
posted: 1.11.04
|
Hè
2002, một thân hữu của Giao Điểm đã về thăm gia đình tại Việt Trang
bìa của tập sách in tựa đề: “SÁU THÁNG PHÁP NẠN 1963”, của “Minh
Không Vũ Văn Mẫu”, in năm “1984”. Phóng ảnh đó, được chuyển lại
cho Giao Điểm, thuộc Phần Hai, Chương Một của cuốn sách nầy. Trên phương
diện văn bản lịch sử thì đây là một tài liệu rất quý của một
nhân chứng trực tiếp và trong cuộc, cho nên Giao Điểm đang tìm cách để
có được đầy đủ toàn bộ tài liệu nầy để phổ biến rộng rãi đến
bạn đọc trong tương lai. Giao
Điểm
Trong
cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức vào ngày 23/10/1955, không ai có thể
chối cãi rằng tất cả đa số, nếu không muốn nói ít nhất 80% các đồng
bào đi bỏ phiếu cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm giữ chức vụ quốc trưỡng
tại miền Nam Việt Nam, thay thế Cựu hoàng Bảo Đại bị truất phế, thuộc
thành phần Phật tử. Chính Ngô Đình Diệm như đã chép trên đây, đã ghi
nhận sự thật hiển nhiên ấy. Căn
cứ vào kết quả cuộc trưng cầu dân ý này, có thể nói rằng dân chúng
không hề nghĩ đến tiêu chuẩn tôn giáo trong sự chọn người giữ trọng
trách lãnh đạo quốc gia. Thực
vậy không có một ai đã nêu vấn đề Ngô Đình Diệm đã theo tôn giáo
nào, trong khi xử dụng quyền bầu cử của công dân ngày 23/10/1955. Người
ta đã chỉ trích các thủ tướng Nguyễn văn Xuân, Trần văn Hữu, Nguyễn
văn Tâm, Bữu Lộc về đủ cả các phương diện chính trị, nhưng không ai
tìm biết họ theo tôn giáo nào. Nhưng kể từ khi Ngô Đình Diệm về chấp
chính ngày 7/7/1954, mặc dù không có một công văn chính thức hay một lời
công bố nào hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp đề cập đến vấn đề,
toàn thể trong nước đều biết rõ và bàn tán về điểm thủ tướng mới
được chỉ định để lập nội các thay thế chính phủ Bửu Lộc là một
tín đồ Thiên Chúa giáo, một gia đình rất ngoan đạo tại cố đô Huế.
Bào huynh là Ngô Đình Thục giữ chức Giám mục tại Vĩnh Long, và chính
Ngô Đình Diệm cũng đã từng sống nhiều năm trong các tu viện ở Việt
Nam cũng như tại ngoại quốc (1) và đặc biệt
được Hồng y Giáo chủ Spellman ở Mỹ ủng hộ. Nhưng
nếu dư luận đã bàn tán nhiều về tôn giáo của gia đình Ngô Đình Diệm,
người ta chỉ coi điểm này là một sắc thái đặc biệt của vị tân thủ
tướng cũng như người ta đã nêu lên quá khứ trong sạch của Ngô Đình
Diệm khi còn làm việc quan và tính tình khí khái của ông khi đã từ chức
Thượng thư Bộ Lại trong nội các dầu tiên của Bảo Đại, không một ai
nghĩ rằng Ngô Đình Diệm, khi cầm chính quyền , sẽ có chính sách thiên vị
Thiên Chúa giáo, và kỳ thị Phật giáo. Tuy
nhiên trong thực tế , ngay từ khi một triệu dân di cư bắt đầu rời Bắc
việt sau khi hiệp định Genève 20/7/1954 để vào Nam cho đến ngày xảy ra vụ
triệt hạ cờ Phật giáo tại Huế ngày 8/5/1963, nhiều sự kiện đã xảy
ra, hoặc trên bình diện toàn quốc, hoặc tại địa phương, tố cáo một
chính sách thiên vị Công giáo hay một chính sách kỳ thị trá hình mỗi
ngày một rõ rệt. Chính
sách này có thể nhận xét trên hai phương diện: 1
– Phương diện pháp lý và tinh thần (Tiết 1) 2
– Phương diện các hoạt động thực tế (Tiết 2) TIẾT 1 SỰ THIÊN VỊ THIÊN CHÚA
GIÁO TRÊN PHƯƠNG DIỆN PHÁP LÝ
VÀ TINH THẦN Giáo
sư Bửu Hội, một nhà bác học danh tiếng đã nhận đại diện cho chính
phủ Ngô Đình Diệm trước Liên Hiệp Quốc khi vụ đàn áp Phật giáo được
mang ra thảo luận tại tổ chức quốc tế này. Căn cứ vào điều 17 Hiến
pháp ban hành ngày 26/1/1956, giáo sư Bửu Hội đã binh vực chính phủ Ngô
Đình Diệm và biện luận rằng tại Việt Tuy
nhiên trong thực tế, trên phương diện pháp lý và tinh thần, không thể chối
cãi rằng chính sách của họ Ngô đã dành cho Thiên Chúa giáo một sự ưu
đãi đặc biệt khác hẵn với các tôn giáo khác. Với thời gian, sự ưu
đãi này mỗi ngày mỗi lộ liễu công khai, để đạt tới những hình thức
một sự kỳ thị trá hình, gây nhiều nổi bất bình trong dân chúng, nhưng
họ Ngô vẫn làm ngơ. Lần
lượt trong tiết này sẽ xét: Đoạn
I – Sự thiên vị Thiên Chúa giáo về phương diện pháp lý. Đoạn
II – Sự thiên vị Thiên Chúa giáo về phương diện tinh thần. Đoạn I SỰ THIÊN VỊ THIÊN CHÚA
GIÁO VỀ PHƯƠNG DIỆN PHÁP LÝ Văn
kiện pháp lý cơ bản trong một quốc gia là hiến pháp. Qui định các quyền
và nghĩa vụ cũa công dân, cũng như tổ chức bộ máy chính quyền trong nước,
hiến pháp phải được tôn trọng triệt để. Luật pháp nào vi phạm vào
hiến pháp sẽ bị coi là vi hiến và không có giá trị trên phương diện
pháp lý. Lần
lượt trong đoạn này, sẽ xét hai vấn đề: Hiến
pháp 1956 của nền Đệ nhất Cộng hòa có thiên vị Thiên Chúa giáo không? Luật
pháp thông thường của nền Đệ nhất Cộng hòa có ưu đãi Thiên Chúa
giáo không? A – Hiến Pháp 1956 và sự thiên vị
Công giáo Hiến
pháp 1956 do Quốc hội biểu quyết ngày 20/10/1956 được Tổng thống Ngô Đình
Diệm ban hành ngày 26/10/1956, thành lập nền Đệ nhất Cộng hòa. Hiến
pháp 26/10/1956 gồm 98 điều, chia làm 8 thiên. Thiên thứ hai qui định về “Quyền lợi và nhiệm vụ của người dân”
theo tinh thần bản tuyên ngôn nhân quyền quốc tế của tổ chức Liên Hiệp
Quốc. Điều
17 của Hiến pháp Việt Nam 1956 đã được giáo sư Bửu Hội chiếu dẫn
trước tổ chức Liên Hiệp Quốc để chứng minh rằng tại Việt Nam không
có sự kỳ thi tôn giáo. Điều 17 này qui định như sau: “Mọi người dân đều có tự do tín ngưỡng,
tự do hành giáo và tự do truyền giáo, miễn là xử dụng quyền ấy không
trái với luân lý và thuần phong mỹ tục.” Hiến pháp 26/10/1956 như vậy
đã minh thị công nhận nguyên tắc tự do tín ngưỡng và bình đẵng giữa
các tôn giáo. Tuy
nhiên trong phần “Mở đầu” của Hiến
pháp, đã có một đoạn phản chiếu của một sự thiên vị Thiên Chúa
giáo khá rõ rệt như sau: “Ý thức rằng nước ta ở trên con đường
giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu
tư tưỡng tiến bộ để hoàn thành sứ mệnh trước Đấng Tạo Hóa và
trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh nhân bản và phát triễn
con người toàn diện....” Trong
đoạn văn trích dẫn này, phần mở đầu của Hiến pháp 1956 đã đề cập
đến sứ mạng trước Đấng Tạo Hóa, tức là trước Đức Chúa trời
trong Thiên Chúa giáo, mà không đề cập tới các tôn giáo khác. Đoạn
văn này đã đượm sắc thái thiên vị Thiên Chúa giáo. Vô tình hay cố ý,
đoạn văn này đã tạo cho Thiên Chúa giáo một địa vị ưu đãi đặc biệt
tại Việt Nam vì Hiến pháp 1956 nói rõ là nhằm mục dích hoàn thành sứ mạng
trước Chúa tức là Đấng Tạo hóa đã tạo dựng ra trời đất và vạn vật
theo như Thánh kinh của Thiên Chúa giáo đã chép. Sự
thiên vị này cũng không có gì lạ vì chính em Tổng thống Ngô Đình Diệm
là Ngô Đình Nhu, giữ chức cố vấn chính trị bên cạnh tổng thống cũng
như là một dân biểu đắc cử tại quận Vạn Ninh, Ninh Hòa (tỉnh Khánh
Hòa) với tư cách ứng cử viên của đảng Cần Lao. Vợ
Ngô Đình Nhu là Trần Lệ Xuân cũng trúng cử dân biểu tại đơn vị 1 (các
quận Gio Linh, Trung Lương , Cam Lộ và Hương Hóa - tỉnh Quãng Trị). Ngoài
ra hầu hết các dân biểu khác đều là bộ hạ của gia đình họ Ngô. Do
đó lời mở đầu của Hiến pháp năm 1956 đã phản ảnh một sự thiên vị
đối với Thiên Chúa giáo không có điều gì lạ, nhất là sự thiên vị
này chỉ được đề cập đến trên một bình diện lý thuyết, không có
những hậu quả như Dụ số 10, biệt đãi Thiên Chúa giáo về phương diện
thực tế. B. - Dụ số 10 và sự ưu đãi Thiên Chúa
giáo Trong
nền luật pháp thông thường của nền Đệ nhất Cộng hòa, Dụ số 10
ngày 6 tháng 8 năm 1950 là bản văn pháp luật đã bị dư luận chỉ trích rất
nhiều, vì đã minh thị dành cho Thiên Chúa giáo một địa vị ưu đãi và
đồng hóa các tôn giáo khác, trong đó có Phật giáo, vào các hiệp hội
mà sự thành lập cũng như các sinh hoạt khác phải tuân theo một sự quy
định chặt chẽ. Sự hủy bỏ Dụ số 10 này là một trong năm đòi hỏi của
Phật giáo sau vụ triệt hạ cờ Phật giáo tại Huế. Dụ
số 10 này đã được Bảo Đại ban hành từ ngày 6/8/1950 để quy định thể
lệ lập hiệp hội (Association). Tại sao sự quy định này đã được áp
cho tất cả các tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng? Tại sao Ngô Đình
Diệm không sửa đổi sự quy định ấy? Các
nét chính của của Dụ số 10 Điều
thứ nhất của Dụ số 10 đă định nghĩa thế nào là một hiệp hội và
đồng thời hoạch định phạm vi áp dụng của Dụ này :”Hội là hiệp ước của hai hay nhiều
người thỏa thuận góp kiến thức hay hành lực một cách liên tiếp để
theo đuổi mục đích không phải là phân chia lợi tức, như là mục đích
tế tư, tôn giáo, chính trị, từ thiện, khoa học, văn học, mỹ nghệ, tiêu
khiển, thanh niên thể thao va đồng hiệp ái hữu. Muốn có hiệu lực thì hội nào cũng phải hợp với nguyên
tắc chung của pháp luật và khế ước và nghĩa vụ.” Điều
số 4 của Dụ số 10 bắt buộc các hiệp hội phải được các Tổng trưởng
Bộ Nội vụ ký nghị định cho phép thành lập mới được hoạt động. Nếu
hiệp hội chỉ được hoạt động trong phạm vi một phần Việt Theo
điều thứ 6, người sáng lập hội phải làm đơn xin phép thành lập kê
rõ: Mục đích của hội Tên hiệu của hội Hạn điều ước Thể lệ vào hội, ra hội va trục
xuất khỏi hội Nghĩa vụ và quyền lợi các hội
viên. Tài sản của hội. Thể lệ về động sản và bất động
sản của hội. Họ và tên tuổi của người sáng lập.
