1104-logo.gif (2163 bytes)
posted: 1.11.2004

Tú Gàn (Lữ Giang) Với Tôn Thất Thiện Nhân Ngày “Giỗ Cụ”

Thường Đức (usa)

I. Nguyên nhân đưa đẩy tôi chú ý tới bài viết của Ô. Tôn Thất Thiện

1.Vấn đề đạo đức trong thời đại thông tin

      Trong Chương 19 (Thập Cửu Chương) của “Đạo Đức Kinh”, chữ “Văn” của Lão Tử bàn đến trong câu : “...Thử tam dã dĩ văn bất túc, cố linh hữu sở chúc...” có hai nghĩa : một, là điều hiện ra rõ ràng của Đạo như thi, thư, lễ, nhạc, chế độ (tương tự như “Văn” trong sách Học-nhi (Luận ngữ) của Khổng Tử); nghĩa thứ hai là vẻ trang sức bên ngoải, đối lại với “Chất” là cái sâu xa, tinh túy ở bên trong. Cho nên, theo Lão Tử ba thứ Tài-Đức-Dụng (thử tam dã) chỉ là “văn vẻ” (hay nói theo thời đại bây giờ là văn chương, chữ nghĩa) không phải là tinh chất của Đạo, chỉ hiện ra bên ngoài không bao giờ đầy đủ. Muốn đạt được Đạo, chữ nghĩa không đáng để coi làm trọng, mà nên giữ cho tâm hồn “trắng tinh, chay lòng”. Hiểu một cách nôm na, nếu lỡ phải đọc những bài viết chướng tai gai mắt của một tác giả nào đó xuyên tạc, bấp chấp sự thật nhằm hướng dẫn, lèo lái đầu óc một thiểu số hay đa số người ít hiểu biết, thấp trí khác thì cũng nên vì Đạo mà “vô vi”, chỉ nên vuốt cằm cười thầm thôi !.

      Hiểu được Đạo như vậy là đã vượt lên trên con người đời thường. Thời đại của thông tin điện tử toàn cầu ngày nay, hiểu được Đạo của Lão Trang là một việc, áp dụng vào thực tế được hay không là chuyện khác.

      Yếu tố xương sống của thông tin là “dữ kiện” (data), và khi con người nắm được nguồn dữ kiện thì không thể không so sánh, gạn lọc, phân tích, tổng hợp để đi tới một ý niệm sau cùng là kết luận. Thí dụ: giả sử một người Việt nào đó hiện đang ở mũi Cà Mau hay ở vùng Cao Bằng, Lạng Sơn có phương tiện một cái máy computer có gắn internet, người đó muốn dùng phương tiện tìm kiếm (chẳng hạn search engine của Googles, Alta Vista, hay Yahoo ...) đánh vào mấy chữ ‘tu gan’ để tìm kiếm thông tin về ông Tú Gàn -là tác giả chúng tôi sẽ đề cập trong bài viết này, họ sẽ nhận được kết quả: hàng trăm đến hàng chục ngàn đường nối kết liên hệ với hai chữ đó, nếu Tú Gàn thật sự mượn internet làm phương tiện để tuyên truyền.

      Đúng ra, máy điện toán chẳng cần hiểu ‘tu gan’ là "thằng cha" nào, nhưng bởi mấy chữ cái la-tinh này nó biểu thị cho một nhóm con số nhị phân (binary digits) trong cấu trúc mỗi chữ cái bằng hệ thống ‘thập lục phân’ (hexadecimal) của t, u, g, a, n .v.v... Và người viết thảo chương tìm kiếm (search programs) áp dụng các phương pháp hoán đảo theo nguyên tắc đại số Boolean (Boolean Algebra), thằng cha “tu gan” chạy trời không khỏi nắng sẽ xuất đầu lộ diện trước bàng dân thiên hạ. Thông thường, kết quả tìm kiếm (search output) sẽ cho ra hàng trăm hoặc hàng chục ngàn đường nối kết liên hệ. Nếu chúng ta cho thêm một vài chữ cái khác bổ túc cho hai chữ “tu gan”, thí dụ như “tu gan lu giang” chẳng hạn, dữ kiện sẽ cho ‘ouput’ nhiều gấp bội.

      “Đạo” trong trường hợp này không thể nào “vô vi” trước dữ kiện. Với kinh nghiệm riêng trong việc sử dụng ‘search engine’ của tôi, tình cờ tôi đọc được vô số ý kiến của các tác giả bốn phương về nó. Thí dụ: “Tú Gàn là một thằng già lưng gù nên được dân hài ngoại đặt tên là Tú-Gàn-Quasimodo; một thằng trông tướng hèn, ốm yếu ho hen, đeo kính cận nặng maximum độ; một tên già dịch vì hắn thích nhìn trộm phụ nữ đáng tuổi con cháu có thân hình mông vú đẫy đà .v.v...” 

      Độc đáo hơn nữa, trong cái website gì đó của ông Nguyễn Bỉnh Bân ở vùng nam California, còn để nguyên một đường link bài phát thanh lời nhận tội của Tú Gàn  với giọng Quảng Bình pha Bắc, (án lệnh của tòa) bắt phải đọc trên đài VOV lời xin lỗi trước công luận về tội danh viết lách phỉ báng, mạ lị cá nhân sai sự thật. Như vậy, Tú Gàn là một người bằng xương bằng thịt, có thể dân chúng ở các vùng hẻo lánh nói trên chẳng ai biết Tú Gàn là cha căng chú kiết nào, nhưng ở hải ngoại, đặc biệt ở tiểu bang California, y là một nhân vật nổi tiếng. Y nổi tiếng vì bị cáo buộc là một “tên viết lách tay sai của Cộng sản Hà Nội” theo nhóm Đài phát thanh Quê Hương và Kiêm Ái (bút hiệu của nhà văn Nguyễn Thiếu Nhẫn ở San Jose).  Y là một tên thù ghét “Phật giáo Trung kỳ” (cụm từ do Tú Gàn thường xử dụng) vì trong quá khứ PG đã tranh đấu chống độc tài, kỳ thị tôn giáo đưa tới sự sụp đổ chế độ Đệ nhất Cộng hòa và cái chết của “cụ Diệm”.  Y là một tên đặc-công-văn-hóa, tín đồ ‘Công giáo La mã’ ưa chống Cộng bằng “văn vẻ”, nhưng lại chống thật những tổ chức chống Cộng ở hải ngoại. Bằng chứng: y gọi những phần tử chống cộng ở hải ngoại là “một phường bát nháo”, chẳng làm nên cơm cháo gì; gọi một “lãnh tụ” của ‘Chính phủ Việt Nam Tự do’ của Nguyễn Hữu Chánh là “chú Phỉnh”; biếm ngôn người cố vấn chính trị tối cao của “chú Phỉnh” - ông Ngô Trọng Anh (NTA) là “già mà không nên nết” .v.v.. (Thật ra Tú Gàn cho NTA không “nên nết” cũng chỉ vì NTA không can đảm công khai bênh “cụ Diệm” như Lâm Lễ Trinh đã bênh đấy thôi). 

      Đặc biệt, có những tổ chức, cá nhân mà Tú Gàn không ưa và từng bị Tú Gàn chơi xỏ hay lăng mạ bằng chữ nghĩa, nhưng nay đã “trở về” bênh “cụ Ngô” như Mặt Trận Hoàng Cơ Minh (MT/HCM --nay người thừa kế là Hoàng Cơ Định đã xóa sổ MT để lập nên đảng mới gọi là Việt Tân). Từ khi MT/HCM này cho Ngô Đình Diệm nằm trong danh sách của cuốn “Anh hùng nước tôi”, Tú Gàn không dám đụng tới nữa, dù y chẳng ưa gì những bản mặt lừa bịp, sát khí đằng đằng của nhóm này . Biết Bùi Tín là tên Việt gian, nhưng từ khi Bùi Tín công khai tuyên bố “so về tinh thần dân tộc thì Ngô Đình Diệm hơn hẳn Hồ Chí Minh”, thì Tú Gàn sinh lòng yêu mến. Đối với những nhà nghiên cứu sử chân chính và chuyên nghiệp như Chính Đạo, Nguyễn Mạnh Quang, .v.v.. vì họ dám lột trần bộ mặt thật của chế độ Diệm-Nhu là ‘Tam đại Việt gian’, Tú Gàn đã vu cáo là những “sử gia Phật giáo viết láo”. Cần kể thêm một trường hợp đặc biệt: từ lúc “sử gia” Hoàng Cơ Thụy (anh ruột của Hoàng Cơ Định) cho xuất bản bộ ‘trường thiên” Lịch sử Việt Nam, cũng thuộc trường phái Cụ-Diệm-anh-hùng-nước-tôi, ca ngợi và trích dẫn một vài điều trong vài cuốn sách “rời” của ông Lê Trọng Văn, nên Tú Gàn ‘buông tha’, dù trước đó Tú Gàn rất thù giận ông Lê Trọng Văn đã dám ‘bôi đen’ Vatican. 

      Riêng trường hợp nhóm Thông Luận và “lãnh tụ” Nguyễn Gia Kiểng đã dám bạo mồm phê “cụ Diệm” nào là “không phải là một người yêu nước”, hay “thất nhân tâm vì vụng về, thiển cận” (trong cuốn “Tố quốc Ăn Năn”) thì Tú Gàn giận lắm, nhưng bởi nhóm Thông Luận đã được “bảo hộ” ngầm bởi các nhân vật khá tin cậy của Tú Gàn như Nguyễn Thanh Hiệp (ở Tây), Tôn Thất Thiện (ở Canada) và vài kẻ tin cậy “vừa vừa” ở Mỹ như Lâm Lễ Trinh, Nguyễn Hữu Thống.... cộng thêm một số điếm đóm vòng ngoài như các tác giả Vĩnh Phúc, Hoàng Ngọc Thành-Thân Thị Nhân Đức, Nguyễn Bá Cẩn, Lê Trọng Quát .v.v..., Tú Gàn cũng chấp nhận buông tha, vì hơn ai hết, tận thân tâm Tú Gàn đã biết rõ ‘chú’ Nguyễn Gia Kiểng là ai, đứng ở đâu và ‘chú’ muốn gì!

      Trong hai nhân vật ‘khá tin cậy” nêu trên, Tú Gàn “ăn ý” nhất là nhân vật Tôn Thất Thiện. Đó là nguyên nhân bất cứ bài viết nào của Tôn Thất Thiện về “cụ Diệm và chú Nhu” là Tú Gàn chiếu cố giới thiệu ngay.

      Nhìn vào cuốn lịch thời gian, chỉ còn hơn tuần nữa là đến ngày “giỗ Cụ”, Tú Gàn cho tung ra bài “Người trong cuộc kể chuyện” ở trên báo “Saigon Nhỏ” của mụ Hoàng Dược Thảo (ngày 22.10.2004), giới thiệu bài “Cụ Diệm ở Paris 1953-1954” của Tôn Thất Thiện đã viết và đăng tải cách nay 10 năm, nay được bổ sung kèm với lời mở đầu và lời luận bàn cuối bài rất sôi nỗi.  Vì sao ông Tú Gàn đã “rất ăn ý” với Tôn Thất Thiện trong bài viết này, và vì sao cả hai ông đã vạch áo cho người xem lưng về những điều lố bịch, xuyên tạc lịch sử ở mức ấu trĩ, bất lương trong sự viết lách mà Tú Gàn vẫn cố giới thiệu một cách trịnh trọng trên tờ ‘Saigon Nhỏ’? Trước khi đi vào nội dung của hai chữ “vì sao’ ấy, xin mời độc giả điểm qua vài nét chấm phá về giòng họ “Tôn Thất”.

