
Robert McAfee Brown, Abraham J. Heschel & Michael Novak, Associated Press, New York
1967, p. 30: Ký giả người Úc Denis Warner viết “Trong nhiều
năm, cái chế độ bạo ngược chuyên chế mà Tây phương đồng minh với
ở (The Australian writer Denis Warner wrote that "the
tyranny the West allied with in 2. "Fire In The Lake" by Frances Fitgerald
(Winner of the Pulitzer Prize, Winner of the National Book Award, Winner of the Bancroft
Prize For History), Vintage Books, Cái chất công giáo của Diệm, không hề mở mắt hắn
đến với những ý tưởng mới, mà chỉ thuyết phục hắn là cai trị bằng
nghi lễ và huấn thị đạo đức là có thể thành công, mà nó có vẻ như
vậy trong các làng mạc ở miền Bắc và Trung sống trong cái vỏ bằng sắt
và điều khiển bởi các linh mục. Cái mà hắn ta không ý thức được là cái kiểu
cai trị thiển cận như vậy của các giáo xứ có thể thực hiện chỉ vì
người Pháp đã bảo vệ họ và tổ chức nền hành chánh quốc gia. Do đó,
tham vọng của hắn phục hồi xã hội cổ xưa giống như là của những
tên thực dân Pháp, coi mình như cha người ta, đã chống những chương trình
cải cách của những giới chức hành chánh nơi thành thị – sự khác biệt
là trong khi người Pháp giữ lãnh vực hiện đại cho riêng họ thì Diệm
không nhận ra được sự quan trọng của vấn đề hiện đại hóa. Đối với
hắn, thế giới hiện đại là Sài-Gòn, cái thị trấn ký sinh trùng đó đã
trở nên béo mập bởi máu của thôn quê và lợi lộc của Tây phương... Những ký giả như Robert Shaplen đã chỉ trích Diệm
như làm cho những nông dân xa lánh vì những biện pháp đàn áp của hắn. Một số đông những giới chức và ký giả, kể cả
những người có nhiều kinh nghiệm và có khuynh hướng chính trị khác nhau
như Douglas Pike, Chester Bowles, và chuyên gia chống nổi loạn người Anh,
Robert Thompson, đều coi Diệm như là kẻ thù của chương trình chống Cộng. Trong tất cả những năm cầm quyền, Ngô Đình Diệm
chỉ có một đồng minh ở thôn quê, đó là những người Công giáo, đặc
biệt nhất là những người di cư từ ngoài Bắc vào. Ngay từ đầu, Diệm
dùng trong bộ máy hành chánh phần lớn là những người Công giáo, và
thiên vị các làng Công giáo đối với phần còn lại của quốc gia. Những
giới chức của Diệm, làm việc chặt chẽ với các linh mục, đem phần lớn
viện trợ Mỹ cho các làng Công giáo, và phần lớn những nông sản. Chúng
cho những người Công giáo quyền khai thác lâm sản và độc quyền sản xuất
loại hàng hóa nông sản mới do các kỹ thuật gia Mỹ đưa vào giúp. “Theo
đạo có gạo mà ăn” là một câu tục ngữ khi xưa của người Việt (Diem's Catholicism, far from opening him up to new ideas,
only persuaded him that government by ritual and moral instruction could work, as indeed
it seemed to in the ironclad, priest-ridden villages of the north and center. What he did not realize was that such parochial governments
could operate merely because the French protected them and organized the administration of
the country. His ambition to restore the old society therefore resembled that of the
paternalistic French colons who had opposed the reformist programs of the metropolitan
administrators - the difference being that while the French wished to keep the modern
sector for themselves, Diem did not recognize its importance. For him, the modern world
was ...Journalists, such as Robert Shaplen, criticized Diem for
alienating the peasants by his oppressive measures. ...A host of officials and journalists, including such
experienced and politically diverse men as Douglas Pike, Chester Bowles, and the British
counterinsurgency expert, Sir Robert Thompson saw Diem as the enemy of the anti-Communist
project. ...In all the years of his reign Ngo Dinh Diem found only
one ally in the countryside, and that was the Catholics, most particularly the northern
refugees. From the beginning he staffed his administration heavily with Catholics and
favored the Catholic villages over all the rest. The Diemist officials, working closely
with the priests, saw to it that the Catholic villages took the bulk of They gave the Catholics the right to take lumber from the
national reserves and monopoly rights over the production of the new cash crops introduced
by the American aid technicians. "Turn Catholic and have rice to eat", went the
old Vietnamese saying under the French regime. Under Diem the South Vietnamese continued
to follow the injunction. In "Background to "Bất kể hiến pháp viết như thế nào, Diệm
cai trị như là một nhà độc tài. Triết lý chính trị của ông ta dẫn xuất
từ một nhóm Công giáo Pháp, những người đã đặt ra thuyết Nhân Vị.
Thuyết này nhấn mạnh đến nhân cách để chống với quan niệm đưa quần
chúng vào kỷ luật của Cộng Sản. (Thực ra, đây chỉ là một chiêu bài
chống Cộng vì trong cấu trúc toàn trị của Công Giáo thì tín đồ chỉ có
quyền vâng phục các bề trên, do đó làm gì có Nhân Vị. TCN). Chi
tiết về thuyết này phức tạp, khó hiểu đối với mọi người trừ một
triết gia. Một chuyên gia Mỹ được mời đến để cố vấn cho hệ thống
thuế má địa phương mô tả thuyết Nhân Vị như là “một pha trộn lộn
xộn của những sắc lệnh của giáo hoàng và kinh tế mẫu giáo, tổ hợp
với một sự nghi ngờ những tư nhân thương gia, một sự e ngại đầu tư
ngoại quốc, và một quan niệm là không thể thành đạt được gì nhiều
ở Việt Nam nếu không có sự kiểm soát của chính phủ.” Trên thực tế chính phủ đây là chính phủ Diệm. ...Ngày tháng qua, cách cai trị của Diệm càng ngày
càng trở nên không thể chịu được, và tới năm 1963 hắn là một nhà độc
tài hoàn toàn, chỉ nghe những thân nhân trong gia đình. Hắn hoàn toàn xa lạ
với quần chúng. Người ta phàn nàn là hắn đã trao những chức vụ tốt
nhất cho người Công giáo: nhưng những người Công giáo là “người ngoại
quốc” – những người di cư từ ngoài Bắc vào. Sự bất mãn đưa đến
phong trào chính trị của Phật Giáo.” (Whatever the constitution might say, Diem ruled as a
virtual dictator. His political philosophy was derived from a group of French Catholics,
who formulated a doctrine known as Personalism. It emphasises human dignity as opposed to
the Communist concept of disiplined masses. Its detail is complicated, and difficult of
comprehension to all but a philosopher. An American expert who was called in to advise on
the local system of taxation described Personalism as "a confused mélange of papal
encyclicals and kindergarten economics, combined with a suspicion of private businessmen,
a fear of foreign capital, and an attitude that little could be accomplished in In practice, it meant government by Diem. ...With the passing months Diem's attitude became more
intolerable, and by 1963 he was the complete dictator, seeking advice only from his
immediate relatives. He was completely aloof from the common people. It was complained
that he gave all the best posts and showed all the favor to Catholics: but the Catholics
were "foreigners" - refugees from the 4. "Backfire: Công giáo Việt ...Diệm làm cho người Mỹ khó chịu không chỉ
vì đường lối cai trị của hắn. Hắn thích thú trong việc đàn áp những
đối lập chính trị mà hắn đã bắt giữ lên tới 40000 người. Đầu
năm 1959, Diệm hợp thức hóa sự tàn bạo của mình bằng sự thiết lập
những tòa án quân sự để xử những đối lập chính trị và xử tử
hình trong vòng ba ngày. Những tòa án này bắt giữ, điều ta, và tuyên án
những kẻ phạm tội. Diệm hăng say đóng cửa những nhà báo không
ủng hộ hắn. Tệ hơn cả, hắn dẹp bỏ cấp lãnh đạo trong các làng mạc
và thay thế họ bằng những người của Diệm. Hắn đã trở thành một
nhà độc tài. (The Catholic Vietnamese thrived under Diem's systematic
discrimination against the Buddhists. The Catholics were preferred in the civil service,
while those who lived in the villages were not always required to do the hard labor of
building roads and other public works. The Catholic Church, unlike the Buddhist Pagodas,
had special rights to acquire and own property, as had been the case under the French. In
time, this discrimination against the vast majority of the country would lead to
politically lethal protests against Diem by the Buddhist bonzes. ...Diem annoyed Americans not only because his personal way
of doing things. He was an enthusiast when it came to repressing his political opponents,
of whom he arrested upwards of 40,000. In early 1959, Diem legalized his brutality by
creating special military courts to try political opponents and to pass sentences of death
in no more than three days. These courts made the arrests, conducted the inquiries, and
sentenced the guilty. ...Diem closed newspapers that did not support him with the
requisite fervor. Worst of all, he destroyed the leadership in the villages and replaced
it with his own appointees. He had become a dictator.) 5. "A Bright Shining Lie" by Neil Sheehan,
Vintage Books, " Công giáo Rô Ma là một thiểu số có nhiều tỳ vết
ở Việt ...Trong sự hướng dẫn Diệm của Lansdale đến thành
công bằng cách diệt các giáo phái dựa trên lý thuyết Diệm là Magsaysay
để lập một chính phủ tập trung quyền lực mới, không bao giờ Lansdale
lại nghĩ rằng Diệm bắt đầu chính sách cai trị của mình bằng cách loại
bỏ những người chống Cộng hữu hiệu nhất ở miền Nam. Dòng họ Ngô Đình tiến tới sự áp đặt trên miền
Nam Việt Nam cái tôn giáo Công giáo ngoại lai của họ, đảng Công giáo bảo
thủ từ ngoài Bắc vào và từ vùng quê hương của họ ở miền Trung. Diệm
và gia đình bổ nhiệm những sĩ quan chỉ huy đơn vị, những nhân viên
hành chánh và cảnh sát bằng những người Công giáo, từ miền Bắc và từ
miền Trung, quê hương của Diệm. Diệm và gia đình hắn bổ nhiệm những
người Công giáo vào cấp chỉ huy quân đoàn, hành chánh và cảnh sát.
