1204-world.gif (4030 bytes)

posted: 29.11.04

ĐÀO NGUYÊN

MỘT CÁI NHÌN LỊCH SỬ VỀ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TRONG SINH MỆNH DÂN TỘC

Nhà thơ Trụ Vũ, trong bài thơ "Tình Sông Nghĩa Biển" đã viết:

"Việt Nam và Phật Giáo 
Phật Giáo và Việt Nam 
Ngàn năm xương thịt kết liền
Tình sông nghĩa biển, mối duyên mặn nồng...
Trang sử Việt Nam yêu dấu
Thơm ướp hương trầm
Nghe trong tim Lý, Lê, Trần
Có năm cành đạo nở bừng nguy nga..."

Đó là những vần thơ bình dị, chân thành, mang dáng dấp ca dao, nhằm diễn đạt sự gắn bó giữa Phật Giáo và dân tộc Việt Nam trên suốt chặng đường dài lịch sử. Bài viết trước (1), chúng tôi đã cố gắng ghi nhận sự gắn bó ấy xét ở góc độ văn học. Bài viết này, xin đứng ở góc độ lịch sử, dựa theo những tư liệu đã được công bố, chúng tôi chỉ làm công việc trích dẫn, giới thiệu, kèm một ít nhận xét góp phần đem lại sự trung thực, sự phong phú và công bằng hơn về một cái nhìn lịch sử của Phật Giáo Việt Nam trong sinh mệnh dân tộc. Trên con đường đi tới tương lai vô tận, cụ thể là chuẩn bị để bước vào thế kỷ 21, sự trung thực và công bằng, đầy đủ của một cái nhìn như thế, không chỉ rất cần thiết cho người Phật tử mà còn tạo được những tác động tích cực, có lợi cho cả dân tộc.

I. TỪ THẾ KỶ THỨ II-III TÂY LỊCH :

Đây là một giai đoạn lịch sử hết sức đặc biệt trong hoàn cảnh đất nước ta đang còn nội thuộc phương Bắc. Giáo sư Trần Quốc Vượng, trong sách Lịch sử Việt Nam, T.1, viết: "Cuối thế kỷ II đầu thế kỷ III, miền đất nước ta nằm dưới quyền thống trị kiểu cát cứ của cha con, anh em Sĩ Nhiếp, gốc người Hán nhưng đã bản địa hóa, gần như một triều đình riêng" (Lịch sử Việt Nam, T.I, nhà xb ĐH và THCN, H, 1983, tr.341). Rồi ở chú thích số 1 cùng trang, người viết cho biết thêm:

 "Sĩ Nhiếp gốc người nước Lỗ (Sơn Đông), nhưng sáu đời đã ở Giao Chỉ, du học Lạc Dương, đậu Hiếu Liêm, có tài văn học và chính trị, được cử làm Thái Thú Giao Chỉ, rồi kiêm quản bảy quận Giao Châu, tước Long Biên Hầu. Loạn lạc cuối Hán, anh em, cha con Sĩ Nhiếp giữ yên một châu quận phương Nam, nhiều trí thức lớn ở Trung Nguyên xuống đấy lánh nạn. Đạo Nho, Lão, phát triển mạnh trong giới này. Đạo Phật từ Ấn Độ truyền qua cũng phát triển mạnh. Sĩ Nhiếp  vừa mở học hiệu dạy Nho, vừa xây chùa thờ Phật. Đất Luy Lâu (Thuận Thành, Hà Bắc) trở thành một trung tâm trí thức, văn hóa, thương mãi lớn, gần như một kinh đô ở cõi Nam, có nhiều ngoại kiều trú ngụ, buôn bán, truyền giáo".

Hơn 60 trang sau, phần giới thiệu sơ lược về Phật giáo và Phật Giáo được truyền vào Việt Nam trong giai đoạn đầu, giáo sư Trần Quốc Vượng đã có một số nét chấm phá về nhà sư Khương Tăng Hội như sau: "Sau Mâu Tử, vị sư ở đầu thế kỷ thứ III tại Giao Châu thường được nhắc tới là Khương Tăng Hội. Cha mẹ Tăng Hội gốc người Khang Cư (Sogdiane), cư trú tại Giao Chỉ để buôn bán. Ông sinh tại Giao Châu, cha mẹ mất từ năm 10 tuổi. Lớn lên, ông xuất gia đầu Phật và tu học rất tinh tiến, ông giỏi cả Phạn ngữ lẫn Hán ngữ (đó cũng là truyền thống chung của trung tâm Phật Giáo Giao Châu). Ông đã biên tập nhiều sách Phật, dịch và chú giải, viết Tựa cho một số kinh Phật. Sách của ông, văn từ điển nhã, chứng tỏ Hán văn ông không thua gì người Trung Hoa đương thời" (Lịch Sử Việt Nam, sđd, tr.401).

Nếu những dòng viết của giáo sư Trần Quốc Vượng mới chỉ dừng lại ở sự ghi nhận và mô tả, thì đối với nhà nghiên cứu Phật học Lê Mạnh Thát, thời kỳ lịch sử đặc biệt ấy (từ 180-228) đã được soi rọi, đào sâu hơn và khẳng định thông qua việc nghiên cứu toàn bộ cuộc đờì và sự nghiệp của nhà sư Khương Tăng Hội (200?-280). Lê Mạnh Thát viết:

 "Khương Tăng Hội sinh ra, lớn lên và bắt đầu biên soạn một số tác phẩm của mình tại nước ta trong một giai đoạn, khi dân tộc ta lần đầu tiên xây dựng xong một nhà nước thực chất độc lập và tồn tại trong một thời gian dài nửa thế kỷ, tức từ năm 180 đến năm 228 TL" (Khương Tăng Hội Toàn Tập, T.1, Tu Thư Vạn Hạnh xb, S, 1975, tr.7). Và: "Đến khoảng năm 180, một chính quyền độc lập hình thành dưới sự lãnh đạo của Sĩ Nhiếp. Tới những năm 187, Chu Phù tuyên bố "bỏ điển huấn của tiên thánh, vứt pháp luật của Hán gia" để đi theo Phật Giáo và kết hợp với Sĩ Nhiếp củng cố chính quyền độc lập do anh hùng Khu Liên mở đầu. Chính quyền mà về danh nghĩa tuy chưa xưng vương xưng đế gì, nhưng về thực chất là một chính quyền Việt Nam độc lập có tính Phật Giáo" (sđd, tr.9).

Là một nhà nghiên cứu đi sau, lại có đủ sự cẩn trọng cần thiết của một ngòi bút biên khảo tham bác, những phát hiện và đánh giá của Lê Mạnh Thát ở đây rất đáng chú ý. Chính vì nghiên cứu một cách toàn diện về Khương Tăng Hội như thế, Lê Mạnh Thát đã góp phần cải chính sai lầm của một số nhà viết lịch sử Phật Giáo Việt Nam đi trước - kể cả giáo sư Nguyễn Lang- cho rằng Khương Tăng Hội "là một trong các nhà truyền bá đạo Phật đầu tiên ở Việt Nam", hoặc là "một sáng tổ của Thiền học Việt Nam", tiến tới khẳng định sự gắn bó giữa Phật Giáo với dân tộc Việt thời bấy giờ cùng những thành tựu của sự gắn bó ấy:

 "Ngày nay, với những thành quả nghiên cứu có được, chúng ta có thể khẳng định Khương Tăng Hội không phải là một nhà truyền giáo đầu tiên của Phật Giáo ở Việt Nam, mà là một trong những thành tựu đầu tiên của nền Phật Giáo ấy, để cùng với Mâu Tử hình thành một mặt trận văn hóa phản công lại những trận tiến công vũ bão của nền văn hóa nô dịch Trung Quốc đang xảy ra vào thời đó và khẳng định sức sống ưu việt của nền văn hóa Việt Nam và Phật Giáo" (Lê Mạnh Thát, sđd, tr. 16); "Khương Tăng Hội có thể nói là một thành tựu đầu tiên và xuất sắc của nền giáo dục Việt Nam và Phật Giáo Việt Nam... Lịch sử giáo dục Việt Nam và Phật Giáo Việt Nam thật đáng tự hào với những thành tựu đầu tiên như thế. Nó đã tự xác định cho mình một sứ mạng thiêng liêng cao quý là gắn bó thịt xương với dân tộc để phục vụ dân tộc và không bao giờ đi ngược lại sứ mệnh ấy" (sđd, tr.41). Hơn nữa, một số tác phẩm của Khương Tăng Hội như "Lục Độ Tập Kinh, Cựu Tạp Thí Dụ Kinh chứa đựng một hệ thống điển huấn bao gồm những chủ đề tư tưởng lớn của dân tộc ta như nhân nghĩa, trung hiếu, đất nước v.v.... làm cột sống cho chủ nghĩa nhân đạo và truyền thống văn hóa Việt Nam" (sđd, tr.10).

II. ĐẾN THỜI KỲ DỰNG NƯỚC VẠN XUÂN

Thời kỳ dựng nước Vạn Xuân độc lập ở thế kỷ thứ VI được xem là đỉnh cao trong quá trình đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam suốt hàng ngàn năm bị Bắc thuộc, và ở thời kỳ này, Phật Giáo cũng đã có mặt một cách tích cực với vai trò vừa xuất thế vừa nhập thế của mình. Đây là những ghi nhận ít nhiều mang tính chất đánh giá của giáo sư Trần Quốc Vượng:

"Sau những thắng lợi trên cả hai chiến trường biên giới bắc nam, giành lại và bảo toàn lãnh thổ cơ bản từ thời dựng nước đầu tiên, mùa xuân, tháng giêng theo lịch trăng (tháng 2 năm 544), Lý Bí dựng lên một nước mới, với quốc hiệu là Vạn Xuân, đóng đô ở miền cửa sông Tô Lịch (Hà Nội ngày nay)... Lúc này Phật Giáo đang phát triển mạnh ở nước ta... Giới tăng ni là tầng lớp trí thức đương thời chắc chắn đã ủng hộ Lý Nam Đế. Chính một người trong họ ông và làm tướng cho ông đã mang một cái tên đượm màu sắc sùng bái Phật Tổ: đó là Lý Phật Tử. Nhà nước Vạn Xuân dù mới dựng, cũng bỏ tiền xây một ngôi chùa lớn, sau trở thành một trung tâm Phật Giáo và Phật học lớn của nước ta. Đó là chùa Khai quốc (Mở nước), tiền thân của chùa Trấn Quốc ở Hà Nội ngày sau. Ngay cái tên chùa Mở Nước cũng đã hàm chứa nhiều ý nghĩa" (Lịch Sử Việt Nam, T.1, sđd, tr.408-409).