2. Một câu chuyện thương tâm

      Nói tới dòng họ Tôn Thất, ai cũng biết là nói tới dòng họ của Nhà Nguyễn. Bây giờ ngồi “điểm” lại lịch sử để xem công và tội của họ Nguyễn từ lúc diệt anh em nhà Tây Sơn thống nhất đất nước đến vị vua cuối cùng thì dài dòng lắm, chỉ xin nêu ra một giai thoại “vô hậu” của vị vua mở đầu 9 triều đại Nhà Vua này là Vua Gia Long.  Chuyện kể rằng tháng 6 năm 1783, thủy quân Tây Sơn truy kích Nguyễn Ánh ra tận đảo Phú Quốc, nhưng Nguyễn Ánh chạy thoát ra biển. Quân Tây Sơn đuổi theo hướng Côn Đảo bị một trận bão lớn chận đường tiến quân của họ. Lúc ấy, Nguyễn Ánh cùng 100 gia đình tháp tùng đã chạy thóat ra Côn Đảo, trong số đó có người vợ thứ ba yêu quý nhất của ông là Đặng Thị Phi Yến (có tên tục là Răm) cùng với con trai là Hoàng tử Cải (khác với Hoàng tử Cảnh là con người vợ đầu). Trong thế cùng, Nguyễn Ánh cho người sang cầu viện với Xiêm hoàng (Vua Thái).  Một mặt nhờ Giám mục Bá Đa Lộc về khẩn khoản xin Pháp hoàng Louise XVI trợ giúp. Tên ‘ăn cướp’ áo chùng đen Bá Đa Lộc đòi Ánh phải giao cho Pháp một người con trai làm con tin. Hành vi của Bá Đa Lộc đưa tới sự phản ứng mạnh của bà Phi Yến. Vốn là người có học thức, bà Phi Yến dùng lời lẽ căn ngan Nguyễn Ánh đừng vì chiếc ngai vàng đã mất mà bán nước, bán con; Nguyễn Ánh ngồi nghe, suy ngẫm.  Nhưng khi nghe đến đoạn bà Phi Yến đem chuyện ‘Tây Sơn từ áo vải dấy binh được dân chúng đồng tình...’ Nguyễn Ánh đùng đùng nổi giận, máu ác bùng lên sai quân đem bà Phi Yến ra chém đầu vì cớ “ong nuôi tay áo”.  Nhưng một số cận thần thương tình đem dấu bà vào hang núi. Bất ngờ quân báo có một thuyền lạ xuất hiện, Nguyễn Ánh hoảng sợ cùng quan quân lên thuyền tìm đường trở về Phú Quốc. Trong lúc hoảng hốt, quan quân quên mất bà Phi Yến đang bị giam ở hang núi. Khi thuyền đã rời bến, Hoàng tử Cải khóc ré lên hỏi cha mẹ con đâu. Ánh trả lời mẹ con ở thuyền sau, nhưng khi thuyền đến Gò Công, Hoàng tử Cải càng khóc ré to hơn đòi mẹ, Nguyễn Ánh tức giận giộng một đạp cho đứa con té xuống biển, chết chìm. Vì thế sau này trong dân gian mới có câu ca dao truyền tụng:

“Gió đưa cây Cải về trời
Răm răm ở lại chịu đời đắng cay.” 

(Trong dân gian có dạo họ sửa lại là “Rau Răm ở lại chịu đời đắng cay”)   [i]

      Với câu chuyện thương tâm trên, mới biết bước đường dựng nghiệp “đế” của Nguyễn Ánh đã mang cái nghiệp ‘vô hậu, thất đức, bất nhân, bất nghĩa’.  Thành thử về sau này, kể từ khi Vua Minh Mạng (xin mở ngoặc: Vua Minh Mạng là một vị vua chúng tôi tôn kính vì sự thông minh, đảm lược, có lòng yêu nước; nhất là một vị vua rất quyết tâm đập tan bọn áo chùng đen ‘Công giáo’ La mã hai mặt) đã đặt cho những hậu duệ của 9 đời Chúa cùng họ Nguyễn với vua là Tôn Thất, con gái Tôn Thất đặt là Tôn Nữ.  Tuy vậy, trong dân gian --nhất là dân các vùng Quảng Nam-Quảng Ngãi-Bình Thuận hay gọi ‘xỏ lá’ về cái họ Tôn Thất.  Tùy cái tên họ tự đặt ra, mà Tôn Thất trở thành Tôn Thất... tín (không giữ lời hứa), T.Thất.. đức (không có đức độ), T.Thất.. tình (bị bồ đá), T.Thất.. nghĩa (bất nghĩa), T.Thất.. nhân (không có tình người, gian ác) và vân..vân...  Nhưng trong trường hợp ông Tôn Thất Thiện, chúng tôi không dám có ý ‘xỏ lá’, mà bởi tìm thấy những bằng cớ hiển nhiên về sự ‘bất thiện’ trong bài viết của ông.

      Trước khi bàn về sự “bất thiện” của Tôn Thất Thiện, cũng xin thưa thốt vài lời để đả thông tư tưởng --có phải chăng vì tôi xuất thân từ dân giã, khố rách áo ôm, nên sinh lòng ganh ghét với ‘quý tộc’ Tôn Thất chăng?  Xin thưa, dòng họ Tôn Thất không có nghĩa hoàn toàn là ai cũng có liên hệ huyết thống (cùng ‘genes’) với các vua họ Nguyễn cả đâu. Trường hợp của giòng họ tôi, vì ngày xưa bà Nội tôi may mắn là người có của, ăn uống dư thừa sinh ra dửng mỡ, bà có đến ba bốn đời chồng. Và chồng nào bà Nội tôi cũng lấy vì lý do nguời ta giàu có hoặc chức tước quan lại. Đời chồng thứ hai của bà là một ông quan Đề Lại; chính vì vậy mà ông Bác tôi (cùng mẹ khác cha với ba tôi) cũng được Vua cho lấy họ là Tôn Thất. Sau khi ba tôi mất, tháng 7/1954, hai vợ chồng bác tôi với mấy người con trai khăn gói lên đường tập kết ra Bắc. Giai thoại tập kết cách mạng của gia đình người Bác tôi, sau này họ vào Nam tôi được nghe kể lại. Thời gian ở Bắc, bác tôi đã từng bạt tai một thằng làm đến bí thư tỉnh ủy đến vãi máu, vì hắn ỷ thế quyền, đã tham ô lại còn hiếp đáp dân chúng. Vụ việc này nghe nói phải cần đến ông Phạm Văn Đồng giải quyết mới êm, nhưng sau đó bác tôi lại bị một ‘tai nạn’ ô-tô gây chấn thương sọ não và ông mất trí luôn. (Những ‘tai nạn’ loại chắc hẳn cha con Bùi Tín hay cha con Vũ Thư Hiên rất là rành rẽ!). Ngoài ra, để bảo đảm tính cách mạng, bác tôi đã tự nguyện sửa “họ” cho ông và mấy người con trai từ Tôn Thất thành Nguyễn Phúc. Sau tháng 4/75 họ vào Nam, mấy anh em tôi gặp lại gia đình người bác. Ông bác tôi vào Huế lấy lại được căn nhà thờ họ nho nhỏ, sống trong tình trạng mất trí nhớ một thời gian rồi chết. Một người con trai làm kỹ sư Thủy Lâm, từng được đi du học ở các nước Đông Âu như nhà dân-chủ-tiến-sĩ-địa-vật-lý-máy-bay Nguyễn Thanh Giang, khi về Huế ở một thời gian để hương khói tổ tiên, thì bị tai biến mạch máu não, không đủ tiền chữa chạy, cũng vừa mới chết cách nay vài tháng. Người con đầu là sĩ quan hải quân đóng ở Đà Nẵng, sống bao nhiêu năm trong thanh đạm, rồi cũng xin nghĩ hưu... Nói tóm lại, sự nghiệp đi tập kết làm cách mạng của gia đình Bác tôi chỉ là để bảo vệ căn nhà thờ tổ tiên đã phủ rong rêu bao ngày tháng.

      Kể lại câu chuyện nhỏ trên là để cho Tú Gàn và Tôn Thất Thiện (từ đây sẽ viết tắt là T.Thất Thiện) thấy là tôi chẳng những không có một chút mặc cảm nào về giới quý tộc ‘Tôn Thất’ mà còn có chút “liên đới” nữa. Tuy thế, dòng họ Tôn Thất, không phải ai cũng có tư cách như Tôn Thất Thiện, mà còn có vô số người yêu nước trong lịch sử cận đại Việt Nam. Đơn cử ra đây một vài thí dụ: Tôn Thất Đính là thân phụ của Tôn Thất Thuyết (là một người khảng khái chống Pháp), bị Pháp bắt rồi họ dùng mưu chước đem cha để lung lạc con, nhưng hai cha con không sờn lòng, nên cụ Đính phải chịu tù đày và hy sinh ngoài ngục tù Côn Đảo.  Nhà văn Bửu Đình, giòng dõi vua Minh Mạng nhưng rất chán ghét chế độ mục nát của triều đình Huế lúc đó. Ông đã gọi Bảo Đại là “Thằng vua” và gọi các quan lớn là “thằng hề”. Năm 1926, ông vận động công nhân bưu điện đình công ở Sài Gòn để chống thực dân Pháp, diễn thuyết để hô hào cách mạng với học sinh ở Huế, để rồi bị bắt và đày ra Côn Đảo năm 1927. Ở Côn Đảo, nhà văn Bửu Đình vượt ngục hai lần, lần thứ hai (1930) mới thoát. Có nguời đồn rằng ông đến được Thái Lan, đi tu trong một ngôi chùa nhỏ nào đó.  [ii]  

      Chúng tội tự hỏi, có thể nào ông Tôn Thất Thiện đã ý thức lịch sử về sự “vô hậu” của Nguyễn-Gia-Long, nên đứng ra bênh vực, biện hộ cho kẻ đã xóa sổ triều đại Nhà Nguyễn bằng cuộc Trưng cầu Dân ý tháng 10/1955?  Biện hộ lịch sử, xưa nay là việc tự nhiên, nếu như sự biện hộ ấy đứng trên tinh thần vô tư, công bằng và tôn trọng sự thật lịch sử. Nhưng, sự biện hộ của ông Tôn Thất Thiện cho chế độ Ngô Đình Diệm không có tinh thần đó, lại mang đầy tính “bất thiện” xuyên suốt trong bài viết “Cụ Diệm ở Paris 1953 – 1954” lồng trong bài giới thiệu “Người trong cuộc kể chuyện” của Tú Gàn. Nêu bật lên tính “bất thiện” của tác giả Tôn Thất Thiện là nội dung của bài viết này.