Nông dân ở miền đồng bằng sông Cửu Long thấy mình bị cai trị bởi những
tỉnh trưởng, hạt trưởng, bởi những viên chức hành chánh ngoại lai và
thường là cao ngạo và tham nhũng..." (Lansdale let his preconceptions lead him to false
assumptions...Lansdale thought the Catholic refugees from the North were Vietnamese
patriots who had "fought for their country's freedom from the French"..He saw
nothing wrong with the US singling out these Catholics for special assistance. He saw
nothing inappropriate about having a Catholic as president of what he perceived to be a
"Free Vietnam" Roman Catholics were a tainted minority in Vietnam. Lansdale
was anxious to draw a distinction between Americans and French "colonialists."
What he did was to make the distinction one without a difference...By singling out the
Catholics for help, and by putting a Catholic in office in Saigon, he announced that the
US was stepping in to replace the French. Vietnamese converts to Catholicism had been used
by the French as a fifth column to penetrate precolonial Vietnam and then had been
rewarded by the colonizer for their collaboration. They were popularly regarded as a
foreign-inspired, "un-Vietnamese" religious sect. With the French leaving, the
Catholics were naturally seeking another foreign protector. They told Lansdale what they
sensed he wanted to hear. ...As Lansdale guided Diem to success in crushing the sects
on the theory that Diem was the Magsaysay to form a new and central government, it would
never have occured to Lansdale that Diem was beginning his rule by eliminating the most
effective OPPONENTS of the Communists in the South. ...The Ngo Dinhs proceeded to impose on South Vietnam what
amounted to their own alien sect of Catholics, Northern Tories, and Central Vietnamese
from their home region. Diem and his family filled the officer corps of the army and the
civil administration and the police with Catholics, Northerners, and Central Vietnamese
they trusted. The peasants of the Mekong delta found themselves being governed by province
and district chiefs, and by civil servants on the province and district administrative
staffs, who were outsiders and usually haughty and corrupt men.) 6. “American in Vietnam" by Dr. John
Guilmartin, United Press International/Bettmann, England 1991, p.69: Những ảnh hưởng đối nghịch của sự thiếu khả
năng và tính toán sai lầm của Diệm không chỉ chấm dứt ở sự thất bại
về quân sự chống Việt Cộng. Nghi ngờ tất cả những người không có
cùng đức tin Công giáo của mình, và hoan hỉ với sự thành công trong việc
dẹp bỏ các giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo, họ khởi sự chiến dịch chống
Phật Giáo. (The adverse effects of the Diem's ineptitude and
miscalculation did not end with military failure against the Viet Cong. Suspicious of all
who did not share their Catholic faith, and having enjoyed success in suppressing the Hoa
Hao and Cao Dai, they embarked on an anti-Buddhist campaign.) 7. "Vietnam: The Valor and the Sorrow" by
Thomas D. Boettcher, Little Brown & Company, Boston 1985, p.150: “Trong 10 đô la viện trợ thì 8 được dùng cho nội
an chứ không dùng cho công tác chiến đấu chống du kích Cộng sản hay cải
cách ruộng đất. Diệm lo lắng về những cuộc đảo chánh hơn là Cộng sản. ...Như là hậu quả của những biện pháp đàn áp
càng ngày càng gia tăng, sự bất mãn của quần chúng đối với Diệm cũng
càng ngày càng tăng, bất kể là toan tính của Diệm dập tắt sự bất
mãn này trong mọi cơ hội. Hàng triệu nông dân ở những vùng quê trở
thành xa lạ đối với Diệm. Không lạ gì, hoạt động của Cộng sản gia
tăng cùng với sự bất mãn của quần chúng. Và những biện pháp đàn áp
của Diệm cũng gia tăng theo cùng nhịp độ. Nhiều ngàn người bị nhốt vào
tù. Cho tới năm 1960, điều khác biệt duy nhất giữa
hai chính quyền Ngô Đình Diệm và Hồ Chí Minh là ở những lá cờ của họ.”
(Eight of ten American aid dollars went for internal
security, not to fight Communist guerrillas or implement reforms such as land
redistribution. Diem was more worried about coups than Communists. ..As a consequence of his increasingly repressive internal
measures, popular discontent with Diem gradually intensified, despite his attempt to
squelch it at every opportunity. The millions of peasants in the countryside became
estranged from him.. Not surprisingly, Communist activity intensified as discontent
increased. And Diem's repressive measures increased accordingly. Thousands were put in
jail.. By 1960, the only difference between the governments of Ngo
Dinh Diem and Ho Chi Minh was their flags.) 8. "The Indochine Story" by the Committee
of Concerned Asian Scholars, A Bantam Book, New York 1970, pp. 32 & 34: “Một nhân vật Mỹ ủng hộ Diệm lúc đầu kết
luận: Lạm dụng quyền lực, độc tài, tham nhũng, coi thường cấp dưới,
và không đếm xỉa gì đến nhu cầu của dân chúng một cách ác độc, đó
là tấm gương mà gia đình họ Ngô để cho những bộ trưởng, nhà lập
pháp, tướng lãnh, tỉnh trưởng, trưởng làng mà họ Ngô dùng như những
quân cờ noi theo. Đàng sau gia đình nhà Ngô là Mỹ. Ở dưới gia đình
này chẳng có gì mấy. Gia đình này đã trải cái bóng của họ trên xã hội
Việt Nam; tuy nhiên cái rễ của họ thật sự chỉ cắm nông vào đất Việt.