Thể lệ về việc cử và bãi của
những người quản trị và những quyền hạn của người ấy. Nguyên cớ giải tán hội. Thể lệ thanh toán va quy dụng tài sản
hội. Điều
thứ 8 quy định rằng hạn trong một tháng kể từ ngày được phép thành
lập, nhân viên trong ban trị sự của hội phải đăng trong công báo Việt
Nam hay trong Hành pháp Tập san tại các phần Việt Nam, một bán báo cáo
nói rõ ngày được phép thành lập hội, nghị định do chức vụ nào ký,
danh hiệu mục đích của hội và sở. Điều
thứ 10 dự liệu rằng nếu có việc gì thay đổi trong việc trị sự của
hội thì hạn trong 1 tháng phải trình cho Tỉnh trưởng, Thị trưởng, Quận
trưởng Sài Gòn – Chợ Lớn để trình cho Thủ hiến và Tổng trưởng Bộ
Nội vụ biết. Những
tờ khai ấy phải nói rõ: Những sự thay đổi trong nhân viên
ban trị sự hay Giám đốc. Những doanh sở và chi nhánh mới
thành lập. Những sự thay đổi về địa chỉ
của hội sở. Những việc mua bán bất động sản
và đính theo một tờ trình phác tả và kê giá mua, giá bán các bất động
sản ấy. Các
sự thay đổi trong việc trị sự và điều lệ của hiệp hội phải biên
rõ trong một cuốn sổ để tại trụ sở của hội và phải biên rõ ngày
khai và ngày duyệt y các sự thay đổi ấy. Điều
thứ 13 còn đặt ra một điều kiện khó khăn hơn : Các hiệp hội mỗi năm,
trong tuần lễ sau khi hội họp đại hội thường niên, phải theo hệ thống
cai trị, gởi cho Thủ hiến sở tại để chuyển lên Tổng trưởng Bộ Nội
vụ hai bản danh sách các hội viên, và hai bản kê tình hình tài chánh
và tự rõ các căn nguyện cùng việc xữ dụng tiền tài của hội. Điều
thứ 14 liên hệ đến các nguồi lợi tức và tài chánh của các hiệp hội:”Không hội nào có quyền trợ cấp của
chính phủ, của các địa phương, quỹ hàng tỉnh và quỹ hàng xã, trừ những
hội khoa hoc, mỹ nghệ, tiêu khiển, từ thiện, thanh niên và thể thao.” Các
hội đều có quyền thu và xử dụng tiền góp của hội viên và quyền thưa
kiện tại tòa án. Ngoài
ra các hội chỉ có quyền chiếm hữu, tạo mãi, quản trị, đứng làm sở
hữu chủ những bất động sản thật cần thiết để đạt mục đích của
hội. Những người có liên quan và công tố viên có quyền xin tòa án hủy
bỏ những việc tạo mãi bất động sản trái với điều này. Bất động
sản ấy sẽ đem bán đấu giá và được bao nhiêu tiền sẽ sung vào quỷ
hội. Theo
điều thứ 20, điều lệ của hội định rõ nghĩa vụ cùng quyền lợi
của các hội viên. Người nào vào hội thì bắt buộc phải tuân theo điều
lệ của hội. Các
điều 25, 26 va 27 qui định về Đại hội đồng của hội: Đại hội đồng
có quyền tuyệt đối trong hội. Đại hội đồng do những người thay mặt
hội đứng chiêu tập. Sự chiêu tập cứ như điều lệ hoặc khi có một
phần tư trong số hội viên thỉnh cầu mà làm. (Đ 25). Đại
hội đồng sẽ định đoạt về việc nhận hội viên vào hay trục xuất hội
viên khỏi hội, cử các người thay mặt hội, kiểm soát việc làm của họ
và có thể bãi nhiệm vụ của họ, nếu có duyên cớ chính đáng Đại hội đồng xét xử mọi việc
không thuộc về các cơ quan khác của hội. (Đ.26)
Hội viên nào cũng có quyền bỏ phiếu
như nhau trong kỳ Đại hội đồng. Các điều 30, 31, 32 và 33 qui định
chặt chẽ các hoạt động của hiệp hội và dự liệu các sự chế tài. Sau
khi hội đã được phép thành lập, ban trị sự phải trình chiếu nhà
đương chức sở tại và Tổng trưởng bộ Nội vụ hay Thủ hiến, theo hệ
thống cai trị, bản nội qui của hội và nếu sau này có điều gì sửa đổi
cùng phải trình chiếu những sự sửa đổi ấy. (Đ.30) Các
hội đã được phép thành lập phải hoạt động theo đúng mục đích của
hội đã tự trong điều lệ. Khi nào xét ra một hội đã quả thị trực
tiếp hay gián tiếp theo những mục đích khác với mục đích trong điều lệ
thì hội sẽ bị giải tán và các hội viên, nhân viên ban trị sự có thể
bị truy tố tại tòa án. (Đ. 31) Những
hội không đươc phép thành lập thì coi như không có và tất cả những hoạt
động của hội đều coi như vô hiệu lực và hội sở của hội ấy thuộc
quản hạt tòa án tỉnh ấy có quyền giải tán. Người
nào cũng có quyền trình tòa án để xin giải tán các hội không được phép
thành lập.( Đ. 32) Điều
33 dự liệu trong những hình phạt đối với những hội viên sáng lập, những
hội viên giám đốc và quản trị không được phép thành lập hay đã được
phép thành lập nhưng sau lại bị giải tán, mà vẫn cứ hoạt động hay lại
tự tiện tự lập trái phép, hay đã hoạt động ra ngoài mục đích định
trong điều lệ hội để đạt mục đích trái phép hay trái phong tục....