II. NHỮNG ĐIỂM “BẤT THIỆN” TRONG BÀI VIẾT CỦA TÔN THẤT THIỆN

1.Điểm “bất thiện” thứ nhất

      Trong phần “I. Tôi thành “Cận thần của Ông Diệm”, Tôn Thất Thiện ghi lại rằng vào năm lên 11 tuổi, lúc ấy thân phụ ông đang làm Tổng Đốc Thanh Hóa thì được lệnh chuyển về Huế để giữ chứ Thượng Thơ Bộ Công kiêm Bộ Lễ dưới triều Hoàng đế Bảo Đại. Cha ông T.Thất Thiện hưởng lộc vua, điều hiển nhiên của một cậu ấm con quan lớn là phải tuân thủ lễ giáo ‘quân-sư-phụ’.  Giả dụ vua Bảo Đại có xử quan Thượng Thơ “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” vì một cái tội bất trung nào đó, thì cậu ấm con Thượng Thơ phải sập đầu bái lạy ‘ý Vua là ý trời’. Thế nhưng trong tư tưởng của cậu ấm T.Thất Thiện hơi khác thường, cậu không quan tâm tới ‘quân, phụ’ mà chỉ biết tới ‘sư’, vốn là một người hầu của cha cậu –là “Cậu Giáo Thuyên”. Cho đến giờ này ở tuổi răng long tóc bạc, T.Thất Thiện chỉ còn nhớ “kỹ” tới lời giáo huấn của kẻ hầu này thôi. Ông viết : “Nhưng điều mà tôi nhớ kỹ hơn cả là một đêm mùa hè năm 1935 ông đề cập đến “Cụ Ngô Đình Diệm” một cách rất kính cẩn và khâm phục, và nói cho tôi biết ông ấy là ai.”

      Từ lời giáo huấn đầy “kính cẩn và khâm phục” cụ Diệm của ‘Cậu Giáo Thuyên”, cho nên từ đó cho đến hết thời gian học trung học, T.Thất Thiện đã kể lại rành mạch rằng:  “Trong thời gian tôi học Trung học, từ năm 1936 đến năm 1944, tôi không bận trí gì về chính trị vì tôi chỉ lo học, nhưng tên “Ngô Đình Diệm” là tên của nhân vật chính trị đầu tiên, và duy nhất, mà tôi biết đến, ngay cả trước khi tôi nghe nói đến cụ Phan Bội Châu (vào năm 1940).”  Đây là đoạn văn bộc lộ tính thiếu lương thiện cao nhất của cậu ấm T.Thất Thiện. Bởi cái danh lừng lẫy của hai nhà cách mạng Phan Châu Trinh (trước) và Phan Bội Châu (sau đó) cả nước Việt Nam ai mà không biết đến, dù cho trong gia đình có cha làm tay sai cho thực dân chăng nữa. Tháng 11 năm 1925, cụ Phan Bội Châu bị bọn thực dân Pháp bắt và kết án khổ sai chung thân ở Hà Nội. Với cái tin chấn động càn khôn này đã sôi sục lòng căm hờn bọn Pháp nổi lên khắp nơi, trong nước ra ngoài nước một tinh thần cách mạng sôi sục bùng lên. Rất nhiều sách sử Việt đều ghi lại một cách tự nhiên và khách quan rằng – Khắp nơi, ở Paris, Hà Nội, Huế, Sài Gòn, các thanh niên, sinh viên, học sinh, nhà báo v.v... đều đứng dậy đòi xin ân xá, thả tự do cho cụ Phan. Thế mà “cậu ấm” T.Thất Thiện vì quá “lo học” đến nỗi cho tới ngày cụ Phan mất (năm 1940) sau mười mấy năm bị giam lỏng ở Bến Ngự, Huế, “mới được nghe nói đến”.  Đọc đến đây thì xin quý bạn đọc tha lỗi cho nỗi ‘bức xúc văn hóa’ của tôi, để cho phép tôi văng tục một vài câu : Tiên sư cha nền giáo dục thực dân, tiên sư cha mấy đứa cậu ấm con quan lớn.  Đến như mẹ tôi trình độ chỉ biết viết biết đọc trên mức mù chữ một chút thôi mà còn biết đến hai Cụ Sào Nam và Tây Hồ đi làm chuyện ‘quốc sự’, thế mà có những cậu ấm con quan lớn học hành giỏi giang thông thái lại không biết đến cụ Phan Sào Nam là ai chỉ vì quá ‘lo học’ để ra làm quan.  Riêng với cậu ấm T.Thất Thiện, cậu đã không biết đến nhà cách mạng yêu nước Phan Bội Châu thì chớ - và cậu cũng đã tâm sự “không bận trí về chính trị”, thế mà cậu lại xác nhận như đinh đóng cột rằng cái “tên ‘Ngô Đình Diệm’ là tên của nhân vật chính trị đầu tiên, và duy nhất, mà tôi biết đến...”

2.Những điểm “bất thiện” trong việc dàn dựng và xuyên tạc lịch sử  

      Trong phần “I” của bài viết đề cập trên, T.Thất Thiện chia ra 3 tiểu mục nhỏ.  Nội dung của ba tiểu mục này, T.Thất Thiện nhắm đến hai mục tiêu: Một, T.Thất Thiện muốn biện minh cho ông Ngô Đình Diệm –việc tháp tùng theo anh mình là Ngô Đình Thục làm một vòng Âu châu là để chu du thiên hạ, chứ không có mục đích ra đi để mưu tìm quyền lực gì ráo trọi. Hai, là để xác nhận tính danh chính ngôn thuận “cận thần ông Diệm” của T.Thất Thiện. Để cho bạn đọc được theo dõi sát sao nội dung của phần này, tôi xin đề cập từng điểm một:

2.1 “Cụ Diệm đến Pháp, 1950”

      Nhằm chứng minh ông Ngô Đình Diệm đi Âu châu và Mỹ là do lời mời “tình cờ” của anh ông là Giám mục Ngô Đình Thục, ra nước ngoài cho biết thiên hạ đó đây mà thôi, ông T.Thất Thiện viết:

      “Sau đó, Ông nhận lời Đức cha Thục cùng với Đức cha đi một vòng thế giới nhân dịp Ông này đi dự một cuộc họp lớn của Giáo hội ở La mã. Hai ông đi Nhật Bản, rồi từ đó sang Hoa Kỳ. Sau mấy tuần ở Hoa Kỳ, hai ông sang La mã. Từ đó Đức cha Thục đi hành hương ở Tây Ban Nha, rồi về Việt Nam, còn cụ Diệm đi Thụy Sĩ và Pháp.”

      Đọc đoạn này chúng ta sẽ ghi nhận điểm đầu tiên, hoặc ông T.Thất Thiện không biết về sử ký, hoặc là cố tình ăn gian lịch sử nên ông ta bỏ quên việc ghi chép các ngày tháng liên hệ. Đối với dữ kiện lịch sử, đó là điều không thể chấp nhận được, vì các biến cố lịch sử ghi lại trở nên vô giá trị. Hơn nữa, không những chỉ có sự sai lầm trong đoạn này mà còn nhiều chỗ sai lầm về sau trong suốt bài viết.

Để chứng minh cho những sự sai lầm từ đây và về sau, chúng tôi đã dùng những tài liệu như sau:

      --1/ Một số tài liệu nghiên cứu sử của tác giả Chính Đạo. 2/ Tuyển tập sử liệu tiếng Anh: “Vietnam and America – A Documented History” của Marvin E. Gettleman, Jane Franklin, Marilyn Young và H. Bruce Franklin (nhà xuất bản Grove Press, INC. 1985.) để đối chiếu, và 3/ “The American Pope” của tác giả John Cooney (Nhà xb. Time Books 1984).  Với tác giả Chính Đạo, chúng tôi sẽ sử dụng 3 cuốn: Việt Nam Niên Biểu III – Nhân Vật Chí (Văn Hóa xuất bản 1993, sẽ viết tắt: ‘NVC’ ); Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng (VH xb. 2004, viết tắt: ‘TCCC’ ); và Việt Nam Niên Biểu, Tập B: 1947-1954 (VH xb. 1997, viết tắt: ‘VNNB’ ).

      Cũng như cuốn sử liệu VN and America: A Documented History, các cuốn sử của tác giả Chính Đạo phần lớn dựa trên tài liệu đã giải mật của Bộ Ngoại giao Mỹ -FRUS (Foreign Relations of the United States).  Cũng cần nhấn mạnh thêm: để hoàn thành những cuốn sử liệu này, ông Chính Đạo phải đi tới tận nước Pháp để nghiên cứu các kho tài liệu từ Văn khố Pháp, Văn khố Hải ngoại, Nha Sử học Lục quân Pháp, Hội Truyền giáo Hải ngoại v.v.. Cộng hưởng với nguồn tài liệu gốc hiếm quý và thẩm quyền về phương pháp luận sử học của tác giả, chúng tôi nghĩ rằng những cuốn sử liệu của Chính Đạo cũng đủ để phá vỡ âm mưu của T.Thất Thiện và Tú Gàn.

      Trước khi bàn tiếp, chúng tôi xin ghi lại các biến cố liên quan đến việc xuất dương của hai ông Diệm và Thục trong nửa cuối năm 1950, theo thứ tự thời gian :

//--18/6/1950: Thục gặp Tổng Lãnh sự Mỹ Gullion tại Sài Gòn, xin giấy nhập cảnh Mỹ trên đường qua Roma cho ông và Diệm. [VNNB, trang 190]

--14/8/1950: Diệm cùng Thục rời Sài Gòn qua Roma trên tàu La Marseillaise. Trạm đầu tiên ghé chân là Nhật. Gặp Cường Để, bàn việc thành lập một chính phủ chống Cộng.  [NVC, trang 269]

--2/9/1950: Diệm và Thục tới Mỹ

--15/10/1950: Diệm và Thục rời Mỹ qua Paris. Sau đó, xuống Roma, rồi trở lại Paris vào trung tuần tháng 11/1950. [tài liệu: 10H 643 - NVC, trang 269]

--25/10/1950: Ngoại trưởng Mỹ, Dean Acheson, điện cho Đại sứ Heath về việc thành lập Quân đội VN.

Theo Pháp, có thể đưa các lực lượng giáo phái  vào, tổng số chừng 75,000 người. Qua những cuộc nói chuyện với Thục, Chi (Giám mục) và Diệm, cũng có thể biến lực lượng Công giáo thành một phần quân đội.  [tài liệu: FRUS, 1950, VI:909-10 -NVC, trang 269)

--8/12/1950: Thục rời Âu châu trở lại Việt Nam.