Điều này định trước những phương pháp Diệm dùng để kiểm soát đất
nước... Chỉ có một đường lối: đàn áp và củng cố quyền lực trong
tay những anh em và thuộc hạ của Diệm.. Săn lùng toàn diện những người
bất mãn được tổ chức ở thôn quê năm 1956, và tăng gia cường độ khi
tình hình suy kém. 75000 người hay hơn nữa bị giết trong chiến dịch
này. Còn nhiều người hơn nữa bị tống giam bởi sắc lệnh số 6 của tổng
thống, ký trong tháng 1, 1956. Sắc lệnh nói: “Những cá nhân coi là nguy hiểm
cho quốc phòng và an ninh chung có thể bị bắt giam trong những trại tập
trung do lệnh của cơ quan hành pháp. Tình trạng trong những trại tập trung
của Diệm, chỉ bị phanh phui sau khi Diệm đổ, thật sự nhơ nhớp. Cố ý
để cho chết đói, cố ý làm cho mù, cố ý hành hạ..., danh sách này thật
là dài.” (An early American supporter of Diem concluded: Abuse of
power, nepotism, corruption, contempt for inferiors, and cruel disregard of the needs of
the people were the example set by the Ngo's "Family" for the ministers,
legislators, generals, province chiefs, and village commissioners whom they used as pawns.
Behind the family stood the US. Below it stood very little
at all. It threw its shadow over all Vietnamese society; yet its roots penetrated
shallowly indeed into Vietnamese soil. This predetermined the methods by which Diem could
extend his control over the country...Only one way was open: repression and further
consolidation of power in the hands of his brothers and their followers...Full scale
manhunts against dissidents were organized on the rural areas in 1956, and increased in
later years as the situation deteriorated. 75,000 or more people were killed in this campaign. As many
or more were incarcerated under Presidential Ordinance No. 6, signed in January 1956
"Individuals considered dangerous to national defense and commun security," it
said, could be confined by executive order in a "concentration camp." Conditions
in Diem's "reeducation centers," brought to light only after his overthrow in
1963, were sordid indeed. Deliberate starvation, deliberate blinding, deliberate maiming.
The list is long." 9. "The Story of Vietnam" by Hal Dareff, An
Avon Camelot Book, New York 1966, p. 108: “Nay Diệm đã thắng mọi kẻ thù, anh em nhà Diệm
muốn chắc rằng không ai có thể bứng họ đi. Ở ngoài mặt, Nam Việt Nam
là một thể chế Cộng Hòa với một hiến pháp mới toanh hứa hẹn tự do
và dân chủ cho quần chúng. Tuy nhiên, thực tế thì lại trái ngược hẳn...
Nhu là cánh tay phải của Diệm.. Hắn tổ chức gian lận bầu cử, đưa vào
quốc hội những tay sai của hắn, và sai bọn Cần Lao đi rình mò khắp nước
để kiếm những người chống đối hắn. Chế độ Diệm bắt đầu thoái trào vào đầu năm
1963. Tổng thống cai trị dân trong dinh thự của mình như là một thể chế
quân chủ, cắt lìa khỏi quần chúng. Sự thù ghét Diệm và gia đình hắn
gia tăng đến độ người ta có thể cảm thấy đầy trong bầu không khí
ở Saigon. Tin đồn về đảo chánh loan truyền trong thành phố hầu như hàng
ngày. Trong những hoàn cảnh như vậy, Diệm chỉ lo bám chặt vào quyền lực.
Cuộc chiến (chống Cộng) trở thành thứ yếu. Sĩ quan được thăng cấp nếu
giữ được mức tổn thất thấp. Chỉ có một cách chắc chắn giữ được
như vậy – không tác chiến. Không tác chiến đã trở thành một cách sống
đối với một số cấp chỉ huy và là cách duy trì địa vị. ...Cuộc tranh chấp giữa Diệm và các Phật tử đã
được tích lũy kể từ ngày Diệm lên làm thủ tướng năm 1954. Diệm, một
tín đồ Ca Tô, đương nhiên là cảm thấy thoải mái hơn đối với những
tín đồ Ca Tô khác. Nhiều chức vụ chỉ huy trong chính quyền và quân đội
được trao cho những người Ca Tô, những người này được đặc quyền
đặc lợi làm tiền trong những thương vụ của chế độ. Trong số 15 triệu dân ở miền Nam Việt Nam, hơn 1
triệu một chút là người Ca Tô. Phần còn lại, phần lớn là Phật tử,
phẫn nộ vì chính sách thiên vị người Ca Tô. Sự đối xử khác biệt
này còn trắng trợn hơn ở các tỉnh lỵ, nơi đây các linh mục địa
phương và các giới chức chính quyền, hầu hết là Ca Tô, có toàn quyền.
Khi các ấp chiến lược được dựng lên, những người Ca Tô được miễn
làm việc và những người phi-CaTô bị đưa vào chỗ thay thế họ để làm
những công việc lao dịch. Những vùng đất mới được mở mang và phát
triển, người Ca Tô được chọn những miền đất phì nhiêu ở những miền
duyên hải có an ninh. Những đất đai dành cho Phật tử ở sâu trong nội
địa, ở đây họ phải lao động dưới sự đe dọa của Việt cộng. Nhiều
Phật tử theo đạo (không có nghĩa là tin đạo. CTN) để được sống dễ
dàng hơn.” (Now that Diem had won out over all his foes, the brothers
wished to make sur that no one else would unseat them. On the surface, South Vietnam was a
republic with a brand-new constitution promising freedom and democracy to its people. In
practice, however, the very opposite was true...Nhu was Diem's right arm...He fixed
elections, packed the National Assembly with his henchmen and hirelings, and sent his Can
Lao prowling the country in search for dissidents.. Twilight had begun to settle over the regime of Ngo Dinh
Diem as the year 1963 began. The president ruled in his palace like a monarch cut off from
his people. Hatred of him and his family mounted until the air of Saigon seethed with it.
Runors of plots and coups swirled through the city almost daily. In these circumstances,
Diem sought only to hold on to his power. The war became secondary. Officers were promoted
when they kept the casualty lists down. There was only one sure way to do that - not to
fight. Not fighting became a way of life with some commanders and a way of keeping their
jobs. ...A showdown between Diem and the Buddhists had been
building ever since he became premier in 1954. Diem, a Catholic, naturally felt more at
home with other Catholics. Many of the leading posts in the government and army were held
by Catholics, who were also privileged when it came to making money out of business deals
engineered by the regime. Of the 15 million people of South VN, a little more than a
million were Catholic. The rest, mainly Buddhist, resented the favoritism shown Catholics.