Trong những phong tục kể trên, hình phạt sẽ là phạt bạc 50 đồng đến
5.000 đồng và phạt giam từ 6 ngày cho đến 6 tháng. Đối
với hội viên thường, hình phạt từ 50 đồng tới 200 đồng và phạt
giam từ 6 ngày đền 2 tháng hoặc một trong hai thứ hình phạt này. Những
người dung túng cho họp các hội không được phép thành lập hay bị giải
tán cũng có thể bị phạt như trên. Tòa án khi truy tố sẽ giải tán hội. Điều
43 dự định rằng các nghiệp đoàn phải tuân theo sự quy định của Dụ
số 10. Các nghiệp đoàn đã thành lập rồi phải tạm ngưng hoạt động và
trong thời hạn một tháng sẽ phải hợp thức hóa theo Dụ số 10. Điều
44 quan trọng nhất vì người ta đã căn cứ vào điều này để áp dụng Dụ
số 10 cho Phật giáo. Điều 44 quy định:”
Chế độ đặc biệt cho các Hội Truyền giáo Thiên Chúa giáo và Gia Tô và
các Hoa kiều lý sự Hội sẽ ấn định sau.” Vì
điều 44 chỉ đề cập tới chế độ riêng biệt cho các Hội Truyền giáo
Thiên Chúa giáo và các Lý sự Hội Hoa kiều nên Chính phủ Ngô đình Diệm
đã cho rằng Phật giáo – vì không nằm trong các trừ lệ kể trên - cũng
bị Dụ số 10 chi phối. Nói
khác, mặc dầu Dụ số 10 do Bảo Đại ban hành từ tháng 8/1950, gần 4 năm
trước khi Ngô Đình Diệm về chấp chánh, nhưng chính phủ Ngô Đình Diệm
vẫn đem Dụ ấy ra áp dụng cho các Hội Phật giáo, không thay đổi, coi Giáo
hội cũng như các Hiệp hội thể thao hay từ thiện. Trong khi đó Truyền
giáo Gia Tô được biệt đãi vì điều 44 của Dụ số 10 đã dự liệu quy
chế các Hội này sẽ được dự liệu sau. Phạm
vi áp dung Dụ số 10 Tại
sao lại đem áp dụng Dụ số 10 về các Hiệp hội cho Giáo hội Phật
giáo? Dụ
số 10 đã minh bạch nêu rõ ngay trong nhan đề là “Dụ quy định thể lệ lập hội” Mặc
dù trong điều thứ nhất, Dụ số 10 có định nghĩa minh bạch: “Hội là
hiệp ước của hai hay nhiều người thỏa thuận góp kiến thức hay hành lực
một cách liên tiếp để theo đuổi mục đích không phải là chia lợi tức,
như mục đích thuộc về tế tư, tôn giáo...ta
không thể nào coi các tổ chức Phật giáo như Tổng hội PhậtgGiáo Việt
Nam là một hiệp hội thông thường giống như các hiệp hội khuyến khích
văn hóa hay thể thao và bắt buộc tuân theo Dụ số 10. Ngay
đối với các nghiệp đoàn, nhà làm luật 1950 cũng thấy cần phải minh thị
ghi rõ trong điều 43 là các nghiệp đoàn cũng do Dụ số 10 chi phối. Đối
với các hội Truyền giáo Thiên Chúa giáo và các Lý Sự hội Hoa kiều (tức
là các Bang Hoa kiều), nhà làm luật 1950 cũng ghi rõ sẽ qui định một chế
độ riêng. Đối
với Phật giáo sỡ dĩ nhà làm luật 1950 khong ghi rõ là do Dụ số 10 và
chi phối, và cũng không bắt buộc hợp thức hóa như các nghiệp đoàn, vì
sự thật đã quá hiển nhiên: Tự ngàn xưa các tổ chức Phật giáo không
bao giờ là một hội. Dân chúng đến chùa đi lễ Phật, để nguyện cầu
thoát khỏi bể khổ trần gian và vòng sinh hóa. Không một Phật tử nào
có một ý nghĩ vào hội hay lập hội theo ý nghĩ thông thường phàm tục. Đứng
trên phương diện thuần túy pháp lý, phải có yếu tố chính yếu là ý muốn
lập hội (Animus societatis hay affectio societatis) của các đương sự mới
có thể nói đến hội. Thiếu yếu tố ấy như trong cộng đồng Phật tử,
không thể nào nói đến hội hay hiệp hội. Chính
trong điều thứ nhất Dự số 10 đã định nghĩa minh bạch “Hội là Hiệp ước hai hay nhiều người
thỏa thuận góp kiến thức hay hành lực một cách liên tiếp để theo
đuổi một mục đích...” Ở đây trong các giáo hội hay các tổ chức
trong Phật giáo, thiếu hẳn sự thỏa thuận lập hội trong tâm trí của
các Phật tử, thì làm sao gọi được là hội để áp dụng Dụ số 10? Bắt
buộc Giáo hội Phật giáo Việt Sở
dĩ chúng tôi đã phân rõ nội dung những điều chính yếu của Dụ số 10,
chính là để chứng minh rằng sự quy định ấy không thể nào áp dụng
cho Giáo hội Phật giáo. Chúng
tôi chỉ cần nêu một điểm hiển nhiên: Theo điều 13 “Các hội mỗi năm, trong tuần lễ sau khi họp
đại hội đồng thường xuyên, phải theo hệ thống cai trị, gởi cho Thủ
hiến sở tại để chuyển lên Tổng trưởng Bộ Nội Vụ hai bản danh sách
các hội viên và hai bản kê khai tình hình tài chánh và tự rõ các căn
nguyên cùng việc xử dụng các tiền tài của hội.” Ai
cũng rõ là các Phật tử gồm hơn 80% dân số. Nếu coi các Phật tử là hội
viên của giáo hội và hàng năm phải gửi các danh sách lên Bộ Nội vụ,
thật là một điều phiền nhiều vô lý! Tuy
nhiên chính phủ Ngô Đình Diệm vẫn công nhiên coi phạm vi áp dụng Dụ số
10 bao gồm cả giáo hội Phật giáo. Khi
phái đoàn điều tra của tổ chức Liên Hiệp quốc được phái sang Việt
Nam vào tháng 10 năm 1963, ông Bùi văn Lượng, Bộ trưởng bộ Nội vụ, đã
phải biện luận một cách gượng gạo như sau về sự áp dụng Dụ số 10
cho Phật giáo: “Chúng
tôi luôn luôn có một thái độ vô cùng cởi mở đối với những vấn đề
tôn giáo và nhất là đối với Phật giáo. Nhiều điều khoản trong Dụ,
như sự bắt buộc phải khai báo với bộ Nội vụ danh sách những hội
viên của chùa, của một ủy ban hay của một hội Phật giáo thường
đươc làm ngơ, nhất là taị các tỉnh. Cho đến 1960, thái độ dễ dãi
ấy trở thành thông dụng, và khi tôi được bổ nhiệm giữ chức Bộ
Trưởng Bộ Nội Vụ, thái độ ấy vẫn còn tiếp tục, và tôi không bắt
thi hành một cuộc kiễm tra nào hết. Nhưng năm 1963, tôi tra cứu các sổ
bộ và thấy sự hiện diện của một số chùa chiền và Phật giáo đồ,
tôi mới nhận ra rằng thật quả chúng tôi không thi hành Dụ số 10! Những
sổ bộ ghi chép bỏ dỡ dang, chứng tỏ rằng chúng tôi đã áp dụng Dụ số
10 một cách tự do và mềm dẽo. Những ngôi chùa và những hội Phật
giáo được thành lập mà không khai báo. Điều ấy có thể chấp nhận ở
thôn quê nhưng ngay ở các đô thị và bộ Nội vụ cũng không có giấy tờ
khai báo cả. Từ 1954 đến tháng 1/1963, chúng tôi không nhận được một
đơn từ khiếu nại hay yêu cầu sửa đổi Dụ số 10 nào cả. Tôi cần phải
minh xác hai điểm sau đây. Chỉ vào tháng 5 năm nay (1963), trong khi vụ Phật
giáo bùng nổ, tôi mới tra cứu sổ bộ để xem tổng số chùa chiền. Lúc
ấy tôi mới nhận thấy rằng các sổ bộ không được ghi chép một cách
đầy đủ, kịp thời và có nhiều chùa và hội không được nhập bộ
ngay ở các tỉnh....” (2) Như
vậy chính Bộ trưởng bộ Nội vụ cũng xác nhận rằng trước năm 1963,
trong thực tế, Dụ số 10 không áp dụng cho các chùa chiền và Phật giáo.