Chúng ta cần biết thêm là, đầu năm 545, lực lượng thống trị phương Bắc lại bắt đầu tổ chức cuộc xâm lược trở lại Giao Châu và như thế là đất nước Vạn Xuân lại phải tiếp tục chiến đấu để giữ nước. Năm 548 Lý Nam Đế qua đời, công việc lãnh đạo cuộc kháng chiến chống ngoại xâm được giao lại cho Triệu Quang Phục (nhận binh quyền từ năm 546), rồi đến Lý Phật Tử (571) và nhà nước Vạn Xuân đã tồn tại đến năm 602 mới rơi vào sự đô hộ của nhà Tùy. Trong khoảng thời gian này (571-602), lịch sử truyền bá đạo Phật ở Việt Nam đã tạo được một dấu ấn quan trọng, đó là sự có mặt của Thiền Sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi (580) với sự phát triển và truyền thừa một dòng Thiền lớn, gọi là dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, sản sinh ra những bậc chân tu anh tài như Pháp Thuận (915-990), Vạn Hạnh (?-1018), không chỉ làm vẻ vang cho Phật Giáo mà còn làm vẻ vang cho cả dân tộc.

III. TỪ THỜI THỊNH LÝ THỊNH TRẦN

Kết luận bước đầu được rút ra từ hai trưng dẫn I và II kể trên, chúng ta có thể cho rằng đó là những Tiền Đề của Phật Giáo thời thịnh Lý thịnh Trần. Ghi nhận và đánh giá về sự thành tựu và những đóng góp của Phật Giáo trong thời kỳ này, chúng ta đã có những công trình nghiên cứu, biên khảo của Trần Văn Giáp (Phật Giáo Việt Nam Từ Khởi Thủy Đến Thế Kỷ XIII, Tuệ Sỹ dịch), Mật Thể (Việt Nam Phật Giáo Sử Lược), Hoàng Xuân Hãn (Lý Thường Kiệt), Nguyễn Lang (Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I, II), Lê Văn Siêu (Văn Học Thời Lý), Nguyễn Đăng Thục (Thiền Học Việt Nam, Phật Giáo Việt Nam, Thiền Trần Thái Tông), Thơ Văn Lý Trần I, II, III (Nhiều tác giả, Viện Văn Học), Thiền Học Đời Trần (Nhiều tác giả, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam)... Ở đây, chúng tôi xin giới thiệu thêm một số nhận định và đánh giá của Phan Chu Trinh (1872-1926), Phan Khôi (1887-1960) đều phát biểu trước 1945 và của học giả Đào Duy Anh (1904-1988).

- Nhà chí sĩ Phan Chu Trinh, trong sự cảm nhận về nhu yếu duy tân cho đất nước mình thời bấy giờ, đã đánh giá tổng quát về Phật Giáo đời Trần như sau:

"Nước Đại Nam chúng ta ngày nay sở dĩ yếu hèn là vì thiếu tinh thần tôn giáo... Tôn giáo luyện cho ta đức hy sinh coi nhẹ tính mạng... Không có tinh thần tôn giáo, chúng ta không biết cương cường xả thân vì nghĩa, chỉ bo bo giữ lấy cái riêng của mình. Nay bà con thử xét, đời Trần sao dân tộc ta hùng dũng như vậy. Quân Nguyên thắng cả Âu, Á, nuốt trọn Trung Hoa, mà qua đến nước ta thì bại tẩu, nào bị cướp sáo ở Chương Dương độ, nào bị bắt trói ở Bạch Đằng. Như vậy chẳng phải là nhờ đạo Phật ở ta thời đó rất thịnh ư, nhờ cái tinh thần tôn giáo của ta ư ?" (Dẫn theo Nguyễn Lang, VNPGSL, T.3, nhà xb Lá Bối, Paris, 1985, tr.16).

- Phan Khôi, với tư cách là một nhà báo trung thực, thẳng thắn, đã phát biểu ý kiến vô tư của mình về vai trò của Phật Giáo thời Lý Trần:

"Chúng tôi không chuyên về một tôn giáo nào hết. Có người lo nếu Phật Giáo thịnh thì Việt Nam trở nên lười... Chúng tôi tưởng khi Phật Giáo thịnh hành cũng chẳng có cái hậu quả như thế. Vì chúng tôi lấy lịch sử làm chứng... Ở nước ta vào thời nhà Lý nhà Trần, đạo Phật tràn ngập cả nước, chùa chiền khắp nơi, thầy tu làm dân tráng, nhưng nước nhà chưa có cái vẻ tích nhược như hồi Lê trung hưng hay Nguyễn thống nhất là cái thời đại Nho học thịnh hành. Trái lại, nhà Lý nhà Trần mạnh lắm, dân khí còn hăng lắm, mấy phen giặc Tàu sang, chúng ta đuổi đi như đuổi vịt. Lịch sử là cái chứng mạnh lắm, không ai cãi được. Nó đã làm bằng chứng cho Phật Giáo không phải là một thứ như thuốc  phiện làm mòn yếu con người" (Báo Tiếng Chuông Sớm, tháng 10/1935. Dẫn  theo Nguyễn Lang, sđd, tr.29).

- Trường hợp của học giả Đào Duy Anh thì khá đặc biệt. Mặc dù đã từng cặm cụi biên soạn sách "Việt Nam Văn Hóa Sử Cương" (1938), nhưng trước đó và mãi về sau này, Đào Duy Anh vẫn mang nặng thành kiến đối với Phật Giáo, xem đấy là một tôn giáo yếm thế, chối bỏ nhân sinh, "một thứ tôn giáo cũng đầy mê tín như các tôn giáo khác, một thứ triết lý thuần túy duy tâm và nhằm cứu khổ cho người ta bằng biện pháp diệt trừ triệt để nguyên nhân của khổ, nhưng diệt trừ bằng một sức tưởng tượng mãnh liệt chứ không phải bằng hành động thiết thực... " (Đào Duy Anh, Nhớ Nghĩ Chiều Hôm, hồi ký, nhà xb Trẻ, 1989, tr.192). Chính vì thành kiến như vậy mà ông Đào đã cường điệu hóa tính chất phong phú và phức tạp của kinh điển Phật Giáo để hạ thấp nó xuống. Đào Duy Anh viết: "Tức ở trong bao nhiêu điều hoang đường mê tín chất chứa hàng hai mươi lăm thế kỷ nay, bao trùm kín mít lời dạy của Thích Ca, phải cố gắng gạn tìm lấy một vài điều gì có thể xem là tích cực..." (sđd, tr. 192).

Quả là kinh điển của Phật Giáo hết sức phong phú đến độ phức tạp, nhưng nếu có được sợi chỉ đỏ cần thiết của người học Phật chân chính, thì mọi vấn đề sẽ trở nên gần gũi, quen thuộc, và kẻ hành giả sẽ ung dung đi qua hết các lớp các tầng của rừng kinh Phật, từ hiền ngôn, ẩn ngôn, rồi vô ngôn và ngược lại.

        Nhưng rồi khi nghiên cứu về lịch sử dân tộc thời đại Lý Trần, nhận thức về Phật Giáo của học giả Đào Duy Anh đã chuyển biến hẳn, mặc dù vẫn còn ít nhiều thắc mắc, khó hiểu:

"Trong khi nghiên cứu lịch sử Việt Nam đến thời Lý Trần, tôi phải nghĩ nhiều về một vấn đề rất khó hiểu, là tại làm sao thời Lý Trần, nhất là thời Trần, từ vua quan quý tộc đến nhân dân đều say mê đạo Phật là một thứ tôn giáo yếm thế, xuất thế như vậy mà tổ tiên chúng ta bấy giờ lại đánh giặc giỏi như thế. Đành rằng nhân dân ta có truyền thống bất khuất chống ngoại xâm..., song nếu những tín đồ chân thành của nhà Phật cứ nghe theo lời dạy của Phật mà cho đời người là bào ảnh, mà chính thân mình cũng là giả dối thì hẳn là người ta chẳng quật khởi, ngoan cường như thế để đối phó với nạn xâm lăng...".

    Tất nhiên là Đào Duy Anh đủ sức để vượt qua những thắc mắc, những khó hiểu ấy. Đây là giải đáp mang tính chất phát hiện của ông Đào:

"Trần Thái Tông là vua sáng nghiệp nhà Trần, lại là tác giả sách Khóa Hư Lục, là tác phẩm tiêu biểu của Thiền Tôn ở thời Trần, và Trần Nhân Tôn là vị vua anh hùng của nhà Trần mà lại là Tổ thứ nhất của phái Trúc Lâm trong Thiền Tôn Việt Nam, cả hai người đều kết hợp một cách tốt đẹp hoạt động tu hành và hoạt động kinh bang tế thế..." (sđd, tr. 193-194).

Đánh dấu cho sự chuyển hướng này là việc học giả Đào Duy Anh, trong hoàn cảnh tài liệu tham khảo không được dồi dào thuận tiện, đã bỏ nhiều công sức để dịch và chú giải sách Khóa Hư Lục của vua Trần Thái Tông, viết bài "Nói tóm tắt về Thiền Tôn" in ở đầu sách. Bài viết mang tính chất dẫn nhập về Thiền cùng Thiền học ở Trung Hoa và Việt Nam. Điều đáng nhấn mạnh ở đây là bài viết ấy tuy vắn tắt nhưng ông Đào đã đánh giá rất xác đáng ảnh hưởng của Thiền học đối với các tác giả lớn trong văn học cổ điển Việt Nam, như Nguyễn Trãi (1380-1442), Ngô Thì Nhậm (1746-1803), Nguyễn Du (1765-1820), nhất là với việc trích dẫn, dịch một số câu thơ trong bài thơ "Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài" (Đài đá phân kinh của Thái Tử Chiêu Minh đời Lương) của thi hào Nguyễn Du. Học giả Đào Duy Anh đã góp phần đính chính cái sai lầm tệ hại nhất về Phật học của nhóm biên dịch sách Thơ Chữ Hán Nguyễn Du, do Lê Thước và Trương Chính chủ biên đã mắc phải khi hiểu sai và dịch sai câu thơ quan trọng trong bài ấy (Xem Thơ Chữ Hán Nguyễn Du, nhà xb VH, H, 1978, tr.443-448) (2).

IV. ĐẾN THỜI KỲ SUY ĐỒI: THẾ KỶ 15, 16

Phật Giáo Việt Nam, sau giai đoạn vàng son của thời thịnh Lý thịnh Trần, đã rơi vào thời kỳ suy đồi kéo dài hơn hai thế kỷ, từ đầu thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XVII. Thịnh suy là hiện tượng thông thường của mọi hình thái xã hội, huống chi người Phật tử, hơn ai hết, luôn thấu đạt tính chất thành trụ hoại không của vạn hữu. Vấn đề ở đây là sự ghi nhận và đánh giá về thời kỳ ấy, góp phần đem lại sự trung thực cần thiết cho một cái nhìn lịch sử của Phật Giáo Việt Nam trong sinh mệnh dân tộc. Trên con đường đi tới tương lai của dân tộc và đạo pháp, chúng ta cần có, và có quyền đòi hỏi, về một cái nhìn trung thực và công bằng trong sự ghi nhận và đánh giá về thời kỳ Phật Giáo suy đồi này.