The difference in treatment was even more blatant in the provinces where the local priests
and government officials, mostly Catholic, too, were all-powerful. When strategic hamlets
were built, the Catholic inhabitants were exempted from working and non-Catholics were
brought in to labor in their places. When new land was opened for development, Catholics
got the pick of the land in the safe coastal regions. The land given to Buddhists was
inland, where they would have to work under the menacing shadow of the Viet Cong. Many
Buddhists, seeing where the grass was greener, tried to become Catholics.) 10. "The Two Viet-Nams" by Bernard B. Fall,
Frederik A. Praeger Publisher, New York 1967, p. 250: “Trong số những người lên cầm quyền cùng với
Diệm năm 1954-55, KHÔNG MỘT NGƯỜI NÀO còn giữ chức vụ bộ trưởng khi
Diệm bị giết năm 1963. Một vài người bị lưu đày ở Pháp hoặc Mỹ,
và một vài người rút lui với thái độ trông chờ ở Saigon. Một sự dập
theo những phương pháp toàn trị của Cộng sản Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng
Đảng của Ngô Đình Nhu. Đảng này trở thành một hệ thống quyền lực
hoàn toàn giống như của Cộng sản, với những thành viên mật và chỉ biết
nhau trong những tổ 5 người, và những “nhóm hành động” có nhiệm vụ
dẹp bỏ mau chóng và kín đáo những người đối lập... Như vậy, chế độ
Diệm sai lầm trong hai phương diện: Quân đội không bao giờ thực sự hữu
hiệu, và các sĩ quan ở quân đoàn thì không trung thành với những ông chủ
dân sự và nhắm mắt làm ngơ trước sự thất bại của chế độ. Trong sự mô tả đảng Cần Lao, John C. Donnell định
nghĩa Cần Lao như là “một đảng chính trị mạnh gồm những thành viên
thường tin rằng mình thuộc những đảng chính trị khác và ngự trị những
đảng này.” Nói cách khác, những hoạt động trong hệ thống nội bộ của
họ y hệt như của đảng Cộng sản: dò thám bạn bè, xâm nhập đồng
minh, và hoạt động như “một quốc gia trong một quốc gia” trong chính
guồng máy chính quyền của mình. Nếu không còn cái gì khác, những điều
trên có thể làm cho chế độ Nam Việt Nam mang nhãn hiệu một loại “dân
chủ của quần chúng” chống-Cộng mà sự khác biệt lớn nhất đối với
người anh em song sinh Cộng sản Bắc Việt Nam là thái độ hành trì Ca-Tô
và là sở hữu chủ của những đồn điền cao su.” (Of the men who came to power with Diem in 1954-55, NOT ONE
still held a cabinet portfolio when he was murdered in 1963. Some were sent into exile in
France or the US, and a few simply retired and maintained a "wait-and-see"
attitude in Saigon. Another imitation of Communist totalitarian methods was Ngo Dinh Nhu's
Can-Lao Nhan-Vi Cach Mang Dang, which became the perfect hierarchie paralle’le, with its
secret membership and five-men cells whose members knew only each other, and "action
groups" that could swiftly and quietly do away with bothersome oppositionists...As it
was, the Diem regime erred on both counts: Its army never became really proficient, and
its officer corps remained disloyal to its civilian masters and connived in their demise. In his description of the Can Lao, John C. Donnell defined the
Can-Lao as a "powerful elite political party whose members are commonly believed to
belong to other political parties also and to dominate them." In other words, it did
within its own system exactly what a Communist Party would do: It spied on its own
friends, infiltrated its own allies, and acted as a "state within a state" in
its own government's machinery. If nothing else, this would brand the South Vietnamese
regime as a sort of anti-Communist "people's democracy" whose major difference
from its Communist North Vietnam TWIN was its attitude toward the practice of Catholicism
and the ownership of rubber plantations.) 11. "An Eye For The Dragon" by Dennis
Bloodworth; Farrar, Straus & Giroux, New York 1970, p. 209: “Cho tới năm 1963 mật vụ của Diệm đã bắt giữ
hoặc đẩy vào tay những kẻ thù hầu như mọi người quốc gia có tên tuổi
đã chiến đấu cho tự do của đất nước trong 20 năm trước. Hắn và gia
đình hắn đã đàn áp mọi đối lập, chất đầy nhà tù, bịt miệng báo
chí, gian lận bầu cử, và bám vào quyền lực.” (...By 1963 Diem's secret police had picked up or pushed into
the arms of his enemies nearly every prominent nationalist who had fought for the freedom
of his country during the previous 20 years. He and his familly suppressed all opposition,
filled the jails, muzzled the press, rigged the elections, and clung to all power..) 12. "Intervention and Revolution" by
Richard J. Barnet, A Meridian Book, New York 1972, pp. 233-235: “Khuyến cáo rằng “nếu bầu cử được tổ chức
ngày nay (1956) thì tuyệt đại đa số dân Việt sẽ bầu cho Cộng sản,”
Cherne tuyên bố rằng uy tín của Mỹ ở Á Châu tùy thuộc vào sự ngăn chận
cuộc bầu cử này. Phương pháp giải quyết là củng cố lớp người Ca Tô
ở miền Nam Việt Nam, chỉ có những người này mới có lý do thuộc về
lý tưởng chống Cộng. Nhà văn Ca Tô người Anh, Graham Greene, đã mô tả
việc Mỹ sử dụng giáo hội Ca Tô trong cuộc chiến tranh lạnh ở Việt
Nam như sau: Chính cái ý hệ Ca Tô đã giúp làm cho chế độ của
ông Diệm sụp đổ, vì sự sùng tín của ông ta đã bị các cố vấn Hoa Kỳ
khai thác cho đến khi giáo hội Ca Tô ở Việt Nam ở trong cơ nguy cùng chung
số phận bất thiện cảm của người dân Việt đối với Mỹ...Những khoản
tiền to lớn được dùng để tổ chức những cuộc đón tiếp quan khách
ngoại quốc và tạo nên ý niệm giáo hội Ca Tô là của Tây phương và là
đồng minh của Mỹ trong cuộc chiến tranh lạnh. Trong những trường hợp
hiếm hoi mà Diệm đi kinh lý những vùng trước đây bị Việt Minh chiếm,
bao giờ cũng có một linh mục ở bên cạnh, và thường là một linh mục Mỹ... Điều quan tâm chính của chính quyền Diệm là sự
an toàn của chính quyền. Chính quyền Diệm sợ rằng cuộc bầu cử dự định
tổ chức vào tháng 7, 1956 đưa đến sự thắng lợi của Hồ Chí Minh và
chấm dứt quyền lực của những chính trị gia không Cộng sản.. Những ước tính của cơ quan tình báo quốc gia CIA,
soạn trong tháng 2, 1957, mô tả chế độ Diệm như sau: Chế độ Diệm phản ánh ý nghĩ của Diệm. Một bộ
mặt chính quyền đại diện cho dân được duy trì, nhưng thực chất chính
quyền là độc tài. Quyền lập pháp của quốc hội bị hạn chế gắt
gao; quyền tư pháp chưa phát triển và tùy thuộc quyền hành pháp; và những
nhân viên trong ngành hành pháp không gì hơn là những tay sai của Diệm.
Không có một tổ chức đối lập nào, dù trung thành hay không, được phép
thành lập, và mọi chỉ trích chính quyền đều bị đàn áp...Quyền lực
và trách nhiệm tập trung nơi Diệm và một nhóm nhỏ gồm có những thân
nhân của Diệm, những người quan trọng nhất là Nhu và Cẩn.” Chế độ độc tài của Diệm, dựa trên một mạng
lưới mật vụ, tòa án quân sự, và công chức tham nhũng, tuyên bố không
những chiến đấu chống Cộng mà cho tới năm 1957 Cộng sản vẫn chưa có
hoạt động gì, mà còn chống bất cứ nhóm nào không chắc là trung thành
với Diệm. Thật vậy, nhiều người không-Cộng-sản vào tù hơn là người
Cộng sản. ...Sự chuyên chế của Diệm, sự thiên vị trơ trẽn
của hắn đối với những người Ca Tô tị nạn từ ngoài Bắc vào so với
phần còn lại của dân chúng, và sự bạo hành của hắn đối với mọi
người không đồng quan niệm chính trị với hắn đã tạo nên một sự
liên kết chống hắn mà hắn rất sợ.” (Warning that "if the elections were held today the
overwhelming majority of Vietnamese would vote Communist," Cherne declared that
American prestige in Asia was dependent upon preventing that result. The answer was to
strengthen the Catholic faction in South Vietnam, who alone among Vietnamese had
ideological reasons to be against the communists. The British Catholic writer Graham
Greene has described the American use of the Catholic Church in fighting the Cold War in
Vietnam: It is a Catholicism which has helped to ruin the government
of Mr. Diem, for his genuine piety...has been exploited by his American advisors until the
Church is in danger of sharing the unpopularity of the US...Great sums are spent on
organized demonstration for the visitors, and an impression is given that the Catholic
Church is occidental and an ally of the US in the cold war. On the rare occasions when Mr.