Danh sách hội viên không được kê khai đầy đủ và bộ Nội Vụ cũng bỏ
ngơ không bắt buộc phải gửi các danh sách đến chính quyền. Sự
thực như đã nêu rõ trên đây, đem áp dụng Dụ số 10 cho Phật giáo là một
việc làm trái với mục đích và sự quy định của nhà làm luật 1950. Hơn
nữa nếu quả Dụ số 10 có một phạm vi áp dụng dẫn đến sự đối đãi
các tôn giáo một cách bất bình đẵng, thì Dụ số 10 vi hiến, trái với
điều 17 của Hiến pháp 1956 dự liệu sự tự do tín ngưỡng mà chúng ta
đã phân tách. Thiếu
tướng Trần Tử Oai, đại diện của chính phủ Ngô Đình Diệm, thuyết
trình về vấn đề Phật giáo trước phái đoàn Liên Hiệp Quốc, cũng đã
đề cập đến Dụ số 10 và một quan điểm tương tự như Bộ trưởng Bộ
Nội vụ: ....”Trong thực tế, chính phủ
không áp dụng triệt để Dụ số 10.”: “Đối
với nhũng hội thuần túy Phật giáo, chính phủ cũng rất khoan hồng, bằng
chứng là hàng trăm ngôi chùa được dựng lên mà không cho chính quyền biết
chúng thuộc hội nào, cũng không trình điều lệ lập hội hay khai báo gì
cả. Những
ngôi chùa ấy , mà sự thống nhất chỉ nằm trong danh từ Phật đà và
cái y của nhà sư, thường thường không có một giây liên hệ gì với
nhau hết. Hiện nay có nhiều chùa và nhiều giáo phái Phật giáo hoàn toàn
khác nhau về phương diện thờ cúng và không thống thuộc gì với Tổng hội
Phật giáo Việt Trong
thực tế, từ khi ban hành Dụ số 10, chính phủ chỉ áp dụng những điều
khoản trong văn kiện ấy đối với những hội tôn giáo mà những hoạt động
có những tính cách hoạt dộng xã hội. như hoạt động của Phật giáo
xã hội chẵng hạn. Chính phủ chưa bao giờ dùng dụ ấy để nhằm mục
đich kỳ thị tôn giáo nào hết. Cũng
nên ghi nhớ rằng từ năm 1950, nghĩa là từ 13 năm nay, không có một hội
tôn giáo nào, Phật giáo hay Thiên Chúa giáo, gợi lên vấn đề liên quan đến
căn bản của Dụ số 10 nói trên. Mặc
dù thế để đáp lại nguyện vọng của phái đoàn Phật giáo, Tổng thống
Việt Nam Cộng hòa đã chỉ thị cho ông Bộ trưởng Nội vụ tiếp xúc với
cơ quan Lập pháp để nghiên cứu những sửa đổi cho Dụ số 10, và Quốc
hội đã thành lập một ủy ban đặc biệt có nhiệm vụ xem xét toàn diện
vấn đề liên quan đến các hội truyền giáo. Bản
thuyết trình của Thiếu tướng Trần Tử Oai được thảo bằng Pháp văn và
đã được trao tay cho phái đoàn Liên Hiệp Quốc “ (3) Về
vấn đề sửa đổi Dụ số 10, Tổng trưởng Bộ Nội vụ đã cho phái đoàn
Liên Hiệp Quốc biết :”Từ 1956 đến
1959, chúng tôi đã trải qua hai Quốc hội Lập pháp, và trước khi vụ Phật
giáo bùng nổ, chính phủ không được Quốc hội chuyển một dự án nào về
sự sửa đổi Dụ số 10. Cái nguồn xuất phát thứ hai của những sửa đổi
là chính phủ. Muốn đề cập đến sự sửa đổi một đạo dụ hay không,
phải chú ý đến hai điểm. Thứ nhất phải xem xét sự sửa đổi có cần
thiết không, thứ hai phải có đơn thỉnh nguyện của dân chúng. Về điểm
thứ nhất cho đến khi vụ Phật giáo bùng nổ trong tháng năm 1963, chúng
tôi nhận thấy không cần thiết phải sửa đổi dụ ấy vì mặc dù những
điều khoản rất nghiệt ngã và sự dự trù kiểm soát rất chặt chẽ của
nó đối với các hiệp hội, chính phủ chưa bao giờ áp dụng một cách
ngiêm khắc...” (4) Sự
thực, việc áp dụng Dụ số 10 cho Phật giáo, dù là một sự áp dụng lỏng
lẻo, cũng là một sai lầm vì Phật giáo cũng là một tôn giáo, không phải
là một hiệp hội. Sở dĩ Dụ số 10 được đem thi hành cho Phật giáo chỉ
vì chính phủ muốn kiểm soát Phật giáo. Không
những trên phương diện hiến pháp va pháp luật, chính phủ Ngô Đình Diệm
đã ưu đãi Thiên Chúa giáo, thái độ này còn được phản ảnh trong nhiều
hành động khác. Đoạn II SỰ THIÊN VỊ THIÊN CHÚA
GIÁO VỀ PHƯƠNG DIỆN TINH THẦN Về
phương diện tinh thần, Tổng thống Ngô Đình Diệm muốn dành cho Thiên
Chúa giáo một địa vị đặc biệt, hơn hẵn các tôn giáo khác. Các
lễ của Thiên Chúa giáo được Tổng thống Diệm rất chú trọng, đích
thân đến giáo đường dự lễ. Ngoài ra, đối với Phật giáo, chính quyền
thường không chịu nhìn nhận rằng thành phần trong nước theo Phật giáo
chiếm ít nhất đến 80%. Chính quyền đã đưa ra một lối giải thích để
hạ thấp địa vị của Phật giáo, và ngụy biện rằng đa số những người
thường được gọi là Phật giáo đồ thật ra không có tư cách ấy vì họ
theo Khổng giáo, Lão giáo, hoặc được gọi là Phật tử vì cha mẹ họ
là Phật tử Trong
đoạn này, sẽ xét quan điểm của chính phủ về hai vấn đề: Các lễ chính của Thiên Chúa giáo Thành phần của Phật tử. I. CÁC LỄ CHÍNH CỦA THIÊN CHÚA GIÁO Những
ngày lễ của Thiên Chúa giáo như lễ Phục sinh, lễ Thăng Thiên, lễ Giáng
sinh... được coi là những ngày nghỉ chính thức như trong thời Pháp thuộc;
trái lại, các ngày lễ của Phật giáo hay của các tôn giáo khác không
được chú trọng. Trong
các ngày lễ của Thiên Chúa giáo, Tổng thống đi dự lễ tại Giáo đường
Sài Gòn, không phải với một tư cách cá nhân, mà với danh nghĩa một vị
nguyên thủ quốc gia, tiền hô hậu ủng, có đủ quân hộ vệ mặc lễ phục
đi xe mô tô kèm theo. Các hàng ghế đầu tiên trong đại giáo đường dành
cho các Bộ trưởng và Ngoại giao đoàn. Lẽ dĩ nhiên các hàng Tổng giám
đốc và Giám đốc, dù không theo Thiên Chúa giáo cũng có mặt đông đủ. Trong
các lễ có rước kiệu, cần phải lập các khán đài danh dự. Không hiểu
do chỉ thị xuất phát từ đâu, các khán đài đều được xây dựng bằng
phương tiện của quân đội. Người ta có cảm tưởng Thiên Chúa giáo là
một tôn giáo của Chính phủ, và Quân đội đã xây dựng khán đài như xây
dựng khán đài duyệt binh trong ngày Quốc Khánh. Nói đến các buổi lễ
long trọng tại nhà thờ chính tại Thủ đô, kẻ viết những dòng này
không thể nào quên được một chuyện đã xảy đến vào dịp Tổng thống
Ngô Đình Diệm ban hành Hiến pháp 26/10/1956. Khai nguyên nhiệm kỳ tổng thống
đầu tiên, vị tổng thống thứ nhất của nền Đệ nhất Cộng hòa muốn
dâng một lễ tạ ơn Chúa tại Đại Thánh đường Sài Gòn, mời tất cả
Đại sứ trong Ngoại giao đoàn đến dự. Bộ Ngoại giao phải phụ trach vụ
in thiếp mời gửi đến các sứ quán. Việc
in thiếp mời là một việc rất thông thường vì bộ Ngoại giao đã đủ
các mẫu thiếp mời. Việc in thiếp và gởi thiếp do Nha Nghi lễ phụ
trách. Trước
ngày hành lễ mấy hôm, một buổi sáng tôi vừa mới đến Bộ thì có điện
thoại bên phủ Tổng thống mời sang gấp có việc rất khẩn. Sang dinh Độc
Lập, vào văn phòng Tổng thống, tôi thấy Tổng thống Ngô Đình Diệm
đương ngồi trong chiếc ghế bành bọc da, trước một cái bàn tròn nhỏ
trên để một tấm thiếp. Tổng thống như có vẻ chờ đợi. Khi thấy tôi
đến ông dùng ngón trỏ tay phải gỏ cành cạch lên tấm thiếp, miệng
nói: “Việc này chắc chắn phải có bàn
tay Cộng Sản.....” Lời
nói trên chỉ tiếp nối một sự suy tư trong nội tâm. Tôi đương tự hỏi
không hiểu vấn đề gì, mà có bàn tay Cộng Sản mà Tổng thống Diệm
đưa cho tôi xem tấm thiếp do vị đại diện Tòa thánh Vatican vừa đem vào
trong dinh, cầm tấm thiếp, tôi mới biết rõ đó là tấm thiếp mời do nha
Nghi lễ của bộ Ngoại giao gửi đến các vị đại diện Ngoại giao tại
Sài Gòn, nhưng thay vì là một tấm thiếp mời dự lễ tạ ơn Chúa thì là
một tấm thiếp dự lễ cầu hồn. (mess de requiem). Tôi
chết điếng người, không ngờ viên Giám đốc Nghi lễ của Bộ tôi lại
ngu dốt đến nước ấy. (5) Thoáng
trong giây lát, tôi thấy hiện ra trước mắt tất cả nguy cơ sụp đổ xuống
đầu viên giám đốc này, nếu tôi trình thẳng sự dốt nát và lầm lỗi
của viên ấy, đã không biết việc, cắm đầu làm liều không chịu hỏi
để xảy ra một sự tai hại như vậy. Không những bị cách chức, viên
giám đốc ấy chắc chắn khó tìm được nơi nào thâu dụng trong bộ máy
hành chánh thời ấy. Động
lòng từ tâm, tôi chỉ còn một cách cứu vãn tương lai cho một nhân viên
thuộc hạ, là nhận lấy trách nhiệm trong vụ này thay cho đương sự. -
Thưa cụ – (Khi ấy chúng tôi có thói quen gọi Tổng thống Ngô Đình Diệm
là cụ) – Trong việc này tôi xin nhận hết trách nhiệm về điểm sơ xuất
không kiểm điểm lại thiếp in trước khi sở Nghi lễ gửi thiếp cho Ngoại
giao đoàn. Sự sơ xuất xảy ra vì tôi đã quá tin ở các nhân viên và
không kiểm soát đối với một việc hết sức đơn giản như cho in thiếp
theo mẫu có sẵn. Phải
nhìn nhận rằng, bình thường Tổng thống Diệm thâm nhiễm các đức tính
cao quý của người quân tử trong nho giáo. Khi thấy tôi can đảm nhận lỗi
thay cho nhân viên. TT Diệm đã tỏ ra cũng có đức lượng thứ xứng đáng
với một vị nguyên thủ, đã nén cơn giận và nói: -
Ngài nên cẩn thận, cần trông coi cẩn thận tất cả mọi việc từ đầu
đến cuối, không nên quá tin ở họ. Trở
về Bộ, tôi đã gọi ông Hoàng Thúc Đàm, Giám đốc Nghi lễ ra chỉ thị
phải đi tới mỗi Sứ quán để rút lại thiếp mời cũ mà thay bằng thiếp
mới in lại. Tất
cả câu chuyện rủi ro này chỉ vì ông Hoàng Thúc Đàm không phải là một
tín đồ Thiên Chúa giáo, vì vậy đã lầm lễ tạ ơn Chúa (messe d’action
de grace) với lễ cầu hồn (messe de requiem). Câu
chuyện này tôi đã giữ rất kín, chỉ nói với cựu phó Tổng thống Nguyễn
Ngọc Thơ, để tránh các sự bàn tán. Sau này, khi cuộc cách mạng 1/11/1963
đã lật đổ nền Đệ nhất Cộng Hòa, đưa lại cái chết bi thảm của
Ngô Đình Diệm, ông Nguyễn Ngọc Thơ đã nhắc lại tôi câu chuyện bảy năm
về trước: -
Anh nhớ không! Tấm thiếp mời các nhân viên Ngoại giao dự lễ cầu hồn!