Giáo sư Nguyễn Lang, trong sách Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, T.2, chương 18, "Đạo Phật Trong Thời Nho Học Độc Tôn" đã có những cố gắng đáng kể góp phần soi sáng vấn đề. Giáo sư Nguyễn Lang viết:

 "Suy đồi ở đây không có nghĩa là sự giảm thiểu số lượng tự viện và tăng sĩ. Số lượng tự viện và tăng sĩ trong thời đại mà ta gọi là suy đồi vẫn tiếp tục lớn lên. Suy đồi đây cũng không có nghĩa là mất ảnh hưởng trong quần chúng. Cuối đời Trần và trong suốt đời Lê nữa, những chiếc rễ đạo Phật vẫn càng ngày càng ăn sâu thêm trong nếp sống tình cảm và tín ngưỡng của giới đại chúng, bình dân. Suy đồi này có nghĩa là đánh mất vai trò lãnh đạo trí thức, văn hóa và chính trị. Thực vậy trong suốt một thời gian hơn hai trăm năm từ khi nhà Trần bắt đầu suy đồi, đạo Phật không còn chỉ đạo được đường hướng văn hóa và chính trị nữa. Giới trí thức hướng về đạo Nho như phương châm cứu nước và dựng nước. Những vị cao tăng không thấy xuấy hiện" (VNPGSL, T2, nxb  VH,H,1992, tr.43-44).

 Một cái nhìn tổng quát mang tính chất thâu tóm và thấu đáo như thế nên các phần quảng diễn tiếp theo hầu hết đều có tánh thuyết phục cao, cận tình đạt lý. Về nguyên nhân chủ quan, giáo sư Nguyễn Lang nêu rõ mấy điểm:

- Thịnh quá hóa suy: "Phật Giáo trong đời Pháp Loa đã đi tới mức thịnh đạt có thể nói là cao nhất trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Một phong trào khi đã lên đến chỗ cao nhất thì bắt đầu đi xuống... Khi đạo Phật được vua chúa quý trọng thì các nhà quyền quý và trăm họ đều hướng vào. Chùa chiền càng nhiều thì nếp sống thanh quy càng khó có thể bảo đảm được. Tăng chúng càng đông thì càng có nhiều phần tử bất hảo làm hại thanh danh tăng đoàn. Sự kính trọng càng nhiều thì niềm kiêu hãnh càng thêm cao. Sự cúng dường càng hậu thì sự ỷ lại càng tăng. Suy đồi là do ở chỗ đó " (sđd, tr.44-45).

- Thói quen ỷ lại vào vua chúa: Đây được xem là hệ luận của nguyên do trên: "Dựa trên sự ủng hộ của các vị Nhân vương, điều đó Phật giáo nước nào cũng có làm, nhưng ỷ lại hoàn toàn vào họ là một lẫm lẫn lớn" (sđd, tr.55).

- Sự biến dạng của Mật Giáo: "Ta cũng bíết rằng, Mật Giáo nếu không khéo duy trì có thể biến dạng trở thành phù thủy, mê tín, dị đoan...Đến đời Pháp Hoa và Huyền Quang, dưới ảnh hưởng của Phật Giáo Trung Hoa và Tây Tạng, Mật Giáo lại được khôi phục. Cùng với thời đại nhiễu nhương, Mật Giáo được mau chóng biến chất và phủ lên trên sinh hoạt tín ngưỡng bình dân một lớp màn mê tín và dị đoan. Sự phê phán Phật Giáo của các Nho gia là một phần được căn cứ trên những hình thái sinh hoạt rườm rà ấy của Phật tử " (sđd, tr.54).

- Yếu tố Tăng tài: "Sau khi nhà nước đã khôi phục được độc lập, các nhà lãnh đạo Phật Giáo Trúc Lâm đã làm gì? Tại Yên Tử, nối theo Quốc Sư An Tâm và Quốc Sư Phù Vân còn có hai vị quốc sư khác: Quốc Sư Vô Thước và Quốc Sư Quốc Nhất. Tước hiệu quốc sư cố nhiên phải là do chính quyền ban cho. Cũng như năm 1435, vua Lê Thái Tông ban hiệu Tử Y Đại Sa Môn cho Thiền Sư Huệ Hồng trụ trì chùa Báo Thiên ở kinh đô. Các vị có địa vị lãnh đạo như những vị trên đã làm gì để duy trì mạng mạch của Phật Giáo? Hay là chỉ thỉnh thoảng được mời tới để làm lễ cầu mưa, làm chay, và làm lễ khai quang điểm nhãn?" (sđd, tr.56). Tựu trung, thiếu vắng Tăng tài vẫn là nguyên nhân chính của mọi sự suy đồi.

Về phía khách quan, những soi rọi của giáo sư Nguyễn Lang lại càng sáng tỏ hơn nữa:

- Tinh thần độc tôn thay thế cho tinh thần dung hợp: "Sự ghét bỏ và chỉ trích Phật Giáo của các Nho thần như Lê Quát, Trương Hán Siêu không phải là nguyên nhân làm cho Phật Giáo suy đồi. Chính sự chạy theo một nền văn hóa mới mà không thấy được giá trị của nền văn hóa truyền thống dân tộc mới là nguyên nhân chính của sự suy đồi. Nền văn hóa mới này được xây dựng trên một thái độ giáo điều và trên một quan điểm chật hẹp về chân lý: đó là cái học Tống Nho, tự cho mình là độc tôn và cho là sai lầm tất cả những lối nhìn khác về nhân sinh và về vũ trụ" (sđd, tr.49).

- Âm mưu thống trị văn hóa của phong kiến phương Bắc: "Trong thời gian nhà Minh đô hộ, vào đầu thế kỷ XV, chính sách đồng hóa Đại Việt với Trung Quốc được thi hành triệt để. Nhà Minh không muốn Đại Việt có một nền văn hóa độc lập, bởi vì độc lập văn hóa sẽ dẫn tới độc lập chính trị. Nhà Minh bắt Đại Việt theo phong tục và lễ nghi Trung Quốc. Tướng nhà Minh là Trương Phụ cho thu lượm hết các trước tác cũ, mới của Đại Việt và chở về Kim Lăng. Sợ những sách này còn sót lại, năm 1418, lại cho hai nhà trí thức nhà Minh là Hạ Thanh và Hạ Thì sang Đại Việt để thu lượm cho kỳ hết những tác phẩm của Đại Việt... Để thay thế cho sách Việt bị lấy mất, nhà Minh cho chở sang nước ta những tác phẩm Trung Hoa về Nho, Lão, Phật cho người Việt học. Chính quyền đô hộ lập Tăng Cương Ty và Đạo Kỳ Ty để lo việc giáo dục Phật giáo và Lão giáo theo mẫu mực Trung Hoa…

 Các Nho sĩ đời Lê đáng lý phải ý thức được ý đồ thâm độc của nhà Minh, nhưng trong gần hai thế kỷ, một phần vì thiếu ý thức về văn hóa dân tộc, một phần vì kỳ thị Phật Giáo, không có Nho gia nào chịu khó tìm tòi gây dựng lại vốn cũ. Phải đợi đến gần cuối thế kỷ XVIII, mới thấy có Lê Quý Đôn bắt đầu công việc ấy... Sự thu dụng những điều hay của các nền văn hóa khác nhau vốn là một hành động làm giàu cho nền văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, việc làm đó phải được thực hiện trên căn bản vốn cũ của văn hóa dân tộc. Tinh thần cỡi mở, hòa hợp và từ bi của Phật Giáo đã duy trì hòa bình và thịnh vượng suốt trên ba trăm năm. Những tệ đoan sinh ra trong Phật Giáo cố nhiên là phải từ bỏ, nhưng tinh thần cởi mở, hòa hợp và từ bi ấy cần phải được bảo vệ. Các nhà Nho thời Trần mạt và thời Lê đã không thấy được điều đó" (sđd, tr.50).

 - Cái học khoa mục: "Cái học đời Lê không những bị giới hạn trong Nho Giáo mà còn bị giới hạn bởi khoa mục nữa… Thi văn đời Lê cũng chỉ chú trọng về ngâm vịnh. Nói rằng thơ văn để chuyên chở đạo đức, kỳ thực đạo đức trong loại thơ văn ấy chỉ là những hình bóng khô cứng lặp lại mà không phải là sinh lực đạo đức phát tiết từ nếp sống tâm linh. Phật học khi đã bị loại ra khỏi chương trình giáo khoa và thi cử của triều đình thì lớp thanh niên chạy thèo khoa bảng không còn biết gì nữa về đạo Phật. Lời bàn của Ngô Thì Sĩ về những cuộc thi Tam Giáo đời Trần chứng tỏ rằng không có kiến thức gì về đạo Phật và đạo Lão. Các nhà Nho trình bày đạo Phật như là một tổng hợp mê tín và dị đoan, cho Nho học là chính đạo, là đường lối duy nhất để dựng nước và giữ nước" (sđd, tr.53). Nhằm làm sáng tỏ thêm những gì đã được nêu lên trong chương 18 này, giáo sư Nguyễn Lang đã viết thêm chương 19 tiếp theo, bàn về "Sức sáng tạo của giới Phật tử đại chúng" (sđd, tr.71-110) giúp cho sự tiếp cận của chúng ta được đầy đủ, rõ hơn.

Năm 1988, tức 10 năm sau khi sách Việt Nam Phật Giáo Sử Luận T.2 của giáo sư Nguyễn Lang ra đời, Viện Triết Học thuộc Ủy Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam, đã cho xuất bản sách "Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam" gồm nhiều người viết dưới sự chủ biên của ông Nguyễn Tài Thư. Đây là một hiện tượng đặc biệt trong giới Phật học Việt Nam, và người đọc càng phấn khởi biết bao khi đọc những dòng viết nơi Lời Nói Đầu do người chủ biên chấp bút: "Kế thừa thành tựu của những người đi trước, vận dụng kết quả của các khoa học hiện đại, chúng tôi cố gắng viết cuốn Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam với tư liệu phong phú hơn, trình bày có hệ thống hơn, có sức thuyết phục hơn" (Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, nhà xb KHXH, 1988, tr.7). Nhưng sự thực thì sao? Phải nói là chúng tôi gần như hoàn toàn thất vọng.