Diem has visited the areas formerly held by the Viet Minh, there has been a priest at his
side, and usually an American one. ...The major interest of the Diem government was its own
security. It feared that the elections scheduled for July, 1956, would spell a victory for
Ho Chi Minh and the end of power for noncommunist politicians.... The CIA national intelligence estimates prepared in
February, 1957, described the Diem regime in these words: Diem's regime reflects his idea. A facade of representative
government is maintained, but the government is in fact essentially authoritarian. The
legislative powers of the National Assembly are strictly circumscribed; the judiciary is
underdeveloped and subordinate to the executive; and the members of the executive branch
are little more than the personal agents of Diem. No organized opposition, loyal or
otherwise, is tolerated, and critics of the regime are often repressed...The exercice of
power and responsibility is limited to Diem and a very small circle mainly composed of his
relatives, the most important being Nhu and Can. ...Diem's dictatorship, supported with a network of
informers, military tribunals, and corrupt functionaries, declared war not only on the
communists, who until 1957 were quiescent, but also against any group whose personal
loyalty was not assured. Indeed, more non-communists than communists ended up in Diem's
jails. ...Diem's despotism, his shameless favoring of Catholic
refugees from the North over the rest of the population, and his persecution of all
political dissidents produced the coalition against him that he dreaded.) 13. "Vietnam Revisited" by David Dellinger,
p. 35: Ngay từ lúc đầu Diệm đã có khuynh hướng toàn trị
và gia đình trị mà 8 năm sau dư luận quần chúng lên án chính quyền của
hắn. “Khuynh hướng toàn trị” của Diệm đã đưa đến
việc thành lập một đảng chính trị riêng tư, đảng cần Lao, một đảng
duy nhất. Đảng Cần Lao cũng phục vụ hắn như là mật vụ,
dập theo khuôn mẫu của Nhật Bản trong Thế Chiến II – mà Diệm đã
nghiên cứu kỹ chi tiết. Như chúng ta đã thấy, đảng này đã giết hại
90000 người và cầm tù 800000 trong đó có nhiều người bị tra tấn. ..Khi Diệm về Việt Nam năm 1954, một người CaTô
theo lệnh của một thế lực ngoại quốc về cai trị một nước mà 80%
là Phật tử, CIA đã thuê vài trăm người để hoan hô hắn tại bến tàu.
Nhưng cả CIA lẫn những giới chức Mỹ ủng hộ Diệm đều không làm sao
làm ngược được sự kiện là Diệm không có sự ủng hộ của quần
chúng, chính sách đàn áp đẫm máu của Diệm đối với từ các nhà sư Phật
giáo và các tín đồ Hòa Hảo, Cao Đài cho tới những nông dân yêu nước,
giới tư sản tôn trọng luật pháp, trật tự và một chút công lý, và những
tướng lãnh đối thủ – “kéo theo (và đã xảy ra) tất cả những khó
khăn vì một con người với nhân cách như vậy.” (From the very beginning Diem displayed that tendency toward
autocracy and family rule for which the mass media would belatedly condemn his
administration 8 years later. Diem's "tendency toward autocracy" led to the
formation of a private political party, the Can Lao, which was the only party. The Can Lao also served as a secret police, modeled after
the system the Japanese used in Vietnam during WWII - which Diem had studied in detail. It also produced, as we have seen, the death of 90,000
opponents and the imprisonment of another 800,000, with many of them tortured... ...When Diem first arrived in Vietnam in 1954, a Catholic
coming to rule at the behest of a foreign power in a country whose population was 80%
Buddhists, the CIA had hired a crowd of several hundred "welcomers" to greet him
at the dock. But not even the CIA and Diem's more respectable US backers
could permanently counteract his lack of an indigenous base, his bloody suppression of all
opposition, from Buddhist monks and members of the Hoa Hao and Cao Dai indigenous
religions to peasant patriots, bourgeois devotees of law, order and a modicum of justice,
and rival generals - "all the difficulties the presence of such a personality would
[and did] entail.") 14. "Vietnam: Why Did We Go?" by Avro
Manhattan, Chick Publication, California 1984, pp. 56 & 89: “Tổng thống Ngô Đình Diệm của Nam Việt Nam là
một ngưòi theo đạo Ca Tô cai trị Nam Việt Nam bằng một bàn tay sắt. Hắn
ta thật tình tin rằng Cộng sản là ác và giáo hội Ca Tô là duy nhất. Hắn
đã được hồng y Spellman và giáo hoàng Pius XII trồng và cái ghế tổng thống.
Hắn đã biến cải ngôi vị tổng thống thành một nhà độc tài Ca Tô,
tàn nhẫn nghiền nát những đối lập chính trị và tôn giáo. Nhiều nhà sư
Phật giáo tự thiêu để phản đối những sự bạo hành tôn giáo của hắn.
Sự bạo hành kỳ thị đối với người phi-CaTô, đặc biệt là các Phật
tử, đã gây nên sự rối loạn trong chính phủ và trong quân đội thì
quân nhân đào ngũ hàng loạt. Điều này đưa đến sự can thiệp quân sự
của Mỹ. Trong chính sách khủng bố này hắn được sự phụ
giúp của hai người anh em Ca Tô, người đứng đầu mật vụ (Ngô đình
Nhu) và tổng giám mục ở Huế (Ngô đình Thục). Người ta ghi nhận rằng, và những con số sau đây
tuy không được chính quyền chính thức khẳng định nhưng có thể coi là
đáng tin cậy, là trong thời gian kinh hoàng từ 1955 đến 1960 – ít nhất
là có 24000 người bị thương, 80000 bị hành quyết hay bị ám sát, 275000
người bị cầm tù, thẩm vấn hoặc với tra tấn hoặc không, và khoảng
500000 bị đưa đi các trại tập trung. Đây chỉ là những con số ước tính
bảo thủ, khiêm nhường. Đặt quyền lợi quốc gia ra đàng sau để đẩy mạnh
quyền lợi tôn giáo của hắn, kết quả là tên độc tài Diệm đã đưa
đất nước xuống vực thẳm.” (President Ngo Dinh Diem of South Vietnam was a practicing
Catholic who ruled South Vietnam with an iron fist. He was a genuine believer in the evil
of Communism and the uniqueness of the Catholic Church. He had originally been
"planted" into the presidency by Cardinal Spellman and Pope Pius XII. He
transformed the presidency into a virtual Catholic dictatorship, ruthlessly crushing his
religious and political opponents. Buddhist monks committed suicida by fire, burning
themselves alive in protest against his religious persecutions. His discriminatory
persecution of non-Catholics, PARTICULARLY BUDDHISTS, caused the disruption of the
government and mass desertions in the army. This eventually led to US intervention in
South Vietnam. In this terrorization he was aided by his two Catholic
brothers, the Chief of the Secret Police and the Archbishop of Hue. ...It has been reckoned, and the figures although lacking
any official confirmation are considered to be concretly reliable, that during this period
of terror - that is from 1955 to 1960 - at least 24,000 were wounded, 80,000 people were
executed or otherwise murdered, 275,000 had been detained, interrogated with or without
torture, and about 500,000 were sent to concentration or detention camps. This is a
conservative estimate. ...With the result that by relegating the interest of his
country to the background, so as to further the interests of his religion, dictator Diem
finally brought his land into the abyss.) 15. "Nobody Wanted War" by Ralph K. White,
A Doubleday Anchor Book, New York 1970, p. 91: “Diệm, người em dở điên và vợ hắn (Nhu và vợ),
đã làm cho mọi nhóm quan trọng trong nước, kể cả nhóm chống Cộng thực
tế nhất, nhóm này đã thấy rõ gia đình Diệm đã hạ thấp và làm yếu
đi cuộc tranh đấu chống Cộng, và sau cùng cả những sĩ quan cao cấp
trong quân đội, những người mà mọi tên độc tài không được lòng người
phải trông cậy vào họ để sống còn, xa lìa. Theo Malcolm Browne, chế độ Diệm đã bị cả nước
oán ghét. Nếu nhà Ngô còn cầm quyền cho đến ngày nay (1965) thì chắc chắn
là Việt Nam sẽ hoàn toàn là Cộng sản.” [Bọn Ca Tô hoài Ngô ngày nay vẫn
còn đưa ra luận điệu “Còn cụ thì không mất nước”] (Diem, his half-mad brother Nhu and his brother's wife had
alineated one by one every important group in the country, including most of the realistic
anti-Communists who saw how the Ngo family was debassing and weakening the anti-Communist
struggle, and at last including the upper echelon of the armed forces, on which every
unpopular dictator must rely for survival. According to Malcolm Browne, there was a "sweeping
hatred" of the regime throughout the country. If the Ngo family had remained in
charge there is little doubt that Vietnam would be entirely Communist today. (1965).) "The Political Economy of Human Rights. Vol
