
Posted: 1.11.04
NGUYỄN KHUYẾN " NẰM CHUNG
VỚI KHÓI MÂY" Trần Mạnh Hảo Chúng
ta từng chứng kiến việc PGS. Nguyễn Lộc xuyên tạc văn bản thơ Nguyễn
Khuyến trong sách giáo khoa Văn trung học bằng cách để nhà thơ ngồi ngắm
hoa khô. Không, Nguyễn Khuyến ngồi lẫn giữa trăng suông rượu lạt, lẫn
trong hoa tươi, tre trúc, rơm rạ, ao chuôm, lẫn trong ếch nhái, đom đóm
cùng thuyền thúng, lá thu rơi để trào lộng chua cay thời thế đảo điên,
đoạn rút vào thui thủi, lẳng lặng cô đơn, cô độc, đêm đêm tự mài
hồn mình thành máu mực đề thơ mà nhớ nước. Như thể nước lụt Hà Những
bài thơ tả cảnh quê hương Việt Nam hay nhất, đẹp nhất của ông cũng là cốt tả cái hay, cái đẹp
của lẻ loi, cô quạnh, se sẽ đẹp, trong veo và xa vắng đẹp đến vô
cùng khuất nẻo bơ vơ :"Tiếng sáo vo
ve chiều nước vọng / Chiếc thuyền len lỏi bóng trăng trôi". Hồn
thơ Nguyễn Khuyến chính là "Tiếng sáo vo ve" bên trời "nước
vọng", là "bóng trăng trôi"dưới dòng lũ vô tình cuộn xiết,
hóa chiếc thuyền thơ cô độc len lỏi trên thi đàn Việt Nam thuở cơn lụt
lội nhân tình thế thái ngập tràn xứ sở. Ngay trong hai câu thơ hay đến
sững sờ tả cảnh đẹp hun hút, đẹp rờn rợn nổi gai ốc của nước lụt
Hà Nam này, Nguyễn Khuyến cũng chỉ cốt mượn nước lụt mà gọi hồn nước
về trong từ "nước vọng" để : "Sửa sang việc nước cho yên ổn"...
Tâm thức "nước", "nước non", "đất nước"... có
thể nói là tâm thức chủ đạo của Nguyễn Khuyến trong cả thơ nôm và
thơ chữ Hán; tuy ở đây chúng tôi chỉ mới khảo sát qua thơ nôm của
ông mà thôi. Trong bài thơ "Tự trào", Nguyễn Khuyến nói thẳng ra
điều cốt lõi nhất, đau đớn nhất của ông là nỗi nhục, nỗi đau vong
quốc, thông qua nghĩa đen của cuộc chơi cờ :"Cờ đương giở cuộc không còn nước".
Vì "Không còn nước " nên vua cũng không còn thực nữa, chỉ là
vua hề, chỉ là quan phường chèo thôi :" Vua chèo còn chẳng ra gì / Quan chèo vai nhọ
khác chi thằng hề "( Lời vợ anh phường chèo). Một vị túc nho lấy
trung quân ái quốc làm đầu, phải tự tìm nhọ nồi, muội đèn, tro trấu
mà bôi trát lên mặt vua quan thành trò hề như thế, với Nguyễn Khuyến hẳn
là nỗi đau lớn nhất trong đời? Vì "Không còn nước" nên sau hơn
12 năm làm quan tới chức Tổng đốc Sơn Tây, lúc vua Tự Đức mất và vua
Hàm Nghi ra chiếu cần vương chống Pháp, nhà thơ mượn cớ mắt lòa cáo
quan về ẩn dật cùng cà thâm dưa khú. Ông buồn lặng hóa "mây
côi", hóa "hạc độc", hóa thành " hoa năm ngoái",
thành "ngỗng nước nào", thành con cuốc gọi hồn nước năm canh,
thậm chí hoá thân vào mẹ Mốc, vào gái góa, vào anh giả mù, giả câm giả
điếc, thậm chí giả điên kiểu Sở cuồng, làm thơ đả kích giặc và
tay sai, như một cách yêu nước kháng Pháp của riêng mình... Nguyễn Khuyến