--Cuối năm 1950: Diệm qua trung gian Bửu Kĩnh, Nghị viên Hội đồng Liên Hiệp Pháp, gửi cho Bảo Đại một thư riêng, đề nghị một chương trình hoạt động. Sau đó sang Mỹ. [ dẫn như trên]

…. Và cho đến:

--30/5/1953: Diệm rời New York trở lại Âu châu do lời mời của giáo dân Ki-tô Paris. [NVC, trang 201] //

      Qua các diễn biến trên, chúng ta nhận ra cái lý do T.Thất Thiện không muốn ghi lại ngày tháng cho đàng hòang là để phủ lấp việc ông Ngô Đình Thục “gặp Tổng Lãnh sự Mỹ Gullion” để xin nhập cảnh vào nước Mỹ; bởi ghi lại điều này có nghĩa là tự tố cáo chuyến ra đi là nằm trong một kế hoạch mưu tìm quyền lực cho Diệm, khác xa với lời mô tả của T.Thất Thiện là “đi một vòng thế giới cho biết”.  Đã thế, T.Thất Thiện còn vẻ vời thêm “sở thích của Cụ là đi quan sát Paris, và viếng các nhà thờ lớn.” 

      Có lẽ vì tính thích nhàn, chuộng du lịch, thích cảnh lạ của “cụ Diệm”, nên đi đâu cụ cũng chỉ đi bộ thôi, đến nỗi “viên mật thám có nhiệm vụ theo dõi cụ phải kêu trời  rằng: “ông này điên rồi! ông muốn viếng hết Paris, mà toàn đi bộ!”  Đọc đoạn này, ta mới thấy rõ tính nịnh bợ “lãnh tụ” rẻ tiền của T.Thất Thiện.  Qua nó, T.Thất Thiện muốn chứng minh “Cụ Diệm” là người thanh liêm nên có cá tính bình dân, giản dị, chỉ thích đi bộ không thích đi ô-tô.   Nhưng làm sao T.Thất Thiện (hay một ai đó kể lại cho Thiện nghe!) biết được có tên mật thám theo dõi, và đã mật thám thì làm sao hắn có cơ hội rót vào tai các đương sự bị theo dõi câu “ông này điên rồi !....” ? Hay T.Thất Thiện chính là kẻ mật thám cho Tây vào lúc đó?

      Cũng bởi vì “Cụ Diệm” lạ đời này chỉ thích đi bộ làm cho mật thám theo dõi đến lỏng gối, lại thêm ‘Cụ’ có “nhiều người tìm gặp”, nên theo lời T.Thất Thiện “nhà chức trách Pháp mời Cụ ra khỏi Pháp”.   Đến đây, T.Thất Thiện cho biết cụ sẽ đi đâu:

      “Vừa lúc đó thì Cụ Diệm được tin Tu viện Mary Knoll, New Jersey, mời Cụ làm nhân viên giảng dạy đặc biệt, nên Cụ lại trở sang Hoa Kỳ. Giữa năm 1953, Cụ lại đi Âu châu, trú tại Tu viện (Benedictin) Saint André ở Bruges, nước Bỉ (Belgique).”

      Trước hết, trong đoạn này T.Thất Thiện viết sai chữ “Mary Knoll”. Đây là danh từ riêng, viết đúng là “Tu viện Maryknoll” chứ không được tự ý viết rời ra. Có lẽ T.Thất Thiện hiểu ngầm, viết rời ra chữ “Mary” là để nhấn mạnh đến sự tôn kính Bà “Mary”, là Đức Bà Maria của “lãnh tụ”?  Điều bá láp thứ hai là T.Thất Thiện cho rằng ông Diệm đi Mỹ vì Tu viện Maryknoll “mời Cụ sang giảng dậy đặc biệt”.

      Tu viện Maryknoll là một tu viện lớn trực thuộc giáo xứ giàu có và thế lực do Hồng y “cao bồi” Francis Cardinal Spellman cai quản. Tôi gọi Spellman là ông hồng y “cao bồi”, bởi ông là một tu sĩ duy nhất có bằng “phi công” lái tàu bay, và ông thường di chuyển đây đó bằng tự lái tàu bay (riêng) lấy. Ông lại là ông hồng y rất thích vũ khí, thích ăn nhậu, tham dự nhiều buổi tiệc ở các nhà hàng sang trọng với các chính khách, bọn Mafia, ăn tục nói phét, và tư cách rất du côn. Quý vị có thể tham chiếu về nhận xét này một cách mau chóng và hấp dẫn, nên đi thuê một số phim Mỹ có liên hệ đến các hoạt động của Mafia, đặc biệt là tìm xem phim “Citizen Coln” do Frank Pierson đạo diễn, tài tử gạo cội James Woods đóng.  Cuốn phim ấy dựa theo cuốn tiểu sử do Nicolas von Hoffman viết. “Citizen Coln” là nhân vật có thật tên Roy Coln –một luật sư đồng tính luyến ái, hung bạo, nham hiểm, được mô tả như một kẻ thù tệ hại nhất của gia đình Kennedy, một tên trung thành của Joseph McCarthy [ McCarthy là một Thượng nghĩ sĩ theo đạo của Tú Gàn, chống Cộng hung hiểm bằng cách vu cáo vô tội vạ một số chính khách, nhân viên cao cấp trong chính quyền Mỹ vào thời đó là đảng viên Cộng sản, thân Cộng, hay là Cộng sản ẩn mình (crypto-communist), nhằm triệt hạ uy tín và làm nạn nhân thân bại danh liệt.  Các sự kiện đó xảy ra vào thập niên 1950’s, là thời gian hai ông Diệm-Thục qua Mỹ để vận động các chính khách chống Cộng này xác nhận niềm tin gia đình Diệm cũng rất là chống Cộng ].  Trong cuốn phim này có những cảnh thù tạc giữa Hồng y Spellman, Roy Coln và những chính khách theo chủ nghĩa McCarthyism – là thứ chủ nghĩa được coi là dơ bẩn trong lịch sử chính trị nước Mỹ.

      Xin ghi thêm các biến cố khác, theo dữ liệu:

//--15/1/1951: Diệm được Bộ Ngoại giao Mỹ tiếp. Diệm tiết lộ mới từ Paris qua Mỹ được khoảng một tháng để nghiên cứu về cơ cấu chính quyên Mỹ và giáo lý. Tiết lộ thêm là đã cho Bảo Đại biết sẵn sàng làm Thủ Tướng với một số điều kiện. [tài liệu: FRUS, 1951, VI:348].

Trong thời gian ở Mỹ, nhờ sự che chở của Spellman, Hồng y Giám đốc Tuyên úy Ki-tô Roma trong quân đội Mỹ, Diệm tá túc tại Tu viện Maryknoll, thuộc tỉnh Lakewood, tiểu bang New Jersey. Có dịp làm quen với nhiều Dân biểu, Thượng Nghị sĩ như Mike Mansfield, John F. Kennedy, v.v... Diễn thuyết tại nhiều nơi, kể cả Chicago. Sinh viên (nay là cố giáo sư) Nguyễn Đình Hòa không chịu làm thông dịch giúp Diệm, nên Diệm để tâm thù từ đó....  [NVC, trang 270] //

      Ngoài tài liệu phim ảnh đã giới thiệu và dữ kiện lịch sử chúng tôi nêu trên, còn có tài liệu quan trọng khác là cuốn “Giáo Hoàng Mỹ” (The American Pope) của John Cooney đã chứng minh chính Hồng y Spellman là người đầu tiên đã tích cực “xây dựng” cho sự nghiệp chính trị của Diệm. Trong “Giáo Hoàng Mỹ”, John Cooney đã dùng đến 8 trang sách để ghi lại các sự kiện lịch sử này. John Cooney nhận xét: “Ở Diệm, Spellman tìm thấy được những phẩm chất ông mong muốn trong bất cứ nhà lãnh đạo nào: Công giáo cuồng nhiệt và chống Cộng điên cuồng.”  (‘In Diem, Spellman had seen the qualities he desired in any leader: ardent Catholicism and rabid anti-Communism’)   [iii]

      Có một điều thật trớ trêu là Linh mục Fred McGuire, người chống lại tinh thần McCarthy lại được ông Dean Rusk, Trưởng ban Á châu của Bộ Ngoại giao Mỹ giao nhiệm vụ dàn xếp cho Thục được gặp gỡ tại Bộ Ngoại giao. Sau đó, McGuire lại liên lạc với Spellman để cho Diệm được phép tá túc ở Tu viện Maryknoll.  John Cooney viết thêm rằng: “Cuộc gặp gỡ giữa Spellman và Diệm đã trở thành cuộc gặp gỡ lịch sử. Joseph Buttinger, một nhân viên nổi tiếng về sự giúp đỡ người di cư ở Việt Nam, tin rằng Hồng y Spellman là người Mỹ đầu tiên đã nghĩ Diệm có thể về nước để trở thành nhà lãnh đạo ở Nam Việt Nam.” 

(The meeting between Spellman and Diem may well have been a historic one. Joseph Buttinger, a prominent worker with refugees in Vietnam, believed the Cardinal was the first American to consider that Diem might go home as the leader of South Vietnam.)   [iv]

      Vậy thì, Diệm qua Mỹ một phần xuất phát từ sự nhờ cậy, xin xỏ của Thục với Hồng y Spellman chứ làm gì có chuyện Tu viện Maryknoll mời Diệm qua “giảng dậy đặc biệt” ! Thế nào là “giảng dậy đăc biệt”? Chả lẽ ‘Cụ’ qua đó để “giảng dậy đặc biệt” cho mấy tu sĩ trẻ làm thế nào để đi tu mà không mang tật “sodomy” (lắp đít con nít)?   Hay làm thế nào để tu sĩ ‘Công giáo’ La mã liên hệ xác thịt bí mật với phụ nữ mà không mang tiếng để lại con rơi con rớt như ‘Cụ’?  Chúng ta khó tha thứ cho kiểu nịnh bợ vụng về với đám “hậu duệ Cụ Ngô” còn vất vơ trên đất Mỹ, theo lối của T.Thất Thiện.

2.2 T.Thất Thiện “Tiếp xúc với Cụ Diệm lần đầu, 1953”

      Vào thời điểm này, T.Thất Thiện “đang làm luận án ở Đại học Genève”. Lúc ấy, T.Thất Thiện bắt liên lạc với một người tên Trần Thuyên, cưu học sinh Thiên Hựu Huế là người “thân cận Cụ Diệm”. Dù chưa ra trường mà T.Thất Thiện đã lo trước cho đường công danh.  T.Thất Thiện không ghi lại trong lúc trò chuyện với Trần Thuyên, T.Thất Thiện đã nói những gì, chỉ viết rằng Trần Thuyên hỏi Thiện: “Sao Thiện không tìm gặp Cụ Diệm?”  T.Thất Thiện “dật mình, trả lời: “Biết Cụ ấy ở đâu mà gặp. Mà chắc chi Cụ ấy cho tui gặp!”  Chắc là với câu nói chân thành tội nghiệp của anh chàng sinh viên “đang làm luận án”, làm động lòng trắc ẩn Trần Thuyên, nên sau đó ông đã dàn xếp với Ngô Đình Luyện để cho T.Thất Thiện gặp gỡ ‘Cụ Diêm’ lần đầu vào “ngày X giờ Z, tại địa chỉ Y  (mở ngoặc để lưu ý độc giả ngày giờ gặp gỡ vẫn chưa được T.Thất Thiện giải mật!)