Thật là một điềm gỡ! Trong
thời gian tám năm làm Tổng thống, Ngô Đình Diệm còn tỏ ra thiên vị
Thiên Chúa giáo trong nhiều dịp khác. Lẽ dĩ nhiên, các bộ hạ đã nắm
được yếu điểm này để a dua và tranh dành nhau được lòng tin cậy của
Tổng thống không ngoài mục đích trục lợi. Sau
đây là trường hợp điển hình khác: Tháng 2 năm 1959, Tòa thánh Vatican gởi
một đại diện là Hồng Y Giáo chủ Agagianian sang Việt Sau
buổi tiếp kiến, Đức Hồng Y Agagianian từ trên lầu xuống thang lần lượt
đi tới từng người kể cả các con trẻ, khoan hậu và hiền từ, đưa tay
cho hôn nhẫn. Tổng thống Ngô Đình Diệm, nét mặt tươi sáng, sung sướng
đưa mắt trông các nhân viên đang quỳ ngoan ngoãn dưới chân Đức Hồng
Y. Có cả một số nhân viên không theo đạo cũng quỳ và cúi đầu hôn nhẫn
ngoan hơn cả tín đồ Thiên Chúa giáo, trong số đó có Bộ trưởng tại phủ
Tổng thống là Nguyễn Đình Thuần. (Xem ảnh người có đánh dầu số 1)
Hiện diện trong buổi đón tiếp này, người ta còn thấy Đại tá Nguyễn
Khánh (người đánh dầu số 2) và Đại tá Cao văn Viên (người đánh dấu
số 3) khi ấy phụ trách Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Phủ Tổng thống. II. THÀNH PHẦN PHẬT TỬ TRONG DÂN SỐ Tạp
chí Missi, một cơ quan ngôn luận của Thiên Chúa giáo tại Pháp, trong số
tháng 2 năm 1956 đã viết một bài khảo cứu về con số tín đồ Thiên
Chúa giáo ở Bắc Việt, Trung Việt và Nam Việt sau cuộc di cư của hơn nữa
triệu người theo Thiên Chúa giáo vào Nam. Ở Bắc vĩ tuyến 17, sau cuộc di
cư, theo báo Missi chỉ còn 457.000 giáo dân. Ở miền Nam, nhờ cuộc di cư có
676.000 người theo Thiên Chúa giáo đã bỏ Bắc Việt vào Nam, con số giáo
dân đã tăng từ 461.000 người lên 1.137.000 tức là 9,6% của tổng số
dân. Ai
cũng công nhận rằng, bên cạnh số tín đồ theo Thiên Chúa giáo kể trên,
số Phật tử ở Việt Tuy
nhiên theo quan điểm của chính phủ Ngô Đình Diệm, chỉ có thể coi như
Phật tử những người nào đã quy y tam bảo, có pháp danh và số người này
không thể quá 10% dân số. Những người khác, theo chính quyền, thực sự
là những người theo Khổng giáo, thờ ông bà. Họ thường được gọi là
Phật tử vì có cha mẹ đi chùa. Quan
điểm này đã được Đại biểu chính phủ tại Trung phần là ông Nguyễn
Xuân Khương trả lời phái đoàn Liên Hiệp Quốc tai Huế: “Trên nguyên tắc, dân chúng trong xứ phần
đông là tín đồ Khổng giáo. Tất nhiên có người theo Phật giáo và có
người theo Công giáo, nhất là ở Huế bởi vì ngày xưa ở đây là nơi có
dòng dõi vua chúa, các quan lại và công chức ở. Vào khoãng 30% dân chúng
là Phật tử. Những người còn lại là tín đồ theo Khổng giáo hay Công
giáo. Về sự phân phối những công chức của
chính quyền ở miền Trung nguyên Trung Việt, 25% theo Công giáo, 31% theo Phật
giáo và 41% theo Khổng giáo.” Trong
cuộc tiếp xúc với phái Liên Hiệp Quốc, cố vấn Ngô Đình Nhu cũng trình
bày rõ rệt quan điểm này. Sau đây là trích nguyên văn trong tờ báo cáo của
phái đoàn về con số các người theo Thiên Chúa giáo và Phật giáo, theo sự
trình bày của Ngô Đình Nhu. (6) Ông Gunewardene ( Đai sứ Tích Lan,
nhân viên của phái đoàn Liên Hiệp Quốc) : ...có bao nhiêu tín đồ Gia Tô ở Việt Ông Cố vấn Chính Trị: Mười phần trăm, phần đông là giai cấp hạ
lưu. Ông Gunewardene: Tín đồ Hồi giáo được bao nhiêu? Ông Cố vấn Chính trị: Độ chừng 70,000 người, kể cả Ấn kiều.
Ông Gunewardene: Còn tín đồ theo đạo Tin Lành? Ông Cố vấn Chính Trị: Tôi không biết đích xác. Họ đông lắm nhưng
có thể phát triển nhờ thế lực Mỹ. Ông Gunewardene: Như thế có thể đến 85% theo Khổng giáo hay
Phật giáo? Ông Cố vấn Chính trị: Tất cả đều thờ cúng tổ tiên. Có độ hai
triệu Phật tử thuần túy, số khác đượm màu sắc Lão giáo và Khổng
giáo. Khi quý ông thấy trong chùa thờ nhiều tượng, chứ không phải chỉ
có tượng Phật, ấy là Tam giáo đồng quy. Ông Gunewardene: Trên thế giới không có Phật tử thuần túy,
nhưng họ đều cho là Phật tử cả! Ông Cố vấn chính trị: Trong danh từ Phật tử thuần túy, tôi muốn
nói những người tìm cách làm cho giáo lý thuần khiết. Ông Gunewardene: Có bao nhiêu Phật tử trong chính phủ? Ông Cố vấn chính trị: Ba phần tư. Ông Gunewardene: Trong hàng tướng lãnh? Ông Cố vấn chính trị: Trong 17 vị tướng thì có 14 vị Phật tử,
thuần túy hay không tôi không được rõ, và 3 tín đồ Gia tô trên hình thức.
Ông Gunewardene: Có bao nhiêu Phật tử trong quân đội? Ông Cố vấn: Cùng một tỷ lệ như trong dân chúng. Nhưng
đa số thờ cúng tổ tiên, thờ cúng những người quá cố. Họ không đến
chùa. Việt Nam không phải là một xứ sùng đạo. Đúng hơn người Việt
Nam không muốn bị ràng buộc vì giáo điều. Họ đến chùa khi bịnh hoạn
hay đau khổ. Ngoài ra, họ không đến làm gì. Trong
cuộc chất vấn trên đây, ta sẽ nhận thấy rẵng ông Gunewardene, Đại sứ
Tích Lan rất uyên thâm về Phật giáo đã “sữa sai” cố vấn Ngô Đình
Nhu khi nhấn mạnh rằng: “Trên thế giới
không có Phật tử thuần túy, nhưng họ đều tự cho mình là Phật tử cả.” Phật
giáo không có tinh thần giáo điều; vì vậy, khi Phật giáo bành trướng từ
Ấn Độ đến các xứ khác, không hề xảy ra một sự tranh chấp nào vì
trong tinh thần khai phóng Phật giáo không nhằm diệt trừ các tín ngưỡng
địa phương. Vì
vậy, Phật giáo đã bổ túc cho Khổng giáo và Lão giáo tại Trung quốc,
và tại Nhật Bản đã có màu sắc đăc biệt của Thiền đạo. Ngô
Đình Nhu đã cố bấu víu vào điểm các Phật tử Việt Nam thờ cúng tổ
tiên, nhưng không phải vì thờ cúng tổ tiên, mà một Phật tử mất tư cách
và bản chất của một Phật giáo đồ! Đó là một quan điểm sai lầm lớn.