đau đớn nhận ra hoa nở ngoài giậu thu cũng không còn là hoa hôm nay của
mình nữa, ngỗng kêu trên bầu trời quê hương dĩ nhiên là ngỗng nước mình,
chứ sao lại là ngỗng nước nào:" Mấy
chùm trước giậu hoa năm ngoái / Một tiếng trên không ngỗng nước nào"
?( Thu vịnh). Khi "Không còn nước" nữa thì con ngỗng kia cũng thành
vong quốc, vong thân, thành "ngỗng nước nào"thôi. Phải chăng ngỗng
ấy cũng là ngỗng từ năm ngoái, ngỗng
của mình xưa mà không dám nhận, mà phải đau đớn than là "ngỗng nước
nào"? Rằng người không còn giữ được nước thì bay về làm gì ngỗng
ơi? Nhà thơ tủi hổ với cả ngỗng trên trời và hoa dưới đất, muốn làm
con cá lặn khuất dưới ao bèo, ngại cả nỗi cắn câu. Đất đã mất
thì trời phỏng còn ư, mùa thu phỏng còn ư ? Hoa ấy, ngỗng ấy cũng là
Nguyễn Khuyến; như "mây côi" và "hạc độc" kia còn bị
vong thân, vong quốc huống nữa là trời đất, con người! Chúng tôi cho rằng,
dù viết về phong cảnh mùa thu nông thôn , dù nới rộng đề tài ra từ bản
thân mình đến xã hội, từ chim hoa, xóm mạc đến nước non... hồn thơ
Nguyễn Khuyến bao giờ cũng toát lên một tinh thần yêu nước sâu xa, yêu
nước trong đau đớn, tủi buồn, yêu một cách trầm lắng mà sôi sục, quặn
thắt mà quan hoài, trào lộng mà trữ tình, kín đáo mà động vang, cô
đơn mà hòa nhập, lạnh lùng mà bỏng cháy, dữ dội mà dịu êm. Bút pháp
nghệ thuật bậc thầy dùng thuỷ nói hỏa, dùng tĩnh tả động, dùng dương
tả âm, dùng vật tả tâm, dùng cảnh ngụ tình và ngược lại của Nguyễn
Khuyến đã khiến không ít người khi tiếp cận thi ca ông, mới đụng vỏ
ngoài đã tưởng thấu vào gan ruột. Ví như trường hợp ba bài thơ thu của
thi hào là bài "Thu vịnh", "Thu điếu", "Thu ẩm"
được coi là dấu hiệu thiên tài của nhà thơ nông thôn đệ nhất Việt
Nam mà có người, ngay cả khi viết sách giáo khoa cũng chưa thẩm hết hồn
thu Nguyễn Khuyến. Họ nhìn bằng mắt thường nên ngỡ mặt ao thu bình lặng
kia là đáy nước, nên bảo nhà thơ viết về mùa thu với tâm trạng thư
thái, an nhàn(!) Rằng nhà thơ uống rượu say nhè như anh Chí Phèo say rượu
lè nhè vậy...Không, Nguyễn Khuyến chỉ hớp một tí rượu trong chén hạt
mít lấy hứng, chứ không say lè nhè như ai hiểu. Dưới cảnh thu, ngồi nhấp
chút rượu thu, câu cá thu, làm thơ thu, nhà thơ chỉ mượn bề mặt tĩnh lặng
ao thu mà tả sự động vang sôi sục, quặn thắt, u uẩn, buồn thương nơi
thẳm đáy lòng mình , đặng gọi hồn nước đã mất về thương hồn thu
hiển hiện. Nói theo kiểu Apollinaire, Nguyễn Khuyến chừng cũng cảm thấy
hồn thu đã chết, đã bỏ đi đâu như hoa kia ngỗng nọ, chỉ còn thân
xác thu trong veo, cô quạnh, vắng ngắt, bàng bạc như con ve mùa hè nằm chết
trong mùa thu sau khi đã hát rỗng cả ruột gan. Tả lửa song Nguyễn Khuyến