Để góp phần đem lại sự công bằng cho một cái nhìn lịch sử của Phật Giáo Việt Nam trong sinh mệnh dân tộc, chúng tôi xin nêu ra một vài điểm trong hàng chục điểm thất vọng ấy đối với cuốn sách vừa kể. Sau đây là những dòng được trích từ chương X: Phật Giáo Trong Thời Kỳ Thịnh Trị Của Vương Triều Lê (thế kỷ XV): 

"Sinh hoạt tinh thần và văn hóa của Phật Giáo suốt từ thời độc tôn, qua sử liệu, phần lớn tập trung vào những việc đoán điềm giải mộng, cầu tự cho có con nối giõi, cầu sống lâu, đảo vũ cầu mưa, phù phép chữa bệnh. Giới sư tăng thì bám sát phong kiến, những ngôi phạm vũ tôn nghiêm, những quả hồng chung to lớn, thường không thiếu bốn câu chạm:

"Hoàng đồ củng cố

Đế đạo hà xương

Phật Nhật tăng huy

Pháp luân thường chuyển"

nói lên mối liên quan sinh tồn giữa Phật Giáo và phong kiến như thần cậy cây đa, cây đa cậy thần vậy. Cho đến ngày chấm dứt chế độ phong kiến, nhiều án thờ nơi chính giữa chánh điện vẫn tồn tại tấm long vị sơn son thếp vàng với hàng chữ uy nghiêm trong long bài: "Đương kim Hoàng đế thánh thọ vạn vạn tuế". Đó mới là đặc sắc đáng ghi nhận của Phật Giáo Việt Nam dưới chế độ phong kiến. Qua đó, ngay khi chưa điêu điều tàn, Phật Giáo Việt Nam cũng tự hạ thấp để trở thành một loại công cụ, một thứ trang trí cho chế độ phong kiến và biến thành một thứ tín ngưỡng dân gian hạ đẵng, chỉ lo cầu đảo cúng bái mà thôi.." (Lịch sử Phật Giáo Việt Nam, nhà xb KHXH,H, 1988, tr.272).

Những dòng viết sau đây của chúng tôi chưa phải là tranh luận mà chỉ là một số suy nghĩ đối chiếu, so sánh :

   l. Nói chung, nhà viết sử hoàn toàn có quyền phê phán các sự kiện lịch sử, theo nhận thức chủ quan của mình. Nhưng thông thường, cái gọi là giá trị của ngòi bút viết sử, là phải biết vượt khỏi cái áo giáp chủ quan để hướng tới sự dung hợp theo tinh thần vừa thấy cây, vừa thấy rừng và ngược lại. Một số nhận định được trích dẫn trên hầu như chưa đạt đến tinh thần ấy.

   2. Thế kỷ XV và cả thế kỷ XVI là thời kỳ suy đồi của Phật Giáo Việt Nam. Vậy đâu là nguyên nhân nội tại và ngoại tại? chính và phụ? Trách nhiệm của những vị lãnh đạo Phật Giáo, nhất là vào cuối thời kỳ cực thịnh, tới đâu? Thái độ bài bác và kỳ thị của giới Nho sĩ đã có ảnh hưởng ra sao? Xuất xứ và nền tảng của sự kích bác đó, giá trị cùng những lầm lẫn của nó đã mắc phải v.v. . . Đấy là những vấn đề, mà người viết, qua những dòng trích dẫn trên, cũng như cả chương X  của sách đã không làm được. Nói cách khác, người viết hầu như không đủ bản lĩnh để thâu tóm, xử lý tư liệu nhằm trình bày và quảng diễn vấn đề, do đó, chỉ khoảng 20 trang sách của chương X (trang 266-286) mà đã bộc lộ đầy những mâu thuẫn, lủng củng, liều lượng phân phối lại càng không hợp lý (như dành 8 trang trong tổng số 20 trang của toàn chương để giới thiệu tác phẩm "Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ Văn" và "Khoa Mông Sơn Thí Thực", trang 278-286).

   3. Về câu viết: "Giới sư tăng thì bám sát phong kiến, những ngôi phạm vũ tôn nghiêm... nói lên mối liên quan sinh tồn giữa Phật Giáo và phong kiến như thần cậy cây đa, cây đa cậy thần vậy". Có mấy điểm xin ghi nhận sau đây:

a. Về tư liệu: Người đọc muốn được biết rõ hơn, cụ thể hơn, là những ngôi phạm vũ nào, những quả đại hồng chung nào, được tôn tạo, được đúc trong thế kỷ XV, tiêu biểu cho mối tương quan sinh tồn kiểu "cây đa cậy thần - thần cậy cây đa" ấy? Theo chỗ chúng tôi được biết, thì trong thế kỷ XV, XVI, những ngôi Phạm vũ tôn nghiêm, những quả đại hồng chung, v.v... chạm trổ theo kiểu nêu trên hầu như không được kiến tạo là bao. Bên cạnh đó, có những văn bia, một tinh thần xây dựng tích cực khác hẳn, mà độc giả sẽ thấy trong đoạn trình bày dưới đây.

b. Về hình ảnh so sánh: Chúng ta đều biết, cuộc sống luôn là một tổng hòa của các quan hệ xã hội, cho nên không hề có một hiện tượng nào, dù là đơn giản hay phức tạp, mà có thể tồn tại một cách độc lập, biệt lập được. Thấm nhuần diệu lý duyên khởi, người Phật tử hơn ai hết, luôn thấu đáo vấn đế ấy. Thế thì mối tương quan giữa Phật Giáo và nhà nước Việt Nam, dù là chế độ gì và ở vào thế kỷ nào, vẫn là vấn đề muôn thuở, đã có, đang có, và sẽ có mãi mãi, hoặc tương quan tích cực, hoặc tương quan tiêu cực, hoặc tương quan đi xuống, hoặc tương quan đi lên, cùng với những bất ngờ, những ngoại lệ... Dùng hình ảnh "thần cậy cây đa - cây đa cậy thần" để so sánh mối liên quan sinh tồn giữa Phật Giáo và chế độ phong kiến (?), rõ ràng là người viết đã chỉ nhìn thấy vấn đề không đầy một nửa và như   vậy là đã vô tình hạ thấp tầm nhìn của chính mình. Tiến sĩ Đặng Đình Tướng (1649-1735) nơi Văn Bia chùa Hàm Long (Hàm Long Tự Bi Ký) viết vào năm 1714, có đoạn: "Nhưng chùa này được xây dựng đây không phải chỉ để trông cho đẹp mắt. Mà sẽ giúp ích thánh triều, khiến đổi mới đời sống nhân dân..." (Tuyển Tập Văn Bia Hà Nội, nhà xb KHXH, H, 1978, T.2, tr.66). Hóa ra, từ hơn 270 năm về trước, những nhà Nho, dù không tham gia viết Lịch Sử Phật Giáo, cũng đã có những đánh giá xác đáng và công bằng hơn nhiều.

c. Chúng tôi đã nói tới một ngoại lệ đặc biệt của Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ XV: Đó là Nguyễn Trãi (1380-1442). Trong hoàn cảnh Phật Giáo suy kém, bị Nho sĩ kỳ thị, kích bác, thế là chúng ta đã có Nguyễn Trãi, một trong số các gương mặt lớn nhất của văn học cổ điển Việt Nam, cũng là một trong số các Nho sĩ có những tiếp cận thấu đạt nhất đối với Thiền học. Nơi trang 276-277 của sách LSPGVN ấy, cùng chương X, người viết đã trích dẫn một số câu thơ Thiền của Nguyễn Trãi và cho là đã "chạm vào Phật lý hết sức căn bản và sâu sắc..." (tr.267), là "nói về cái linh diệu của lẽ sắc không" (tr.277). Vậy thì Nguyễn Trãi đã tiếp cận Phật học trên nền tảng xã hội nào, trong khi theo tác giả của chương X sách kể trên thì: “sinh hoạt tinh thần và văn hóa của Phật Giáo suốt thời độc tôn... phần lớn tập trung vào những việc đoán điềm giải mộng...", trong khi mối liên quan sinh tồn giữa Phật Giáo với chế độ theo tác giả chỉ là "thần cậy cây đa - cây đa cậy thần”? Hai thứ ấy cậy vào nhau thì chỉ sinh ra những ông bình vôi sứt bể, những ông táo gãy vỡ, chứ làm sao có được những vần thơ Thiền làm vẻ vang cho ca Thiền học và văn học Việt Nam như Nguyễn Trãi.

            4. Thời kỳ suy đồi, bị kỳ thị, kích bác, không còn chỗ đứng trong vị thế chính trị, văn hóa gia đình, giáo dục, vậy thì Phật Giáo Việt Nam, trong chiều hướng khế cơ của mình, và để khỏi bị tiêu diệt, đã phải đối phó và đi tìm đất sống ở đâu? Người viết Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, nhất là những người đi sau "kế thừa những thành tựu của người đi trước" - như ông Nguyễn Tài Thư đã viết – phải cố gắng một cách công bằng và sòng phẳng trong nỗ lực mô tả công việc đi tìm đất sống ấy của Phật Giáo Việt Nam nơi quần chúng dân gian, kể cả lãnh vực mê tín cúng bái, đâu là mặt tích cực, đâu là mặt tiêu cực?

                         Rõ ràng là những dòng được trích dẫn trên, nhất là đoạn cho in nghiêng, người viết đã không có được sự công bằng phải có của người viết sử đi sau.

            5. Chính vì chưa có được sự công bằng ấy nên hai dẫn chứng ở trang tiếp theo (trang 273) về Trương Hán Siêu (đời Trần) và Đàm Dĩ Mông (đời Lý), người viết đã rơi vào nẻo phiến diện, trích dẫn có hậu ý xấu:

a. Về Trương Hán Siêu: Có thể dẫn thêm bài "Văn bia chùa Khai Nghiêm" lời lẽ kích bác Phật Giáo còn nặng nề hơn. Nhưng thực tế, lúc về già, họ Trương đã tỏ ra mộ Phật và bày tỏ sự hối hận về những lầm lạc của mình ngày trước, qua bài thơ "Khắc đá ở núi Dục Thúy". Hơn nữa, ngay trong bài "Văn bia Tháp Linh Tế", họ Trương vẫn dành một đoạn ca ngợi đức độ tu hành của nhà sư Tri Nhu, người đứng ra lo việc trùng tu Tháp Linh Tế và đã thân hành ra tận kinh đô Thăng Long nhờ Trương Hán Siêu - vốn là người quê Ninh Bình - viết bài văn bia cho ngôi tháp mới được trùng tu ấy. Như thế khi đã trích dẫn thì phải ghi chú cho đủ để khỏi phải mang tiếng là đoạn chương thủ nghĩa.

b. Về Đàm Dĩ Mông: Chúng tôi nhận thấy ý kiến của giáo sư Hoàng Xuân Hãn trong sách Lý Thường Kiệt (bản in của Viện ĐH Vạn Hạnh, S, 1966, tr.422-430) công bằng và hợp lẽ hơn nhiều. Ngoài ra, giáo sư Nguyễn Đăng Thục, trong sách Thiền Học Việt Nam (nhà xb Lá Bối, S, 1967, tr. 158) còn dẫn thêm tư liệu nơi Việt Sử Tiêu Án, để cho thấy là khi vua Lý Cao Tông bị nạn Quách Bốc, thì chính Đàm Dĩ Mông đã chạy theo phe phản nghịch, sau bị Đỗ Anh Kiệt vạch mặt, và giáo sư Thục viết rằng, đây là kẻ Nho tiểu nhân, không đủ tư cách để bài bác Phật Giáo. Cũng cần nói thêm là, đồng thời với việc Đàm Dĩ Mông phỉ nhục Tăng đồ - chữ của giáo sư Hoàng Xuân Hãn - chúng ta còn có sư phó Nguyễn Thường đã đứng ra can vua Lý Cao Tông đừng nên chơi bời xa hoa quá độ mà mất nưỡc. Như vậy thì giữa hai tư liệu (Đàm Dĩ Mông và sư phó Nguyễn Thường) cái nào cần trưng dẫn hơn cái nào? Ít ra thì chúng cũng bằng nhau, để những người đi sau, trong khi dẫn chứng phải chú ý, nếu không sẽ rơi vào lối lý luận chuyên trưng dẫn một chiều để thổi phồng hoặc xuyên tạc.