Trong Thiên Chúa giáo cũng không có sự cấm đoán thờ tổ tiên, và có lẽ
vì lý do này, chính quyền Ngô Đình Diệm đã muốn khoác cho một số đông
Phật tử màu sắc một tôn giáo mới: đạo ông bà. Trước
phong trào tranh đấu của Phật tử mỗi ngày mỗi mãnh liệt, chính quyền
Ngô Đình Diệm đã ra lịnh điều tra tôn giáo của các nhân viên, đồng
thời tung ra một chiến dịch tuyên truyền rỉ tai, khuyên các công chức
nên khai là theo đạo ông bà, thay vì Phật giáo, để tránh khó khăn trong công
việc thăng thưỡng. Lẽ dĩ nhiên, một số đông nhân viên, vì không muốn
có tên vào sổ đen đã phải rầu lòng khai là theo “đạo ông bà”. Khi
ấy tác giả đương giữ trách nhiệm điều khiển Bộ Ngoại giao vàkhông
muốn nguyên tắc tự do tín ngưỡng bị rầy xéo bất luận dưới hình thức
nào, tác giả đãmiễn cho tất cả nhân viên trong Bộ Ngoại giao khỏi phải
khai báo gì về vấn đề tôn giáo, và đã giải thích cho nhân viên biết
rõ:” Khi được tuyển dụng, các nhân
viên không phải được tuyển chọn theo tuyên chuẩn tôn giáo, thi không có
lý gì về sau lại mở một cuộc điều tra tôn giáo để phân loại và
chia rẽ nhân viên..” Vì vậy, các nhân viên của Bộ Ngoại giao không
có ai buộc lòng phải khai là theo đạo ông bà! Ngoài
ra sự thiên vị Thiên Chúa giáo về phương diện pháp ly và tinh thần,
chính phủ Ngô đình Diệm còn dành cho các tín đồ Thiên Chúa giáo nhiều
sự ưu đãi trong các sinh hoạt về phương diện hành chánh, xã hội và
kinh tế, nhất là ở Miền Nam Trung Việt và trên cao nguyên. TIẾT II SỰ THIÊN VỊ THIÊN CHÚA
GIÁO TRONG CÁC LÃNH VỰC HÀNH CHÁNH, XÃ HỘI
VÀ KINH TẾ Sự
thiên vị Thiên Chúa giáo không chỉ hạn chế trong lãnh vưc tinh thần; trái
lại trong các địa hạt hành chánh, xã hội, kinh tế sự ưu đãi Thiên
Chúa giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm đã dành cho các tín đồ Gia Tô
một sự biệt đãi, dường như khuyến khích người ta theo đạo Gia Tô để
được hưỡng nhiều quyền lợi. Đoạn I SỰ ƯU ĐÃI THIÊN CHÚA
GIÁO TRONG LÃNH VỰC HÀNH CHÁNH. Là
một tín đồ ngoan đạo, Ngô Đình Diệm tin rằng những người theo Thiên
Chúa giáo có một bản chất tốt và nhiệt liệt chống Cộng. Do đó hầu
hết những chức vụ trong yếu đều được giao cho các tín đồ theo đạo
Thiên Chúa. Các sự thăng thưởng viên chức cũng căn cứ vào tiêu chuẩn
tôn giáo. Trong
tiết I, tôi đã nói đến trường hợp bộ trưởng trong Phủ Tổng thống
là Nguyễn Đình Thuần đã quỳ trong dinh Độc Lập để hôn nhẩn Hồng Y
Giáo Chủ Agagianian. Người ta đồn rằng nhờ rửa tội theo Thiên Chúa
giáo, Nguyễn Đình Thuần đã được bổ nhiệm từ chức Đổng lý văn phòng
Bộ Quốc phòng lên chức Bộ trưởng Phủ Tổng thống. Đại
tá Nguyễn văn Y, cũng nhờ chịu rửa tội theo Thiên Chúa giáo đã được
bổ nhiệm làm Tổng Giám đốc nha Cảnh sát Công an, một chức vụ mà ai cũng
rõ phải được sự tín cẩn tột bực của Tổng thống Ngô Đình Diệm
và Cố vấn Ngô Đình Nhu. Nguyễn văn Thiệu cũng rửa tội theo đạo khi mới
đóng cấp tá dưới nền Đệ nhất Cộng hòa, các chức vụ quan trọng đều
giao phó cho người Thiên Chúa giáo. Các người tân tòng bị chế là đạo
đứng vì các người đạo gốc được rửa tội ngay khi mới sanh, còn
ẵm ngữa. Trước
phái đoàn Liên Hiệp Quốc sang điều tra về vụ đàn áp Phật giáo, nhân
chứng số 43 đã đề cập đến trường hợp ông Trần văn Lắm:” Ông Trần văn Lắm trước kia là Đại biểu
chính phủ tại Nam phần, bây giờ là Đại sứ Việt Nam ở nước nào tôi
cũng không rõ. (7) Người ta muốn loại trừ ông vì ông là một
Phật tử. Ông tỏ vẻ lo sợ, thật hèn nhát. Một lần tắm ở Vũng Tàu,
ông la lớn:” Đức Mẹ đã cứu tôi sắp chết đuối.” Sau đó ông theo Gia Tô giáo và
được giữ lại chức Đại biểu Chính phủ tại Nam phần. Khi người ta xin
một việc làm trong cơ quan công hay bán công, trong đơn có một mục cho biết
mình là Phật tử hay tín đồ Thiên Chúa giáo. Tôi không đề là Khổng
giáo, thật ra, đạo Khổng không phải là một tôn giáo mà là một triết
lý”. (8) Đối
với quân đội, trước năm 1963, chỉ vì không có đủ tín đồ Thiên Chúa
giáo có đủ khả năng quân sự, nên mới có 14 tướng lãnh Phật tử.
Phái đoàn Liên Hiệp Quốc đã chú trọng điểm này và đã đặt vấn đề
với nhân chứng số 43 để dễ hiểu rõ chuyện đó. Sau đây là một đoạn
trích nguyên văn trong bản báo cáo của phái đoàn. “Ông
Trưởng phái đoàn: Tôi muốn nêu lên một
câu hỏi liên quan đến quân đội. Người ta nói có 14 tướng lãnh Phật tử.
Họ đảm nhận những nhiệm vụ gì? Tất cả đều đang hoạt động hay
sao? Nhân chứng: Tôi muốn cung cấp những tài liệu tổng quát trước
khi trả lời câu hỏi trên. Lý do có những Phật tử trong guồng máy
chính phủ là vì không đủ cán bộ Gia tô giáo. Người ta cử Phật tử
vào những chức vụ ấy hai ba năm trước vụ Phật giáo xảy ra. Phật tử
đông lắm. Họ chiếm 80% dân số, và chính phủ không tìm đủ tín đồ
Gia tô để thay thế họ. Trong các ngành hoạt động, có nhiều Phật tử,
nhưng họ đi nhà thờ và, không dám nhận là Phật tử vì sợ sệt. Trong
quân đội cũng thế, mỗi chủ nhật nếu Tổng thống đến nhà thờ là họ
đều dến đó tất cả....Tôi cũng đến nhà thờ. Chính
quyền Ngô Đình Diệm ưu đãi các công chức theo Thiên Chúa giáo nên lẽ dĩ
nhiên đã khuyến khích nhiều người rửa tội để theo Thiên Chúa giáo. Trong
quyển sách “Catholiques et Bouddhistes au Viet
Nam” (Các tín đồ Thiên Chúa giáo và Phật giáo tại Việt Nam) do linh
mục Piero Gheđo soạn (9) có kê khai con số các
người thành niên xin rửa tội trong 10 năm liên tiếp từ 1957 đến 1967, tại
Việt Nam: 1957 – 1958: 54.770 người tân tòng 1959 – 1961: 74.859 người tân tòng 1961 – 1963: 53.115 người tân tòng 1963 – 1965: 24.659 người tân tòng 1965 – 1967: 11.372 người tân tòng Các
con số trên đây được tổng kết hai năm một kỳ, kể từ ngày 30/6. Bãng
tổng kê trên đây chứng minh rằng những năm 1957 đến năm 1963 dưới chế
độ Ngô Đình Diệm, con số những người tân tòng rất lớn. Trái lại,
sau năm 1963, với sự sụp đổ của chế độ họ Ngô, các con số này đã
tụt xuống rõ rệt. (10) Đoạn II SỰ ƯU ĐÃI THIÊN CHÚA
GIÁO TRONG SINH HOẠT KINH TẾ
HÀNH CHÁNH VÀ XÃ HỘI Chính
phủ Ngô Đình Diệm lên chấp chính ngày 7/7/1954 thì không đầy hai tuần lễ
sau hiệp định Genève 20/7/1954 dược ký kết, chia đôi đất nước, và bắt
đầu một cuộc di cư vĩ đại của hơn một triệu dân. Trong cuộc di cư này,
các tín đồ Thiên Chúa giáo đã nhận được một ưu đãi đặc biệt,
trong khi các Phật giáo đồ chịu nhiều nỗi ngậm cay nuốt đắng. Một
khi đặt chân đến miền Nam, trong sinh hoạt về phương diện về kinh tế
xã hội, Phật giáo đồ cũng gặp nhiều cản trở khó khăn trong các chương
trình dinh điền, khu trù mật hay quốc sách ấp chiến lược của chính phủ. Muốn
vượt qua các trở ngại ấy chỉ có một giải pháp duy nhất: rửa tội
theo Thiên Chúa giáo. ................................................................
(Mất một
trang)........................................................................ ...
đi tìm tự do và đã đưa hơn một triệu người từ vùng Bắc vào Nam. Nhưng
trong cuộc di cư này, các tín đồ Phật giáo đã không biết gặp bao nhiêu
sự khó khăn. 1.
Tại sao khi di cư, những người Phật giáo bị kỳ thị đến nỗi xuống
đến bến tàu còn tìm cách đẩy lui? Tại sao trên đường đi họ bị ngược
đãi, hắt hủi và có kẻ còn bị đuổi trở lại? Tại sao họ bị đuổi
khỏi đoàn người di cư? Bị tước tất cả phương tiện di chuyển và sự
tiếp tế tối thiểu? Tại sao đến nổi họ phải giả xưng và giả tín
đồ Thiên Chúa giáo mới được đi đến nơi đến chốn? 2.
Tại sao đi vào Nam họ lại càng cơ cực, càng tủi hơn? Tại sao họ bị
đuổi ra khỏi nơi tạm cư và định cư? Tại sao những chiếc nhà chòi họ
dựng lên bị bắt buộc dời đi mãi? Tại sao họ không được phân phát
các thực phẩm một cách công bình trong khi Thiên Chúa di cư hưỡng dụng một
cách coi như của nhà mình? Ai đã tìm mọi cách....cuối cùng đuổi họ tản
mác cả? Những chiếc nhà chòi thờ Phật, những bàn thờ Phật dựng lên
và đươc xếp đặt với tất cả tình cảnh của những kẻ chạy loạn,
ưu tiên đối với cả việc ăn, việc ở của ho, lại bị tìm cách không
cho một tấm tôn và duổi dỡ cho được, là tại sao và vì ai? 3.