      Tuy là ngày giờ và địa chỉ gặp gỡ giữa ‘Cụ Diệm’ và T.Thất Thiện còn giữ mật như thế, nhưng T.Thất Thiện cũng đã bật mí một đôi điều về sự trao đỗi thân tình giữa hai người, nhất là khi ông Diệm biết được thân sinh của T.Thất Thiện là người tiền nhiệm giữ chức vụ Tuần Vũ ở Bình Thuận/Phan Thiết trước ông.

      T.Thất Thiện kể lể thêm: “Phần tôi thì tôi nói: “thưa Cụ tôi đã nghe tiếng Cụ lâu rồi, từ hồi còn nhỏ, mà nay mới được gặp Cụ, nên lấy làm hân hoan lắm’. Ông đáp lại: Tui cũng biết anh từ lâu rồi. Hồi đó tui hỏi ông (Tạ Quang) Bửu trong nhóm thanh niên có ai khá không, thì ông ấy có nói tới anh.” 

      Trong đoạn này, T.Thất Thiện còn kể thêm công trạng lớn nhất của ông là đã viết một bài báo với tựa đề: “Ông Ngô Đình Diệm Là Ai?” lúc ông Diệm được bổ nhiệm làm Thủ Tướng, được đăng rộng rãi ở Việt Nam, và theo lời ông Thiện, đó là “tài liệu đầu tiên” nói về Ngô Đình Diệm.

2.3 T.Thất Thiện “Tiếp xúc lần thứ hai, 1954” với ‘Cụ Diệm’

      Trong cuộc tiếp xúc lần đầu với ‘Cụ Diệm’ đã được ghi lại thắm thiết như trên, không hiểu vì lý do gì, trong lần gặp gỡ “lần thứ hai”, T.Thất Thiện lại viết như sau:

      “Như tôi đã kể như trên, tôi đã có liên lạc với Ông Luyện năm trước, lúc xin hội kiến Cụ Diệm, nhưng chỉ qua điện thoại. Nay gặp mặt trực tiếp, tôi thấy Ông là người vui vẻ, cỡi mở, giản dị và rất dễ chịu. Và cuộc hội kiến mở đầu cho một sự hợp tác lâu dài và rất thoải mái cho tôi. Nó lại là mối dây dẫn tôi đến tư thế một người “cận thần của Cụ Diệm’”.

      Có phải vì tuổi tác bóng xế già nua hay chăng mà ông T.Thất Thiện lại lẩm cẩm thế này. Nếu theo đoạn văn trên thì năm 1954, ông mới được diện kiến ‘Cụ Diệm’ lần thứ nhất chứ sao lại gọi là lần thứ hai; và nếu gặp mặt lần thứ hai sao lại viết: “Nay gặp mặt trực tiếp, tôi thấy Ông là người vui vẻ, cỡi mở, giản dị và rất dễ chịu”?

      Dù là gặp lần đầu hay lần thứ hai trong năm 1954 đi nữa, lần gặp mặt này theo lời ông T.Thất Thiện kể, là lần gặp mặt rất quan trọng vì vào ngày 16/6/1954, Bảo Đại đã cử ông Diệm làm Thủ Tướng, với toàn quyền hành động. [tài liệu: 10H 4195, NVC, trang 271]  Và, một biến cố trọng đại thứ hai : trong cuộc đời thăng tiến hoạn lộ, lần đầu tiên ông T.Thất Thiện được khơi khơi “chính thức” làm “cận thần của Thủ Tướng Diệm” qua lời ông kể lể sau đây:

      “Lúc đó quanh Cụ Diệm ở Khác sạn Palais d’Orsay tôi chỉ thường gặp mấy người đã kể tên, cùng với Trần Tế Dương. Thế là tôi thành tùy viên báo chí của Ông Diệm, thuộc nhóm “cận thần của Thủ Tướng Diệm”, một chuyện tôi không hề nghĩ đến trước đó.”

      Sau khi tự hả lớn miệng cho ruồi chui vô như trên, T.Thất Thiện kể tiếp “Ngày 26/6 là ngày Cụ Diệm ra sân bay Orly để lấy máy bay về nước nhậm chức và lập chính phủ”, ông đã ra sân bay đưa tiễn ‘Cụ’. Và để chứng tỏ lòng dạ sốt sắng về vai trò “cận thần” của mình, T.Thất Thiện đã nhờ ông Võ Văn Hải hỏi dùm ‘Cụ Diệm’ có muốn T.Thất Thiện về nước “cùng với Ông không”, và được Cụ Diệm trả lời (“qua anh Hải”) rằng: “lúc này chưa cần lắm, chưa biết tình hình ngả ngũ ra sao, hãy đợi một thời gian xem đã.”   Trong giây phút ấy, cậu ấm con ông quan Thượng Thư Bộ Công vừa ra trường chắc hẳn sẽ buồn ‘năm phút’, nhưng biết làm sao được khi tài cậu chưa có gì bảo đảm, kinh nghiệm cũng không, thế thần đã lỏng lẻo, lại chưa được rửa tội mà làm sao đòi hỏi ‘Cụ Diệm’ cho tháp tùng lên máy bay về nước?

3. Những điều “bất thiện” trong việc biện hộ cho Ông Diệm

      Với sự nghiệp làm “cận thần” tự phong đó, nên T.Thất Thiện đã tự nguyện biện hộ cho “sự anh minh và lương thiện của lãnh tụ” Ngô Đình Diệm.   Trong phần  “Ông Ngô Đình Diệm nhận làm Thủ Tướng trong những điều kiện nào?” T.Thất Thiện đã phân ra 4 tiểu mục, vì vậy chúng tôi cũng sẽ bàn tới từng tiểu mục.

3.1 “Sự việc qua trình bày của Cựu Hoàng”

      Cũng giống như Tú Gàn, cựu Khoa trưởng Phân khoa KH Xã hội, trí thức tiến-sĩ-tốt-nghiệp-đại-học-Genève T.Thất Thiện khi viết lách không bao giờ giữ sự nghiêm túc của một người “có ăn học”. Có những trích dẫn đoạn văn, đoạn dịch, lời tuyên bố của người khác thường không muốn ghi xuât xứ, và nếu như câu trích bất lợi hoặc để xuyên tạc sự thật thường trích một vài nhóm chữ, bỏ nguyên đoạn văn. 

      Trong phần này, có đoạn T.Thất Thiện viết : “Ông Diệm ra chấp chánh tháng 6 năm 1954”. Đây là câu văn biểu lộ sự dốt về lịch sử của T.Thất Thiện, bởi lý gần cuối tháng 6 Diệm chưa về nước làm sao lại “chấp chánh” được? (Hay là Tú Gàn có ý chơi “xỏ” T.Thất Thiện khi cố tình phổ biến lại bài viết này?).  Đúng với lịch sử, ngày 25/6 ông Diệm mới về nước thì phải đợi đến ngày 7/7/1954, Diệm mới chính thức cầm quyền, vì trước đó ngày 29/6/1954, hai anh em Diệm (và Ngô Đình Nhu) còn là “Đồng Thủ Tướng” không chính thức.   [NVC, trang 272]

      Trong đoạn trích Hồi ký của Bảo Đại (không thấy T.Thất Thiện ghi rõ tên Hồi ký là cuốn nào, xuất bản năm nào? “Con Rồng An Nam” hay “Dragon d’ Annam”?) lúc Cựu Hoàng bắt ông thề trước tượng Chúa thì viết chữ nghiêng, ra vẻ trích dẫn nghiêm túc, thế nhưng đoạn sau đây thì không biết T.Thất Thiện trích từ đâu hay tự sáng chế ra (?) :

      “Cựu Hoàng nói với ông Diệm: Mỗi lần tôi mời ông làm Thủ tướng, ông đều chối từ. Ngày nay, tình thế rất nguy cấp, xứ sở có thể bị cắt làm đôi. Ông phải đứng ra cầm đầu chính phủ.  Ông Diệm từ chối, nói rằng ông sắp vào nhà Dòng. Cựu Hoàng cố nài và kêu gọi tinh thần ái quốc của ông Diệm và nhấn mạnh nhu cầu cứu quốc.  Rốt cuộc ông Diệm trả lời: “Nếu vậy, tôi xin lãnh sứ mạng đó.”

      Đọc đoạn trên, chúng ta cứ tưởng như là Ngô Đình Diệm không có tham vọng quyền lực gì, nhưng vì Bảo Đại cố “nài nỉ và kêu gọi” tinh thần ái quốc nên ông Diệm mới miễn cưỡng nhận lời.

      Thế thì bức thư “xin xỏ” của ông Diệm gởi cho Cựu Hoàng vào gần cuối tháng 1/1951 mà XLTV Đại sứ Mỹ đã báo cáo về Hoa Thịnh Đốn là đã bị Bảo Đại từ chối vì “....” theo dữ liệu dưới đây là thế nào? :

//--24/1/1951: XLTV Đại sứ Mỹ Edmund Gullion báo cáo về Washington là Bảo Đại đã nhận được thư của Diệm. Tuy nhiên, Bảo Đại không ưa Diệm vì nhiều lần Diệm từ chối hợp tác. Phần anh em Diệm và Thục chủ trương giải pháp lập Bảo Long lên ngôi, với Nam Phương và Cường Để làm Nhiếp Chính.  [tài liệu: FRUS, 1951, VI:359-61 – NVC, trang 270].//

      Và, thêm bằng chứng nữa là Diệm + gia tộc (dĩ nhiên là có sự hổ trợ ngầm của đảng-Công-giáo-Vatican), nên trong buổi tiệc giữa năm 1953 tại Tối Cao Pháp Viện Mỹ, Diệm đã cố tuyên truyền là “Bảo Đại chẳng có chút ảnh hưởng nào, cũng không được kính trọng”, mang hàm ý ông (Diệm) là nhân vật ngoài Hồ Chí Minh, xứng đáng để lãnh đạo, (theo dữ liệu dưới đây):

//--7/5/1953: Diệm được mời tham dự bữa ăn trưa tại Tối Cao Pháp Viện để thảo luận về vấn đề Đông Dương....

      Suốt bữa ăn trưa và khoảng một giờ sau đó, Diệm cùng người chưa rõ tên [có lẽ là Phan Huy Đán tự là Phan Quang Đán] diễn thuyết về tình hình Đông Dương và trả lời những câu hỏi, phần lớn từ Douglas và Kennedy. Theo Diệm và người chưa rõ tên, dân Việt mong muốn được hưởng tình trạng “Dominion”... Về Hồ Chí Minh, Diệm cho rằng HCM không được tư quyền hành động và chưa hẳn còn sống. Vẫn theo Diệm, Việt Nam hiện cần quân đội Pháp, vì nếu Pháp rút, người Việt sẽ rơi vào tay Cộng sản độc tài...

      Diệm thuật lại liên hệ giữa Diệm và HCM. Năm 1946, HCM “cô lập” Diệm tại một làng thiểu số. Sau 6 tháng, HCM yêu cầu Diệm tham gia chính phủ. Diệm trả lời rằng vì Diệm biết Hồ là CS, nên muốn được bảo đảm rằng Diệm có toàn quyền quyết định và được biết mọi tin tức. Những người ủng hộ Diệm đòi hỏi rằng Diệm phải được giao Bộ Nội Vụ và nắm ngành Cảnh sát. Hồ do dự ít tuần, rồi cuối cùng từ chối.