I" by Noam Chomsky and Edward S. Herman, Black Rose Books, Canada 1979, pp. 30,
302-303: “Joseph Buttinger, một cố vấn của Diệm lúc đầu
và là người đã bày tỏ sự ủng hộ Diệm nồng nhiệt nhất trong thập
niên 1950, khẳng định là gọi Diệm là phát xít thì không thích hợp vì,
tuy chế độ Diệm có tất cả những sự xấu xa của chế độ phát xít,
Diệm thiếu cơ sở quần chúng mà Hitler và Mussolini đã có thể tập hợp
được. ...Theo Jeffrey Race, một cựu cố vấn quân sự Mỹ
cho Nam Việt Nam có rất nhiều tài liện về lịch sử Việt Nam cận đại,
chính quyền Diệm đã khủng bố người dân nhiều hơn là phong trào cách mạng
nhiều – thí dụ, thủ tiêu các cựu kháng chiến quân Việt Minh, bắn
pháo binh vào những “làng cộng sản” và bắt bớ những người “có
thiện cảm với cộng sản”. Cũng chính vì những chiến thuật đó mà lực
lượng của phong trào cách mạng càng ngày càng gia tằng ở Long An từ 1960
đến 1963. ..Sử gia của Ngũ Giác Đài viết về “bệnh gần
như hoang tưởng của Diệm lo lắng về vấn đề an ninh,” đưa đến những
chính sách “khủng bố toàn diện nông dân Việt Nam, và làm suy giảm trầm
trọng sự ủng hộ chế độ của quần chúng.” Sự dùng bạo lực quá mức và trả thù những người
cựu kháng chiến của Diệm là sự vi phạm trắng trợn Hiệp Định Genève
(Khoản 14c), cũng như là sự từ chối không thi hành điều khoản tổng tuyển
cử trên toàn quốc (vào tháng 7, 1956) của Diệm. Lý do chính mà Diệm từ
chối không thi hành điều khoản này vào những năm 1955-56 (tổ chức và tổng
tuyển cử trên toàn quốc) thật là hiển nhiên: viên quan lại ly hương nhập
cảng từ Mỹ vào chỉ có một sự ủng hộ tối thiểu của quần chúng
và ít có hi vọng thắng trong một cuộc tổng tuyển cử...Diệm là mẫu người
điển hình của một tên bạo chúa phát xít, dùng khủng bố để bù đắp
cho sự thiếu hụt sự ủng hộ của quần chúng..” (Joseph Buttinger, an early advisor to Diem and one of his
most outspoken advocates in the 1950s, contends that the designation "fascist"
is innapropriate for Diem because, although his regime had most of the vicious
characteristics of fascisme, he lacked the mass base that a Hitler or Mussolini could
muster. ...According to Jeffrey Race, a former US Army advisor in
South Vietnam who had access to extensive documentation on recent Vietnamese history,
..the government terrorized far more than did the revolutionary movement - for example, by
liquidations of former Vietminh, by artillery and ground attacks on "communist
villages" and by roundups of "communist sympathizers". Yet it was just
these tactics that led to the constantly increasing strength of the revolutionary movement
in Long An from 1960 to 1963. ...The Pentagon historian refers to "Diem's nearly
paranoid preoccupation with security," which led to policies that "thoroughly
terrified the Vietnames peasants, and detracted significantly from the regime's
popularity." ...Diem's extensive use of violence and reprisals against
former Resistance fighters was in direct violation of the Geneva Accords (Article 14c), as
was his refusal to abide by the election proviso. The main reason for Diem's refuse to
abide by this mode of settlement in 1955-56 was quite evident: the expatriate mandarin
imported from the US had minimal popular support and little hope for winning in a free
election...Diem was a typical subfascist tyrant, compensating for lack of indigenous
support with extra doses of terror..) 17. "The American Pope" by John Cooney, A
Dell Book, New York 1984, pp. 309-312: “Lập trường của (hồng y) Spellman về Việt Nam
phù hợp với những mong ước của giáo hoàng. Malachi Martin, một cựu tu sĩ
dòng tên phục vụ tại Vatican trong những năm Mỹ leo thang chiến tranh ở
Việt Nam, nói rằng giáo hoàng muốn Mỹ ủng hộ Diệm vì giáo hoàng đã bị
người anh của Diệm, Tổng giám mục Thục, ảnh hưởng. “Giáo hoàng quan
tâm đến sự càng ngày càng thắng lợi của Cộng sản do đó làm suy yếu
giáo hội,” Malachi xác nhận rằng: “Giáo hoàng ra lệnh cho Spellman khuyến
khích Mỹ tham chiến ở Việt Nam.” Do đó Spellman xếp đặt một chiến dịch kỹ càng
để dựng lên chế độ Diệm. Qua báo chí và vận động trong hậu trường
ở Washington, vấn đề đối đầu chống Cộng ở Đông Dương được phổ
biến rộng rãi ở Mỹ. Spellman và Kennedy cũng còn giúp lập lên một nhóm vận
động hậu trường Washington. Chủ trương của sự đồng minh này là chống
Cộng và phát huy ý hệ Ca Tô. ..Do đó, rất nhiều người Mỹ tin rằng Việt Nam là
một quốc gia phần lớn là Ca Tô. Một phần của cái ấn tượng sai lầm
này là kết quả của việc Diệm lên cầm quyền. Với sự giúp đỡ của
CIA tổ chức cuộc bầu cử gian lận năm 1955, Diệm hủy bỏ chế độ quân
chủ và Bảo Đại bị cưỡng bức phải sống trong cảnh lưu đầy. Cái
màu sắc Ca Tô đậm đà trong cuộc vận động hậu trường Việt Nam cũng
góp phần tạo nên quan niệm sai lầm trên. Còn một yếu tố khác là sự
đặt mình vào trong đường lối trên của Spellman. ...Sự tuyên truyền của Spellman về bản chất Ca
Tô của chính quyền Diệm đã làm rõ rệt thêm hình ảnh không đẹp về vị
thế của giáo hội ở Việt Nam. Cái bản chất tôn giáo của chính quyền
Diệm và những vấn đề chính quyền đó tạo ra đã được ghi nhận bởi
Graham Greene, một tín đồ Ca Tô, trong một bài viết từ Saigon, in trong tờ
London Sunday Times ngày 24 tháng 4, 1955: “Một cuộc viếng thăm không thích hợp của Hồng
y Spellman đã được tiếp nối bởi những cuộc viếng thăm của Hồng y
Gillroy và Tổng Giám mục ở Canberra. Những số tiền lớn lao đã được dùng
để tổ chức những cuộc biểu tình đón tiếp những vị khách này, đưa
ra một ấn tượng là giáo hội Ca Tô là của Tây phương và là đồng minh
của Mỹ trong cuộc chiến tranh lạnh. ...Nam Việt Nam, thay vì đối đầu với chế độ toàn
trị của miền Bắc bằng những bằng chứng về tự do, lại rơi vào một
chế độ độc tài bất hiệu lực: dẹp bỏ báo chí, kiểm duyệt chặt chẽ,
lưu đầy bằng lệnh của chính quyền thay vì phải được xét xử ở tòa
án. Thật là bất hạnh khi một chính quyền như vậy lại đồng nhất hóa
với một đức tin. Ông Diệm rất có thể đã để lại trên đất nước
có tinh thần khoan nhượng này một gia tài chống-CaTô.” (Spellman's Vietnam stance was in accordance with the wishes
of the Pope. Malachi Martin, a former Jesuit who worked at the Vatican during the years of
the escalating US committment to VN, said the Pope wanted the US to back Diem because the
Pope had been influenced by Diem's brother, Archbishop Thuc. "The Pope was concerned about Communism making more
gains at the expense of the Church," Martin averred. "He turned to Spellman to
encourage American committment to Vietnam." Thus Spellman embarked on a carefully orchestrated campaign
to pop up the Diem regime. Through the press and a Washington lobby, the problem of
confronting anti-Communism in Indochina became widely known in America. Spellman and Kennedy also helped form a pro-Diem lobby in
Washington. The rallying cries were anti_Communism and Catholicism. ...To a large extent, many Americans came to believe that
Vietnam was a preponderantly Catholic Nation. This misimpression resulted partly from
Diem's emergence as ruler. With the help of CIA-rigged election in 1955, Diem abolished
the monarchy and Bao Dai was forced to live in exile. The heavily Catholic hue to the
Vietnam lobby also accounted for much of the widespread belief. Still another factor was
Spellman's identification with the cause. ...Spellman's propagandizing of the Catholic nature of
Diem's regime reinforced a negative image of the Church's position in Vietnam. The
sectarian nature of Diem's government and the problems of that government were noted by
the writer Graham Greene, himself a Catholic, in a dispatch from Saigon printed in the
London Sunday Times on April 24, 1955: An unfortunate visit by Cardinal Spellman has been followed
by those of Cardinal Gillroy and the Archbishop of Canberra. Great sums are spent on
organizing demonstrations for the visitors, and an impression is given that the Catholic
Church is occidental and an ally of the US in the cold war. ...The South, instead of confronting the totalitarian North
with the evidence of freedom, has slipped into an inefficient dictatorship: newspapers
suppressed, strict censorship, men exiled by administrative order and not by judgement of
the courts. It is unfortunate that a government of this kind should be identified with one
faith. Mr. Diem may well leave his tolerant country a legacy of anti-Catholicism.) 18. “The Final Superstition” by Joseph L.