Tại sao chính những kẻ ngăn chận sự và bạc đãi sự di cư của Phật tử
như vậy lại tìm cách tuyên truyền, lên án và tố cáo rằng Phật giáo
là Cộng Sản vì không di cư bằng Thiên Chúa? Tại sao nếu không có dụng ý biến miền
Nam thành một nước Chúa ngay trong việc di cư, một việc có tính cách chống
Cộng nhất? (11) Tất
cả sự đối đãi bất bình đẵng kể trên đều do sự khác biệt tôn
giáo. Trong chính quyền Ngô Đình Diệm, không những Tổng thống mà cả Tổng
ủy Di cư đều là người theo Thiên Chúa giáo. Lẽ dĩ nhiên, những nhân vật
này đã hết sức ủng hộ, những người di cư đồng tín ngưỡng lập lại
được nơi ăn chốn ở trong làng, xã như khi còn sinh sống ở ngoài Bắc. Hơn
nữa các xóm làng của tín đồ Gia tô thường là những cộng đồng đoàn
kết chặt chẽ, dưới quyền lãnh đạo của linh mục địa phương về cả
phương diện tinh thần lẫn vật chất. Bỏ làng xóm từ Bắc vào Nam, các
tín đồ Gia tô vẫn giữ khuôn khổ đoàn kết ấy, vị linh mục trên đường
di cư vẫn lo cho họ cả phần hồn và phần xác. Nói khác, trong tất cả
các cấp, và nhất là ở hạ tầng cơ sở, người dân di cư theo Thiên
Chúa giáo lúc nào cũng được ưu đãi nhờ ở sự khôn khéo của các linh
mục khiến người ta đã gọi chế độ là Linh mục chế. Lạc
vào trong khối đoàn kết chặt chẽ của các tín đồ Thiên Chúa giáo. Các
Phật tử sống trong cô đơn và hắt hủi. Chỉ cần nhìn vào vùng Hố Nai
ở Biên Hòa cũng đủ rõ vấn đề di cư của các tín đồ Thiên Chúa giáo
đã được giải quyết trong những điều kiện như thế nào! Không có một
khu định cư nào của các Phật tử có thể so sánh với Hố Nai hoặc bằng
được vài phần trăm của vùng Hố Nai! Nhưng
sau vấn đề di cư, sự ưu đãi thiên vị về Thiên Chúa giáo còn tồn tại
trong các sinh hoạt kinh tế và xã hội khác. CHƯƠNG TRÌNH DINH ĐIỀN VÀ KHU TRÙ MẬT Theo
chủ trương của chính phủ, các dinh điền và khu trù mật được tổ chức
để cho các dân nghèo không có ruộng đât, có thể đến các vùng ấy canh
tác, sinh sống, vừa kiếm kế nuôi thân và nuôi gia đình, vừa tăng thêm mức
sản xuất của quốc gia. Tuy
nhiên, sự chọn lọc các người để đưa tới các vùng dinh điền và các
khu trù mật, nhiều khi không nhằm vào các dân nghèo. “Ai là Phật tử , và tai họa thêm lần nữa
là nếu Phật tử vừa thuần thành, tích cực hay cốt cán của Phật giáo
địa phương, thì dù họ có nhà có ruộng, hoặc nhà to và ruộng nhiều đến
bao nhiêu, vẫn bị đem ra bình nghị bắt đi dinh điền và khu trù mật, một
sự bình nghị có bố trí công khai để khủng bố nạn nhân và dân chúng
vốn đại đa số cùng tín ngưỡng Phật giáo với nạn nhân. Trong trường
hợp đó, nạn nhân chỉ cho được một ngõ hậu từ trước và công khai
là theo Thiên Chúa giáo đi. Nếu nạn nhân nhất quyết không làm như vậy
thì đành nghiến răng, ngậm nước mắt mà đập nhà, bán ruộng, bồng con
tròng chó ra đi, và trở thành tù nhân vĩnh viễn tại nơi họ bị đưa đến.
Nhưng đừng tưỡng chỉ có một người hay một nhóm người bị như vậy
! Có khi sự trạng này đã xảy ra cho cả một hay hai, ba làng ở tiếp cận
nhau, mà nguyên nhân chỉ vì trong làng đó không có ai là Thiên chúa giáo,
và tai hại hơn nữa, ở đấy lại có khuôn hội đông đảo của Phật giáo!
(12) Sinh
hoạt trong khu dinh điền hay khu trù mật, các Phật tử còn gặp nhiều thử
thách và bất công khác. Dưới sự điều khiển khắt khe trong “linh mục
chế”, các Phật tử bị chia các lô đất xấu, bị cắt phần tiếp tế,
bị gây đủ chuyện khó dễ. Về
phương diện tôn giáo các sự hiếp đáp công khai thường xãy ra quá sức
tưỡng tượng. “Tượng Phật thờ ngay trong nhà, khi không bị
một kẻ giả say nhảy vào đạp đổ, xé vất và nhảy ngồi lên bàn thờ,
trong khi nhiều kẻ khác bố trí ở ngoài để yểm trợ. Những kẻ này là
ai? Hỏi ai thì vẫn không ai xa lạ, và làm như vậy để cho mấy thằng Phật
giáo bây biết mặt: tại sao dám phản động Ngô Tổng thống.” (13) III. QUỐC SÁCH ẤP CHIẾN LƯỢC Quốc
sách ấp chiến lược do cố vấn Ngô Đình Nhu bắt chước Mã Lai Á để
biến các ấp trong thôn quê thành những thành thị chống Cộng. Nhưng tại
nhiều nơi quốc sách này biến thành quốc sách chống Phật giáo. Những
nét chính yếu của quốc sách ấp chiến lược: Quốc
sách ấp chiến lược được Ngô Đình Nhu đưa ra chương trình thực hiện
vào đầu năm 1962. Các ấp chiến lược này được thiết lập theo kế hoạch
chung cho toàn quốc (Sắc lệnh số 111-TTP ngày 3/2/1962). Trong toàn quốc có
16.123 ấp. Quốc sách của Ngô Đình Nhu dự liệu thành lập trong một thời
gian ngắn ít nhất một vạn ấp chiến lược, theo thứ tự ưu tiên như
sau: - Các ấp có vị trí quan trọng cho
sự đấu tranh võ trang. - Các ấp gần thị xã và đường
giao thông công chánh. - Các ấp mà sự sản xuất kinh tế
ảnh hưỡng tới sự sinh sống của tỉnh và toàn quốc. - Các ấp mà kho nhân lực dồi dào
để có thể cung ứng cho tỉnh và nhu cầu quốc gia. Các
ấp chiến lược được xây gần nhau, theo nguyên tắc “Huynh đệ tương hổ” và “tam liên ứng chiến cứu” để thực hiện
thế vạc ba chân, có thể cứu viện cho nhau nếu bị tấn công. Cũng có
khi các ấp chiến lược được thực hiện theo nguyên tắc “chắp đôi” một ấp trong khu vực thiếu
an ninh được một ấp trong khu vực an ninh bảo trợ. Sở
dĩ các ấp này được gọi là ấp chiến lược, vì xây dựng các ấp này
là thực hiện chiến lược diệt Cộng và đồng thời thực thi chế độ
dân chủ pháp trị. Các
công tác phải thực hiện trong việc xây dựng một ấp chiến lược gồm
hai loại công tác đáp ứng vào hai mục tiêu kể trên. 1. Các công tác thực hiện nhằm diệt trừ
chiến tranh phá hoại của đối phương: -
Thiết lập hàng rào bao vây từng ấp, có những lối ra vào nhất định,
được canh gác thường xuyên để tránh sự xâm nhập của đối phương. -
Thiết lập một hệ thống canh phòng. -
Tổ chức phòng thủ nội địa. -
Tổ chức võ trang và huấn luyện lực lượng thanh thiếu niên chiến đấu. -
Kiểm tra toàn diện dân chúng trong mỗi ấp. -
Tổ chức mật cho mỗi xã hai tiểu tổ đặc công, có võ trang.(Mỗi tiểu
tổ gồm ba người) 2. Các công tác để thực thi chế độ dân
chủ pháp trị gồm có: -
Tổ chức các đoàn thể công dân nghĩa vụ (Các đoàn thể thanh niên, phụ
lão, phụ nữ, thiếu nhi) -
Tổ chức những cuộc bầu cử dân chủ cho ban trị sự ấp và hội đồng
xã tức là thực thi dân chủ pháp trị để có những người lãnh đạo
đươc sự tin cẩn của dân ấp. -
Thiết lập hương ước nhằm mục đích: a)
Thực hiện chế độ dân chủ pháp trị. Hương ước quy định sự tổ chức
và điều hành thôn ấp. b)
Thực hiện chế độ cộng đồng đồng tiến. c)
Thực thi chế độ công bình xã hội. d)
Quy định thưởng phạt để bảo đảm hiệu lực của hương ước. Ngô
Đình Nhu đã cố nặn óc để đề cao tác dụng của “Quốc sách ấp chiến
lược” bằng một lý thuyết cầu kỳ với những danh từ bí hiểm. Ấp chiến lược có ba tác dụng: tam
túc,tam giác và tam nhân Người
nông dân cầy sâu cuốc bẩm ở thôn quê làm sao mà hiểu nổi những danh từ
hiểm hóc này. 1. Tam túc là nhờ ấp chiến lược,
có thể thực hiện sự tự túc dưới ba sắc thái: Tự túc tư tưởng Tự túc tổ chức Tự túc kỷ thuật o
Tự
túc tư tưởng là căn cứ vào tinh thần quốc gia thuần túy , không lệ thuộc
vào một áp lực ngoại quốc nào. o
Tự
túc tổ chức làtự tin vào khả năng của mình để tổ chức đời sống
cá nhân và cộng đồng. o
Tự
túc kỷ thuật là người dân phải có óc sáng suốt để thúc đẩy kỹ
thuật tiến mạnh, phải phát minh ra những dụng cụ tăng gia sản xuất. 2. Tam giác còn bao hàm ý nghĩa bí hiểm hơn nữa. Tam giác đây
không có ý nghĩa là ba góc đâu! Tam giác là người dân trong ấp chiến lược
phải cảnh giác ba điều: Cảnh giác sức khỏe Cảnh giác đạo đức Cảnh giác sáng tạo o
Cảnh
giác sức khỏe là phải chăm lo giữ gìn sức khỏe. Trong trận giặc chống