      Diệm cho biết sắp qua Pháp để tìm người hiểu biết về hiện tình VN vì có nhiều nhóm người Pháp bắt đầu bất mãn về sự thất bại ở Đông Dương. Tuy nhiên, Diệm sợ rằng sau khi qua Pháp không được giấy xuất cảnh ra khỏi nước này. Theo Diệm, Bảo Đại chẳng có chút ảnh hưởng nào, cũng không được kính trọng.  [tài liệu: FRUS, 1952-1954, XIII:554-5, NVC, trang 271] //

      Trong thực tế, trước thời gian Diệm xuất dương “lê gót nơi quê người”, vua Bảo Đại có mời ông Diệm hợp tác, nhưng có lẽ Diệm và gia đình vốn “bất phục” Bảo Đại, hơn nữa ông Diệm cũng không tội gì xuất đầu lộ diện khi chưa được bảo đảm là Mỹ sẽ ủng hộ ông.  Ngay cả đến ngày 2/7/1954, Đại sứ Mỹ McClintock còn có giải pháp phòng hờ là nếu Diệm “yêu sách, kèo nài” thì sẽ cho Nguyễn Văn Tâm lên làm Thủ tướng. [(FRUS, 1952-54, XIII:1773), NVC, trang 270]

      Viết như-kiểu-Tôn-Thất-Thiện, còn có ý phủ nhận công lao của biết bao kẻ cận thần, phe nhóm đã nổ lực để ‘lobby chính trị’ cho Diệm ở Mỹ. Đã thế, T.Thất Thiện còn buộc tội những ai viết khác T.Thất Thiện, cho “Ông Diệm là người của Mỹ chọn” là huyền thoại do “cộng sản và các giới thiên cộng, thực dân tung ra và duy trì.”  Điều đó còn có nghĩa những dữ kiện lịch sử (historical data) được ghi chép lại của Bộ Ngoại giao Mỹ, các Thư viện Tổng thống Mỹ, các tài liệu của Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ đã được giải mật đều là của “bọn thiên cộng”?

3.2 “Sự việc trình bày theo Ông Luyện” 

      T.Thất Thiện sợ dư luận chưa tin những điều ông viết về “tinh thần ái quốc’ của Cụ Diệm (rất khách quan vì “qua lời Cựu Hoàng” !), nhưng thực ra là do ông sáng chế, nên cần phải chứng minh thêm lời của nhân chứng Ngô Đình Luyện là em của Ngô Đình Diệm. Phải đợi đến năm 1984, nhân dịp qua Pháp, T.Thất Thiện mới được ông Luyện kể cho nghe sự thật.

      Sự thật ấy được T.Thất Thiện ghi lại rằng: “Ông Diệm nóng lòng muốn xúc tiến cuộc gặp gỡ với Cựu Hoàng, nhưng ông Luyện hết sức can ngăn vì lúc đó, Hè 1953, về Việt Nam chưa làm được việc gì và Pháp sẽ ra sức phá Ông.”

      Từ chứng minh ông Diệm chỉ muốn “đi tu nhà Dòng”, và vì “lời Cựu Hoàng năn nĩ, kêu nài” lắm bất đắc dĩ ông Diệm phải nhận lời làm Thủ tướng (ở phần 3.1) ... thì ở đây lại ghi Ngô Đình Luyện cho biết “Ông Diệm nóng lòng” muốn xúc tiến cuộc gặp gỡ với Cựu Hoàng từ Hè 1953; thế là những lời của ông Diệm trước mặt Bảo Đại chỉ là những lời dối trá, phải không ông T.Thất Thiện?

      Sự thật lịch sử là: Ngô Đình Diệm không phải là giải pháp “tối ưu” của chính phủ Mỹ. Vì cho đến ngày Diệm về nước chấp chánh rồi, nhưng có thể bị thay thế như đã chứng minh theo dữ liệu (ngày 2/7/1954) ở trên; và một tháng trước khi Bảo Đại bổ nhiệm Diệm làm Thủ Tướng, lập trường của Mỹ là muốn Bảo Đại về nước ngay, còn Diệm (hoặc Giám mục ‘áo đen’ Lê Hữu Từ) chỉ là một phần tử trong Hội Đồng Phụ Chính (theo dữ liệu dưới đây):

//--17/5/1954: XLTV Đại sứ Mỹ Robert McClintock báo cáo là Bảo Đại cần về VN ngay. Trong trường hợp Bảo Đại không về được, nên lập một Hội đồng Phụ chính, gồm có Bửu Lộc, Trần Văn Hữu, Lê Hữu Từ hoặc Ngô Đình Diệm. Đương kim Thủ hiến Nguyễn Hữu Trí có thể được giao lập chính phủ. Phan Huy Quát sẽ tiếp tục nắm Bộ Quốc phòng; Nguyễn Văn Hinh có thể mời qua Mỹ tham quan và giữ lại. (Ngày 20/5, phái đoàn Mỹ ở Geneva thông báo là theo ý Đại sứ Heath, cần chịu đựng thí nghiệm Bảo Đại thêm một thời gian nữa).  [tài liệu: FRUS, 1952-1954, XIII:1576-7, NNVC, trang 271] //

      Mặt khác, trong chính phủ Mỹ đương thời có hai quan điểm trái ngược : --Theo John Foster Dulles (Bộ trưởng Ngoại giao (1953-59), chống lại sự bành trướng của Chủ nghĩa Cộng sản bằng mọi giá) : “...Nếu lực lượng Cộng sản chiến thắng không có sự kháng cự, kiểm soát toàn Đông Dương hay bất cứ vùng trọng yếu nào khác từ đó, chắc chắn họ sẽ rập khuông tiếp tục bành trướng chống lại dân chúng tự do trong khu vực.” / --Theo quan điểm của Phó Tổng thống Richard M. Nixon (lo sợ một tình thế treo lơ lửng sau khi Pháp bị đánh bại, -một khoảng trống chính trị !) : “...Phải làm gì [về cuộc chiến ở Đông Dương] ?...Khó khăn nhiều nhất là sứ mệnh tinh thần. Cần phải động viên tinh thần để họ kháng cự và chiến đấu. Vài người cho rằng nếu Pháp cuốn gói ra đi, người Việt sẽ có tinh thần chiến đấu hơn, bởi họ nghĩ là chiến đấu cho sự độc lập.”  [v]  

      Chúng ta cần lưu ý rằng, John Foster Dulles là người ở trong cánh "McCarthyism" (đảng Cộng Hòa, trong đó có Hồng y Spellman v.v..); trong khi Richard M. Nixon (cũng đảng Cộng Hòa) nhưng không ở trong cánh này, nên tinh thần độc lập hơn và chủ trương Việt Nam cần phải có một nhân vật có đủ uy tín, được sự ủng hộ của dân chúng để lãnh đạo miền Nam Việt Nam. Về sau trong gần cuối nhiệm kỳ làm Tổng thống, chính Richard M. Nixon là người đã giải kết cuộc chiến tranh vô chính nghĩa ở Việt Nam.

      Vì vậy, đối với chính phủ Mỹ nói chung, Ngô Đình Diệm là giải pháp “tệ”. Nhưng cánh của John Foster Dulles đã thắng thế như lịch sử đã xảy ra.  Một nhân vật quan trọng khác ít được nói tới là giáo sư Wesley Fishel (thuộc đại học UCLA). Trong cuộc phỏng vấn của Robert Sheer với giáo sư Fishel, Wesley Fishel tiết lộ khi Diệm gặp gỡ ông ở Nhật, Fishel đã khuyến khích Diệm cần phải đến Mỹ để vận động sự ủng hộ. Sau đó, W. Fishel trở về Mỹ, nhận chức vụ mới ở Đại học Michigan State University (MSU), tích cực vận động cho Spellman ủng hộ Diệm; và MSU đã trở thành một “bộ óc” (think tank) cho chế độ Diệm về các chương trình Ấp Chiến lược, Bình định Nông thôn, cải tổ hành chánh và thành lập trường Quốc gia Hành chánh, gởi các nhóm giáo sư, sinh viên tốt nghiệp (làm việc cho Tình báo Mỹ) dưới nhãn hiệu Tổ chức Peace Corps đến Việt Nam. [“Genesis of United States Support for the Regime of Ngo Dinh Diem” by Robert Sheer]  [vi]

 3.3 “Cựu Hoàng muốn móc nối với Ông Diệm”

       Đoạn này xét ra là dư thừa, vì hai tiểu mục trên đã bày tỏ rõ rệt mục đích của người viết. Nhưng, trong đoạn này T.Thất Thiện muốn chứng minh một lý lẽ rất mới –chưa ai nói tới là Bảo Đại gài đặt Ngô Đình Diệm vào thế phải nhận lời cầm quyền là một âm mưu “hiểm độc”.

      Để đạt tới luận điểm trên, trước tiên, T.Thất Thiện rạo ra giai thoại là Bảo Đại chỉ tin ông Ngô Đình Luyện, không tin hai ông Bữu Lộc và Nguyễn Quốc Định (Ngoại trưởng), nên Cựu Hoàng vịn vào một câu “nói hớ” xuất phát từ lòng nhiệt thành của ông Luyện mà tiến cử cho ông Luyện vai trò “quan sát viên riêng của Cựu Hoàng, đi đi về về Genève”.

      Sau khi T.Thất Thiện "sáng tạo" niềm tin của Cựu Hoàng với ông Luyện rồi, mới cho Cựu Hoàng tâm sự với ông Luyện như sau :

      “Cựu Hoàng nói thẳng rằng: ‘Tout est foutu, bên nhà sắp tiêu rồi” (Hỏng hết rồi) và từ năm trước Ông ta đã bỏ đi vì lý do đó.”

      Biết người đọc đã thấy được “lòng tin’ của Cựu Hoàng đối với Ngô Đình Luyện, T.Thất Thiện đã cho Cựu Hoàng “huỵch toạc” với ông Luyện rằng: “Nhưng Đại chiến thứ III sắp xảy ra, và những vũ khí kinh khủng sẽ được xử dụng. Mỹ đã cho Ông ta (Bảo Đại –TĐ) coi phim về hiệu quả của các vũ khí đó. Cộng sản sẽ tiêu hết. Nhưng sau khi Mỹ thắng, Việt Nam sẽ về ai? Cựu Hoàng muốn giữ ngôi Vua Việt Nam cho Họ Nguyễn. Vì vậy ông cần đến Họ Ngô. Ông muốn Ông Diệm ‘giữ ngôi đó cho nóng’ (‘garder au chaud’) cho đến lúc Ông về.”

      Thực tế thì trong giai đoạn trước 1950, cả nước ai cũng biết đến vua Bảo Đại, trong khi Ngô Đình Diệm chỉ là ông từ quan vô danh tiểu tốt, không người dân nào cần biết tới.  Vả lại, lời Bảo Đại tâm sự với ông Luyện như T.Thất Thiện kể lại ở trên giờ không biết làm sao kiểm chứng, vì Bảo Đại đã ra người thiên cổ. 