   Gút lại ở phần này, mặc dù ra đời sau, được nhiều người tham gia biên soạn, mặc dù nơi Lời Nói Đầu đã nêu lên ước muốn cùng đặt ra chỉ tiêu, sách Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, thông qua chương X, cũng như hầu hết các chương khác của nó, đã kém xa nếu so sánh với sách VNPGSL của giáo sư Nguyễn Lang ra đời trước đó 10 năm. Ở đây không phải là sự khen chê mà là sự tiếp cận đúng hay không đúng, là cái nhìn trung thực, công bằng hay cái nhìn lệch lạc, méo mó. Mong sao, trên con đường đi tới tương lai của dân tộc và Phật Giáo Việt Nam, đàn em và thế hệ con cháu chúng ta sẽ không còn gặp phải những cái nhìn lệch lạc, sai lạc về lịch sử Phật Giáo Việt Nam như thế nữa.

                        V. TỪ NHỮNG BIẾN ĐỘNG CỦA THẾ KỶ XVII – XVIII…

                        Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, người viết phần Khảo Luận Văn Bản cho bộ sách Thơ Văn Lý Trần, nơi trang 106, tiết mục "Thời kỳ thứ hai: Sự sa sút của đạo Nho ở thế kỷ XVII-XVIII mở ra trước mắt nhà sưu tầm những nguồn tài liệu mới mẻ" đã viết: 

  "Giai đoạn thứ hai trong lịch sử công tác sưu tập thơ văn Lý Trần có nhiều đặc điểm khác giai đoạn trước. Về mặt xã hội, đây là một thời kỳ rất không ổn định... Trước cơn khủng hoảng tinh thần trầm trệ, đạo Nho mất vị trí là cái ánh sáng duy nhất đối với tầng lớp trí thức. Đúng hơn, trong lý trí chính thống của xã hội, nhà Nho vẫn suy nghĩ theo Khổng Mạnh, nhưng trong đời sống tình cảm, ngườí ta lại đi tìm một sự cởi mở, một sự giải thoát bởi những lý thuyết khác hẳn đạo Nho. Hơn lúc nào hết, đạo Phật bộc lộ tất cả khả năng hấp dẫn của nó. Kinh kệ , giáo lý nhà Phật bấy lâu nay vẫn lưu hành lặng lẽ trong nhà chùa, bỗng một lúc nào đấy đã vượt ra khỏi giới hạn chật hẹp của nhà chùa. Và tầng lớp sĩ phu tìm vào đấy như một nhu cầu an ủI, cũng ngạc nhiên nhận ra: bao nhiêu giá trị văn hóa của các thời đại trước, mà mình chưa hề biết, chủ yếu là giá trị văn hóa Lý Trần, đã nằm lẫn lộn bên trong các thứ giáo lý sắc không kia từ lâu lắm..." (Thơ Văn Lý Trần, T.I, nhà xb KHXH, H, l977, T.I, tr. 106-107).

Những ghi nhận mang tính chất khám phá như thế, tuy chỉ giới hạn trong lãnh vực sưu tầm tư 1iệu văn học, nhưng vẫn mở ra những khơi gợi đáng kể cho các nhà viết lịch sử Phật Giáo cũng như viết lịch sử văn học. Đây là những nhận xét và đánh giá của giáo sư Nguyễn Lang:

   "Sau gần một thế kỷ rưỡi loạn lạc, đầy dẫy bạo động, đức tin của các nhà chính trị nơi triết học Tống Nho đã lung lay. Nhiều sĩ phu đại diện cho triết học Tống Nho trong suốt thời gian đó đã chứng tỏ hư hỏng và bất lực. Trong đau khổ cùng cực, người ta bắt đầu quay trở về với đạo Phật, một đạo lấy đức từ bi là gốc, và kỹ thuật trị thế là thứ yếu. Các chúa Trịnh cũng như các chúa Nguyễn, không phải là những người học Phật uyên thâm và có ý chí tu học như các vua Trần. Họ chỉ là những tín đồ Phật Giáo, lấy sự ủng hộ Phật Giáo để tạo công đức cho giòng họ chứ không biết áp dụng Phật Giáo vào công việc dựng nước. Tuy vậy đó cũng là một trong những nguyên nhân đưa tới sự phục hưng. Với sự nứt rạn dần dần của đức tin, nơi triết học Tống Nho, nhiều nhà trí thức sau khi nếm đủ khí vị vô thường và đen bạc của thời đại, cũng bắt đầu xoay sang nghiên cứu Phật học. Đã thấy một số Nho sĩ trí thức bỏ Nho theo Phật " (VNPGSL, T.2, sđd, tr. 113-114) .

                        Còn đây là một khám phá thực sự của học giả Đào Duy Anh: "Nhưng đến cuối đời Lê, sau bao nhiêu cuộc đấu tranh của nông dân, nhất là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, dân tộc ta lại bước vào một thời kỳ chuyển biến, do đó Thiền Tông lại gặp được hoàn cảnh thuận tiện để phát triển trở lại, cho nên mới có nhiều nhà trí thức lỗi lạc đứng đầu là Ngô Thì Nhậm tin theo như ta đã biết..." (Nhớ Nghĩ Chiều Hôm, hồi ký của Đào Duy Anh, sđd, tr. 195). Ông Đào còn nói thêm là một số nhà thơ như Nguyễn Du, tuy không tham gia vào nhóm Trúc Lâm của Ngô Thì Nhậm (nhóm này có một người cháu gọi Nguyễn Du bằng chú ruột tham gia, đó là Nguyễn Hành (1771- 1824) hiệu là Hải Điền - ĐN chú), nhưng cũng tỏ ra hâm mộ Thiền Tông và đã thể hiện sự hâm mộ ấy qua thi ca chữ Hán.

                        Phát hiện của học giả Đào Duy Anh rất đáng chú ý, nó giúp chúng ta trong việc tiếp cận và thấy rõ hơn tác động của Phật Giáo đối với một số đông các nhà thơ Việt Nam ở thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, từ Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720-1791), Lê Quý Đôn (1726-1784), Nguyễn Gia Thiều (1741-1798), Ninh Tốn (1743-?), Ngô Thì Nhậm (1746-1803), Vũ Huy Tấn (1749-l800), Đoàn Nguyễn Tuấn (1750-?), Phan Huy Ích (1751-1822) đến Nguyễn Du (1765-1820), Phạm Thái (1777-1814), Phạm Quý Thích (1760-1825)...

                        Riêng về Phạm Quý Thích, bạn thân của Nguyễn Du, ông Nguyễn Tài Thư đã hai lần nhắc đến họ Phạm xem đó là một trong số các Nho sĩ bài bác Phật Giáo: một lần nơi bài viết "Phật Giáo và thế giới quan người Việt Nam trong lịch sử" in trong sách "Mấy Vấn đề Về Phật Giáo Và Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam" (Viện Triết Học xb, H, 1986, tr.25), lần khác trong sách LSPGVN mà ông là người chủ biên (LSPGVN, sđd, tr.360). Nhưng ông Nguyễn Tài Thư chưa tìm đọc một số Văn Bia tiêu biểu, để thấy rằng Phạm Quý Thích đã thay đổi tư tưởng qua những câu Minh tuyệt vời sau đây, những câu Minh thuộc vào hạng hay nhất của thể loại này mà văn học và Thiền học Việt Nam đã có được:

"Thanh thản liên y
Tây hồ chi thủy
Bách ức liên phi
Nhất  thiết hoan hỷ
Bất cảm hà tịch
Bất linh hư?
Quán bỉ thủy nguyệt
Tư kiến chân như"
(Sóng gợn trong vắt
Mặt nước Tây Hồ
Ngàn đóa hoa sen
Đua nhau vui nở
Tịch nào không cảm
Hư nào không thiêng?
Trăng lồng đáy nước

Soi tỏ chân như) (Bài Minh của Văn Bia chùa Trấn Quốc, Tuyển Tập Văn Bia Hà Nội, T.I, nhà XB KHXH, H, 1978, tr.37-38 dịch, tr. 138 chữ Hán).

                        VI. ĐẾN HIỆN TƯỢNG NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU, HẬU BÁN THẾ KỶ XIX.

                        Chúng tôi tạm gọi là "Hiện tượng Nguyễn Đình Chiểu" đối với Phật Giáo Việt Nam, vì với hai tác phẩm Dương Từ Hà Mậu (DTHM-1851) và Ngư Tiều Vấn Đáp Nho Y Diễn Ca (1867), Nguyễn Đình Chiểu đã bộc lộ một thái độ cực kỳ ác cảm, kích bác Phật Giáo thậm tệ, chưa hề thấy trong văn học Việt Nam. Chúng tôi đã có bài viết bài về vấn đề này tương đối đầy đủ, ở đây chỉ xin nêu lên vài trường hợp liên hệ :

  l. Giáo sư Trần Văn Giàu, nơi sách "Nguyễn Đình Chiểu Đạo Làm Người" (Sở VHTT Long An xb, 1983, tr.14-15) đã cho rằng: "Sáng tác Dương Từ Hà Mậu mở ra cuộc đấu tranh chính trị và tư tưởng chống Thiên Chúa Giáo với tư cách là "Đạo Tây", là vũ khí xâm lược của thực dân" (sđd, tr. 14). Đó là đối với đạo Thiên Chúa. Còn đạo Phật? Giáo sư Giàu viết tiếp: "Cụ Đồ công kích đạo Phật vì khi ấy Phật Giáo không tỏ ra là một lực lượng yêu nước và kháng chiến như nó đã tỏ ra một cách đáng kính trọng những năm bản lề giữa bán thế kỷ sau khi Nho giáo tỏ ra bất lực" (sđd, tr. 15). Nhận định như vậy là rõ ràng và dứt khoát. Nhưng chúng tôi có mấy suy nghĩ xin được nêu lên như sau:

a. Qua hai trích dẫn trên, chúng tôi nhận thấy giáo sư Trần Văn Giàu hầu như đã dành nhiều cảm tình cho Phật Giáo hơn, trong khi nơi tác phẩm cụ Đồ Chiểu đã xem hai đạo ấy như là ngang nhau :

"Dị đoan xưa hãy bời bời

Lại thêm đạo Phật, đạo Trời băng xăng"(DTHM, câu 5-6, theo bản của sách Nguyễn Đình Chiểu Toàn Tập, nhà xb ĐH và THCN, H, 1980).