Daleiden, Prometheus Books, New York, 1994, p. 62): "Spelllman là người chủ chốt của giáo hoàng
làm cho Mỹ tham chiến sâu đậm ở Việt Nam. Theo một bức thư chính thức
của Vatican, giáo hoàng "dùng Spellman để khuyến khích Mỹ tham chiến
ở Việt Nam." Mọi viện trợ nhân đạo cho miền Nam đều đi qua
các cơ sở của giáo hội Ca Tô và chỉ có những người Ca Tô là được
Diệm bổ nhiệm vào trong chính phủ. Tuy rằng những chính sách như vậy
đưa đến việc cải đạo hàng loạt, số tín đồ Ca Tô chỉ chiếm vào
khoảng từ 12 tới 13 phần trăm của dân số miền Nam. Không lạ lùng gì
mà khối đa số Phật Giáo bất bình đưa đến việc công khai chống đối
chính sách của Diệm. Tình trạng ngày càng suy kém, Diệm đã dùng đến biện
pháp bắt giữ hàng loạt, đàn áp Phật tử, đóng cửa chùa chiền và tu
viện. Qua kinh nghiệm quá khứ, Giáo hội chắc hẳn đã biết rằng sự đàn
áp chỉ làm cho lý tưởng mạnh hơn. Trước sự quan sát kinh hoàng của thế
giới, giới Phật tử đã phải dùng tới hành động chống đối tiêu cực
rốt ráo và nhiều tăng sĩ đã tự thiêu. Trong những khoảng thời gian đáng
sợ đó, tôi, một tín đồ CaTô, không nhớ có một lời chỉ trích chính
sách của Diệm từ một linh mục hay giám mục CaTô nào. Tuy nhiên, sự việc
đã lên quá mức đối với Tổng Thống John Kennedy, ông ta thôi không ủng
hộ Diệm nữa. Ít lâu sau đó Diệm bị hành quyết trong một cuộc lật đổ
chính quyền. Qua cái diễn tiến kinh khủng này vai trò của giáo hội đã
theo đúng cái tiến trình lịch sử nhơ nhớp của giáo hội." (Spellman was the papal point man to lead America into
deeper involvement in Vietnam. According to a Vatican official letter, the pope
"turned to Spellman to encourage American commitment to Vietnam." All US relief to the South was funneled through the Catholic
Church's agencies and only Catholics were appointed to government positions by Diem.
Although these policies resulted in a wave of conversions, Catholics still made up only
about 12 to 13 percent of the South Vietnamese population. Not surprisingly, the
resentment among the Buddhist majority soon resulted in their open resistance to Diem's
policies. As the situation deteriorated, Diem resorted to mass arrests and suppression of
the Buddhists, closing shrines and monateries. As the Church should have known from its
own early experience, persecution can only strengthen a cause. As a horrified world
watched, the Buddhists resorted to the ultimate act of passive resistance and several
monks set themselves ablaze. During these terrible times, when I, too, was a Catholic, I
don't recall one word of criticism of Diem's policies from a Catholic priest or bishop.
However, it finally became too much for President John Kennedy, who withdrew US support
for Diem. Diem was soon executed in a coup. Throughout this dreadful ordeal the role of
the Church followed true to the course of its sordid history.) 19. "America's Longest War" by George C.
Herring, John Wiley & Sons, New York 1979, pp. 62-65: “Để làm vui lòng các cố vấn Mỹ, thỉnh thoảng
Diệm cũng nói trên đầu môi chót lưỡi về dân chủ, nhưng trong thực hành
hắn nắm lấy những quyền lực tuyệt đối. Đích thân hắn ngự trị
ngành hành pháp của chính phủ, dành cho hắn và anh em hắn mà hắn đã
đưa ba người vào nắm ba chức trong nội các có sáu bộ, mọi quyền quyết
định. Sự tấn công dữ dội của Diệm vào những đối lập
chính trị đã gây nên sự bất mãn trong các thành phố cũng như ở thôn
quê. Báo chí chỉ trích chính phủ bị đóng cửa ngay.. Dùng quyền hành
trong các sắc lệnh của tổng thống, chính quyền Diệm đã lùa vào những
“ trại cải huấn” nhiều ngàn người Việt Nam, cộng sản cũng như không
cộng sản, những người bị coi như là đe dọa cho trật tự công cộng.
Chương trình cải huấn lúc đầu nhắm vào các thành phần kháng chiến Việt
Minh ở lại miền Nam, nhưng rồi với thời gian chương trình này được
áp dụng cho bất cứ ai dám chống đối chính quyền. ...”Chính quyền có khuynh hướng cai trị dân với
lòng nghi ngờ và cưỡng bức”, một phúc trình tình báo của Mỹ kết luận
năm 1960, và “đã được đáp ứng bởi thái độ bất thiện cảm và bất
mãn của người dân”. (To please his American advisors, Diem occasionally paid
lip-service to democracy, but in actual practice he assumed absolute powers. He personally
dominated the executive branch of government, reserving to himself and his brothers, three
of whom were appointed to a cabinet of six, all power of decision-making. ...Diem's vigorous assault against political opponents
spawned rising discontent in the cities as well as the countryside. Newspapers which
criticized the government were promptly shut down...Using authority handed down in various
presidential ordinances, the government herded into "reeducation centers"
thousands of Vietnamese, Communists and non-Communists alike, who were alleged to be
threats to public order. The reeducation program was originally aimed at the Viet Minh
"stay-behinds," but in time it was extended to anyone who dared speak out
against the government. ...The government "has tended to threat the population
with suspicion or coerce it," an American intelligence report concluded in 1960,
"and has been rewarded with an attitude of apathy or resentment.”) 20. "Unwinding the Vietnam War: From War Into Peace"
by Reese Williams, The Real Comet Press, Seattle 1987, p. 431: Sau khi Pháp bị đánh bại và có vẻ như nền độc
lập (của Việt Nam) sẽ tới, theo hiệp định Genève. Nhưng thay vào đó Mỹ
đã nhảy vào, quyết định là Hồ (Chí Minh) không được thống nhất đất
nước đang tạm thời chia cắt, và những nông dân lại cảnh giác khi
chúng ta ủng hộ một trong những tên độc tài đồi bại nhất của thời
hiện đại – Thủ tướng Diệm, người chúng ta chọn. Người nông dân cảnh
giác và co rúm người lại khi Diệm tàn nhẫn dẹp mọi đối lập, hỗ trợ
những tên địa chủ bóc lột họ, và từ chối thảo luận với Bắc Việt
về sự thống nhất của đất nước (After the French were defeated it looked as if independence
would come again through the Geneva Agreements. But instead there came the US, determined
that Ho should not unify the temporarily divided nation, and the peasants watched again as