      Thế nhưng trong sử sách cũng có ghi lại câu tuyên bố tương tự của Bảo Đại với ký giả Pháp, Jacques Sallebert, vào mùa Thu năm 1946 rằng: “Chính trị với tôi đã hết. Dân tộc tôi đã muốn dân chủ: tôi không có gì chống lại điều đó, bởi vì ngay từ đầu tôi đã cộng tác với chính phủ mới... Tôi rất kính trọng Hồ Chí Minh.”   [Nguyên văn: La politque est pour moi une chose morte. Mon peuple a voulu une démocratie: je n’y ai fait aucune opposition, puisque j’ai même accepté, au début, de collaborer avec le nouveau gouvernement... J’ai beaucoup d’estime pour le Président Ho Chi Minh] (TCCC, Phụ lục: trang 393)

      Thật là không may cho tư cách của ông T.Thất Thiện, vì những điều T.Thất Thiện viết đã xảy ra quá sớm (1985), hiếm có sử gia người Việt nào bàn vào chi tiết các biến cố lịch sử này. Nhưng 10 năm sau, những cuốn sử-tài-liệu cận đại của Chính Đạo – với rất nhiều sử liệu xác thực ra đời chắc hẳn ông T.Thất Thiện đã không thèm đọc đến. Bởi, nếu có đọc thì ông không thể nào có đủ can đảm –dù đã sửa chữa, để cho phổ biến lại bài viết này.

      Chúng ta biết rằng Hoàng tộc họ Nguyễn đã từng căm ghét gia đình họ Ngô dưới thời hai ông Thượng thư Nguyễn Hữu Bài và Ngô Đình Khả, vì hai ông này đã khuynh loát triều chính nhà Nguyễn, đưa tới việc đày Vua Thành Thái, đào mã Vua Tự Đức để tìm báu vật. Nên trong dân gian mới truyền tụng: Đày Vua có Khả, đào mã có Bài. Cho đến thời Đệ nhất Cộng hòa của Ngô Đình Diệm, cơ quan tâm lý chiến của Diệm mới tìm cách sửa lại: Đày Vua không Khả, đào mã không Bài!  Hơn nữa, với truyền thống văn hóa tổ tiên của các đời Chúa, Vua nhà Nguyễn không ai ưa những ông quan lớn mà gia đình theo đạo ‘hùa’, đạo ‘gạo’ Thiên Chúa như hai dòng họ ông Khả và ông Bài. Từ tinh thần này đưa tới tâm lý dòng tộc nhà Nguyễn rất coi thường, nếu không muốn nói thẳng là khinh bỉ con cháu dòng họ Ngô Đình.

      Thật ra việc Bảo Đại bổ nhiệm Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng chỉ xảy ra sau thời gian Ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles thăm viếng Bảo Đại vào tháng 4/1954. Tuy vậy cũng có nguồn tin khác (từ phóng viên người Anh) -theo Stanley Karnow thì Bảo Đại xác nhận mình tự ý bổ nhiệm Diệm.  Nếu điều này đúng thì nhận xét của Chính Đạo cũng khá chí lí : “vì Bảo Đại thường muốn làm vui lòng những người có quyền thế -ngỡ tưởng Diệm là ‘người của Mỹ’”  [VNNB, sách đã dẫn, trang 395]

      Dù việc bổ nhiệm Diệm làm Thủ tướng là do tự ý của Bảo Đại hay từ áp lực tinh thần của Mỹ đi nữa, thì sự thật ấy cũng không thể giống như điều T.Thất Thiện đã viết ra.

3.4 “Thỏa hiệp Bảo Đại-Ngô Đình Diệm ngày 16/6/1954”

      Trong đoạn này, T.Thất Thiện ghi lại rằng, ông Luyện muốn Cựu Hoàng ký với ông Diệm một “thỏa hiệp” trao cho ông Diệm toàn quyền dân sự và quân sự. Ngược lại, Cựu Hoàng đòi ông Diệm phải tự tay viết cho Cựu Hoàng một bức thư bằng tiếng Pháp được ông xác nhận. Theo lời ông T.Thất Thiện bức thư đó có “câu then chốt là: ‘Naturellement, Je resterai prêt à tout instant à appliquer les sages Conseils de Sa Majesté’” , và được ông T.Thất Thiện dịch ra là: “Tự nhiên, tôi sẽ luôn thi hành chỉ thị sáng suốt của Ngài” và ông còn chua thêm : “Nhưng nếu chỉ thị đó không ‘sáng suốt’ thì sao?”

      Theo T.Thất Thiện câu văn trên làm cho “mấy ông cố vấn của Cựu Hoàng không hài lòng cho lắm vì họ cho rằng câu nói trên đây không đủ đảm bảo và phải làm sao loại bỏ hòan toàn nguy cơ Cựu Hoàng có thể bị truất phế.”

      Do đó, đoạn “les sages Conseils se Sa Majesté” được đổi ra là : “la sainte Volonté de Sa Majesté.” và được T.Thất Thiện dịch Việt là “theo thánh ý của Ngài”, rồi chua thêm câu : “Nhưng nếu ý của Ngài không “thánh” thì sao?”  [vii]

      * Trước hết, theo tôi thì câu Pháp ngữ ở trên, nhà trí thức khoa bảng T.Thất Thiện nên dịch là: “Cố nhiên, tôi sẽ giữ lời thề thi hành tức thì những chỉ thị khôn ngoan của Ngài”, tức là ông Diệm có bổn phận phải “thi hành tức thì” (à tout instant), chứ không thể dịch “tôi sẽ luôn thi hành” là câu dịch không rõ nghĩa mà còn hàm ý “khi nào tôi cũng vâng lời” cả là một câu nói suông, không phải là lời thề chính trị (“rester  prêt”); do đó việc mấy ông cố vấn của Bảo Đại bắt phải sửa lại là khôn ngoan.   Cái khôn ngoan đó biểu hiện qua cụm từ “la sainte Volonté de Sa Majesté”.  Vì sao? Họ biết Ngô Đình Diệm là một tín đồ ‘Công giáo’ La mã cuồng tín, chỉ tin có Chúa, chỉ sợ có Chúa, và cũng chỉ làm vì Chúa mà thôi, do đó “thánh Ý” của Bảo Đại vả chăng cũng chính là “thánh Ý Chúa”, nếu mà Ngô Đình Diệm biết giữ lời thề thì ông mới đúng là con cái Chúa; còn nếu như ông phản bội lời thề cũng đồng nghĩa với “phản Chúa”. Đây là một lối chơi chữ rất cao tay mà T.Thất Thiện không muốn hiểu. Kết quả về sau, bản thân hai anh em Diệm Nhu đã không chỉ phản bội lời thề để dàn cảnh một cuộc truất phế Bảo Đại vào ngày 23/10/1955 (hơn một năm sau đó), mà còn phản bội luôn những người đã từng hợp tác cũ như Phạm Công Tắc, hợp tác mới như Trình Minh Thế...

III. Kết luậnvề Lữ Giang và Tôn Thất Thiện?

      Tóm lại, bài viết bổ sung “Cụ Diệm ở Paris 1953-1954” của T.Thất Thiện ( “‘Ottawa, tháng 10, 2004” ) thêm lần nữa, nhằm vào mục đích biện hộ cho Ngô Đình Diệm.

      --Biện hộ thứ nhất: Ông Ngô Đình Diệm không phải là con người mưu cầu quyền lực hay tham quyền cố vị. Việc ông nhận sự bổ nhiệm chức Thủ tướng của Cựu Hoàng Bảo Đại là việc chẳng đặng đừng, vì lòng ái quốc cứu nước.

      --Biện hộ thứ hai: Chính Cựu Hoàng Bảo Đại là người tìm kiếm và cần đến Ông Diệm, chứ việc ông Diệm xuất ngoại chỉ là “đi một vòng thế giới” cho biết đó đây thôi, chứ không phải là cuộc ra đi để vận động sự hậu thuẫn chính trị của Mỹ và Vatican về nắm chính quyền.

      --Biện hộ thứ ba: Việc truất phế Bảo Đại (bằng thủ đoạn đê hèn) không phải là do sự phản bội chính trị của Ngô Đình Diệm, nhưng vì Bảo Đại là người không “sáng suốt” và “ý” của ông cũng không “thánh”, cho nên hành động làm ngược lại lời thề với Bảo Đại là chuyện đương nhiên. Hơn thế nữa qua mấy dòng ghi lại lời ông Nguyễn Hữu Châu (Phụ tá Ngoại trưởng Trần văn Đỗ), T.Thất Thiện còn muốn phụ họa rằng “việc bổ nhiệm ông Diệm làm Thủ tướng lúc đó là một đòn hiểm độc làm nhận chìm ông Diệm”.

      Nhưng để cho ba biện hộ trên đây trở thành có giá trị, ông T.Thất Thiện phải chứng minh ông đã từng là một “cận thần” của Ngô Đình Diệm từ rất sớm, vì chỉ có “cận thần” mới biết được tâm-ý-hành của lãnh tụ mà thôi. Nhưng do bởi từ điều không thật, nên ông T.Thất Thiện đã để hở lộ sự vụng về và dối trá, người ta chỉ thấy ông đích thực là một “cận thần” tự phong và xuyên tạc lịch sử mà thôi. Với hình ảnh “cận thần” là một chú sinh viên trẻ người non dạ vừa mới rời khỏi lớp học nhà trường nhưng đã mê say con đường hoạn lộ nhưng lại chưa được tin phục, làm sao những lời của ông T.Thất Thiện hôm nay có đủ những đảm bảo giá trị lịch sử?

      Dù sao, chúng ta cũng hiểu, ngoài ‘candidate’ T.Thất Thiện thì còn ai nữa đây, huống hồ T.Thất Thiện còn trúng tủ hai yếu tố quan trọng khác nữa: một, T.Thất Thiện mang giòng họ Tôn Thất, hai là “phật tử” (do Tú Gàn đề xướng trong bài viết mà cũng có thể là đúng thật). "Tôn Thất" vốn là ủng hộ Cựu Hoàng Bảo Đại, thế mà lại ca ngợi Cụ Ngô thì điều đó đồng nghĩa với “lương tâm và sự thật”. Hai là phật tử thì không ưa ‘Công giáo’ La mã, nhưng lại đi bênh Ngô Đình Diệm thì cũng vì “lẽ phải và lương thiện”.  Nhưng không may, những ‘dữ kiện’ lịch sử do T.Thất Thiện nêu ra không những mâu thuẫn mà còn sai với sự thật rất xa. Mọi biện hộ cho chính-nhân-quân-tử Ngô Đình Diệm trở thành hỏng nát.