chậm tiến, chống chia rẽ, chống Cộng sản người dân trong ấp không có
quyền đau yếu, dù chỉ là một ngày. Một ngày đau yếu là một ngày phải
nghỉ việc và do đó có hại cho toàn thể. o
Cảnh
giác đạo đức là hiểu điều hay, điều dỡ, điều thiện , điều ác để
luôn luôn cãi tiến trên đường đạo đức, không nghe lời tuyên truyền của
đối phương, không reo rắc sự căm hờn giữa các giai cấp. o
Cảnh
giác sáng tạo để tiến không ngừng trên đường phát minh và cải thiện
đời sống trên hai phương diện tinh thần và vật chất. 3. Tam nhân Bí hiểm hơn nữa là ý nghĩa của tam nhân. Nhân
ở đây không có ý nghĩa là người hay nhân duyên mà phải hiểu là nhân vị:
Tam nhân có ý nghĩa là nhân vị được phát triển toàn diện về cả ba
chiều: bề sâu, bề rộng và bề cao. o
Nhân
vị về bề sâu của con người, kết hợp sự tự do, tình yêu thương mình,
sự suy luận. Con người tự định đoạt lấy số phận của mình, tự
mình gây bản lĩnh và năng lực. o
Nhân
vị bề rộng là nhân vị xã hội, từ gia đình tiến đến làng nước rồi
tiến đến cộng đồng nhân loại. o
Nhân
vị bề cao là phát triển đầy đủ khả năng tâm linh và thể xác. Ngô
Đình Nhu đã cố bóp óc để tìm một căn bản lý thuyết cho quốc sách
ấp chiến lược. Nhưng ai cũng nhận thấy tính cách giả tạo và quá gò
ép Ngô Đình Nhu đã muốn ấp chiến lược có ba tác dụng, mỗi tác dụng
lại có ba sắc thái: tam túc, tam giác, tam nhân. Sự
thực những điểm được nêu lên trong lý thuyết trên này cho người dân
ấp chiến lược cũng là những điểm cần thiết cho bất cứ một người
nông dân nào ở trong bất cứ nước nào. Đem đóng khung một chương trình
lý thuyết rộng lớn như vậy vào trong phạm vi chật hẹp của ấp chiến
lược là một điều không thực tế. Đem giảng cho người nông dân sống
trong ấp chiến lược một lý thuyết bí hiểm như thuyết:tam túc, tam nhân
và tam giác là một trò cười và chứng minh rằng kẻ khai sinh ra lý thuyết
ấy thiếu óc thực tế, mà giàu tính khoe tài triết lý rởm! Tuy
nhiên, các quận trưỡng và tỉnh trưỡng thời kỳ 1962- 1963 đã đua nhau cố
thực hiện thật nhiều ấp chiến lược trong địa hạt của họ, để lấy
điểm với Tổng thống Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu. Việc bắt
dân cất dỡ nhà cửa vào sống tập trung trong ấp chiến lược, việc xây
đắp hàng rào và thành lũy xung quanh ấp chiến lược để canh phòng đã
gây nên rất nhiều sự lạm dụng của các cấp thừa hành và nhiều sự bất
mản trong dân chúng, khiến quốc sách ấp chiến lược đã dẫn đến sự
chia rẽ hơn sự đoàn kết dân chúng. Nhiều
khi các người thừa hành còn dàn cảnh để khoe với chính quyền đã thực
hiện được mau chóng chương trình quốc sách ấp chiến lược. Tôi
còn nhớ một hôm, chính phủ đã mời cả đaị diện ngoai giao đoàn đến
dự một buổi tiệc trưa tại ấp chiến lược trên vùng Cao Nguyên. Các
nhân viên ngoại giao nức nỡ không tiếc lời khen các công việc đã được
thực hiện tốt đẹp trong ấp từ hàng rào ấp, đến trường học chòi
canh, nhất là một khu công viên tươi tốt mà bữa tiệc đã được dọn tại
đó. Nhưng lẽ dĩ nhiên khu công viên quên không trù liệu chổ đi tiểu. Bữa
tiệc xong, Đại sứ Tây Đức là Von Wendland phải đi dạo đến một rặng
cây chuối tươi tốt để “tưới cây”. Khi
trở về Đại sứ Tây Đức đã mỉm cười nói chuyện với tôi:” Thiếu chút nữa tôi đã đánh đổ hết vườn
chuối của ông Quận trưởng. Tôi ra đó tìm chổ tưới cây. Tôi mời sờ
vào một cây chuối để vịn thì cây chuối lung lay muốn đổ. Các cây chuối
chắc chắn mới được đem tới đây đào đất trồng vội sáng nay nên chưa
kịp chèn đất kỷ.” Và nhà ngoại giao tiếp tục mỉm cười sâu sắc... Nhưng
nếu ấp chiến lược nhiều khi là một màn dàn cảnh giả dối đối với
chính phủ, thì trái lại, nó đã hiến cho các nhà chức trách địa
phương những dịp tốt để thực hiện những mưu kế sâu sắc mà sau đây
là trường hợp điển hình. “...Ấp chiến lược thực là chiến lược và chiến
thuật vĩ đại của cái chính sách “giáo trị một chiều” Từ sự dùng
ý đến sự dùng người, từ sự đặt để đến sự quản trị, từ sự
bố trí đến sự tổ chức, ấp chiến lược như những nom sắt lớn và
chắc, chụp xuống tất cả tư tưởng, nhất là tín ngưỡng của dân tộc
Việt Nam. Lợi dùng danh từ “dân chủ pháp trị” người sáng lập quốc
sách ấp chiến lược làm một việc thay đổi toàn diện bộ máy cai trị
hạ tầng thôn quê không bằng một cuộc cải cách nào khác hơn là đưa thêm
người cùng tín ngưỡng Thiên Chúa giáo vào, đổi bỏ những người cộng
tác ngày trước, cứng rắn đến tột độ cái chính sách giáo trị dung
hòa bởi gia trị và đảng trị. Và dĩ nhiên các nạn nhân đại đa số Phật
giáo đến đây, càng là nạn nhân. Hàng rào ấp chiến lược cố ý tìm
cách bỏ ra ngoài nào chùa Phật giáo, nào nhà Phật tử và dĩ nhiên
ngoài rào thì bị xem là Việt cộng rồi. Hàng rào ấy gần như rào chùa
và rào cả sự đi lễ chùa của Phật tử nhất là trong những ngày và những
giờ đại lễ Phật giáo thì hàng rào ấy trong không ra, ngoài không vào
được. Sống trong chiếc nơm sắt ấp chiến lược, Phật tử tuy nói “liên
gia tương bảo” kỳ thực đó là một hệ thống kiểm soát của thiểu số
tín ngưỡng này đối với tuyệt đối đa số tín ngưỡng khác.” (14) Cần
phải ghi thêm rằng người dân quê hiền lành sống trong các ấp chiến lược
phải đóng góp khá nhiều. Trên lý thuyết các sự đóng góp nhằm mục đích
thực hiện các công trình lợi ích công cộng. Trong thực tế các sự đóng
góp ấy được chuyển vào hai trương mục số 60.388 và số 60.410 tại Pháp- Hoa Ngân hàng (Banque Franco Chinoise) đứng
tên riêng Ngô Đình Nhu có tồn khoãng lên tới hơn một trăm triệu đồng
bạc, theo kết quả điều tra của Ủy ban
tài sản do chính phủ thành lập sau cách mạng 11/11/1963. (Chúng tôi sẽ trở
lại vấn đề này khi bàn đến phong trào Thanh niên Cộng hòa của Ngô Đình
Nhu). Thái
độ thiên vị Thiên Chúa giáo của Tổng thống Ngô Đình Diệm đã gây ra
trước năm 1963 nhiều sự đối xử bất công và nhiều sự hiếp đáp đối
với các Phật tử. Các trường hợp này càng xảy ra thông thường tại các
tỉnh xa Thủ đô vànhất là tại các xã thôn tại Trung phần, đặc biệt
trong ba tỉnh Quãng Nam, Quãng Ngãi và Phú Yên. Về thái độ này, một nhân viên trong ủy ban Liên phái đã khai biểu trước Ủy ban điều tra của Liên Hiệp Quốc một ý kiến rất xác đáng: “...Không có kỳ thị trong chính sách của chính phủ, nhung chính phủ đã dung thứ những hành vi đàn áp, những sách nhiễu và những sự ngược đãi. Đã nhiều lần, chúng tôi gởi khuyến cáo đến chính quyền địa phương, Tổng thống Cộng hòa và Quốc hội. Song le điều ấy không có ích gì và đều bị bỏ qua cả. Năm 1961, Tổng thống có tiếp tôi trong hai giờ mười lăm phút. Tôi có nhắc lại những nguyện vọng và có báo với ông ta rằng: Thưa Tổng thống, nếu Tổng thống không chú trọng đến nguyện vọng của Phật giáo đồ thì Tổng thống sẽ gặp một phong trào toàn diện trong hàng Phật giáo đồ với nhiều vụ rắc rối, lôi thôi điều ấy không thể tránh được. Tôi biết rằng Tổng thống không bao giờ có ý định đàn áp Phật giáo, nhưng nếu Ngài cứ tiếp tục làm ngơ trước những hành vi của cấp dưới trong chính phủ thì Phật giáo đồ sẽ cho rằng chính Ngài phải chịu trách nhiệm ấy. Mà những kẻ gây ra những sự bất công ấy là ai? Đó là những cán bộ, những quân nhân, những nhân viên công an mật vụ, những người này đều là Công giáo. Người ta bảo sỡ dĩ những kẻ chịu trách nhiệm này không bị bãi chức, hay họ không bị điều tra nữa vì họ là Công giáo. Thưa Tổng thống, Ngài là một người Công giáo, người ta sợ làm phật ý Tổng thống nếu dùng biện pháp trừng trị kẻ đó, vì thế họ không cho Tổng thống thấy những điều gì xảy đến. Tổng thống phải chịu trách nhiệm về phương diện tinh thần đối với những điều ấy. ( |