we supported one of the most vicious modern dictators - our chosen man, Premier Diem. The
peasants watched and cringed as Diem ruthlessly routed out all opposition, supported their
extortionist lanlords, and refused even to discuss reunification with the North.) (From an address delivered by Dr. Martin Luther King in New
York City on April 4, 1967). Trên đây chỉ là 20 lời phê phán điển hình về
chế độ Ngô Đình Diệm của một số trí thức ngoại quốc: ký giả,
chính trị gia, giáo sư đại học, nhà quân sự, trong số hàng trăm lời phê
phán tương tự khác. Chúng ta cũng nên để ý là hơn phân nửa số tài liệu
trích dẫn ở trên được viết sau năm 1975. Nếu độc giả muốn đọc những
lời phê phán của người Việt, xin tìm đọc cuốn Việt Nam Máu Lửa
Quê Hương Tôi của cố Thiếu Tướng Đỗ Mậu, trong đó ở phần cuối
có 100 lời phê phán của các nhân sĩ, chính trị gia, tướng lãnh, giáo sư
đại học, nhà báo v..v.. về Ngô Đình Diệm và chế độ Đệ Nhất Việt
Nam Cộng Hòa. Cho tới ngày nay, cuốn hồi ký chính trị này, với rất nhiều
chi tiết lịch sử, vẫn là cuốn sách có giá trị nhất trong những cuốn
viết về chế độ Ngô Đình Diệm và những diễn biến chính trị trong thời
Đệ Nhất Cộng Hòa.. Từ 20 lời phê phán của các tác giả ngoại quốc
trên, chúng ta có thể rút tỉa ra được những gì? Sau đây là vài điểm
chính. 1) Ngô Đình Diệm là người vô tài, vô đức, nhu
nhược, được Hồng Y Spellman, với sự phụ giúp của ngoại trưởng John
Foster Dulles cùng một vài chính khách Công giáo Mỹ khác, theo lệnh của
Vatican, vận động với Mỹ đưa Diệm về cầm quyền ở Nam Việt Nam vì
Diệm là người Công giáo, nên đương nhiên có thể tin cậy để chống Cộng
chết bỏ. Ngoài ra Vatican cũng còn góp phần vận động, thuyết phục Mỹ
tham chiến ở Việt Nam. Cái tội này của Vatican đối với Việt Nam sẽ
được ghi vào sử sách. 2) Chế độ Ngô Đình Diệm là một chế độ bạo
ngược, chuyên chế, không có sự hậu thuẫn của quần chúng. Đó là một
chế độ mà hầu hết những người nắm quyền hành chánh, quân sự là những
gia nô vô liêm sỉ. 3) Chính cái chất Công Giáo cuồng tín, tổng hợp của
ngu dốt, kiêu căng, huênh hoang, hợm hĩnh của Diệm đã làm hại Diệm.
Sách lược Công giáo hóa miền Nam bằng thủ đoạn tiêu diệt các giáo
phái khác của Diệm trong một nước mà Công giáo chỉ chiếm có 7% là một
sách lược ngu xuẩn, đi ngược lại tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên của
dân tộc, đã đưa đến sự oán ghét của tuyệt đại đa số người dân
Việt Nam. Sách lược này đã ghi thêm một chương ô nhục vào lịch sử
giáo hội Công giáo Việt Nam, một giáo hội vốn đã nổi tiếng là: “Hễ
phi dân tộc thì thể nào cũng phản bội dân tộc.” Kết Luận:
Trước sách lược “Công giáo hóa miền Nam” ngu xuẩn, bạo tàn, hại
dân, hại nước của chính quyền Ngô Đình Diệm, tay sai của Vatican và Mỹ,
Phật Giáo Việt Nam không còn có thể chọn lựa con đường nào khác ngoài
con đường tranh đấu, không riêng gì cho Phật Giáo mà còn cho cả dân tộc.
Những bằng chứng tràn ngập về tính cách bạo tàn, kỳ thị tôn giáo của
chính quyền Ngô Đình Diệm, đã chứng minh một cách hùng hồn là cuộc
tranh đấu của Phật Giáo cách đây 40 năm ở miền Nam Việt Nam là có
chính nghĩa, hợp với lòng dân. Thật vậy, tuy Phật Giáo phát động phong trào chống
chế độ Ngô Đình Diệm nhưng lòng dân oán ghét chế độ bạo tàn phi
dân chủ này đã âm ỉ từ lâu. Chúng ta không nên quên là ông Diệm đã bị
ám sát hụt tại Ban Mê Thuột ngay từ năm 1957, ngày 21 tháng 5. Rồi đến
cuộc đảo chánh thất bại của lực lượng nhảy dù ngày 11 tháng 11,
1960, vụ dội bom dinh độc lập của 2 sĩ quan VNCH ngày 27 tháng 2, 1962. Và
sự kiện là, trong cuộc tranh đấu Phật Giáo 1963, không phải chỉ có Phật
tử mới tham gia tranh đấu mà gồm đủ mọi thành phần dân tộc, từ các
em học sinh trung học đến các sinh viên đại học, các giới sĩ, nông,
công, thương, kể cả những người Công giáo tiến bộ gồm một số linh
mục và tín đồ Công giáo. Phật Giáo là tôn giáo hòa bình. Những bậc tôn đức
trong cuộc tranh đấu Phật Giáo 1963 không chủ trương lật đổ chính quyền
Ngô Đình Diệm bằng bạo động. Nhưng không ai có thể phủ nhận là cuộc
tranh đấu này đã góp phần lớn lao đưa đến sự cáo chung của chế độ
Công giáo trị, gia đình trị Ngô Đình Diệm vào ngày 1 tháng 11, 1963. Ý thức
được lòng dân, chính quân đội Việt Nam, chỉ huy bởi nhiều tướng lãnh,
trước đã theo và ủng hộ ông Diệm, đã đứng lên làm tròn sứ mạng dẹp
bỏ một chế độ Công giáo độc tài, phi dân tộc, phi tổ quốc. Như đã
từng nhiều lần có công với dân tộc trong nhiệm vụ bảo vệ, giữ nước,
cuộc tranh đấu 1963 của Phật Giáo ở miền Nam cũng đã góp được nhiều
công to lớn cho dân tộc. Ngoài việc đưa đến sự chấm dứt một chế độ
ác ôn đã mất đi lòng dân, chính yếu là cuộc tranh đấu của Phật Giáo
đã thành công trong việc bảo vệ được nền văn hóa truyền thống và
tôn giáo dân tộc, tôn giáo dân tộc ở đây phải được hiểu theo nghĩa
tôn giáo của tuyệt đại đa số người dân trong nước, thí dụ như Ki Tô
Giáo ở Mỹ, ngăn chận được hiểm họa của Ca Tô Giáo trong toan tính
đưa toàn dân Việt Nam xuống hàng súc vật (con chiên), cúi đầu tuân phục
một định chế có thủ phủ đặt tại Vatican mà lịch sử đen tối ô nhục
của nó đã không còn là một vấn đề xa lạ đối với thế giới ngày
nay. Chỉ đáng tiếc là, sau cuộc chính biến ngày 1
tháng 11, 1963, thay vì quay về xây dựng nội bộ, đào tạo tăng, ni tài đức,
tổ chức gia đình Phật tử theo tinh thần Phật Giáo, một số các vị
lãnh đạo Phật Giáo đã đi ngược lại tinh thần Phật Giáo. Thay vì theo
đường lối của các bậc tôn đức Phật Giáo khi xưa: “Tham gia chính sự
nhưng không tham gia chính quyền” thì các vị này lại đi nghe mấy tên đầu
cơ chính trị nhân danh Phật Giáo, đi vào con đường “Tham gia chính quyền
mà không biết gì về chính sự”. Kết quả là đi đến chia rẽ, phân
hóa nội bộ, làm suy yếu Phật Giáo. Mong rằng cái kinh nghiệm đắt giá
này sẽ là một bài học cho Phật Giáo Việt Nam trong việc hoạch định
đường hướng tương lai theo đúng tinh thần Phật giáo: buông bỏ chấp
ngã, chấp danh, chấp tướng, thực hiện đoàn kết, và ý thức được sức
mạnh của Phật Giáo là sức mạnh tinh thần, sức mạnh đạo đức của các
bậc tu hành, sức mạnh của chuyển hóa v..v.. chứ không phải là sức mạnh
của danh, lợi, địa vị, quyền lực, của cải thế gian v..v... |