      Chúng tôi vẫn còn một vướng mắt trong đầu về mục tiêu xa của T.Thất Thiện qua bài viết này là nhắm vào chuyện gì đây? Cũng như Tú Gàn, chắc rằng T.Thất Thiện nhớ lời dạy của Khổng Tử: “Thất thập nhi tòng tâm sở dục bất du củ; Bát thập cổ lai hy”. Nhưng nếu không vì mình thì phải chăng vì con cháu đời sau của T.Thất Thiện? Nhưng thời thế ngày nay ở hải ngoại có chắc gì con cháu T.Thất Thiện đã nghe lời cha ông, huống hồ tới chuyện đất nước non sông quá xa vời bên kia bờ Thái Bình dương. Hay có phải vỉ T.Thất Thiện cũng như Tú Gàn và vân vân…. muốn gửi một thông điệp xa xôi đến Bộ Chính trị, Ban Thường Vụ Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam nhớ rằng lãnh tụ của họ là “Cụ Diệm” ngày xưa vẫn thường hay tuyên bố rằng -ông ta chỉ nổi danh thua Hồ Chí Minh mà thôi ( ‘the best known figure after Ho Chi Minh’ ) đó sao!. Nay cụ chết rồi, nhưng hậu duệ của cụ vẫn còn nhiều.

      Tôi, kẻ viết bài này tự biết về tuổi tác, ông T.Thất Thiện lớn hơn tôi rất nhiều tuổi. Trong bài viết này tôi đã để lại nhiều sự thất lễ. Rất may trong quá khứ ông chưa từng có cơ hội làm thầy tôi về bất cứ lãnh vực gì. Vì “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, đã tránh cho tôi sự khó xử mang tiếng “chửi thầy”. Thế còn lễ nghĩa “kính lão đắc thọ” thì sao? Hẳn nhiên là phải giữ; lại tự nghĩ, nếu vì ‘kính lão đắc thọ’ nhưng lỡ gặp một ông lão “già mà không nên nết” -như Tú Gàn từng mắng ông cựu Bộ trưởng Ngô Trọng Anh, thì chẳng lẽ ngoài miệng ‘bẩm ông, thưa cụ’, nhưng trong bụng thì rủa ‘tiên sư cha, đồ hèn’ cũng chẳng hay ho gì. Đó là thứ văn hóa ‘giả nhân’: giả với lòng mình và giả với tha nhân. Một thứ văn hóa không bao giờ vượt thóat khỏi nọa lực và đi lên tầm cao được cả. Đến lúc cần phải chấp nhận sự đau đớn là phải biết bất chấp sự lễ nghĩa để viết  thật, nói  thật. Viết cho tới lúc nào mà hiện tượng ‘già mà hèn, già mà không nên nết’ mất tiêu đi, thì may ra thế hệ già tương lai sẽ gần với đạo trời đất, tổ tiên hơn.  Đối với đạo Lão Trang, làm như thế hẳn là chúng ta đã biết dùng hữu vi để đạt tới cái vô vi vậy.

      Trên đây là những lời ‘hầu chuyện’ với ngài Tôn Thất Thiện. Có thể có người ở Cà Mau hay Lạng Sơn sẽ thắc mắc hỏi chúng tôi còn Lữ Giang (Tú Gàn) là ai? Xin thưa, Tú Gàn là hậu duệ của Ngô Đình, một cán bộ chính trị chiến lược của ngài Hồng y Nguyễn Văn Thuận. Nhưng từ ngày Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục và Hồng y Nguyễn Văn Thuận về chầu Chúa, y thất nghiệp chính trị. Từ lúc được mụ Hoàng Dược Thảo đem về cho viết lách “feuilleton” hàng tuần trên tờ ‘Sàigòn Nhỏ’ để trường kỳ tấn công Phật Giáo, y đâm ra nổi tiếng. Có người cho y là “sử gia của HO.” (HO là ‘acronym’ của Humanatarian Orderly, tên gọi của một chương trình nhân đạo để giúp đỡ định cư những tù nhân cải tạo được định cư ở Mỹ). Tâng bốc Tú Gàn là “sử gia” cũng có lý do của họ.  Số là tôi từng chứng kiến một sáng sớm nọ ở khu chợ Việt Nam vùng Bắc Mỹ, khi một chiếc xe pick-up chở đầy báo chợ phát không vừa đổ tới, bỗng nhiên từ các lùm cây, từ các chiếc ghế công cộng ngoài trời đổ túa ra một đoàn người giành dựt nhau để lấy những tờ báo cho không này. Trong số bào đó, hẳn nhiên là phải có tờ tuần báo Sàigòn Nhỏ, và những người giành dật lấy báo ấy là những người HO. Mỗi ngày, những người HO ngồi la cà ở các quán cà phê hàng giờ cũng mệt mỏi; chơi số đề, mua số lô-tô cầu may hoài cũng tốn tiền; ăn nhậu riết đâm sinh bệnh. Họ đành giết thời gian qua việc đọc báo chợ. Thế là từ đó họ say mê đọc báo Việt ngữ. Họ mê luôn Tú Gàn. Vả lại, họ có thì giờ đâu mà suy nghĩ, kiến thức đâu đủ để phân biệt đúng sai, xuyên tạc đầy hậu ý trên những bài viết ‘feuilleton’ của Tú Gàn. Họ bị tên Tú Gàn hướng dẫn và lèo lái tinh thần. Tú Gàn ghét ai họ ghét theo, thù ai họ thù lây.

      Mấy năm trước đây thôi, Tú Gàn từng là “người nhà” của dòng họ Ngô, Tú Gàn còn là một kẻ thừa sai của cố Hồng y Nguyễn Văn Thuận. Trong tập Kỷ Yếu “Mừng Đức Tân Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận” phát hành năm 2001, với bài tham luận “Tin Mừng hướng về Á châu... ‘Các Vấn đề Chính trị tại Á châu và Những Giải pháp Liên hệ’ do Đức Giám mục Nguyễn Văn Thuận đọc tại Hội nghị Giám mục Á châu ngày 24.11.1970” dưới bút hiệu Lữ Giang, Tú Gàn đã xiển dương và phát huy tư tưởng truyền đạo và củng cố quyền lực của ‘Công giáo’ La mã qua vai trò thừa sai của Hội đồng Giám mục Việt Nam như sau:

     Quả thật trong khi một số quốc gia tiên tiến Âu châu đang dần dần chối bỏ Thiên Chúa thì Á châu lại trở thành một miếng đất màu mở để đón hạt giống của Nước Trời. Nền tảng đạo lý của Trung Quốc, Bắc Hàn và Việt Nam đã bị chủ nghĩa cộng sản xói mòn qua một quá trình kéo dài 50 năm, giờ đang chờ đón Tin Mừng để xây dựng lại nền đạo lý dân tộc. Nếu Giáo Hội có những đáp ứng kịp thời nhu cầu của các quốc gia đang chuyển mình này, Giáo Hội sẽ góp phần không nhỏ vào việc giải thoát các dân tộc này ra khỏi nghèo khổ và áp bức, và đưa họ đến một chân trời sáng sủa hơn dưới ánh sáng của Tin Mừng. Các quốc gia có nền văn minh Ấn giáo, Hồi giáo và Phật giáo như Ấn Độ, Mã lai, Indonésia, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Căm-bốt... cũng đang chuyển mình để bước vào một thời đại văn minh mới. Đây là lúc thuận lợi để đón nhận Tin Mừng.” (trang 28-32)

      Thế mới biết chính sách xâm lăng Á châu bằng ‘Tông huấn châu Á’ của Vatican không phải chỉ mới đây, mà đã có từ năm 1970. Kẻ thừa hành của chính sách xâm lăng ấy, không phải là cá nhân Hồng y Nguyễn Văn Thuận hay một ai khác, nhưng là tập thể Hội Đồng Giám Mục VN. Ông này chết thì có ông khác lên thay, nhưng mục tiêu thì duy nhất và chính sách thì không thay đổi.

      Tuy vậy, trên phương diện triết lý và đường lối thì chính sách xâm lăng văn hóa này đã bị những cây bút ‘Trụ-đồng-Giao-Chỉ’ như Trần Chung Ngọc, Ngô Triệu Lịch, Chralie Nguyễn.v.v.. đập cho vỡ mặt rồi, và dĩ nhiên còn hứa hẹn những bước thu dọn chiến trường cho sạch sẽ nữa. Nhưng, những kẻ buôn thần bán thánh như Vatican, vốn dư thừa ngoại tệ và thừa sai, nên có thể biến hình để chỉnh huấn nguyên trạng, chiến trường chưa thể nào yên tĩnh.

      Còn mấy ngày nữa là đến ngày ‘giỗ Cụ Ngô’ (2 tháng 11), cũng là ngày bầu cử Tổng Thống thứ 44 của Mỹ. Tình hình chính trị bầu cử trong mấy tháng qua cho đến hôm nay, có nhiều dấu hiệu cho thấy ông Bush-con này sẽ đắc cử Tổng thống một lần nữa. Nhưng ông Tổng thống này lại là người có khuynh hướng ủng hộ kín đáo chính quyền CS Việt Nam. Họ ủng hộ một chế độ độc tài. Có lẽ những nhà lãnh đạo chính trị Hoa Kỳ nghĩ rằng: chẳng thà ủng hộ một chế độ độc tài, nhưng rất có hiệu quả trong liên minh, hợp đồng chống bọn khủng bố, giữ vững hòa bình để phát triển thịnh vượng chung trong vùng, còn hơn là ủng hộ một chế độ dân chủ bắt chước, non nớt mà lại bất ổn chính trị. Biết làm sao đây ?

      Dân chủ rồi cũng sẽ đến trên đất nước VN thôi, nhưng phải chờ vài thập niên nữa. Với tình hình quốc tế hiện nay, hiện trạng của Việt Nam là phải đối đầu với hai “họa lớn” : Chính sách xâm lăng của Ki-tô giáo bằng văn hóa độc thần và bọn khủng bố quốc tế bằng lựu đạn và chất nổ.  Việc trước mắt cho bất cứ một chế độ yêu nước nào là phải biết củng cố và phát huy mạnh nền văn hóa dân tộc, nâng cao dân trí bằng cách để cho dân chúng mọi thành phần trong nước được tự do đọc website Giao Điểm. Thứ hai là phải đập tan bọn cán bộ tham những hối lộ các cấp, bọn ăn cắp vặt – ăn cắp hệ thống, ăn cắp của công – ăn cắp vật tư. Tương lai Việt Nam sẽ sáng lạn thôi.  [viii]

Thường Đức
Friday, October 29, 2004

Chú thích:


[i]  Côn Đảo – Ký sự & Tài liệu, Nhà xb. Trẻ TP HCM 1998, Lê Quang Vịnh, “Người nữ tù chính trị đầu tiên ở Côn đảo, trang 25-30.

[ii]  Dẫn như trên, Tôn Nữ Kim Bình, “Trường hợp nhà văn Bửu Đình, trang 118.

[iii]  John Cooney, “The American Pope –The Life and Time of Francis Cardinal Spellman”, Nhà xb. Time Books 1984, xin xem từ trang 238-245 để nắm vững nội dung hơn.

[iv]  Sách dẫn như trên.

[v]  Gettleman, Franklin, Young, H.B. Franklin, “VN and America: A Documented History”, Nhà xb. Grove Press, INC. 1985, “Taking up the White Man’s Burden: Two American Views (1954)”, trang 52,53

[vi]  Sách dẫn như trên, “Genesis of US Support of the Regime of NDD” by Robert Sheer, trang 118-132.