Và về quá trình hành động của hai nhân vật chính của tác phẩm: Dương Từ (theo Phật) và Hà Mậu (theo Chúa) cụ Đồ phân phối liều lượng bằng nhau.

b. Theo các vị biên soạn sách "Nguyễn Đình Chiểu Toàn Tập" thì DTHM có thể được soạn từ năm 185l và hoàn chỉnh vào những năm trước khi thành Gia Định lọt vào tay giặc Pháp (sđd, tr.36, T.I). Qua tập II, phần “Niên Phổ Nguyễn Đình Chiểu” ghi: "Truyện DTHM có lẽ được biên soạn vào thời gian này: 1854" (sđd, tr.439). Như vậy thì DTHM được viết ra trước khi đất nước ta rơi vào sự đô hộ của thực dân Pháp, làm sao bảo là "Phật Giáo khi ấy không tỏ ra là một lực lượng yêu nước và kháng chiến? "

c. Giả sử DTHM được viết ra sau khi toàn miền Nam lọt vào tay giặc Pháp (1867), hay sau đó nữa, thì phải chăng thời gian khi ấy mà giáo sư Giàu dùng, là để chỉ cho giai đoạn từ 1858 đến 1988, khi cụ Đồ Chiểu đã qua đời? Nếu như vậy thì chúng tôi muốn được biết cụ thể hơn về khoảng thời gian mà giáo sư  Giàu cho là Phật Giáo ở miền Nam Việt Nam  đã quay lưng với phong trào yêu nước, kháng chiến? Theo chúng tôi, hầu như không có một tư liệu nào nói về một sự quay lưng của Phật Giáo đối với lực lượng yêu nước, kháng chiến hồi ấy cả. Trong tác phẩm Lục Vân Tiên viết trước DTHM chừng ba năm, Nguyễn Đình Chiểu còn nói đến ngôi chùa Phật từng là nơi che chở, đùm bọc cho Hán Minh, Lục Vân Tiên, nói tới hình ảnh Phật Bà Quan Âm từng cứu giúp Kiều Nguyệt Nga... Hoặc trong các bài văn "Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc", "Văn Tế Nghĩa Sĩ Trận Vong Lục Tỉnh", cụ Đồ còn sử dụng một số hình ảnh và thuật ngữ Phật Giáo rất thuận hợp. Vậy mà sang tới DTHM, khung cảnh và ngôn ngữ đã hoàn toàn khác hẳn. Bước ngoặc này thực sự là gì?

d. Chúng tôi hoàn toàn tán đồng ý kiến của giáo sư Giàu khi cho rằng Phật Giáo "đã tỏ ra gắn bó với lực lượng yêu nước và kháng chiến một cách đáng kính trọng những năm bản lề giữa bán thế kỷ sau khi Nho Giáo tỏ ra bất lực". Đây không phải là chuyện khen chê mà là những sự thực lịch sử cần nhìn nhận và đánh giá cho công bằng. Xem lại các tài liệu nói về các cuộc khởi nghĩa của Võ Trứ 1898, của Vương Quốc Chính 1898, của Phật tử Nguyễn Hữu Trí 1916 và nhất là đóng góp của nhà sư Thiện Quảng (1862-1911), người mà cụ Phan Bội Châu (1867 - 1940) đã hết lời ca ngợi, không chỉ một lần mà đến những hai lần. Cụ Phan đã viết hai truyện để giới thiệu về nhà sự yêu nước đặc biệt này : Truyện đầu, được viết bằng Hán văn nhan đề "Tước Thái Thiền Sư" (Nhà sư ăn rau) đăng trên Binh Sư tạp chí, XB ở Hàng Châu, Chiết Giang, Trung Quốc, số 44, tháng 12/1917, đã được Chương Thâu dịch và cho in trong Phan Bội Châu Toàn Tập, T.3, nhà XB Thuận Hóa, Huế, 1990, tr.234-249. Truyện sau, được viết bằng chữ Quốc ngữ, nhan đề là: "Đường Tăng Nước Nam: Thiện Quảng Thiền Sư", đăng trên tạp chí Mai, số 5-6, tháng 5/1936 xb ở Sài Gòn. Truyện này được đưa vào sách "Văn Thơ Phan Bội Châu", nhà xb VH, 1967. Chỉ mỗi hành trạng của Thiền Sư Thiện Quảng cũng đủ để xóa sạch cái thành kiến đâu đó cho rằng Phật Giáo đã quay lưng với dân tộc, với kháng chiến yêu nước.

            2. Người biện luận hăng hái nhất, mà cũng đậm tính chất lý luận nhất cho sự công kích đạo Chúa, đạo Phật của Nguyễn Đình Chiểu (NĐC) qua tác phẩm DTHM là giáo sư Lê Trí Viễn. Nơi sách: "Nguyễn Đình Chiểu, Ngôi Sao Càng Ngày Nhìn Càng Sáng", nhà XB Thành Phố HCM, giáo sư Viễn đã dành hơn 20 trang, từ trang 84 – 105 để biện luận về vấn đề ấy.

            Như đã nêu rõ ở phần đầu bài viết, nhằm góp phần đem lại sự trung thực, công bằng cho một cái nhìn lịch sử của Phật Giáo Việt Nam trong sinh mệnh dân tộc, nên chúng tôi xin lần lượt biện giải với những ý kiến của giáo sư Lê Trí Viễn sau đây:

A.                        Tính chất mâu thuẫn :

Qua những trang sách vừa kể, cảm nhận đầu tiên của chúng tôi là giáo sư Viễn đã tỏ ra mâu thuẫn trong lập luận của mình. Giáo sư viết: "Người ta đều biết truyền thống dân tộc ta rộng rãi, trong lịch sử đã từng có lúc tôn trọng ngang nhau cả ba giáo thuyết Phật, Đạo, Nho..." (sđd, tr.88) ; Và hơn 10 trang sau, ý tưởng này lại được nhấn mạnh và quảng diễn: "Nhân dân ta vốn không đầu óc hẹp hòi, sôvanh, cả trong tôn giáo. Từ nghìn xưa, do vị trí của mình, đất nước ta đã đón nhận bao luồng tư tưởng từ bắc xuống, tây qua, nam lên và sau cả là đông vào. Từng có thời, ba học thuyết Nho, Phật, Đạo đều được trọng ngang nhau cùng tư tưởng Việt Nam và biến đổi để phù hợp và bổ sung cho những giá trị Việt Nam. Chỉ có khi chế độ phong kiến đi dần vào chuyên chế, lấy đạo Nho và Nho sĩ làm trụ cột thì đạo Nho mới đẻ ra đầu óc độc tôn, hạn hẹp và đến đời Nguyễn thì  rơi vào âm mưu khiêu khích của thực dân. Vua quan mù mịt về chính trị, cổ hủ về học thuật, tư tưởng lại tự huyễn hoặc mình là văn minh, còn bọn người phương Tây là mọi rợ, cơ trá, nên sinh ra độc đoán về tín ngưỡng, ra lệnh cấm đạo, buộc phải bỏ đạo..." (sđd, tr.99).

Đọc kỹ nội dung sách DTHM, đối chiếu với những luận giải của giáo sư Viễn vừa dẫn trên, chúng tôi nhận thấy đó không chỉ là sự mâu thuẫn, mà còn là “gậy ông đập lưng ông”. Vì những lẽ sau đây:  

a.                                            Thời đại nào trong lịch sử dân tộc ta mà truyền thống bao dung, hòa hợp được thể hiện cao nhất, không có óc sô vanh tôn giáo, cùng tôn trọng ngang nhau cả ba học thuyết Phật, Đạo, Nho? Một người thông thái như giáo sư Viễn hẳn phải biết rằng đó là thời Lý Trần, hay đúng hơn là thời thịnh Lý, thịnh Trần. Đây là thời cực thịnh của Phật Giáo Việt Nam, qua đó, lý tưởng xuất thế và nhập thế của Phật Giáo đã được thực hiện một cách tốt đẹp, đất nước ổn định, độc lập, đánh tan ngoại xâm, văn hóa giáo dục phát triển... Quan điểm dung hòa Tam Giáo đã được đề xướng và thực hiện từ phía các tăng sĩ Phật Giáo cũng như các vị vua Phật tử như Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông.

b.                                           Để bổ sung cho luận điểm của giáo sư Viễn, từ câu "Chỉ có khi chế độ phong kiến… buộc phải bỏ đạo", chúng tôi xin trích dẫn thêm ý kiến của giáo sư Nguyễn Lang trong sách VNPGSL, T2:   "Không những các thiền sư đời Lý ủng hộ tinh thần Tam Giáo hòa hợp mà còn tác động vào các nhà chính trị đời Lý đi theo con đường ấy nữa. Nền giáo dục đời Lý được dẫn dắt bằng tinh thần ấy đã đào tạo được nhiều thế hệ trí thức có óc cởi mở, ít cố chấp. Đến triều Trần, những ông vua tham bác về Phật Giáo như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông... cũng áp dụng thái độ cởi mở đó và đã mở rộng Nho Giáo... Nền văn hóa và giáo dục cởi mở ấy, tiếc thay, đến cuối đời Trần đã bị bác bỏ. Các Nho thần như Trương Hán Siêu, Lê Bá Quát, dưới ảnh hưởng của Lý Học Tống Nho, đã để tâm kỳ thị, ganh ghét... Từ cuối đời Trần về sau, các Nho gia hay trình bày đạo Phật như một tổng hợp mê tín dị đoan, có hại cho đất nước, ít khi nhìn thấy vai trò mà đạo Phật đã đóng lịch sử văn hóa dân tộc. Theo họ, chỉ có một tôn giáo có thể giữ nước và dựng nước đó là Nho Giáo". (VNPGSL,T2, sđd, tr.255-256).

c.                                            Trích dẫn để bổ sung cho ý kiến của giáo sư Viễn như thế là tạm đủ.