vẽ khói, tả nước mà nói thu, tả nỗi thẹn mình, tủi lây sang thu mà phải
mượn tới ông Đào Tiềm đời Tấn. Cũng có thể gọi ba bài thơ thu của
ông là tiếng chiêu hồn thu, chiêu hồn nước. Ngồi thưởng thu không chút
thư nhàn, đau xót quá, cảm thương nước mất mà sao thu vẫn rưng rưng tìm
về, nên nhà thơ không đừng lòng được, đành rơm rớm khóc :" Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe"? Đừng
đổ oan cho Nguyễn Khuyến "mắt đỏ hoe" vì say rượu. Mùa thu
trong ba bài thơ đẹp đến lạnh ngắt, đẹp đến tột cùng cô đơn, u tịch,
phải chăng vì mùa thu chưa chiêu được hồn "hoa năm ngoái", chưa
gọi được vía " ngỗng nước nào"...? Cám cảnh thay nỗi " Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được"
của nhà thơ, như thể ông là tù binh của cần câu, là tù binh của chính
hồn mình đang ở đâu đâu trong trời đất mang mang thiên cổ lụy? Nguyễn
Khuyến yêu nước lắm, thương nòi lắm, đau đớn nỗi đời quay quắt lắm,
đành giấu kín tình yêu nước vào cảnh thu, ao thu, rượu thu như cá giấu
dưới ao bèo. Thi thoảng, ta nghe một tiếng "Cá đâu đớp động dưới chân bèo",
như nhà thơ ngầm an ủi mình rằng còn cá tức nhiên còn nước...Vì vậy,
Nguyễn Khuyến rút ruột hóa thân vào hồn Thục Đế xưa, thành con cuốc gọi
hồn nước nay đến chảy máu cả đêm hè :" Năm canh máu chảy đêm hè vắng / Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ / Có phải
tiếc xuân mà đứng gọi / Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ " ( Cuốc
kêu cảm hứng ). Thương thay cho "Ngỗng nước nào" vẫn không chịu
bay đi, còn kêu xé trời cao trong thảng thốt nỗi niềm dù mùa thu đã chết.
Con ngỗng vong thân, gãy cánh, đáp xuống trang thơ mà hóa thành con cuốc Việt
Thơ nôm Nguyễn Khuyến hay cả ở thần lẫn
ở thái, ở hình lẫn ở thể, ở hồn chữ dân gian, gợi cảm, mới lạ,
hiếm thấy ví như :" Quyên đã gọi
hè quang quác quác / Gà từng gáy sáng tẻ tè te ...Đôi gót phong trần vẫn
khỏe khoe ", " Bán buôn gió chị với trăng dì"...Nguyễn
Khuyến quả là thánh chữ khi dùng động từ "thập thò " trong câu
thơ thần tình sau :"Một khóm thuỷ
tiên dăm bảy cụm / Xanh xanh như sắp thập
thò hoa". Câu thơ "sắp thập thò hoa" này mang đặc
trưng nhất của phong cách Nguyễn Khuyến. Từ đây, ta có thể thấy thi
pháp " thập thò hoa" là thi pháp độc đáo kỳ khu của thơ ông :
thập thò giữa tình và cảnh, giữa vật và tâm, âm và điệu, cảm và thức,
thập thò giữa thực và hư... kiểu "hoa năm ngoái" và "ngỗng
nước nào"... Nguyễn Khuyến mượn cảnh đẹp nông thôn mà yêu nước
Việt, một tình yêu buồn thương u uất được thể hiện bằng nghệ thuật
trữ tình trào phúng của thơ bậc thầy. Ông chính là ngọn Đọi sơn của
thi ca Việt |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com