Và đây là kết luận của chúng tôi:

Đọc DTHM, chúng tôi nhận thấy tác giả NĐC đã không hề có một sự hiểu biết đầy đủ về Phật Giáo, đã không hề nhìn đạo Phật trong tiến trình gắn bó với lịch sử dân tộc mà thời đại Lý Trần đã làm được. Đạo Phật, dưới con mắt của cụ Đồ Chiểu, qua tác phẩm DTHM, hầu như chưa hề có một tác dụng tích cực nào đối với văn hóa dân tộc. Trong hơn ba ngàn bốn trăm câu thơ lục bát của DTHM, chúng ta có thể dẫn ra vô số những câu thơ biểu lộ tinh thần hẹp hòi, cố chấp, kỳ thị, đối với Phật Giáo. Theo tác giả NĐC, thì chỉ có đạo Nho mới là chính đạo, kỳ dư đều là tà đạo.

Nhưng trong thực tế, ở địa vị thay thế của Nho giáo trước và trong thời nhà Nguyễn, với lối học từ chương trích cú, chuộng hư văn... mới là nguyên nhân chính bị Tây Phương do Thiên Chúa Giáo đem vào đô hộ nước ta. Nói cách khác, tư tưởng công kích, bài Phật trong DTHM của tác giả NĐC chính là con đẻ của cái mà giáo sư Viễn gọi là "đầu óc độc tôn, hạn hẹp, sô vanh tôn giáo, mù mị về chính trị thế giới, cổ hủ về học thuật, tư tưởng, lại tự huyễn hoặc mình là văn minh" :

- Đây là lời buộc tội của ông vua Diêm Vương (ông này họ Nguyễn) về Hòa Thượng Trần Kỷ trong DTHM:

Diêm vương phán trước ngai vàng
Rằng ngươi Trần Kỷ sao chàng đi tu?
Tiếng xưa  có biết chữ Nhu
Há không biết sách Xuân Thu dạy đời ?
Ngoài Di trong Há khác trời
Bỏ ta, theo mọi, chuộng lời nam mô.
Vả xưa Phật ở Tây Phương
Sống không biết lẽ cang thường là chi
Trau lòng hai chữ từ bi

Việc nhà việc nước ích gì tới ai”(DTHM, câu 1825-1838, theo bản của sách NĐC Toàn Tập)

Đề cao một cách vô lý kinh Xuân Thu, xem đạo Phật là đạo của mọi rợ, đem cuộc đời của Đức Phật Thích Ca là sống không cương thường,… những ý tưởng ấy là gì, nếu không phải là sự hẹp hòi, cố chấp, thiển cận, sovanh tôn giáo? Xem đạo Phật là đạo của mọi rợ, không chỉ bộc lộ đầu óc sôvanh tôn giáo mà còn bày tỏ một sự hỗn láo chưa từng có trong lịch sử văn học Việt Nam. Cũng cần nói thêm là, nhân vật Hòa Thượng Trần Kỷ qua sự mô tả của sách DTHM  chẳng có một tội tình gì cả, cũng không phá trai, phạm giới, chỉ mỗi tội là xuất gia đầu Phật !

- Đoạn kết thúc của DTHM lại buồn cười hơn nữa: Sau khi về nhà cứu được con là Dương Trân - con Dương Từ - nhờ thuốc tiên của vị Đại Tiên cho, Dương Từ và Hà Mậu được Tấn vương triệu vào cung hỏi han về các sự việc đã qua, nhà vua rất hài lòng về việc cũ, cũng nhự việc hai người đã bỏ đạo Phật (Dương Từ) đạo Chúa (Hà Mậu), nên vua ban Dụ cấm đạo Thiên Chúa và đạo Phật, lại truyền lệnh cho Tần Khanh, vốn là ân nhân của hai nhà Dương - Hà, đứng ra lo liệu hôn lễ giữa hai họ (cặp con trai của Dương Từ lấy cặp con gái của Hà Mậu). Thế rồi, các tín đồ đạo Phật và đạo Chúa cùng nhau đến chia vui với hạnh phúc hai họ Dương - Hà, và bàn luận tự nguyện bỏ đạo cũ để theo đạo mới (câu 3343-3456). Kết cục như thế thì thật đúng như lời giáo sư Viễn đã viết: "mù mịt về chính trị thế giới, cổ hủ về học thuật, tư tưởng, lại tự huyễn hoặc mình là văn minh… nên sinh ra độc đoán về tín ngưỡng, ra lệnh cấm đạo".

B. Tính chất không thực tế.

                         Cảm nhận thứ hai của chúng tôi đối với những trang biện luận của giáo sư Viễn là tính chất không thực tế của lý luận. Theo giáo sư thì DTHM có tham vọng làm một tác phẩm luận đề và là một luận đề lớn. Luận đề lớn ấy là: "Trong tình hình nhân dân bị lôi cuốn vào bao nhiêu mối dị đoan, trách nhiệm đối với đời sống, với nước nhà bị lơ là, rời bỏ, đâu là đạo đức chân chính? là lẽ sống hợp lý và đúng đắn? đâu là chính đạo? " (Nguyễn Đình Chiểu..., sđd, tr.87-88). Rồi cách vài trang sau, giáo sư viết tiếp: "Như vậy thì có gì gọi là lý lẽ cao xa? Cũng có thể lập luận ấy không vượt qua thế giới quan và trình độ nông dân thời bấy giờ. Nhưng đó là quan điểm thực tiễn và nhân dân. Rút cục theo đạo Phật hoặc đạo Trời chẳng ích gì cho vợ con, gia đình, xã hội, cho đời sống thế tục, vì cả hai đều muốn "chữ thăng lên trời" nghĩa là quan tâm đến đời sau tách rời khỏi cõi tục." (sđd, tr.9 l). 

Trước hết, xin được biện giải với giáo sư Viễn về hai điểm chính liên quan đến khía cạnh luận đề :

a. Theo chúng tôi, không thể xây dựng một tác phấm luận đề dù lớn nhỏ, có giá trị, trên nền tảng tình cảm là sự hằn học, phỉ báng, bôi nhọ đến mức hỗn láo, mà là hỗn láo với một tôn giáo đã từng làm vẻ vang cho giống nòi mình. Văn chương dù là chở đạo, luận đề, chiến đấu, hay gì gì đi nữa thì vẫn phải đặt trên nền tảng là nghệ thuật, ở đây chính là sự biết người biết ta, bởi lẽ văn chương không bao giờ đánh đồng với sự phỉ báng. Trong tác phẩm DTHM, chúng ta sẽ gặp nhan nhản những câu thơ mang đủ những tính chất vừa kể, khó có thể nghĩ đấy lại là “văn chương” của một người như cụ Đồ Chiểu. Chỉ cần đọc lại hai câu:

                       "Ngoài Di trong Hạ khác trời

Bỏ ta theo mọi chuộng lời nam mô "

chúng ta cũng đã xót xa lắm rồi! Ý tưởng xem đạo Phật là mọi rợ đã được tác giả nhắc lại nhiều lần, và sự hằn học ấy còn được mang sang nơi tác phẩm "Ngư Tiều Vấn Đáp Nho Y Diễn Ca” nữa:

"Đánh cho thằng sãi đầu thai

Kiếp heo kiếp chó, theo loài mọi xa " (Ngư Tiều Vấn Đáp Nho Y Diễn Ca, câu 3429-3430, theo bản của sách NĐC Toàn Tập).

b. Phàm đã gọi là tác phẩm văn học mang tính chất luận đề mà là một luận đề lớn thì phải bao hàm khía cạnh phát hiện, khám phá. Luận điểm mà tác giả Nguyễn Đình Chiểu nêu lên trong DTHM để công kích đạo Phật, rõ ràng là những luận điểm cổ lỗ, cũ rích, nếu một thời kỳ nào đấy chúng được tồn tại thì cũng chỉ tồn tại nơi những đầu óc hẹp hòi cố chấp của những Nho sĩ giáo điều, thiển cận mà thôi. Ngay từ cuối thế kỷ thứ hai TL, qua tác phẩm Lý Hoặc Luận, Mâu Tử (sinh khoảng 165- l70) đã một lần quét sạch những thứ luận điệu ấy rồi. Gần với thời đại Nguyễn Đình Chiểu hơn, Lê Quý Đôn (1726- 1784) trong tác phẩm Kiến Văn Tiểu Lục, đã nhân danh một nhà Nho tiến bộ có những sở đắc về Phật học để một lần nữa quét sạch các thứ luận điệu cổ lỗ ấy. Chắc chắn là cụ Đồ Chiểu đã không hề đọc Lý Hoặc Luận hay Kiến Văn Tiểu Lục, nhưng giáo sư Lê Trí Viễn lại há không tìm đọc, tham khảo, để thấy rằng những vấn đề ấy người ta đã giải quyết từ lâu, mà giải quyết rất là trí tuệ, rất là thỏa đáng rồi.

Cho nên, đi từ hai điểm chính vừa nêu, tiếp cận với những biện luận của giáo sư Viễn về cái gọi là "luận đề lớn trong DTHM”, chúng ta sẽ thấy đó chỉ là những suy luận hoàn toàn sách vở, những quy chụp vô bằng, hay nói theo thuật ngữ Phật học, chỉ là những thứ hý luận. Chúng tôi xin lần lượt nêu lên như sau đây:

i.) Giáo sư Viễn viết: "Đối với Dương Từ theo Phật, chỉ chê trách ở hình thức cạo tóc cạo râu phân biệt người đời, bỏ vùa hương bát nước, không thờ phụng tổ tiên, bỏ vợ con không chút đoái hoài,... trốn xâu trốn thuế với đời, ơn vua ơn nước không hề biết tới, và có mở rộng ra thì cũng nói thời cổ xưa làm gì đã có Phật mà vẫn dân an nước trị, còn có nêu cao đức từ bi thì cái đó ích gì cho dân phong?" (sđd, tr.90).

Trước hết, cần nhắc lại rằng, cái chi tiết bỏ nhà xuất gia đầu Phật của nhân vật Dương Từ mang rõ tính chất áp đặt của tác giả NĐC: Đã 56 tuổi, sau nhiều năm tháng làm phước, tích đức, cùng đi cầu khẩn nơi các đền chùa, hai vợ chồng Dương Từ mới có được hai mụn con trai sinh đôi kháu khỉnh. Đáng lẽ Dương Từ phải hết sức vui mừng, gắng công làm lụng nuôi gia đình, đùm bọc lấy cái hạnh phúc bình thường ấy, thì ông bổng dưng lại dấy ý bỏ nhà đi tu, mặc cho vợ con phải sống trong cảnh túng thiếu, nheo nhóc. Giả sử hành động xuất gia đầu Phật đó vẫn có thể xảy ra, nhưng với điều kiện là Dương Từ phải có sự sắp đặt tương đối ổn thỏa để cho vợ con yên tâm mà sống nơi quê nhà. Đằng này, nhân vật Dương Từ, qua ngòi bút diễn tả của tác giả, bỗng dưng bỏ nhà ra đi chẳng chút đoái hoài (có vậy thì sau này mới dễ dàng kết tội!). Một sự áp đặt lộ liễu, phi nghệ thuật như vậy mà các nhà phê bình, nghiên cứu vẫn cứ nhắm mắt bỏ qua.

                        Thứ đến, tất cả những luận điểm mà NĐC dùng để công kích nhân vật Dương Từ, kể cả nhân vật Trần Kỷ, từ đấy công kích kẻ tu Phật, công kích đạo Phật, được giáo sư Viễn quảng diễn thêm để gọi là luận đề lớn ấy, thì từ thế kỷ thứ II, Mâu Tử đã quét sạch một lần, đến giữa thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn lại quét sạch một lần nữa, nên chúng tôi thật chẳng thú vị gì khi phải làm cái việc "biết rồi khổ lắm nói mãi!". Trong lãnh vực học thuật, một vấn đề đã được quá khứ giải quyết xong xuôi, sòng phẳng, thế mà vẫn có những kẻ đi sau đem ra nhai lại, thì đó là gì? Người sáng tác có thể do hạn chế của trình độ nên không biết, do chủ quan và thành kiến của tầm nhìn nên cứ giẫm lên sai lầm cũ mà không hay, hoặc nhân danh một sự sáng tạo để viết lếu láo về một vấn đề cũ, nhưng những nhà nghiên cứu, phê bình lại chẳng chịu tìm đọc, tham khảo, lại chỉ bằng lòng với những luận điểm cổ lỗ của tác giả, để tự biến mình thành một thứ phát ngôn ăn theo, thì đó là gì?

ii.) Thành ra chúng tôi quả thật vô cùng khổ tâm khi phải đọc những câu biện giải như: "và có mở rộng ra thì cũng nói thời cổ xưa làm gì đã có Phật mà vẫn dân an nước trị, còn có nêu cao đức từ bi thì cái đó ích gì cho dân phong".  Cụ Đồ Chiểu có thể viết những câu thơ lục bát diễn đạt các ý nghĩa đại loại như vậy,  nhưng một vị giáo sư thông thái như giáo sư Viễn há lại không biết rằng, đạo Phật, từ khi ra đời đến giờ đã đóng góp được những gì cho văn hóa nhân loại, và riêng ở Việt Nam, chỉ giới hạn nơi thời Lý Trần thôi, đạo Phật đã làm được gì cho đất nước, dân tộc? Một sinh viên khoa Văn, Sử cũng có thể tìm được sách "Lý Thường Kiệt" của giáo sư Hoàng Xuân Hãn để đọc, để thấy vị học giả họ Hoàng đã có những đánh giá chính xác và công bằng như thế nào về ảnh hưởng của Phật Giáo đối với triều đại này. Nhìn chung, người ta dễ dàng nhận ra rằng, giáo sư Viễn đã xem những luận điểm cổ lỗ công kích đạo Phật của tác giả NĐC trong DTHM là chân lý, và nhiệm vụ của nhà nghiên cứu, phê bình là nhằm khai triển, quảng diễn "chân lý" ấy ra.

Chúng ta hãy cố gắng đọc tiếp một số quảng diễn của giáo sư Viễn sau đây:

a.) "Như vậy thì có gì gọi là lý lẽ cao xa? Cũng có thể nói lập luận ấy không vượt qua thế giới quan và trình độ nông dân bấy giờ. Nhưng đó là quan điểm thực tiễn và nhân dân" (sđd, tr.91). Viết như thế, người đọc có quyền đòi hỏi người viết phải đưa ra những tư liệu, chứng tỏ rằng tư tưởng của nông dân Nam Kỳ thời bấy giờ đối với Phật Giáo là vậy, và tác giả NĐC là người phát ngôn của họ, nếu không thì cái gọi là "quan điểm thực tiễn và nhân dân" cũng chỉ là những suy diễn theo sách vở, giáo điều, chỉ có trong đầu óc tưởng tượng của người viết mà thôi.

Thật ra, thì những luận điểm mang tính chất công kích ấy vốn được thịnh hành nơi tư tưởng của một số Nho sĩ Việt Nam ở thế kỷ XV, XVl, điển hình nhất là việc xóa tên Trạng Nguyên Lương Thế Vinh trong số các danh Nho được thờ cúng tại Văn Miếu, chỉ vì ông này theo Phật và viết sách về Phật học. Tư tưởng công kích, kỳ thị ấy bắt nguồn từ quan điểm của các nhà Lý học đời Tống. Đây là ý kiến của Chu Hối Am (1130- 1200): "Phật và Lão mắc tội với tam cương ngũ thường, Lão Trang còn chưa hủy diệt hết cả nhân luân, chứ Phật thì hủy diệt nhân luân một cách tuyệt đối " (Dẫn theo Nguyễn Lang, VNPGSL, T2, sđd, tr.253).

                        Như thế, rõ ràng thủy tổ của những luận điểm mà NĐC dùng để buộc tội Phật Giáo là ở đây chứ không hề là "thế giới quan và trình độ nông dân" nào cả. Điều này thì cụ Đồ Chiểu biết rất rõ. Cứ xem đoạn tả Dương Từ lên thiên đàng, chỉ gặp mỗi cụ Khổng, được tôn vinh là "Đại Tài Thánh Vương" ngồi trong kiệu bạc tán vàng cũng đủ hiểu (xem DTHM, câu 1205-1456), nhưng rất tiếc là giáo sư Viễn lại không biết hay không muốn biết!

Có truy ra ngọn nguồn những luận điểm công kích Phật Giáo như vậy, người ta mới hiểu được vì sao, trong suốt cả hai thế kỷ XVIII, XIX, các nhà Nho nhà thơ tiêu biểu từ Nam chí Bắc không hề có một ai nhìn Phật Giáo như NĐC đã nhìn trong DTHM. Ở miền Nam, từ Đào Duy Từ, Mạc Thiên Tứ, đến Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Thông, không ai chia sẻ quan điểm bài Phật kiểu NĐC cả. Nguyễn Thông (1827- 1884) chẳng hạn, sinh sau NĐC năm năm, coi như đồng thời với cụ Đồ, cũng đỗ đạt, có tài, có tấm lòng với dân với nước, con đường làm quan khiến ông có mặt nhiều nơi trên đất nước, luôn tuân thủ theo Nho, nhưng Nguyễn Thông vẫn đánh giá một cách rất chính xác và công bằng đối với Phật Giáo (3).

Ở miền  Trung, Bắc từ thế hệ Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, đến Nguyễn Khuyến, Đào Tấn, Chu Mạnh Trinh, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu... tất cả đều dành nhiều cảm tình và đánh giá đúng đắn về Phật Giáo nói chung cũng như về Phật Giáo Việt Nam nói riêng. Họ không phản ánh được "thế giới quan và trình độ của nông dân" chăng? Họ không nắm vững quan điểm "thực tiễn và nhân dân" chăng?

            Trong tác phẩm Lục Vân Tiên viết trước DTHM chỉ mấy năm, trong đó tác giả NĐC đã cho người đọc thấy có những ngôi chùa Phật luôn mở rộng cửa để che chở cho Hán Minh, Lục Vân Tiên trong thời gian phải trốn tránh cường quyền hay bị kẻ xấu hãm hại. Hoặc như hình ảnh Phật Bà Quan âm đã cứu Kiều Nguyệt Nga, dặn dò kỹ lưỡng về hậu vận của nàng, lại còn ứng mộng cho một bà lão kịp thời cứu nàng khi nàng trốn khỏi gia đình Bùi Kiệm ra đi trong cảnh đêm tối mịt   mờ. Rồi nhân vật Kiều Nguyệt Nga, khi tưởng rằng Lục Vân Tiên đã mất, trước khi miễn cưỡng chấp hành lệnh sang Phiên cống Hồ, nàng đã sang thăm nhà LVT, lạy từ Lục ông, tổ chức trai đàn cầu siêu cho LVT đến bảy ngày, những hình ảnh ấy, những nhân vật ấy không là "nhân dân" chăng? Họ có phản ánh cho thế giới quan và trình độ của nông dân không?

b.) Giáo Sư Viễn quảng diễn tiếp: "Rút cuộc, theo đạo Phật hoặc đạo Trời, chẳng ích gì cho vợ con, gia đình, xã hội, cho đời sống thế tục, vì cả hai đều muốn "chữ thăng lên trời", nghĩa là quan tâm đến đời sau, tách rời khỏi cõi tục." (Nguyễn Đình Chiểu, Ngôi Sao..., sđd, tr.91). Phần đầu của quảng diễn này đã bàn qua rồi, chỉ có phần sau, tức là cái suy luận quy chụp cho rằng tu Phật, tin ở luân hồi kiếp sau là chối bỏ cuộc sống hiện tại, là không ích gì cho cuộc sống hiện tại.

                        Để được đầy đủ và rõ ràng, chúng tôi xin được nhắc lại rằng: luân hồi, nhân quả, nghiệp báo, là một trong những cụm triết lý quan trọng của Phật Giáo nhằm để góp phần giải quyết các vấn đề vào hàng số một của triết học: con người từ đâu sinh ra, tại sao trong cuộc sống có kẻ sang người hèn, kẻ trí người ngu, kẻ thọ, người yểu vv... và khi chết rồi thì hết hay còn tiếp tục những kiếp sống khác nữa? Đối với những giải đáp của Phật Giáo thông qua các thuyết luân hồi, nhân quả, nghiệp báo v.v..., con người có quyền tin theo hay không tin theo. Quyền đó được gọi là quyền gì thì ấy là sự xác minh của nhà luật pháp, nhưng thực tế đã cho thấy là trên hai ngàn nãm nay, đạo Phật đã được truyền bá qua nhiều nước trên khắp thế giới và hàng triệu triệu người đã tin theo các thuyết ấy kể cả Việt Nam cũng vậy. Ngay từ buổi đầu mới du nhập, nhân dân Việt Nam không hề chống đối các thuyết trên.

                         Đây là ý kiến của giáo sư Trần Quốc Vượng trong sách "Lịch Sử Việt Nam" T.I, nhà xb ĐH và THCN, H, 1983, tr.395-396: "Phật Giáo từ Ấn Độ truyền bá vào đất Việt và Trung Quốc - rồi từ Trung Quốc truyền dội sang đất nước ta- từ rất sớm, đại để vào một hai thế kỷ đầu công nguyên. Đạo Phật chủ trương pháp tính bình đẳng, tất cả chúng sinh đều có Phật tính và đều có thể thành Phật, từ chỗ tự giác tiến lên làm nghĩa vụ giác tha... Phật là biểu tượng của sáng suốt và từ bi... Thuyết Nhân quả nghiệp báo của Phật Giáo phù hợp với tín ngưỡng dân gian Việt về việc ông Trời trừng phạt kẻ ác, cứu giúp ban thưởng người l